Xếp loại Bưởi Cam Quýt

   Xếp loại Bưởi Cam

     Mai Tran – Y Nguyên

 

Bài sưu khảo viết dựa vào tư liệu riêng với tài liệu tham khảo thu thập qua từ mạng nhằm hy vọng giúp người đọc giảm thiểu nhầm lẩn khi nhận diện hoặc tiêu thụ loại trái cây thông dụng nhất trên thế giới-cam, quýt, bưởi, tắc, chanh…thuộc chi họ Cam Quýt (Genus Citrus). Cảm hứng bắt nguồn từ hoài niệm xưa trong khu vườn phía trước nhà có nhiều loại cây ăn trái như bưởi, hồng quân, thanh long, mảng cầu, lucuma, cà phê, ổi, sa bô chê bên cạnh vú sửa, hồng nhung, mít mật, tố nử. Tuổi thơ của người viết thường quanh quẩn ngoài vườn vì tàn cây che bóng mát quanh một ngôi miếu thiết kế kiểu xưa thờ Đức thánh Trần, bên trong miếu có tượng và nhiều loại kiếm cung có cả bao chạm trỗ công phu bằng gổ. Vẩn theo tập tục của Cố, miếu thờ lung linh nhang khói trong ánh đèn dầu cho đến ngày “ai giải phóng ai”.

Miểu Xưa

Hình 1: Miểu xưa 1950

Bạn bè trong xóm hay đến chơi, trưa hè hay trăng sáng, “thăm” cây trái trong vườn, hoặc học bài, tập tành làm văn thi sĩ, hoa bưởi trắng tỏa hương thơm ngào ngạt, hè có hoa nắng, ve kêu, xuân có hoa mai, cúc, vạn thọ. Trưa hè trèo lên cây ổi, vừa hái ăn vừa đọc sách, lớn lên thì rũ nhau đạp xe đi Thủ Đức , Lái Thiêu thăm măng cụt, sầu riêng.

“Trèo lên cây bưởi hái hoa

Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân”

“Đầu năm ăn quả thanh yên
Cuối năm ăn bưởi cho nên đèo bòng
Vì cam cho quýt phải lòng
Vì em nhan sắc cho lòng anh thương” (Ca dao)

Đầy vườn hoa bưởi hoa cam rụng

Ngào ngạt hương bay, bướm vẽ vòng

…         (Xuân về, trong tập thơ Tâm Hồn Tôi, Nguyễn Bính 1940)

Hoài niệm về bưởi, chanh không phải là ca dao mà là mùa hoa bưởi thơm tỏa trong vườn, và những trái bưởi da xanh, dày, ăn hơi đăng đắng và những đêm sáng trăng quay quần trước sân trò chuyện, ăn bánh, trái, khoai mì, khoai lang, khoai từ, đậu phộng nấu, củ ấu… hoặc gọi chè bán rong thoang thoáng mùi khói bưởi. Nội bảo lột bưởi phải cho đúng cách, lấy vỏ bưởi phơi khô để dành đốt đuổi muổi.  Không biêt muổi có sợ mùi khói bưởi bao nhiêu, nhưng hương thơm tỏa ra cũng làm người dể chịu.

Củ Ấu

Hình 2: Củ Ấu

Trên dĩa quả tử (loại dĩa xưa, có vẻ trang trí màu xanh) trưng bày trên bàn thờ gia tiên  “ba ng ày Tết”  lúc nào cũng có bưởi cam quýt, loại cam sành và quýt đường to gần bằng cam hòa lẩn với vú sửa đu đủ, khóm, mẳng cầu ta(na), thanh long cho đủ màu…kiểu ngủ quả!

Bưởi nhà cho nhiều trái, ăn không hết làm quà cho hàng xóm, vị cũng ngọt nhưng hơi đắng không như bưởi Biên Hòa, ngọt thanh, hạt nhỏ-mà đặc biêt là bưởi ổi Biên Hòa, trái to bằng gấp đôi trái ổi xá lị lớn.

Bưởi được trồng nhiều nhưng phần đông chỉ thấy loại da xanh, mãi về sau mới thấy nhiều loại da xanh vàng, ruột hồng đỏ hoặc trắng, vàng rất thông dụng ở miền Nam.

Ở miền Tây, cam Sành da xanh, nhiều nước, nhiều hột, cam Xoàn da ửng vàng, quýt da vàng,  quýt đường da xanh khi chin ửng vàng, dể lột vỏ,nhiều nước nhưng không ngọt lắm, cũng là vùng trồng cam, buởi, quýt nhiều nhất Việt Nam, tựu trung vùng Bến Tre, Vĩnh Long, Cần Thơ. Đây là loại cây xanh lá quanh, trái, thân, lá có hương thơm, lá có dầu nên dể bốc cháy, mùa ra hoa thơm nứt mũi. Rải rác ở những vùng địa phương khác cũng có bưởi như Đồng Nai-Biên Hoà, Huế, Hà Tỉnh và các giống bưởi Đoan Hùng ngoài Bắc. Ở Mỹ Úc, Âu Châu nhiều vườn cây ăn trái trồng Cam Quýt, hoặc trồng trong sân vườn, hay cả hai bên lề đường. Chi họ Cam Quýt, tên khoa học là Citrus là một trong số nhỏ họ thực vật công dụng nhất, trồng nhiều nhất vì có khả năng thụ phấn lẩn nhau (interfertile), tự lai giống và từ sự nghiên cứu khoa học, công nghệ  đã sản sinh nhiều giống lai ( cultivars) do sự kết hợp nhân tạo hay biến hóa ngẩu nhiên, tạo ra nhiều thay đổi về hình dáng (shape), màu ruột bưởi, có hạt hay không, cũng như vị thơm (fragrance), ngọt chua (taste)

Nên biết trong chi họ Citrus có nhiều giống (Species) loại (varieties).

Cũng nói thêm là variety (loại) cũng được phân định loại thiên nhiên (nature variety) và loại không thiên nhiên (non-nature cultivars) Cultivar là từ hai chử cultivated varieties có nghiã là loại thảo mộc , thực vật có sự can thiệp của người (lai giống, genetic engineering, artificial intervention hoặc tự biến thể (mutation).

Giống Bưởi da xanh (nature varieties), bưởi Diển, Đoan Hùng (ngoài Bắc) sau này (non-nature cultivars).

Một đặc điểm chi họ Cam quýt (Citrus) vì là loài cây ăn trái trồng nhiều nhất trên thế gìới nên trái thường mang tên thương mại hay  xuất xứ địa phương vì tính đặc thù của giống (cultivars) như bưởi Thanh ( gốc Huế ) bưởi Long cổ cò ( gốc Tiền Giang), bưởi

Năm  Roi ( gốc Cần Thơ, Vĩnh Long ) , bưởi Tân Triều (Biên Hòa), Vinh…hoặc bưởi đường hồng , bưởi đường núm , bưởi da láng , bưởi da xanh , bưởi da cóc , bưởi chùm , bưởi ổi… cam  Mỹ , Úc, Tây Ban Nha, Ba Tây …quýt Tàu, Tứ Xuyên, Quảng Đông…Chanh Tây, Ta vân vân …

Sự phân định thực vật của các giống này sẽ phải được dựa vào quá trình phân loại khoa học (taxomony), tuy có tính cách lý thuyết nhưng là kiến thức giáo dục cần phải có.

Citrus Taxo Chart

Hình 3:  Bản phân loại chi họ Cam quýt (Genus Citrus).

Hầu hết các loại bưởi trồng ở Vietnam là bưởi thiên nhiên, kích thước tùy giống, bưởi  Năm Roi (Vĩnh Long), bưởi Tân Triều (Biên Hòa) bưởi da xanh (Bến Tre) và nhiều loại bưởi khác thường gặp ở Việt Nam có đường kính khoảng 18–20 cm, trong khi bưởi Đoan Hùng (ngoài Bắc) chỉ có đường kính độ 15 cm. Cây ra hoa, kết quả hầu như quanh năm, thường mùa hoa từ tháng 3 đến tháng 5 và mùa quả từ tháng 8 đến tháng 11.

Bưởi- Pomelo- Citrus Maxima (Merr,Burn.f.)

 Các giống bưởi thường thấy ở Vietnam có tên khoa hoc là Citrus Maxima (Merr,Burn.f.) or Citrus grandis, tiếng Anh gọi chung là Pomelo. để phân biệt với giống bưởi chùm, tiếng Anh gọi là Grapefruits-tên khoa học Citrus Paradisi không thấy nhiều ở Việt Nam. Bưởi Pomelo có nguồn gốc ở Việt Nam, Đông Nam Á. Bưởi chùm Grapefruits cho là có nguồn gốc ở vùng Caribbean

Có nhiều loại bưởi da xanh, cơm trái bưởi có màu từ vàng nhạt tới hồng và đỏ, độ ngọt, đắng, có hột hay không, tùy nơi địa phương trồng mà biến thể.  Tuy nhiên loại bưởi da xanh được trồng vùng Bến Tre, hơi the không đắng trái nhỏ, ngọt nhưng cũng có loại trái to, ngọt ruột hồng đỏ, trồng bằng cách chiết nhánh có nguồn gốc ở Mỏ Cày (Bến Tre)

Bưởi Da xanh

Hình 4 : Bưởi Da Xanh tìm thấy nhiều nơi ở miền Nam.

Da Xanh Ruột Hồng Bến Tre

Hình 5 : Bưởi da xanh-ruột hồng Bến Tre

Bưởi Năm Roi.

Được thấy trồng nhiều ở Vĩnh Long (Bình Minh, Tam Bình), Bến Tre, Cần Thơ…

Trái hình quả lê (pears), lúc chưa chín màu xanh, gần chín đổi màu vàng, vị ngọt, không the đắng, múi có khá nhiều nước, hương thơm, không hột.

Năm Roi

Hình 6 : Bưởi Năm Roi- Tam Bình, Vĩnh Long

Năm Roi Tân Triều

Hình 7: Bưởi Năm Roi –Tân Triều Biên Hoà

Bưởi Biên Hoà tên chung cho các loài bưởi đặc sản nổi tiếng từ lâu trồng vùng Đông Bắc Sàigòn, nhất là vùng Tân Triều như Bưởi đường, Da láng, Da xanh ruột đỏ, bưởi Thanh  (Thanh Long, Thanh Trà, Thanh Dây và bưởi Ổi).

Bưởi Thanh Long nhiều nước, màu trắng ngà, ngọt thanh, hột nhỏ. Bưởi Thanh Trà ruột trong trắng, ngọt. Bưởi Ổi là loại bưởi qúy hình dáng giống ổi xá lị to, trái rất thơm, múi dể lột, giữ càng lâu- da khô lại, hơi nhăn- ăn càng ngọt và thơm.

Những loại bưởi không ngọt, hơi chua cũng thấy trồng ở Biên Hòa như Bưởi Xiêm, Bưởi da cóc (vì da nhăn) vị chua, nhưng không được chuộng lắm

Bưởi Xiêm

Hình 8 : Bưởi Xiêm

Bưởi ổi Tân Triều

Hình 9:  Bưởi Ổi Tân Triều

Bưởi Long Cổ Cò

Hình 10 : Bưởi Lông Cổ Cò

Bưởi lông cổ cò là giống bưởi đặc sản của huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang.

Có hình dáng quả lê (pears) da ngoài có lớp lông trắng, sờ tay hơi nhám, lớp lông này sẽ mất dần. Khi chín vỏ đổi từ xanh sang xanh vàng có phủ lớp lông mịn.

Vỏ quả khá mỏng, trong quả bì màu trắng hồng, thịt quả bưởi lông cổ cò màu vàng đỏ, dễ lột, vị ngọt hoặc ngọt chua nhẹ, nhiều nước, mùi thơm.

Thanh trà Huế

Hình 11: Thanh Trà Huế

Đặc sản Huế, nổi tiếng từ lâu, quả nhỏ khá tròn, da xanh láng, vỏ mỏng, tép bưởi nhỏ, thơm dòn không nhiều nuớc, ngọt thanh,  Mùa Thanh trà Huế khoảng tháng 7, 8

Cơm Thanh trà Huế

Ngoài Thanh Trà Huế có loại bưởi Thanh trà ở Biên hoà

Thanh Trà Biên Hoà

Hình 12 : Bưởi Thanh Trà Biên Hòa.
Người Huế không ai gọi Thanh trà là Bưởi Thanh trà cả. Tiếng gọi bưởi Thanh Trà dành cho loại bưởi Thanh trồng ở Biên Hoà. Cũng là giống bưởi da xanh, nhưng hương thơm có vẽ khác nhau vì trồng ở điạ thổ khác nhau. Dòng Bưởi Thanh Biên hoà  gồm Bưởi Thanh long, Bưởi Thanh trà, Bưởi Thanh dây. Không nên lầm lẩn bưởi Thanh Trà với trái Thanh trà ở miền Nam, một loại trái nhỏ như trái quất, có vị chua, thanh và thơm.

Phân biệt Thanh Trà
Hình 13 : Phân biệt giữa Thanh trà Huế (trái) và trái Thanh trà của miền Nam (Cần Thơ)

Bưởi  Phúc Trạch

Phúc Trạch là giống bưởi đặc sản trồng nhiều ở Hương Khê (Hà Tĩnh) https://www.youtube.com/watch?v=5G7aGIG2rLg

Phúc Trạch

Hình 14 : Bưởi Phúc Trạch

 

Bưởi Phúc Trạch có hình cầu tròn, bề ngang và chiều cao gần bằng nhau, cuống quả không lồi, đế quả hơi lõm, vỏ không trơn không ráp, màu sắc vỏ quả xanh vàng, cơm màu hồng nhạt hoặc màu trắng trong, quả nặng hơn  1kg, số múi 14-16 múi/quả, khoảng 50-70 hạt/quả, có mùi thơm nhẹ, có vị ngọt hơi thanh chua.

Bưởi Vinh, quả to có núm, ngọt, ít nước, trồng nhiều ở Hương Sơn (Hà Tĩnh)

 

 Đoan hùng

Hình 15 : Bưởi Đoan Hùng- Vỉnh Phú-Phú Thọ

Đoan Hùng Lai

Hình 16 : Bưởi Đoan Hùng lai

http://nongnghiep.vn/nongnghiepvn/vi-vn/25/24366/khuyen-nong/giong-buoi-doan-hung-lai.html

Bưởi Đoan Hùng cũng như bao nhiêu đặc sản khác, chỉ có đất Đoan Hùng mới cho những trái bưởi thơm ngon được, và trên đất Đoan Hùng cũng chỉ có 2 vùng mà ở đó bưởi trở nên thơm ngon nhất, đó là bưởi Chí Đám và bưởi Bằng Luân.

Bưởi Sửu Chí Đám phát triển phù hợp trên đất phù sa sông Lô, sông Chảy. Về nguồn gốc, giống bưởi này được nhân dân xã Chí Đám nhân ra từ cây bưởi ngon của nhà lão nông có tên là Sửu cách đây trên 200 năm. Từ đó tên ông được đặt cho giống bưởi.

Bưởi Bằng Luân có cách đây 200 đến 300 năm là giống có nhiều nhất ở Đoan Hùng, hầu hết các xã trong huyện, đặc biệt là Bằng Luân và Quế Lâm đều trồng giống bưởi này.Bưởi Bằng Luân có dạng lá nhỏ, quả nhỏ có hình cầu dẹt hoặc dạng hình lá to, quả to, tròn đều. Khi chín có màu vàng rơm, màu thịt quả trắng, trục quả đặc, dễ tách múi, tép mềm mọng nước có màu trắng xanh, ngọt đậm, vị thơm.

http://trenguonresort.com/buoi-doan-hung-dac-san-phu-tho/

Grapefruits- Bưởi Chùm

Bưởi chùm grapefruit, tên khoa học là Citrus Paradisi-là một giống cây lai tự nhiên giữa cam (Citrus Sinensis ) và bưởi Pomelo (Citrus Maxima) được cho là có nguồn gốc ở Barbados từ thế kỹ 18.  Cây lá xanh không rụng l á thường cao khoảng 5-6m nhưng cũng có loại cao đến 13-15m, lá xanh đậm láng, cho trái nhiều đường kính khoảng 10-15cm, mọc chùm như chùm nho, trái giống cam nhưng to hơn, vỏ xanh khi chín trở vàng cam, vỏ mỏng, láng,không lột vỏ được, vị đắng, ít ngọt. Cơm bưởi (pulp) có thể có màu hồng, đỏ, trắng, thường cơm đỏ ngọt hơn tuỳ giống lai (cultivars). Năm 1929 Mỹ lần đầu tiên đăng ký (patent) loại grapefruit ruột đỏ US Ruby Read (giống RedBlush). Thông thường người ăn phải dùng dao cắt đôi và dùng muỗng múc để ăn hoặc ép lấy nước uống.

Một trái bưởi cỡ ở trung bình cung cấp khoảng 200 calori. Bưởi chua có nhiều acid, có vitamin C, A, chất sơ hoà tan pectin, và nhiều khoáng chất như Kalium calcium, phosphore, sắt, folate. Bưởi mầu đỏ và hồng còn có thêm beta carotene chống oxy hóa mà cơ thể chuyển hóa thành vitamin A

Grapefruit trắng vàng

Hình 17: Grapefruit -ruột trắng vàng

Grapefruit ruột đỏ

Hình 18 : Grapefruit-ruột đỏ

 

Cam-Oranges

Hầu hết các giống cam quýt được chọn lọc từ những đột biến lai giống tự nhiên (interfertile, mutation) và chỉ một tỷ lệ nhỏ được tạo ra từ lai giống công nghệ (hybridization).

Cam có nhiều kích thước và hình dáng từ tròn đến bầu dục, thường có 10 múi và có đến 6 hạt, bì trong trắng xốp. Khi chin vỏ ngoài (rind) trở màu từ màu cam rực rở đến vàng. Ở vùng khí hậu nhiệt đới khi chin da có thể vẩn có màu xanh. Những loại cam đột biến tự nhiên không hột

Cam đường (sweet orange) tên khoa học Citrus sinensis) trái nhỏ hơn bưởi, vỏ mỏng, khi chín thường có màu cam (vì chất carotene) hoặc vàng rực, có vị ngọt hoặc hơi chua. Cam sành miền Tây khi chín vẩn da vẩn còn màu xanh vì được trồng ở vùng nhiệt đới.  Loài cam có thể lai giống giữa loài bưởi Pomelo (Citrus maxima) và quýt (Citrus reticulata). Cây cam nhỏ, cao đến khoảng 10 m, có cành gai và lá thường xanh dài khoảng 4-10 cm. Cam bắt nguồn từ cổ xưa vùng Đông Nam Á, có thể từ  Ấn Độ , Việt Nam hay  miền nam Trung quốc.  Người Tây Ban Nha đem giống này vào Mỹ Châu khoảng giữa thế kỷ 16.

Cùng chi họ nhưng trái Citrus sinensis được phân loại là cam đường trong khi loại cam the Citrus aurantium được gọi là loại cam đắng (bitter orange)

Thống kê từ 1987, cam đươc trồng nhiều nhất trên thế giới từ vùng nhiệt đới (tropical) đến bán nhiệt đới (sub tropical). Cam được ăn hoặc ép lấy nước, tinh dầu thơm trong vỏ cam. Kể từ 2012 cam đường chiếm 70% tổng số chi họ Cam quýt (Citrus) sản xuất trên thế gìới, nơi sản xuất nhiều nhất là Ba Tây và Mỹ (California và Florida).

 (source-http://en.wikipedia.org/wiki/Orange_%28fruit%29)

 Cam rốn (Navel oranges)

Loài cam này có thể diển tả như có một cam thứ hai nhỏ nằm trên đỉnh đầu của quả cam, nhô ra như cái rốn (rúng)

Navel orangeNavel orange Cơm

Hình 19: Cam rốn (navel oranges)

Loại thông dụng gọi là Cam rốn Washington  có lẻ là ngẩu biến tự nhiên, hay thụ phấn lẩn nhau từ loài cam ngọt , phát hiện đầu tiên ở Ba Tây (Brasil) khoảng 1820, phát triển sang vùng Florida (Mỹ) chỉ trong vòng 15 năm.

Trái cam chín màu vàng, cơm vàng , rất ngọt, nhưng it nước, không có hột, vỏ dể lột.

Cam thích hợp vùng nhiệt đới, bán nhiệt đới với nhiều ánh nắng. Cây lùn khoảng 6-8ft (như Dwarf  Wahington Navel) hoặc như  Washington Navel cao đến 20 ft có lá xanh, bóng láng.

Loài cam này rất phổ thông và rất thành công về phương diện thương mại trên thị trường cam quốc tế.

Trovita

Cam Mỹ Trovita là loại cam lai giống công nghiêp ở California, mùi vị không bằng Cam Rốn (Navel) , cam không có rốn,  nhiều hạt nhưng có thể thích ứng cao với thời tiết khô, nóng. Cam có nhiều nước, trái nhỏ hơn loại Navel.

Cam Trovita

Hình 20: Cam Trovita

Valencia.

Đây là một giống lai có nguồn từ California (Santa Ana). Cam Valencia ngọt, hương vị thơm và nhiều nước. Được trồng nhiều vùng nhiệt đới và bán nhiệt đới, trái nhỏ, vỏ khá mỏng và ít hột.

http://www.survival.org.au/fruit_oranges.php#sthash.xFSP9khJ.dpuf

 

Cam Valencia

Hình 21 : Cam Valencia

 

 Cam Đỏ

 Cam Đỏ Moro

Hình 22: Cam Đỏ -Moro (Blood) Oranges

Vỏ cam màu vàng , cơm màu đỏ đậm vì có chứa nhiều pigment anthocyanin, múi cam thơm, thoang thỏang hương vị dâu mâm xôi (rasberry).

Cam Sành

Cam Sành

Hình 23 : Cam sành chưa trưởng thành da xanh đậm miền Tây (Tam Bình, Vỉnh Long)

 

Cam sành và quýt đường thích nghi tốt vùng đồng bằng sông Cửu Long,  cây cho năng suất cao, phẩm chất ngon, nước nhiều, vỏ khá dể lột. Trái có nhiều hột đã hạn chế phần nào việc tiêu thụ trái tươi. Có tài liệu nghiên cứu đã ghi nhận được nhiều trường hợp có trái không hột hay ít hột (nhỏ hơn 5 hột).

Cam Xoàn

Cam Xoàn là loại cây ít bệnh, ăn rất ngọt, vắt nước uống rất thanh, cơm màu vàng nhạt, vị ngọt đậm, mùi thơm, chắc múi hơn so với các loại cam sành, cam mật. Lúc chưa chín da láng màu xanh, lúc gần chín chuyển sang màu vàng.

Cam Xoàn có tác dụng giải khát, nhiều vitamin như vitamin C, vitamin B9. Cam Xoàn là giống cây ăn trái được trồng nhiều và lâu đời ở một số tỉnh đồng bằng sông Cửu Long. Cây sinh trưởng và phát triển mạnh, thích nghi với nhiều vùng đất cao ráo thoát nước tốt, đất không quá nhiễm phèn- mặn. Cây chống chịu khá tốt với bệnh vàng lá Geenning và một số dịch hại khác.  Sau 30 tháng trồng cây cho trái. Từ khi ra hoa đến khi thu hoạch khoảng 8 tháng.

Cam Xoàn

Hình 24. Cam Xoàn

Cây Cam Xoàn

Hình 24a: Cây cam Xoàn.

Múi Cam Xoàn

Hình 24b: Múi cam Xoàn.

 

Cam mật Phong Điền Cần Thơ

Cam mật ở Phong Điền được phát triển từ những năm 1950 – 1960, và trở thành sản vật đặc trưng làm nền văn minh miệt vườn Phong Điền, sánh vai cùng các xứ vườn nổi tiếng khác.

Cam mật là loại đặc sản nổi tiếng trong và ngoài nước, hương vị thơm ngon, vỏ sáng óng ánh, màu xanh tự nhiên, múi to hạt nhỏ, năng suất cao.

Cam Mật Phong Điền

Hình 25:  Cam mật

Cam Đường

Cam đường chính là một giống quýt, vỏ mỏng và bóc dễ nhưng vỏ lại dai nên có nơi còn gọi là cam giấy, được trồng nhiều ở Lào Cai, vùng Canh-Diễn (Từ Liêm, Hà Nội) nên có tên là cam đường Canh. Quả hình cầu hơi dẹt, nhẵn, khi chín có màu đỏ gấc rất tươi. Cam chín vào trước Tết khoảng 1 tháng nên được giữ để bày mâm ngũ quả cúng tổ tiên. Cam đường Canh lại thích nghi trồng được ở mọi nơi. Điều kiện trồng thuận lợi, cam cho năng suất cao.

Cam đường

Hình 26: Cam đường

Cam Đắng –Bitter Orange –Citrus Aurantium

 Cam Đắng

Hình 27: Cam đắng

Cam đắng (Bitter Orange), cam  Seville (Tây Ban Nha), cam chua, cam làm mức được gọi cho  loài cam có tên khoa học là Citrus  aurantium. Loài cam này là giống lai từ bưởi Citrus Maxima( Pomelo) và Quýt  Citrus Reticulata (Mandarin Orange). Da không láng, ít nước vị chua, những loại cam này thường được dùng lấy tinh dầu, pha trong dầu thơm, làm tăng mùi vị trong thức ăn hoặc làm mức. Cam đắng dùng trong thuốc Bắc, Nam như chất kích thích (stimulant) và chống thèm ăn (appetite suppressant).  http://en.wikipedia.org/wiki/Bitter_orange

 

Cam đắng Bergamot-Citrus Bergamia

Cam Bergamot

Hình 28: Cam Bergamot                                                                        Chanh Limetta

Cam Bergamot (Citrus bergamia) là loại cam có nguồn gốc Ý vùng Bergamo, da màu vàng khi trưởng thành, giống màu chanh, được cho là giống lai từ Citrus Limon Limetta và Citrus Aurantium.

Cam Bergamot vi chua đắng, được dùng trong công nghệ tinh dầu ở miền Nam Pháp hay làm mức ở  vùng Antalya Thổ Nhĩ Kỳ

Citrus Bergamia cũng đã được phân loại là Citrus aurantium subsp. bergamia (tức là một phân loài của cam đắng.

(http://citruspages.free.fr/lemons.html#limetta)

Quýt-Madarin Orange-Citrus reticulata

Quýt Ngọt

Hình 29:  Quýt ngọt

Cây Quýt (Citrus Reticulata Blanco.) thuộc chi họ Cam Quýt (Citrus), họ Rutaceae, có nguồn từ Trung Quốc,  Ấn Độ. Ở Việt Nam, quýt được trồng khắp nơi với nhiều giống và chủng loại khác nhau.

Cây thân gỗ nhỏ có dáng chắc và đều, thân và cành có ít gai.  Lá đơn, mọc so le; phiến lá hình ngọn giáo hẹp có khớp, trên cuống lá có viền mép. Hoa nhỏ, màu trắng, ở nách lá. Quả hình cầu hơi dẹt, màu vàng da cam hoặc ững đỏ, vỏ mỏng, láng hay hơi sần sùi, múi không dính nên dễ bóc, cơm dịu, thơm. Đơm hoa tháng 3-4, quả tháng 10-12.

Thân cây quýt chịu đựng khô dể hơn trái, trái dể bị hư hỏng do khí hậu khô hoặc lạnh quá nên chỉ thường trồng ở vùng nhiệt đới hay bán nhiệt đới. Nghiên cứu về phân tử học cho biết Quýt, Chanh Tây (Citron), Bưởi (Pomelo) là tổ tiên của những giống và chủng loại thuộc chi họ Cam Quýt (Citrus) qua cách thụ phấn lẩn nhau (interfertile, natural hybridization) hay lai giống công nghệ (hybrid).

Quýt bán trên thị trường thường được gọi tên theo vùng đia phương trồng, hoặc theo hình dáng và độ ngọt- quýt mật Nam phong, quýt Tàu ( Tứ Xuyên, Quảng Đông…) , rồi quýt đường, tiêu, quýt tuyết, quýt lô v.v..

Vỏ quýt thường xốp hơn cam, dễ bóc, múi có thể dễ dàng tách từng múi, trái nhỏ hơn cam.

 

Tangerines

 

Quýt Tangerine

Hình 30: Quýt tangerine

Loại tangerine (C. tangerina) liên hệ gần với quýt ngọt (C. reticulata), trái nhỏ hơn cam, da mỏng vàng đậm, dể lột hơn cam . Ngọt và hương vị mạnh hơn hương vị của cam, múi có hạt.  Lúc chín trái chắc và mềm hơn cam. Rất phổ thông ở Mỹ, tên tangerine được đặt tên từ loại quýt ngọt đươc giới thiệu qua phương Tây qua cảng Tangiers ở Morroco.

http://www.wisegeek.org/what-is-the-difference-between-mandarins-and-tangerines.htm

Clementines

Là một chủng loại từ lai giống của giống quýt ngọt.  Clementines ( C. Clementina) là loại quýt không hột , khác với tangerines có hột. Da láng, dể lột vỏ, trong có 7-14 múi, ngọt, nhiều nước, ít acid hơn cam.

Quýt Clementine.

Hình 31: Quýt Clementine

Satsuma tên khoa học Citrus Unshiu, giống quýt có nguồn từ Nhật vùng Satsuma thuộc đảo Kyushu, trái dể lột, da vàng khi trưởng thành, vị ngọt và không có hột.

Quýt Satsuma

Hình 32: Quýt Satsuma

Cây thân nhỏ chịu lạnh, mọc chậm, tàn lá rậm, thân rất it gai, da mõng nhiều tuyến dầu. Trái chin có 10-12 múi, dể tách, ruột rổng. Trái chín dể rụng nên thường phải hái trước, giữ chứa được lâu.

Satsuma thường bị lẩn với tangerine hay Clementine vì là các giống lai liên hệ trong giống quýt.

Chanh

Citron – Chanh da nhăn – Citrus Medica

Chanh Da nhăn

Hình 33: Chanh da nhăn.

Chanh da nhăn – Citrus Medica  là một trong ba giống khởi nguồn cuả chi họ cam quýt ( hai giớng kia là Buởi Citrus Maxima hay Paradisi và Quýt Citrus Reticulata). Tất cả các giống Citrus khác là do lai giống thiên nhiên (natural hybridization, interfertility) hay nhân tạo (artificial hybridization).

Chanh da nhăn ít nước, múi khô, phần chính là vỏ trong dày màu trắng (white rind) dính liền với các múi khó tách ra được- Không lột vỏ được như cam quýt .

Thường được dùng lấy mùi thơm (fragrance) hay vỏ ngoài cùng được cạo ra (zest) dùng trong salad hay nấu ăn. Ngày xưa được dùng như y dược trị say sóng, bệnh phổi, dầu từ lớp da ngoài cùng được xem là anti-biotic.

Nước (juice) của chanh nhăn (citron) chứa nhiều Vitamin C  được dùng pha chế dược phẩm chống thấp khớp (rheumatism), nôn mửa (vomiting) , hơi trong dạ dày (flatulence) , trỉ ( haemorrhoids), bệnh da , mắt yếu hay ngay cả lợi ích cho tim mạch (cardiovascular benefits)

(http://en.wikipedia.org/wiki/Citron)

 

Phật Thủ (chanh Phật Thủ)

Chanh Phật Thủ

Hình 34: Chanh Phật Thủ

Có tên khoa học là Citrus Medica (Citrus medica varsarcodactylis), tiếng Anh gọi là Chanh ngón tay (fingered citron) hay bàn tay  Phật (Buddha’s hand). Loại thân cao khoảng  2.5 đến 4.5m, thân nhánh có gai , hoa nở vào mùa Xuân, thích nơi có nhiều ánh sáng mặt trời.  Trái có vỏ dày, nhăn nhíu, cũng giống như các loại chanh Tây vỏ cạo ( Zest) trộn làm salad, hoặc làm gia vị nấu ăn vì hương thơm, làm bánh (cake, biscuit) hoặc làm jam hay marmalade .

Chanh Phật Thủ không chua nhiều, ít nước và nhiều khi không có hạt.

 

Chanh Tây-Lemon-Citrus Limon

Chanh tây hay chanh vàng, là tên khoa học Citrus Limon. Loài này được Carl Von Linné, Laurens Burman cùng các cộng sự miêu tả khoa học đầu tiên năm 1768.

Thanh yên hay chanh yên Citrus limonimedica hay Citrus medica ssp. bajoura hoặc Citrus medica L. var. ethrog Engl., Citrus medica L. cv. Ethrog) là cây ăn quả thuộc chi Cam Quýt. Là loài bản địa của Ấn Độ, Myanmar và vùng Địa Trung Hải, tại Việt Nam, giống cây này được trồng từ Lạng Sơn đến Lâm Đồng. Tên tiếng Anh của loài này là Citron.

Cây thanh yên là cây gỗ nhỏ, cao từ 2.5 m đến 5 m. Hoa thơm, màu trắng pha tím đỏ. Quả ra vào tháng 6, khá to, kích thước (12 – 20) x (8 – 12) cm hình bầu dục, màu vàng chanh khi chín, vỏ sần sùi, dày, mùi dịu và thơm; cùi trắng, dịu, nạc, tạo thành phần chính của quả, thịt quả ít, màu trắng và hơi chua (5-6% citric acid).

Vị chua đặc trưng của chanh làm tăng hương vị cho món ăn, nước uống (lemonade, lemon drink).

Về mặt thực vật học, đây là loài lai giữa C. medica và C. aurantium. Mặc dù các tác giả khác cho rằng chanh tây là kết quả lai giữa Citrus medica và Citrus aurantifolia

Chanh Tây

Hình 35: Chanh Tây

 

Chanh Ta – Key Lime- Citrus aurantifolia

Chanh hay còn gọi là chanh ta vỏ xanh (Citrus aurantifolia) để phân biệt với chanh tây (Citrus Limon), quả hình cầu, đường kính từ 2,5 cm – 5 cm (1–2 inch), khi chín có màu vàng rực (nhưng thường được khai thác khi quả còn xanh). Quả chanh ta có kích thước nhỏ hơn chanh Tây, nhiều hạt hơn, lượng axít cao hơn, mùi vị nồng hơn và vỏ mỏng hơn so với loại chanh không hạt (Citrus latifolia). Chanh ta được ưa chuộng vì mùi vị đặc trưng của nó so với các loại chanh khác – cụ thể là vị chua và đắng nồng hơn.

Chanh Ta

Hình 36: Chanh Ta

Chanh Ta -Lime

Hình 37: Chanh ta-Lime- Citrus Latifolia

Chanh ta vỏ mỏng, tiếng Anh gọi là Lime- tên khoa học Citrus Latifolia. Còn gọi là Persian hoặc Shiraz Limoo , Tahiti lime hoặc Bearss lime.  The Persian lime, chanh Trung đông là giống lai giữa key lime (Citrus aurantiifolia) với lemon (Citrus limon) hay citron (Citrus medica).

Chanh không hạt-ít gai là giống chanh được nhập vào Việt Nam trong thời gian gần đây, rất được ưa chuộng, do dễ trồng, cho năng suất cao. Có thân và quả gần giống chanh giấy truyền thống (chanh vỏ mỏng) của Việt Nam, khi cành ở giai đoạn trưởng thành thì các gai bị thoái hoá, cây cho sai quả, một chùm cho 7-8 quả. Năng suất rất cao từ 150-200kg quả/cây/năm, quả to, tròn, cơm màu trắng xanh, không hạt, nhiều nước, chua, thơm

Chanh Kaffir lime

Chanh Kafir Lime

Hình 38: Chanh Kafir Lime

Kafir Lime Citrus hystrix, tên Anh kaffir lime, là giống chanh bản địa (native) của bán đảo Đông Dương (IndoChina), cũng tìm thấy ở  xứ nhiệt đới như India, Nepal, Philippines, Bangladesh, Indonesia,Malaysia và Thái Lan. Da chanh sần sùi không láng, lá xanh đậm, láng, cơm thơm nhưng ít nước, lá và trái được dùng nấu ăn.

 

Chanh lai giống Úc

Úc có 6 giống Citrus bản địa (native), nhưng giống Chanh ngón tay được biết và trồng nhiều nhất. Được tìm thấy trong rừng nhiệt đới ở những dảy núi giữa tiểu bang Queensland và Bắc New South Wales, đây là loại cây thân bụi, có gai, cao không quá 6m, trái có hình dạng ngón tay dài đến 12cm, da màu xanh, lá cây xanh có chút vàng. Cơm chanh gồm bởi những túi nhỏ mọng nước (vesicles) vị chua. Cơm được dùng trong công nghệ làm nước xốt (sauces), mức (jam), thạch (jellies)

http://www.dpi.nsw.gov.au/__data/assets/pdf_file/0016/320272/growing-australian-native-finger-limes.pdf

Chanh Ngón Tay

Hình 39:  Chanh Ngón Tay-Finger Limes

Loại Chanh ngón tay đỏ là một giống lai tự nhiên, cấu trúc bên trong trái cũng giống như giống chanh vỏ màu xanh vàng nhưng cơm có màu đỏ hồng, tên khoa học là Citrus australasica var sanguina

Chanh ngón tay đỏ

Hình 40:  Chanh ngón tay đỏ-Citrus australasica var. sanguinea (the red finger lime)

Chanh Đỏ

Hình 41: Chanh đỏ

Chanh đỏ là giống lai giữa giống chanh ngón tay đỏ với giống chanh Rangpur (Rangpur lime *) tên khoa học là Citrus Limonia. Trái màu đỏ đến đỏ thẫm. Tàn cây bụi thấp đến 2-3m, lá bầu dục, láng màu xanh đậm khoảng 25-25mm và rộng khoảng 15mm, nách lá (axils) có kim cứng và nhọn gây khó khăn lúc hái. Trái chanh hình bầu dục , da màu vàng (gold) với đốm đỏ, đến đậm đỏ, kích thước khoảng 30-50mm chiều dài và 20-30mm chiều rộng, có thể thay đổi tùy muà và nơi trồng cũng như thòi gian thu họach. Hạt chanh nhỏ, nước chanh chua.

*Rangpur Lime loại chanh vỏ mỏng, giống lai giữa chanh Tây (lemon) và quýt (mandarin) , thịt thơm và cho nhiều nước, hơi chát, còn gọi là chanh Quảng Đông.

 

 Tắc, Hạnh

Quất ở Đông Nam Bộ Việt Nam gọi là tắc, Tây Nam Bộ là hạnh, tên khoa học là Citrus japonica ‘Japonica’; là một giống kim quất, và là giống hay được trồng nhất trong các giống kim quất.

Quất là loài cây xanh cũng thường trồng làm cảnh trong sân hay trong nhà. Cây quất ra đầy trái hay được trưng bày vào dịp Tết vì được xem là biểu tượng của may mắn.

Quất có nguồn từ Châu Á, Trung Quốc và Nhật được xếp vào chi họ Cam Quýt (Citrus) cho đến năm 1915 thì được xếp vào chi họ Fotunella theo sự nghiên cứu của Dr Walter T Swingle. Tên Fortunella (đặc theo tên nhà khoa học người Anh Robert Fortune) đã đem giống này về Âu Châu 1846. Có 4 loài tắc (kumquat), the Hong Kong Wild (Fortunella hindsii), Marumi loài tắc được trồng nhiều ở VN trái vàng tròn (Fortunella japonica), Meiwa (Fortunella crassifolia), and Nagami- trái vàng bầu dục vị thơm hơn Marumi (Fortunella margarita). Loài thông dụng nhất được trồng nhiều nơi là ‘Nagami’ and the ‘Meiwa’. Tắc có thể ăn luôn cả trái nhưng chua, ăn vỏ có vị ngọt.

Cây Tắc, thân dẽo, nhỏ cao độ khoảng 1-2m, màu xanh xám, nhiều cành nhánh, lá đơn hình bầu dục, cuốn có cánh rất nhỏ, lá màu xanh thẫm, hoặc có viền trắng như Nagami. Hoa thường đơn độc, nở xòe 5 cánh trắng, rất thơm, chùm nhụy rất ngắn. Đậu thành trái hình cầu hoặc bầu dục (oval như loài Nagami), lúc còn non màu xanh bóng, khi già chín đổi thành màu vàng cam, rất đẹp. Bên trong ruột có nhiều múi màu vàng nhạt, chứa nhiều nước chua gắt , nên thường dùng để làm nước uống với đường rất đã khát hoặc làm mứt (marmalade) để ăn…

Tắc Cây

Hình 42: Tắc (Quất, KumQuat, Kim Quat)

 

Tắc Nagami

Hình 43: Tắc Nagami Citrus japonica ‘Margarita’

Tăc Murami

Hình 44: Tắc Murami Citrus Japonica or Fortunella japonica

Tangelo (Citrus tangelo) là giống lai từ Quýt Tangerine (Citrus Tangerina) với giống bưởi chùm grapefruit (Citrus Paradisi).

Trái dể lột vỏ hơn cam, nhiều nước có mùi vị giống tangerine, đặc điểm có núm (nipple) nơi trái dính vào cành.

Tangelos
Hình 45: Tangelos

Minneolas cũng là giống lai giữa tangerine và grapefruit , tựa như tangelos dể nhận ra vì cũng có mủi nhỏ trên đầu trái

 Minneolas

Hình 46: Minneolas

Lai giống ở Florida ,trái hơi to hơn quýt có vị ngọt cuả quýt pha lẩn với vị chua chát cuả bưởi chùm (grapefruit), Đường kính trung bình 7-8cm, vỏ dể  lột như quýt hay tangerine, it hột.

Trái thanh trà

Bouea macrophylla (Bouea macrophylla Griff) loại trái có nguồn gốc ở Vietnam Đông Nam Á., thuộc họ Anacardiaceae lien hệ với giống Xoài (mango).

Thanh trà Vỉnh Long

Hình 47 : Trái thanh trà Vỉnh Long

Thanh Trà

Hình 48: Thanh Trà

Nếu có dịp về miền Tây vào mùa này, khi ngang qua xã Đông Thành (thị xã Bình Minh, Vĩnh Long), du khách sẽ ngỡ ngàng khi nhìn thấy nhiều khu vườn trái thanh trà chín vàng rực rỡ dưới nắng hè.

Cây thanh trà trông giống như cây xoài, trái tương tự quả chanh, vỏ màu xanh, chín có màu vàng cam bóng láng, cơm mềm vị chua, ngọt rất hấp dẫn mọi người – nhất là trẻ con. Trái chín vào khoảng tháng giêng đến cuối tháng 3 âm lịch.

Thanh trà có 2 loại: thanh trà chua và ngọt (thanh trà chua trái tròn, vỏ mỏng, chín có màu vàng sậm, dễ giập; còn thanh trà ngọt trái dài, vỏ dày, cứng, có lớp phấn trắng phủ bên ngoài, trái chín có màu vàng nhạt).

Có nhiều cách thưởng thức hương vị của thanh trà: ăn chín, làm mứt và làm gia vị trong việc chế biến các món ăn (nấu canh chua, kho).

Cách thông thường mà giới ưa chuộng ăn thanh trà chín chấm muối ớt.  Vị chua, ngọt, thơm của thanh trà; vị mặn, cay của muối ớt và những cái “hít hà” vì cay nồng lên tận mũi, thật thú vị!

Riêng những người lớn tuổi, thư thả hơn khi về nhà, có cách thưởng thức như: thanh trà chín cho vào rổ rửa sạch. Dùng dao bén gọt bỏ vỏ, cho vào ly (khoảng 2 trái) cùng vài muỗng đường cát, một tí muối bọt (cho có hương vị đậm đà). Lấy muỗng cà phê dầm cho cơm thanh trà nhừ ra với đường. Cho thêm tí nước vào khuấy hòa tan. Cuối cùng, bỏ vài viên đá vào là ta có được món thanh trà dầm đá giải nhiệt tuyệt hảo!

Cũng còn có cách chế biến khác nữa là làm mứt tuy hơi nhọc công một chút. Chọn mua vài ký thanh trà chua, chín (nhớ lựa những trái cứng thịt, màu sáng, không giập) về nhà rửa sạch, gọt vỏ, xắt thành từng miếng như miếng xoài, bỏ hạt.

( http://dacsanmientay.vn/am-thuc-mien-tay/am-thuc-vinh-long/qua-thanh-tra/)

Chanh Dây-Passion Fruit-Passiflora Edulis

 Chanh Dây

Chanh dây là loài dây leo giàn tên khoa học là Passiflora Edulis thuộc chi họ Passiflora, họ Passifloraceae, không phải là loài chanh tuy vị có chua.

Có nguồn gốc ở Nam Mỹ, được trồng vùng nhiệt đới và bán nhiệt đới, Úc , Mỹ, Trung, Nam Mỹ, vùng West Indies, Phi Châu, Hawaii.

Trái xanh trở thành vàng hoặc tím tùy chủng loại, trong có nhiều hạt, vị chua. Ở VN gọi là chanh dây , dùng để giải khát như uống chanh đường. Trên thế giới Passionfruit được pha chế làm nước ngọt (soft drink), nước trái cây (fruit juice) hoặc trong kem hay làm bánh để làm tăng hương vị thơm.

 

Mai Trầnn-Y Nguyên- Hè 2015

 

Tham Khảo:

1-http://buoidaxanh.vn/

2-http://kimanhl.blogspot.com.au/2014/09/trai-buoi-va-dung-no-buoi-o-t-en-khoa-h.html

3- https://dokmaidogma.wordpress.com/2012/08/25/a-tasty-hardy-and-ornamental-calamondin-orange/ pure and crossed species

4- http://www.diggers.com.au/shop/product/WPLRL/RANGPUR%20LIME.aspx

5- http://dacsanmientay.vn/am-thuc-mien-tay/am-thuc-vinh-long/qua-thanh-tra/

6- http://www.dpi.nsw.gov.au/__data/assets/pdf_file/0016/320272/growing-australian-native-finger-limes.pdf

7- http://www.3tvietnam.vn/vn/tin-san-pham/nhung-tac-dung-cua-vo-cam-quyt.html