XE XƯA TRÊN Lối CŨ: Xe hơi cổ điển không xuất xứ từ Pháp ở Miền Nam trước 1975.

XE XƯA TRÊN Lối CŨ

Phần 2: Xe hơi cổ điển không xuất xứ từ Pháp ở Miền Nam trước 1975.

Y Nguyên Mai Trần

Sau hiệp định Geneve 20/7/1954, miền Nam trở thành Việt Nam Cộng Hoà. Trong nỗ lực ngăn chặn làn sóng Cộng Sản từ phương Bắc, Người Mỹ thay Pháp hỗ trợ VNCH-được xem như là tiền đồn của thế giới tự do- viện trợ tài chính, kinh tế và quân sự, quốc phòng.
Trên các tuyến đường Saigon người ta nhìn thấy ngoài những xe thời Pháp trước 1954, nhiều loại xe nhập vào từ Mỹ, Anh, Đức, Nhật… xuất hiện ngày càng nhiều, nhưng phần đông là loại xe của người Mỹ nhập vào xử dụng đa số với tính cách riêng (dân sự cũng như tư, quan chức nhà nước Mỹ), một số xe khác được nhập vào từ nhân viên làm việc thuộc khối đồng minh South East Asia Treaty Organization (SEATO) như Anh, Pháp, Úc, Đại Hàn, Phi, Tân Tây Lan, Thái Lan và Hồi Quốc (Pakistan) và Uỷ ban giám sát đình chiến Hiệp Định Geneve 1954 như Ấn, Ba Lan và Canada. Khoảng cuối thập niên 1960s, tất cả nhân viên thuộc công ty quân sự hay công ty có khế ước quân sự Mỹ đều được nhập cảng xe cũ hoặc mới vào miền Nam không trả thuế nhập cảng, có khi được đem xe vào miễn phí .Dọc đường Nguyễn Huệ và Lê Lợi có cái mà dân Saigon thời ấy gọi là bến xe hoa, là những loại xe Hoa Kỳ thường có vây đuôi dài (tail fins), thường được mướn làm xe đám cưới, đưa dâu có trang trí treo hoa. Một số xe thì được tư nhân ngoại quốc, dân buôn bán, người giàu có, dân chịu chơi, có máu mặt ở Saigon yêu thích. Người Việt khá giả thường sắm xe Pháp, nhỏ hơn và ít hao xăng, hay được truyền lại từ đời ông cha trước, hoặc mua rẻ lại của người Pháp về nước.

Bạn đọc lưu ý, bài viết chi đề cập các loại xe xuất hiện ở Vietnam –được mang vào Vietnam thời trước 1975. Riêng về loại xe Mỹ, phần đông là loại xe thường được sản xuất từ ba công ty lớn nhất thời bây giờ.
Hãng General Motors sản xuất xe thông thường mang nhãn hiệu: Chevrolet (Chevy), Buick, GMC, Cadillac, Pontiac, GTO, Oldsmobile
Hãng Ford với nhản hiệu Fairlane, Falcon, Rebel, Mercury, Edsel, Thunderbird…
Hãng Chrysler có Plymouth, Belvedere,Baracuda, Jeep,Dodge, De Soto…

American logos

Những biểu tượng xe Mỹ thông dụng thời bấy giờ

Hinh 1

 

 

Đôi dòng về Lịch sữ các xe và hãng xe Mỹ.

Cadillac

Công ty Cadillac được hình thành ở Detroit. Michgan vào tháng 8 năm 1902 bằng cách sử dụng các tài sản còn lại khi công ty Ford Henry ngắn ngủi ngừng giao dịch đầu năm đó.
Chiếc xe đầu tiên, 10 hp hai chỗ ngồi, sản xuất trong tháng 10 năm 1902, gần như giống hệt với Model T Ford.

Cadillac 1902
Quảng cáo xe Cadillac đầu tiên dựa trên Ford T2.
Năm 1909, General Motors mua Cadillac  và một năm sau đó sản xuất Model 30..
Dòng xe thường thấy ở Saigon là Cadillac Deville, Cadillac Coup de Ville và dòng xe “ 59 caddie” nổi tiếng với vây đuôi dài (tail fins).
Sau đó là dòng Eldorado, được sản xuất từ năm 1953.

Chevrolet
Chevrolet được thành lập vào năm 1911 bởi Louis Chevrolet và William Durant. Năm sau đó công ty giới thiệu các xe 4,9 lít, sáu xi-lanh mẫu Classic 6.

chevrolet classic 6

Năm 1912, công ty đã bán được gần 3.000 xe.
Năm 1917, Chevrolet đã trở thành một bộ phận của General Motors.
General Motors sản xuất những loại thường nghe thấy như Corvette, Chevy, Impala, Camaro, Bel Air

Chrysler
Chrysler được thành lập vào năm 1925 bởi Walter P Chrysler từ tài sản của Công ty xe hơi Maxwell có từ năm 1904.
Chiếc xe đầu tiên mang tên Chrysler là Chrysler 6 ra mắt vào năm 1924 (khi công ty vẫn được gọi là Tổng công ty Maxwell).
Chiếc xe đầu tiên được sản xuất bởi tập đoàn Chrysler 4 vào năm 1925, Tiếp theo là 80 kiẻu xe Imperial vào năm 1926.

chrysler four 1925

Các dòng xe Plymouth và DeSoto được giới thiệu vào năm 1928. Ngoài ra Chrysler mua lại Dodge Brothers Motor Company năm 1928, một công ty đã được thành lập bởi John và Horace Dodge năm 1914.
Trong khoảng thời gian 1954 đến 1987 Chrysler tiếp quản AMC (American Motor Company) lúc đó là đã tiếp quản những công ty sản xuất xe hơi như Hudson, Rambler, Nash, Willys Overland Motor Company, Kaiser Motors và Kaiser-Jeep.

Năm 1998, tập đoàn Chrysler đã được mua bởi Daimler-Benz của Đức và trở thành các Daimler Chrysler Motors Company.

Ford

Năm 1896, Henry Ford xây dựng đầu tiên “cỗ xe ngựa kéo-horse carriage”, tiền bán được đầu tư vào một mô hình được cải thiện sau này. Đến giữa 1898, ông đã xây dựng tổng cộng ba chiếc xe, bao gồm một chiếc xe chở hàng.
Tháng 7 năm 1898, được hỗ trợ bởi một nhóm nhà đầu tư, Henry Ford sản xuất khoảng 25 xe nguyên mẫu cho các công ty xe hơi ở Detroit. Vào tháng Hai năm 1901, do thiếu vốn, công ty đã giải thể.
Chín tháng sau đó, vào tháng 11 năm 1901, ông thành lập Công ty Henry Ford, nhưng công ty này lại bị giải thể vào năm 1902. Tháng Sáu năm 1903 Henry Ford thành lập công ty Ford Motor.
Ford Model T (thường được biết đến như là Tin Lizzie, T-Model Ford Model T, hay T) là một chiếc hơi được sản xuất bởi Công ty Ford Motor từ tháng 10 năm 1908, đến tháng 26, 1927. Nói chung được coi là dòng xe hơi giá cả phải chăng đầu tiên, đã trở thành phổ biến với dân Mỹ, đem đến một cách mạng giao thông- người Mỹ trở thành di động khấp nơi-từ thôn quê đến thành thị. Sáng tạo sản xuất dây chuyền-lấp ráp bộ phận, , hiệu năng sản xuất cao , bảo trì giản di và rẻ tiền cho phép hạ giá thành thấp.

ford T

Hinh bên phải là Model T sedan 1919 và bên trái các bộ phận cần để lấp ráp xe Ford Model T touring 1923.
Hinh chụp tại Viện bảo tàng Ford Company ở Dearborn, Michigan 2015 ̣(photo by maivantran).

Sau model T , Ford bắt đầu sản xuất thế hệ thứ hai Model A vào tháng 10 năm 1927 và tiếp tục cho đến tháng 12 năm 1931.
Model A cũng đã được sản xuất tại Liên Xô do công ty GAZ là “NAZ A” từ năm 1932 đến năm 1936.
Model A đã được thay thế bằng các Model B được sản xuất giữa năm 1932 và 1935.
Model C được sản xuất tại Hoa Kỳ năm 1904-1905
Năm 1922, Ford mua lại công ty Lincoln (đã được thành lập năm năm trước đó).

Lincoln

Công ty Lincoln được thành lập vào năm 1917 bởi Henry M Leland và con trai của ông. Trong năm 1902, ông là một trong những người đồng sáng lập Cadillac, sau đó trở thành một trong những đối thủ cạnh tranh chính của Lincoln.
Năm 1922, Lincoln đã được mua lại bởi công ty Ford Motor.
Giữa năm 1920 và năm 1930, công ty sản xuất Lincoln L-series. Trong năm 1931, K-series được giới thiệu, các trong đó có một động cơ 6.3 lít dựa trên động cơ V8 được trang bị cho L-series.
Các mô hình Zephyr đã được giới thiệu vào tháng 11 năm 1935, ban đầu là một chiếc sedan 2 hoặc 4 cửa. Một chiếc coupe mui trần đã được giới thiệu vào năm 1938. Sản xuất kết thúc vào năm 1942.
Năm 1932 Lincoln bắt đầu thiết kế một chiếc xe trở nên nổi tiếng như continental

Lincoln Sunshine

Lincoln sunshine special 1939 cho Tổng Thống Mỹ Franklin D Roosevelt
lincoln bubletop
Chiec Lincoln Bubbletop 1950 cho Tổng Thống  Mỹ D.Eisenhower

Continental.

Chiếc xe Lincoln Continental đầu tiên được sản xuất vào năm 1939 đặc biệt cho con trai của Henry Ford, Edsel (lúc đó là Chủ tịch của công ty Ford Motor). Chiếc xe là một hit với bạn bè, Edsel quyết định cho sản xuất hai loại sedan và convertible. Hai mươi bốn chiếc được xây dựng năm đó, tiếp theo là bốn trăm trong năm 1940

lincoln 1939

Licoln Continental mẫu 1939 cho contrai của Henry Ford, Edsel

Các dòng xe Ford cũng được sản xuất tại Anh Quốc thời kỳ từ 1940 đến 1980 bao gồm các Anglia, Prefect, Consul, Zephyr, Zodiac, Granada, Capri, Escort and Cortina.
Ford cũng đã được sản xuất tại một số quốc gia khác, bao gồm Argentina, Australia, Brazil, Trung quốc, Hà Lan, Mexico và Nam Phi.
Mô hình sản xuất tại Mỹ từ năm 1946 đến năm 1990 bao gồm các dòng xe như Crown Victoria, Custom, Deluxe, Escorti, EXP, Fairlane Skyliner, Falcon, Fiesta, Galaxy, Maverick, Mustang (1964,  xe hơi bán chạy nhất thế giới ), Pinto, Tempo và Thunderbird giới thiệu vào năm 1955.

General Motors

General Motors được thành lập năm 1908 như là một công ty cổ phần cho Công ty xe hơi Buick.
Dưới sự lèo lái của William C. Durant , từ hãng xe Buick sang, General Motors nhanh chóng mở rộng công ty bằng cách mua lại các nhà sản xuất xe khác.
Oldsmobile (1897) trở thành một phần của GM vào năm 1908. Năm sau, 1909, General Motors mua Cadillac (thành lập 1902), Elmore (1893), Oakland (1907), cộng với một số công ty nhỏ khác.
Durant rời GM năm 1910 và gia nhập với Louis Chevrolet, thành lập công ty Chevrolet vào năm 1911.
Năm 1916, Durant đã nắm giữ phần lớn cổ phần của GM và quay trở lại công ty làm chủ tịch vào năm 1917. Chevrolet trở thành một phần của GM năm đó.
Các công ty khác tiếp quản bởi GM bao gồm Vauxhall (1903) vào năm 1925 và Opel (1902) vào năm 1929.
Năm 1953 GM tung ra Chevrolet Bel-Air , rất phổ biến thời bấy giờ.
Cũng nên biết từ 2007 GM bao gồm: Buick, Cadillac, Chevrolet, GMC, Holden, Hummer, Opel, Pontiac, Saab, Saturn và Vauxhall cũng như liên kết với tập đoàn GM Daewoo, Suzuki và Wuling.

Hinh 2

Hinh 2: Đủ loại xe đậu trước Hạ Viện (nhà hát Thành Phố)

Hinh 3.jpg
Hinh 3: Cadillac series 62 -1955

hinh 3a.jpg
Hinh 3a: Chevrolet Bel Air đầu 1950s

hinh 4.jpg

Hinh 4: Plymouth Fury Star 1958, Dodge Kingsway Delux 1958, Chevrolet Bel Air 1959.
Hình này chụp đường Nguyễn Huệ hướng từ bến Bạch Đằng chụp vào , nhìn phía cuối con đường có cái chóp nhà , đó là Toà Đô Chính ” UBNDTP ” bây giờ . Toà nhà cao nhất bên phải bức hình này là toà nhà Imexco có lần bị cháy tháng 10 năm 89 cạnh bên có tòa nhà thấp hơn một chút có mái màu đỏ ngày đó là cục đăng kiểm 6, kế bên là đường Ngô Đức Kế bây giờ . Tiếp theo cao ốc thứ 2 là Khách sạn Hữu Nghị bây giờ là Palace , đối diện với tòa nhà SUNWAH ” đồng hồ 4 mặt “, trước 1975 là Tòa Hoà Giải Sàigòn

hinh 5

Hinh 5 : Cadillac De ville 1962

hinh 6.jpg
Hinh 6 : 1958 Cadillac Coupe de Ville

hinh 6a
Hinh 6a: 1957 Chevrolet Bel Air 4 Door

hinh 7a.jpg

Hinh 7: Chevrolet Bel Air 1958

hinh 8

Hinh 8: Chevrolet Bel Air 1965 hình chụp Saigon 1966 – Đường Công Lý, gần Ngã tư Yên Đổ-Công Lý . Photo by Donald MacKinnon

hinh 8a.jpg
Hinh 8a: 1957 Chevrolet Bel Air 4 Door, bên ngoài Câu lạc bộ thể thao Sài Gòn đường Hồng Thập Tự (1968-70) nay là Cung Văn hóa Lao động TP HCM, đường Nguyễn Thị Minh Khai) Photo by Charles F. Rauch.

hinh 9.jpg

Hinh 9: Chevy 1952

hinh 9a

Hinh 9a: Chevy 1952

hinh 10.jpg
Hinh 10: SAIGON 1967 – Chevrolet Bel Air -1955 Đường Hồng Thập Tự Saigon- Photo by Nathan Meek

hinh 11.jpg

Hinh 11: 1955 Chevrolet Bel Air đậu trên đường Đồng Khánh

hinh 12.jpg
Hinh 12 : Chevrolet Bel Air -1955 , Taxi 4CV, Autobus Renault-Saviem 1960s bến xe buýt , trước công viên Quách thị Trang-Chợ Bến Thành.

hinh 12a
Hinh 12a : Chevrolet Bel Air Base Sedan 3.8L 1955 đường Lê Lợi

hinh 13

Hinh 13 : Chevrolet Impala 1966

hinh 14.jpg
Hinh 14: Đường Lê Lợi 1964, 1956 Fairlane (chiếc thứ tư từ trái), Buick Electra 1959 (thứ ba) 1958 Ford Fairlane 500 Skyliner (thứ hai), Mercury Turnpike (cuối 1950s)(chiếc đầu từ trái)

hinh 15
Hinh 15 : Taxi Renault 4CV and Chevrolet Bel Air 1955 trên đường Tự Do 1961.

hinh 16.jpg

Hinh 16 : Ford Fairlane 500-1957 , Chevy Impala 1960 (General Motors) Buick Electra 1960 (General Motors) trên đường Lê Lợi, gần thương xá Tax.
hinh 17.jpg
Hinh 17 : Chevrolet impala 1958-60 góc Hai Bà Trưng – Lam Sơn
hinh 18
Hinh 18 : Chevrolet Impala 1960 flat top (màu đỏ) , đường Nguyễn Huệ.

hinh 19.jpg
Hinh 19: Pontiac Tempest trên đường Trần Quý Cáp năm 1967 – Photo by Nathan Meek

hinh 20.jpg
Hinh20: Oldsmobile super 88 -1958.

hinh 21.jpg

Hinh 21: Oldsmobile model late 1950s đường Lê Lợi , gần thư viện Abraham Lincoln 1960. Thư Viện Abraham Lincoln (tên vị Tổng Thống Hoa Kỳ trong thời Nội Chiến) trực thuộc Cơ Quan Thông Tin (USIS – United States Information Service) của chính phủ Hoa Kỳ, thư viện nầy lúc đầu tọa lạc tại trung tâm thành phố Sài Gòn, bên cạnh rạp chiếu bóng Rex, trước Toà Ðô Chánh, sau dời về số 8 đường Lê Quý Ðôn, và sau cùng dọn về bên trong trụ sở của Hội Việt Mỹ, ở số 55 đường Mạc Ðĩnh Chi, thuộc Quận I.
Trước năm 1953, địa chỉ này cũng là nơi tọa lạc của Công Ty Bainier-AutoHall, một trong những đại lý xe hơi lớn nhất ở Vietnam trước 1954.

hinh 22.jpg
Hinh 22: Năm 1951. Thủ tướng Quốc gia Việt Nam Trần Văn Hữu và Tổng Tham mưu trưởng Quân đội QG Việt Nam, Thiếu tướng Nguyễn Văn Hinh, trong lễ duyệt binh trên chiếc Plymouth Special Delux convertible 1946-48.
http://oldiesfan67.canalblog.com/archives/2012/11/13/25556445.html

Ford

hinh 23.jpg

Hinh 23 : Xe cổ xưa 1912 Ford Model T trên đường Catina St (Tự Do-Đồng Khởi) Photo Studio của Paul Gastaldy (136-138) cạnh Hotel Continental 132-134 Catinat St. Hinh chụp khoảng đầu thập niên 1920s.
http://saigon-vietnam.fr/saigon_en2.php
hinh 24.jpg
Hinh 24: Henry Ford I với chiếc Ford Model T (Tin Lizzie) – khoảng 1910 – Photo of Ullstein Bild
http://www.gettyimages.com.au/detail/news-photo/cars-henry-ford-i-with-his-ford-model-t-undated-probably-news-photo/542426247

hinh 25.jpg
Hinh 25 : Ford Prefect, VW beetles đường Tự Do 1968, xe thứ ba, lề phải

hinh 26.jpg
Hinh 26 : Ford Prefect đậu trên đường Trần Quang Khải 1966
(https://www.facebook.com/photo.php?fbid=920373314678254&set=g.865130223501356&type=1&theater)

hinh 27.jpg

Hinh 27: Ford Corvair V4 -1498 cc sản xuất ở Anh giai đoạn 1963-1970. Cảnh sát giao thông mặt đồng phục đứng trên bồn giao thông tại các ngã tư.

hinh 28

Hinh 28. Ford Falcon 1964 SAIGON 1965 – đường Hàm Nghi

Hinh 29.jpg

Hinh 29 : Ford Falcon đang chạy trước chợ Bà Chiểu-Ngả tư Lê Quang Định- Chí Lãng 1968 hướng về rap Cao Đồng Hưng trên đường Hàng Xanh.
Ford Edsell

 

Mustang 1967

Hình 29a: Ford Mustang 1967  được tân trang với bảng số sau  1975.

Hinh 30.jpg

Hinh 30: Ford Edsel 1958-1960 chạy trên xa lộ Saigon –Biên Hoà

Nhãn hiệu Edsel đã được lên kế hoạch, phát triển và sản xuất bởi công ty Ford Motor cho năm mẫu (models-mô hình) từ 1958-1960. Với Edsel, Ford đã dự kiến xâm nhập đáng kể vào thị phần của cả General Motors và Chrysler và thu hẹp khoảng cách giữa Ford và GM tại thị trường xe hơi nội địa của Mỹ. Ford đã đầu tư mạnh vào một chiến dịch quảng cáo, tiếp thị nhưng khi tung ra thị trường Edsel được coi là không hấp dẫn, đắt đỏ, và được thổi phồng quá đáng. Edsel không bao giờ trở nên phổ biến, ế ẫm và bán không chạy. Ford mất 250 triệu $US một số tiền lớn, cho sự phát triển, sản xuất và tiếp thị Edsels, từ “edsel” trở thành biểu tượng (symbol) phổ biến của sự thất bại thương mại
Bài học Edsel cho thấy trường hợp chính trị của công ty có thể giết chết một ý tưởng. Tuy việc thiết kế và lập kế hoạch sản xuất là những lý do được trích dẫn thường xuyên nhất cho sự thất bại , biên bản nội bộ của Ford Motor Company cho thấy rằng Edsel có thể thực sự đã là một nạn nhân của sự chia rẽ trong hàng ngũ quản lý của Ford.
Sau Thế chiến II, Henry Ford II giữ Robert McNamara là một trong những “Whiz Kids” để giúp Ford cắt giảm chi phí, tăng năng xuất tránh sự sụp đổ của công ty sau chiến tranh. Kết quả là, McNamara cuối cùng tích lũy được nhiều quyền lực trong công ty. McNamara đã cam kết sản xuất dòng xe Ford gần như loại trừ các sản phẩm khác của công ty như Continental, Lincoln, Mercury và Edsel.
McNamara phản đối sự hình thành của các bộ phận công ty riêng biệt cho Continental, Lincoln, Mercury, và Edsel, bằng sự củng cố Lincoln, Mercury, và Edsel vào bộ phận M-E-L. Cuối cùng huỷ bỏ dòng Continental , sáp nhập với dòng Lincoln năm 1958. Thay vào đó, thiết kế lại Edsel sử dụng cấu trúc cơ thể bên trong của Ford năm 1959. Năm 1960, Edsel xuất hiện ít hơn so với xe Ford với trang trí khác nhau. McNamara cũng di chuyển để giảm ngân sách quảng cáo Edsel cho năm 1959. Đến năm 1960, ông hầu như loại bỏ nó. Cuối 1959, khi McNamara thuyết phục Henry Ford II và quản lý của Ford rằng Edsel đã bị tiêu diệt và đã đến lúc phải kết thúc sản xuất trước khi Edsel chảy máu khô của công ty. Năm 1961, McNamara rời Ford khi ông trở thành Bộ trưởng Quốc phòng của Tổng thống John F. Kennedy.

Hinh 31.jpg

Hinh 31: Ford Taurus 1960-1964
Ford Taurus nổi bật khác lạ bên cạnh những chiếc xe Pháp giao thông trên đường phố Sài Gòn trong những năm 1960 và 1970. Có nguồn tin chiếc xe của bà Ngô Bá Thành, sinh năm 1931 và  chết  2004, một trong những luật sư hàng đầu của Sài Gòn thời VNCH.

Hinh 32.jpg
Hinh 32: Ford Fairlane 500 (1957) Peugeot 404 và Renault 12TS (1970s)

Hinh 33
Hinh 33: Ford Fairlane model 1967-đường Pasteur
http://www.yesterdaysweapons.com/phpBB3/viewtopic.php?f=54&t=12244&start=0

hinh 34
Hinh 34: Two Ford Falcon Futura 1969 đậu bên hông tòa nhà USIS (US information Services) và thư viện Abraham Lincoln (trước là khách sạn Rex do ông Nguyễn Phúc Ưng Thi xây cất năm 1959, đường Nguyễn Huệ, trước tòa Đô Chánh.

Hinh 34a
Hinh 34a : Khách sạn Rex góc đường Nguyễn Huệ-Lê Lợi đầu thập niên 1960s

In Search of Saigon’s American War Vestiges

hinh 35.jpg

Hinh 35: Ford Cortina Mark 1 GT 1963

hinh 36.jpg
Hinh 36 : Ford Anglia trước Bưu Điện cạnh nhà thờ Đức Bà.

hinh 37
Hinh 37: Ford Anglia chạy trước Casino Dakao–đường Đinh Tiên Hoàng 1967-1968

hinh 38
Hinh 38: Mercury Turnpike Cruiser 1957-58

hinh 39.jpg
Hinh 39: Mặt trước xe Mercury Turnpike Cruiser

hinh 40.jpg
Hinh 40: Xe hoa Mercury Turnpike Cruiser trên đường Thống Nhất

Chrysler-Jeep cars

hinh 41.jpg

Hinh 41: American Willys MB jeep
Dòng xe jeep (GP, General Purpose) này dùng trong quân đội thời Pháp ,Mỹ và VNCH trước 1975 , đây là loại xe nhẹ băng đồng, 4 wheel drive dùng trong công việc thị sát, di chuyển nhanh trong các đơn vị/cơ quan quốc phòng hay ngoài mặt trận. Đây là tiền thân của những loại xe SUV 4-wheel trên thị trường hiện nay.

hinh 42.jpg

Hinh 42: Quân cảnh trên xe Mitsubishi Jeep gần phi trường Tân Sơn Nhất 1972

hinh 43.jpg
Hinh 43 : 1958 Dodge Coronet (chrysler) trên đường Catinat –Tự Do (nay Đồng Khởi) năm 1960.

hinh 44.jpg

Hinh 44 : Dodge Kingsway trên đường Tự Do 1961

hinh 45.jpg
Hinh 45 : Dodge Kingsway 1958 và xe Thổ Mộ.

hinh 45a
Hinh 45a : Dodge Coronet 1958 trên đường Trần Hưng Đạo – góc Đề Thám. Ngã tư kế tiếp phía sau xe hơi màu đỏ là ngã tư Đề Thám – Bùi Viện, còn có tên khác là “Ngã tư Quốc tế”

hinh 46.jpg
Hinh 46 : Citroen traction 11 và Dodge Royal 4-Door Touring Sedan 1939

 

Dodge mayfair 1958

Dodge Mayfair 1958

hinh 47.jpg
Hinh 47 : Saigon 1961 –Dinh Độc Lập-1957 DeSoto Firedom (Chrysler)

hinh 48.jpg
Hinh 48: 1957 Desoto Firedom

hinh 49.jpg
Hinh 49: De Soto 1958 Fireflite (trái) và Simca Aronde màu đỏ tím đậu trên
đường Nguyễn Huệ.

hinh 50.jpg
Hinh 50: Peugeot 203, VW Kombi, Peugeot 404, Simca Aronde

hinh 51.jpg

Hinh 51: 1950 – Photo by Harrison Forman.
Quang cảnh xe đậu phía trước nhà hát Thành phố đối diện với công trường Garnier, xe cộ lưu thông trên đường Tự Do

Hinh 52.jpg
Hinh 52: Photo by Charlotte 1969
Volkswagon Beetles, taxi Renault 4 CV, Jeep, Ford, VW van chen chúc trên đường Công Lý .

Xe Anh Quốc -English Cars

hinh 53.jpg
Hinh 53: Vauxhall Victor 1950 and Morris Minor 1000s 1950, gần góc đường Hai Bà Trưng và Hiền Vương (vỏ thị sáu) 1968

Hinh 54.jpg
Hinh 54: Vauxhall Victor and Morris Minor

Hinh 54a.jpg

Hinh 54a: Hinh dáng của Morris Minor cổ điển
http://www.morrisminorclubeastsussex.co.uk/id22.htm

 

Morris Minor Traveller  Early 1960s
hinh 55.jpg
Hinh 55 : Standard Eight Deluxe and Misubishi Jeep trên đường Tự Do, 1971

Hinh 56
Hinh 56: Morrris Minor trên đường Hàm Nghi chạy về hướng bến Chương Dương 1968-70 (photo Charles F. Rauch)

hinh 57.jpg
Hinh 57 : Mini Cooper 1966/67 và VW kombi van

hinh 57a.jpg
Hinh 57a : 1970 Austin Mini 1000cc

Hinh 58.jpg
Hinh 58 : Austin Westminster A95 trên đường Phan đình Phùng

Hinh 59.jpg

Hinh 59: Austin Westminster A95 -1957 trưng bày ở chùa Thiên Mụ Huế http://baodansinh.vn/canh-dep-chua-co-thien-mu-xu-hue-d2967.html

Hinh 60.jpg
Hinh 60: Austin Westminster A95 mẫu 1957 dùng xe chở Thích Quảng Đức đến chổ tự thiêu xem hình ̀ 58.

hinh 61.jpg

Hinh 61: Ford Prefect 100E, 1956

hinh 62.jpg
Hinh 62: Ford Prefect 100E, 1956 và Taxi 4CV

hinh 62a.jpg
Hinh 62a: Ford Anglia 105E Delux . 1960.

hinh 63

Hinh 63: Ford Anglia station wagon

hinh 64

Hinh 64: 1967 Mini Cooper

hinh 65
Hinh 65 : Austin Healy 3000 Mark 3 , 2912cc, cung cấp 150 hp (112 kW) engine
Loại xe thể thao rất được ưa chuộng của công ty Austin Healy với 3 loại xe Austin Healy 3000 từ năm 1959-1967. Loại Mark 3 bắt đầu từ năm 1963 ngưng sản xuất thương mại năm 1967.

hinh 65a
Hình 65a: Morris 1100 mẫu 1960s (màu trắng) trước khách sạn Caravelle, công trường Lam Sơn 1967

Xe Ý-Italian Cars

hinh 66.jpg
Hinh 66: Fiat 1960-600 đậu trên đường Nguyễn văn Thinh 1967 (nay Mạc Thị Bưởi)

hinh 67.jpg

Hinh 67: Fiat Sport Spider 1967-69
http://songmoi.vn/otoxemay-xe-cua-ban/xa%CC%89-xi%CC%80-tre%CC%81t-noi-ho%CC%A3i-qua%CC%81n-xe-co%CC%89-%E2%80%9Cvu%CC%80ng-sau-vu%CC%80ng-xa%E2%80%9D-sa%CC%81t-na%CC%81ch-sa%CC%80i-go%CC%80n

Fiat 1100-1955

Hình ̉̃67a:  Fiat 1100 mẫu 1955

Xe Nhật-Japanese cars

hinh 68.jpg
Hinh 68: Nissan Datsun 240K GT -1973

hinh 69.jpg
Hinh 69 : Honda N360-1967
hinh 70
Hinh 70 : Honda 360 mẫu 1967
Một trong những chiếc hơi mini đầu tiên của Honda tung ra thị trường năm 1967. Chỉ sau một năm (1968), dòng mini trở thành dòng xe bán chạy nhất trên thị trường Nhật Bản. Giai đoạn từ năm 1967-1970 là thời điểm cực thịnh của mẫu xe này. Sự thành công cho chiến lược chiếm lĩnh thị trường tiêu thụ xe hơi của Nhật bằng cách tập trung phát triển những mẫu xe hơi thực sự hữu ích và tuy nhỏ nhưng thoải mái, hình dáng gọn kèm trọng lượng nhẹ.

 

hinh 71

Hinh 71: Hino Contessa  1964 trên đường Tự Do năm 1967, bên phải Simca Rallye 1.3 (simca 1000) Các Simca 1000 là một nhỏ, động cơ phía sau , bốn cửa saloon được sản xuất bởi hãng Simca Pháp giai đoạn 1961-1978.
Hino bắt đầu ra trong việc xây dựng thị trường xe hơi Renault của 4CV theo giấy phép tại Nhật Bản. Khát vọng để xây dựng chiếc xe riêng của mình, Hino nhập vào Contessa 900 cc, loại xe với động cơ đặt phía sau xe. Về cơ bản dựa trên bí quyết từ việc sản xuất 4CV Renault, Hino bắt đầu theo hướng riêng của họ với các kỹ thuật mới. Năm 1964, Hino tuyển Giovanni Michelotti để thiết kế lại chiếc xe với động cơ mạnh 4 xy lanh-1251 cc đặt phía sau và ổ đĩa phía sau (rear wheel drive ) và cho ra đời chiếc Contessa 1300. Contessa làm mát máy bằng nước thay vì bằng gió với tốc độ hơn 130km, nhiên liệu 6.5L / 100km tại 75km / h. Xe Hino Contessa 1300 tương đối hiếm trong nước Nhật, thậm chí hiếm hơn ở thị trường ngoài Nhật. Hino Motors sản xuất Hino Contessa trong khoảng thời gian từ 1961 đến 1967 với loại coupe và sedan.

hinh 72Xe Toyota tren duongMinh Mang
Hinh 72 : Toyota corona mẫu 1967-̉́1968, Toyota trên đường Minh Mạng

 

hinh 73.jpg
Hinh 73: Toyota Sports 800 1962 siêu xe một thời của danh ca Chế Linh
http://vietbao.vn/vi/O-to-xe-may/Toyota-Sports-800-1962-sieu-xe-mot-thoi-cua-danh-ca-Che-Linh/150511165/350/

hinh 74
Hinh 74 : Mitsubishi CJ3B-J4 made in Japan , viện trợ  quân sự cho VNCH. Giá  rẻ hơn xe Willys Jeep sản xuất từ Mỹ.

German Car Logos
hinh 75.jpg

Hinh 75: German car logos

hinh 76.jpg

Hinh 76 : Auto Union DKW F94 1957-60

Hinh 77.jpg

Hinh 77 : Mercedes Benz 600 1967 trên đường Lê Lợi, đây là mẫu xe Mercedes đắt tiền nhất thời bây giờ, được tung ra thị trường năm 1963.

Hinh 78.jpg
Hinh 78: Ponton 190, năm 1953 tại viện bảo tàng Mercedes-Benz ở Stuttgard là tiền thân của các dòng Mercedes hiện tại như dòng C, E, S thiết kế theo công nghệ khung vỏ (unibody).

Hinh 79.jpg

Hinh 79: Black Mercedes Benz Type 300d (W 189) dùng chuyên chở lãnh đạo Tổng Thống VNCH trong khi hành sự công vụ (presidential limousine). Dòng xe độc quyền thanh lịch, mạnh mẽ và đắt giá này được nhiều lảnh đạo các quốc gia trên thế giới xữ dụng, được sản xuất từ năm 1957 đến năm 1962. Động cơ có 6 xy lanh, 2996cc , hộp số tay có 4 tốc độ và hộp số tự động có 3 tốc độ, nhưng vượt trội về hiệu suất với đối thủ cạnh tranh thời ấy như Rolls-Royce Silver Cloud (Anh) và BMW501 (Đức).

Hinh 80

Hinh 80: Mercedes 200 (W110) 4 cửa, 4 xy lanh vẩy đuôi Fintail lòng máy 2.0L , sản xuất từ năm 1965 đến 1968. Được biết là của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu VNCH từ năm 1965 đến khi từ chức 21, tháng 4, 1975. Ông rời Saigon 5 ngày sau bỏ lại hầu hết của cải và chiếc xe Mercedes.

hinh 81
Hinh 81 : Mercedes 1960 Type W120 180b sedan with Right Hand Drive (RHD) chạy trên đầu đường Chỉ Lăng(ngã Tư Phú Nhuận) hướng về tòa Hành chánh tỉnh Gia Định, Chợ Bà Chiểu, và Lăng Tả Quân Lê Văn Duyệt, các xe jeep quân đội đang rẽ vào đường Võ Tánh (nay Hoàng Văn Thụ) hướng về bộ Tổng Tham Mưu QLVNCH-phi trường Tân Sơn Nhứt

Hinh 82
Hinh 82 : Mercedes-benz model 190 (W 121) 1958

Hinh 83
Hinh 83: Mercedes-Benz 190 ( W121) 1959 Sedan . Lần đầu tiên tung vào thị trường 1956.

hinh 84

Hinh 84 : Mercedes Ponton 220S (W180) model 1957 có 8 xy lanh, thân xe với ba phong cách sedan, coupe và convertible sản xuất từ 1954 đến 1959.

Hinh 85

Hinh 85: 1961 Mercedes-Benz 190 SL Roadster

hinh 86

Hinh 86 : Audi 60 RD between 1965-74

Volkswagen

hinh 87
Hinh 87 : Công ty KYXACO , đại lý công ty volkswagen 1957-1975
Công ty này do Ông Chí Tín ( Lê Văn Ba) và hãng East Asiatic Đan Mạch lập ra, hãng Kyxaco nhập cảng độc quyền xe Wolks Wagen ở Việt Nam. Trụ sở 155 đường Nguyễn Huệ, bên cạnh rạp REX.
http://antruong.free.fr/damdaiganhdao2.html

Hinh 88
Hinh 88 : 1953 Panel Van,1966 21 Window Samba; 1970 Microbus; 1978 Kombi L

Hinh 88a
Hinh 88a : Hình dáng xe cổ điển Volkswagen Beetles
http://www.amazon.com/7093-M-Volkswagen-Classic-Collection-Decoration/dp/B00EZ1U9Q0

Hinh 89
Hinh 89 : VW 1953 Panelvan, VW van barn door 1959-60 và Toyota Corona 40 RT 1970, trước nhà hàng Maxim trên đường Tự Do nay là Đồng khởi

Hinh 90
Hinh 90 : 1971 Peugeot 404 and 1966 Volkswagon 21 Window Samba

Hinh 91
Hinh 91: Tổng hành dinh của Lực lượng thế giới Hỗ Trợ Quân Sự tại Sài Gòn. Một Land Rover 1/4 xe tải tấn Úc và ba Volkswagen Vans (với con chuột túi (kangaroo) màu đỏ) đang đậu trong bãi đậu xe. (1967-68)
https://www.awm.gov.au/collection/P05317.012

volkswagen floride tren duong le loihinh 41

Hinh 92: 1968 VW Loại 3 Fastback, trên đường Lê Lợi, hình bên phải môt chiếc xe khác với 2 quân nhân Úc và một người phụ nữ trong FWO.
Trụ sở lực lượng thế giới Hỗ Trợ Quân Sự (FWO) ở Sài Gòn từ năm 1965 cho đến năm 1973, văn phòng liên lạc quốc gia khác nhau cho các hoạt động đồng minh chiến tranh Việt Nam, bây giờ là khách sạn ba sao Kỳ Hoà sạn tại 238 Ba Tháng Hai (trước đây là 12 Trần Quốc Toản) quận 10 .

Tru so Dong Minh

Hinh 92a: Trụ sở lực lượng thế giới Hỗ Trợ Quân Sự (FWO)
.

http://www.historicvietnam.com/us-vestiges/Saigon

Hinh 93

Hinh 93 : VW beetle gần khu vực ga xe lửa xưa Saigon, đầu thập niên 1950s.

Hinh 94

Hinh 94: Volswagon Beetle 1970s trên đường Công Lý , SAIGON 1968 by Sue Ellen‘s father

Hinh 95
Hinh 95 : VW Beetle 1966, Ford Vedette và Plymouth Valiant 1964 ? đậu trước hotel Continental năm 1966
http://www.pbase.com/tombriggs/image/78214034

DKW

hinh 96
Hinh 96 : DKW F102 Saloon 1963-1965 chạy trước chiếc taxi 4CV. DWK ngừng sản xuất chiếc này năm 1966 và thay thế bằng dòng xe F103, 4 xy lanh tung ra thị trường dưới nhản hiệu Audi

Hinh 97

Hinh 97 : Opel Olympia Rekord mẫu 1955 trên đường Tự Do , đầu thập niên 1960s

 

Hinh 98.jpg

Hinh 98 : Opel GT 1900 model 1969-based on Open Kadett.

hinh 98a

Hinh 98a : Chevrolet Corvett 1968 ̣bên trái, Opel GT 1900 trên đường phố Saigon

Opel GT là loại xe thể thao hai chỗ ngồi ra mắt ở Paris và Frankfurt Motor Show năm 1965. Tung ra thị trường lần đầu cuối năm 1968, xe được thiết kế, xây dựng căn bản dựa trên chiếc Opel Kadett, trông đầu xe có nhiều nét tương đồng với Chevrolet Corvette 1968. Xe được trang bị động cơ 1.1 lít, 4 xy-lanh thẳng hàng, công xuất 67 mã lực tại 6.000 vòng/phút. Tuy nhiên, hầu hết người mua lựa chọn phiên bản thể thao dung tích 1.9 lít, công suất 102 mã lực trong dải vòng tua từ 5.200 đến 5.400 vòng/phút. Opel GT được thiết kế theo phong cách fastback. Nội thất xe rộng , khoảng không bên trong đủ thoải mái cho những người cao trên 1m80.
Năm 1971, do quy định khí thải, Opel cắt giảm tỷ lệ nén của động cơ 1.9 lít, khiến công suất giảm còn 83 mã lực. Ngoài ra, Opel GT còn có phiên bản rẻ hơn chỉ bán tại châu Âu. Phiên bản tiêu chuẩn đi kèm hộp số tay 4 tốc độ. Hộp số 3 tốc độ tự động có sẵn trên bản 1.9 lít.
Opel GT sử dụng thân đơn bằng thép, động cơ đặt trước và truyền động trục sau. Hệ thống phanh trợ lực sử dụng đĩa phía trước, tang trống phía sau.
Một đặc điểm khác thường của Opel GT là hệ thống đèn pha kiểu mắt ếch. Nó được vận hành bằng tay bằng một đòn bẩy đặt cạnh tay lái. Trong khoảng thời gian từ 1968 đến 1973, tổng cộng 103.463 xe đã được bán. Tuy nhiên tại Việt Nam, mẫu xe này khá hiếm, chỉ có khoảng 1-2 chiếc.

(http://news.zing.vn/xe-co-opel-gt-hang-hiem-xuat-hien-o-sai-gon-post617176.html)
.

Phụ lục.

Volkswagen Beetle và Volkswagen van, microbus (tham khảo hình 88).
Năm 1950, Volkswagen sản xuất xe Volkswagen Beetle, mở rộng thị trường sản phẩm bằng cách tung ra chiếc van (microbus), chính thức gọi là loại Volkswagen 2 (Beetle là loại Volkswagen 1)
Bắt nguồn từ sáng kiến của doanh nhân Hoà Lan Ben Pon (một nhà nhập cảng VW Beetle vào Hoà Lan), nhìn thấy một thị trường cho một chiếc xe buýt nhỏ, năm 1947 đã phác thảo ra ý tưởng của mình. Kỹ sư Volkswagen tiếp tục phát triển ý kiến ấy cho đến tháng 3 năm 1950, chiếc xe, với hình hộp, giản dị thực dụng với động cơ đặt phía sau đi vào sản xuất. Microbus Wolkswagen trở thành phổ biến nhanh chóng được tặng một số biệt danh như “Combi” (combined-use vehicle-xe sử dụng hỗn hợp) và “Splitty” ( chia kính chắn gió, xem hinh 88), ở Đức còn được được biết đến như là “Bulli.”
Cũng nên nhắc lại lịch sử của công ty VW, năm 1933, Adolf Hitler trở thành thủ tướng của Đức, ông muốn xây dựng hệ thống đường xá mới và sản xuất xe hơi giá cả phải chăng, tiện dụng cho người dân Đức. Tại thời điểm đó, kỹ sư gốc Áo Ferdinand Porsche (1875-1951), trong thời gian “Đại suy thoái kinh tế thế giới”  đã thiết kế chiếc xe nhỏ cho quần chúng, ông gởi cho Hitler các bảng vẽ. Hitler và Porsche sau đó gặp nhau và ông được giao sứ mệnh sản xuất hàng loạt (mass production) Volkswagen cứng cáp, dể sửa , chạy nhanh tiện lợi , giá phải chăng rẻ hơn 1000 Đức kim cho dân Đức (được gọi là people car-Volkswagen). Ông sang Mỹ học cách sản xuất dây chuyền, mua dụng cụ máy móc cần thiết và bắt đầu sản xuất trên các nhà máy Volkswagen tọa lạc vùng Wolfsburg từ năm 1938 đến nay , tuy thế sản xuất quy mô chỉ bắt đầu sau thế chiến II.
Cuối năm 1939, Volkswagen sản xuất được 20000 chiếc – máy 4 xy lanh, mát bằng gió, 1131 cc , công xuất 24 Hp (17.8 kW) với 3000 rpm.
Trong những năm 1950, Volkswagen đến Mỹ, trở nên phổ biến vì là sản phẩm dính dáng tới Đức Quốc Xã trong quá trình thành hình của chiếc xe cũng như kích thước nhỏ và hình dạng tròn khác thường (mà sau này được mệnh danh là “Beetle”) VW trở thành xe nhập khẩu bán chạy nhất tại Mỹ. VW Beetle mang tính biểu tượng như xe bán chạy nhất thế giới hơn cả Ford Model T, tiếp tục sản xuất cho đến 1978 với 19.200.000 chiếc xe.

Hinh99

Hinh 99: Cha đẻ xe Porsche (Ferdinand Porsche) trình mẫu xe Volkswagen Beetle with Adolf Hitler năm 1935

Tham Khảo:

http://classiccars.com/http://www.historicvietnam.com/https://en.wikipedia.org/wiki/Mercedes-Benz_Type_300
http://www.carhistory4u.com/the-last-100-years/car-manufacturers-by-country/united-states
http://www.britsinternational.com/oldbootsales.htmlhttp://www.asialifemagazine.com/vietnam/classic-cars-in-saigon/
http://www.erclassics.fr/voitures-francaises-de-collection.php/
http://saigon-vietnam.fr/menu-indochine.php
http://belleindochine.free.fr/sommaire.htm
http://www.entreprises-coloniales.fr/inde-et-indochine.html#transportsterrestres
Martin Buckley and Chris Rees .The Complete Illustrated Encyclopedia of Classic Cars
David Lillywhite et al. The Encyclopedia of Classic Cars
Michael Allen. British family cars of the fifties.

Y Nguyen Mai Tran tháng tư 2016

Xem phần 1-Xe cổ điển Pháp ỏ miền Nam trước 1975

Xem phần 3-Xe chở khách miền Nam trước 1975

Advertisements

Xe xưa trên lối cũ -Xe cổ điển Pháp ở Miền Nam trước 1975.

XE XƯA TRÊN Lối CŨ 

Phần 1 : Xe cổ điển Pháp ở Miền Nam trước  1975.

Y Nguyên Mai Trần

Hoài niệm Saigon một thời là Hòn Ngọc Viễn Đông với những con đường hai bên là hàng me, hàng sao, lác đác cành phượng vỹ, thấp thoáng tà áo tung bay. Những thập niên giữa thế kỷ 19 đến giữa thế kỷ thứ 20, Pháp chiếm miền Nam và biến thành thuộc địa của họ với tên Cochinchine, bảo hộ miền Bắc và Trung. Vì nhu cầu phát triển kinh tế và chính trị cũng như khai thác tài nguyên, người Pháp đã đem vào Việt Nam và nhất là vào Cochinchine -Miền Nam hàng ngàn máy móc, xe buýt, xe vận tải và xe hơi. Sau Hiệp định Geneva 20 tháng 7, 1954, người Mỹ thay Pháp hổ trợ miền Nam không cộng sản, thành lập thể chế Cộng Hòa, viện trợ quân sự, kinh tế, giao thông, phát triển cơ cấu kinh tế thị trường. Từ đó Saigon xuất hiện những loại xe hơi,to, dài, nhiều mầu-mà người ta gọi chung là xe Hoa Kỳ, xen lẫn với các dòng xe thời Pháp, lưu thông trên khắp thành phố, tỉnh thành trước tháng 5 , 1975.
Bài sưu khảo này dựa vào tài liệu từ Internet, hình ảnh, postcards của các nhiếp ảnh gia, thư viện Pháp, Anh, Mỹ, của những người ngoại quốc đã từng đến thăm hoặc làm việc, của quân nhân Mỹ-Úc đã phục vụ trên chiến trường Việt Nam trước 1975 và manhhai albums cùng với tư liệu của người viết một thời lang thang trên các nẻo đường xưa Sài Gòn –Chợ Lớn-Gia Định, có dịp chiêm ngưỡng “xe hoa-xe Hoa Kỳ”, xe “lô ca xông citroen traction-avant””, xe taxi “con cóc, 4 ngựa”,xe “nhà binh-xe quân sự GMC”, xe “díp (jeep)”… cũng như có dịp tiếp cận xe Ford, Renault và Opel trong thập niên 60.
Mặc dù cố gắng tìm tòi, nghiên cứu hình ảnh xưa, đối chiếu với tài liệu trong thư viện, internet và kỹ niệm xưa, sự thiếu xót và nhằm lẩn có thể xảy ra, không tránh khỏi.
Bài viết nhằm giúp người đọc nhận diện, tham khảo các loại xe cổ xuất hiện ở miền Nam từ thời kỳ Pháp thuộc đến trước 1975 (tạm gọi là classic cars, xe cổ điển), cùng nhau tìm lại một thoáng hương xưa, hoài niệm phút giây lang thang trên phố củ với những ước mơ thầm lén-người viết không bàn về lịch sử hay quá trình phát triển chi tiết của các loại xe từ cổ xưa (antique) cố cựu (đầu những thập niên 1900s-veteran) và cổ điển (classic) theo quan điểm của sử gia về xe hơi, cũng như bối cảnh kinh tế xã hội chính trị thời bấy giờ.
Cũng nên lưu ý, người viết sẽ dùng danh từ xe hơi (thay vì ô-tô) cho tất cả các loại xe sedan-chạy xăng (petrol powered), để phân biệt với các loại xe chạy điện (electric powered) chạy bằng hơi nước (steam powered) hay xe đua (racing cars), cũng như không đi sâu vào chi tiết kỹ thuật công nghệ của những loại xe. Người viết xin lưu ý người đọc từ CV (chevaux vapeur)-tax horsepower-liên quan đến thuế má dùng trong kỹ nghệ xe hơi của Pháp đánh giá sức mạnh của các dòng xe, trong khi các xứ nói tiếng Anh dùng  horsepower-hp. Nếu cần xin tra tài liệu trên Internet để biết rõ ràng hơn.

Thống kê xe cộ ba miền Việt Nam trước 1945

Năm Loại Trung Kỳ Nam Kỳ Bắc Kỳ
(An Nam) (Cochinchine) (Tonkin)
1922 Xe Hơi 308 2230 1126 Automobiles
1929 Xe Hơi 1392 8712 4129 Automobiles
Xe Vận Tải 214 671 325 Trucks
Xe Bus 495 643 390 Buses
Xe Gắn Máy 156 1099 901 Motorcycles
Tổng cộng 2257 11125 5745 Total
1937 Xe Hơi 1600 6000 4300 Automobiles
Xe Vận Tải 300 620 440 Trucks
Xe Bus 300 560 300 Buses
Xe Gắn Máy 50 260 620 Motorcycles
Máy Kéo 20 260 200 Tractors
Tổng cộng 2270 7700 5280

http://www.departments.bucknell.edu/history/projects/BeaucarnotDiary/documents/Ryan_Mayfield_Paper.pdf

Tính đến năm 1974 VNCH có 35.384 xe vận tải nặng và 64.229 chiếc xe hơi chạy trên hệ thống đường xá  21.000 km, trong đó gần 12.000 km là đường trải nhựa, đi được quanh năm. (https://vi.wikipedia.org/wiki/Vi%E1%BB%87t_Nam_C%E1%BB%99ng_h%C3%B2a#Giao_th.C3.B4ng)

So về số lượng xe hơi ở ba kỳ, Cochinchine Miền Nam thời ấy có nhiều nhất, hơn phân nữa tập trung vào khu vực Saigon-Chợ Lớn-trung tâm Gia định (Statistique Générale, Moyens de Transport et de Communication (Averages of Transportation and Communication), 1936-37, p. 115.

ĐẠI LÝ XE HƠI Ở SAIGON-TỪ THỜI PHÁP THUỘC ĐẾN 1975

Saigon là nơi đặt trụ sở chính của Hội vận tải và xe hơi của Đông Dương Indochine. Saigon là nơi có nhiều công ty đại lý buôn bán, sửa chửa, bảo hiểm xe du lịch, chở khách, taxi cho mướn. (Claudie Beaucarnot, Adieu Saigon, Au Revoir Hanoi: The 1943 Vacation Diary of Claudie Beaucarnot, (David Del Testa, 2002), p.14. 27 Société des Transports et Automobiles de I’indochine, Grand Rallye des Hauts Plateaux (pamphlet), (1954), p.p 22,32,34,40,41).
Những loại xe thông dụng giai đoạn 1900-1930 là xe Pháp, Renault, Peugeot, Citroen, Panhard, Berliet, Hotchkiss, và một số ít xe Mỹ của hảng Ford, Chrysler và GM (General Motors).
Công ty xe hơi đầu tiên ở Saigon Ippolito et Cie -Maison V. Ippolito- thành lập năm 1900, đại lý xe Peugeot và cung cấp dịch vụ chuyên chở công cộng (public courier service)- thư tín và khách hàng- đầu tiên giữa Saigon-Tây Ninh (24 tháng 10, 1901), sau đó đến Biên Hòa , Bà Rịa và Vũng Tàu (Cap Saint-Jacques). Trụ sở nằm ở góc Nguyễn Huệ và Lê Thánh Tôn, trước tòa Đô Chính (bây giờ UBNDTPHCM). Quyền đại lý xe Peugeot sau được chuyển qua công ty Le Comte, 34 Norodom (đường Thống Nhất) năm 1931.

Công Ty Bainier

Garage Bainier, công ty nổi tiếng nhất nằm ở góc đường Bonard (Lê Lợi) và Charner (Nguyễn Huệ) được thành lập năm 1914.

hinh 1.jpg

Hình 1: Công ty Bainier với Auto Hall góc đường Lê Lợi và Nguyễn Huệ, từ năm 1920.

Hinh 2.jpg

 

 

 

 

 

 

Hinh 2: Vị trí AutoHall đối diện với nhà hàng Pancrazi (trước 1975, tòa nhà thương mại Eden)
Khảo sát hình, có hai chiếc Citroen Type A tourer và một Citroen C4 (1928) chạy ra từ Bainier-AutoHall garage, chiếc xe chở khách Citroen chạy về hướng Auto Hall, Auto Hall nằm đối diện với nhà hàng Pancrazi trên đường Bonard và nằm xéo góc với Garage Bainier.Từ năm 1920 Ông E Bainier thành lập SOCIÉTÉ ANONYME DES ÉTABLISSEMENTS BAINIER, dời trụ sở về gốc đường 21 Bonard và 100-102 Nguyễn Huệ, cho xây lại AutoHall với công nghệ hiện đại thời bấy giờ (hình 1), mở rộng phạm vi thượng mãi làm đại lý cho nhiều hiệu xe như Unic,Dodge, Darracq và Citroen.
Garage Bainier được xây dựng dùng công nghệ cao, tận dụng ánh sáng và không gian, được xem như một phòng trưng bày xe hơi đẹp nhất vùng Viễn Đông (http://www.entreprises-coloniales.fr/inde-indochine/Bainier-Auto-Hall-Saigon.pdf)
Ông Emile Bainier đến Saigon làm trường thợ máy (mechanic foreman), năm 1911 ông làm Giám đốc cho công ty Ippolito. Sau đó ông rời Ippolito thành lập công ty riêng SOCIÉTÉ ANONYME DES ÉTABLISSEMENTS BAINIER năm 1914 địa chỉ số 40 Bonard.
Ông Emile Bainier mất năm 1941 ở Saigon, gia đình ông tiếp tục kinh doanh cho đến năm 1953 thì trở về Pháp. Vợ chồng hoàng tử Nguyễn Phúc Ưng Thi và Nguyễn Thị Nguyệt Nga mua lại tòa nhà Bainier và phá đi để xây lên khách sạn Rex, rạp chiếu phim Đại Nam năm 1958.
Công ty Bainier lúc đầu làm đại lý cho Citroen (xem Hình 1) nhưng đến năm 1931, quyền đại lý giao cho Mr Henri Hospital chủ Garage Citroen, 37 đường D’ Espagne (Lê thánh Tôn) đến năm 1936 trở thành công ty trực thuộc Citroen với tên Công ty Xe hơi Viển đông (Société Automobile d’Extrême-Orient)

Công Ty Garage Citroen

hinh 3

Hinh 3:  Quảng cáo Garage Citroen

Hinh 4

Hinh 4: Garage Citroen của ông Henri Hospital số 37 đường D’Espagne (Lê thánh Tôn) .Năm 1936, Garage Citroen trực thuộc công ty Citroen với tên Công ty Xe hơi Viển đông (Société Automobile d’Extrême-Orient).The SAEO đổi thành Xe Hơi Citroën Công Ty (Société
des Automobiles Citroën) năm 1969.

Hinh 4a

Hinh 4a: Xe Citroen được trưng bày tại Garage Aviat ở Hànội năm 1952, Garage Aviat đại diện cho Garage Citroen ở Bắc (Tonkin ) và Trung (An Nam).

Công Ty Garage Charner

hinh 5

Hinh 5: Hinh chụp 1953, Peugeot 202 Cabriolet (1939-1949) chạy ngang qua Garage Charner 131-133 Nguyễn Huệ. Garage Charner được thành lập năm 1923, đại diện chính thức cho xe Renault (bây giờ là khách sạn Kim Đô-Royal City Hotel ).

hinh 6

Hinh 6: Garage Charner là đại lý độc quyền bán các xe hơi Delage, Renault, Panhard, Monet-Goyou…
Toà nhà Garage Charner nằm gần thương xá GMC (Grand Magasin Charner) bị cháy tháng 6 năm 1929, được xây lại.

hinh 7

Quảng cáo xe Renault của Garage Charner năm 1931

 

hinh 8b

 

 

 

Hinh 8: Renault Monasix model RY2 -1930

hinh 9

Hinh 9 : Garage Renault 231, Bến Chương Dương (thời Pháp Quai de Belgique), phòng trưng bày xe Renault tai 59 đường Lê Thánh Tôn.

Công Ty Saigon Garage đại lý Simca (S.E.I.C)

hinh 10

Hinh 10: Công ty Saigon Garage thành lập năm 1936, góc đường Nguyễn Huệ và Công trường Garnier (công trường Lam Sơn thời VNCH-công viên nằm đối diện với Hạ Viện-bây giờ Nhà Hát Thành Phố)

hinh 10a

Hình 10a: Saigon Garage S.E.I.C năm 1961

Công ty Olympic đại lý xe Anh Mỹ trên đường Hồng Thập Tự

hinh 11

Hình 11: Ảnh chụp 1953 Cinéma (nằm giữa) và Garage Olympic tọa lạc tai số 97-99 đường Hồng Thập Tự (Chasseloup Laubat) sau này là rạp cải lương Kim Chung. Trong ảnh có thể nhìn thấy xe Citroen 11 và xe Vauxhall Velox 1952-53.

Công Ty xe hơi Jean Comte-Etablissements Jean Comte

Tọa lạc tại địa chỉ 34 đường Norodom (Thống Nhất-Lê duẩn), được thành lập năm 1911 bởi hai ông Laroche và ông Le Comte.
http://www.entreprises-coloniales.fr/inde-indochine/Comte-Saigon-Pnom-Penh.pdf

hinh 12

Hình 12 – Ảnh chụp 1952-53. Etablissements Jean Comte, số 34 Boulevard Norodom (Thông Nhất (VNCH) và Lê duẩn) nằm sau nhà thờ Đức bà. Sau 1975 tòa nhà công ty bị phá bỏ để xây trung tâm thương mại Diamond Plaza). Công ty Jean Comte hoạt động ở Cochinchine từ năm 1920, đại lý các loại xe Peugeot, Hotchkiss, Dodge, Packard, Saurer và xe Vélo Solex.

hinh 13
Hình 13-Phòng trưng bày xe hơi Công Ty Jean Comte-Dãy xe Peugeot 202s và một chiếc Hotchkiss vị trí cuối cùng của dãy xe, bên phải là xe Peugeot 203.

hinh 14

Hinh 14. Năm 1960 Etablissements Jean Comte trở thành Saigon Xe hơi Công Ty, trụ sở chính thức của công ty Citroen (Société Automobile d’Extrême-Orient) được thiết lập năm 1936. Sau khi lấy lại quyền đại lý Citroen từ công ty Bainier (xem hình 1) để giao cho ông Henri Hospital –Garage Citroen số 37 đường D’Espagne (Lê Thánh Tôn), (xem hinh 4). Công ty Citroen mua lại Etablissements Jean Lecome thành lập Saigon Xe hơi Công Ty.
Hình chụp 1964 (ref manhhai’s album), Saigon Xe hơi Công ty là trưng bày và buôn bán dòng xe hơi đầu tiên của Việt Nam –xe La Dalat.

http://www.ddth.com/showthread.php/399458-La-Dalat-v%C3%A0-c%C3%A1c-lo%E1%BA%A1i-xe-th%C3%B4ng-d%E1%BB%A5ng-c%E1%BB%A7a-ng%C6%B0%E1%BB%9Di-S%C3%A0i-G%C3%B2n-tr%C6%B0%E1%BB%9Bc-1975#ixzz42NEwmey6

 

Công ty SCAMA Đại lý cho xe Ford (Mercury, Lincoln…)

hinh 15

Hinh 15: SOCIÉTÉ COLONIALE D’AUTOMOBILES ET DE MATÉRIEL AGRICOLE (SCAMA) đăng ký 1928, trụ sở 41 đường Tôn Thất Đạm (Chaigneau).
Năm 1936 công ty mở thêm tại địa chỉ 23-39, Boulevard Bonard (Lê Lợi), Saigon. Công ty đại diện cho hảng xe Ford, Mercury, Lincoln-hinh chụp 1952 với 3 chiếc Ford Vedette đậu phía trước
Thời Cộng hòa , công ty SCAMA có trụ sở tại số 9 đường Phạm Hồng Thái , đối diện với hội Kỵ Mã (bây giờ là nhà thi đấu Nguyễn Du?) cũng là đại lý cho xe Đức Opel, Mercedes, GMC
http://www.entreprises-coloniales.fr/inde-indochine/SCAMA-Ford.pdf

SIT Societe Indochinoise de transports

hinh 16

Hinh 16: Đại lý cho xe DeLahaye

 

hinh 17

Hình 17: Quảng cáo SIT Siege social -4 Filippini (đường Nguyễn Trung Trực)
Công ty khởi thuỷ nằm ở đường Nguyễn Trung Trực , thời VNCH dời về đường Ngô Tùng Châu (Lê thị Riêng). Đại lý cho xe Mỹ và Anh.
http://www.entreprises-coloniales.fr/inde-indochine/Indoch._de_transports.pdf

KYXACO Đại lý độc quyền Volkswagen VNCH

Công ty này do Ông Chí Tín (Lê Văn Ba) và hảng East Asiatic Đan Mạch lập ra. Kyxaco nhập cảng độc quyền xe Volkswagen ở Việt Nam. Trụ sở 155 đường Nguyễn Huệ, bên cạnh cinema REX góc Lê Thánh Tôn. http://antruong.free.fr/damdaiganhdao2.html

hinh 18

Hinh 18: Công ty KYXACO, 155 Nguyễn Huệ, góc Lê Thánh Tôn.
Đại lý độc quyền xe Volkswagen 1957-1975.

hinh 19

Hình 19: Công ty xe hơi Kim Long trên đường Lê Lợi, gần thương xá Tax, đại diện hãng xe Ford của Mỹ. Photo by Bruce Baumler, 1965

NHỮNG CÔNG TY XE HƠI LỚN VẨN HỌAT ĐỘNG Ở SAIGON CHO ĐẾN GIỮA 1975.

Saigon Grarage, 100 Nguyễn Huệ
Garage Charner, 131 Nguyễn Huệ
Kyxaco, 155 Nguyễn Huệ
Olympic 97-99 Hồng Thập Tự
Renault 231 Bến Chương Dương
SCAMA 9 Phạm Hồng Thái
SIT 102 Ngô Tùng Châu (Lê thị Riêng)
SàiGòn xe hơi công ty 2-B Duy Tân-34 Thống Nhất
Kim Long Garage 70 Le Loi
Lucia, Fiat Garage 11 Đổ Thành Nhân, Khánh Hội

Xe xưa trên lối cũ.

Khảo sát ảnh xưa, số lượng xe lưu thông nhiều nhất trên các tuyến đường như Tự Do, Nguyễn Huệ, Lê Lợi, Hai Bà Trưng, Trần Hưng Đạo, Bến Bạch Đằng, Võ Di Nguy, Chi Lăng, …những đường thuộc quận 1, quận 3, quận 5 (Chợ Lớn) những địa điểm có nhiều du khách và quan chức Pháp Việt, ngoại quốc cùng với thương nhân khá giả, giàu có. Phần đông là xe có biểu tượng (logos) nhập từ Pháp và các xứ Âu Châu.
Sau khi Hiệp định Genève 20/7/1954 chia đôi Việt Nam. Miền Nam xây dựng thể chế Việt Nam Cộng Hòa với sự giúp đỡ của Mỹ và Đồng Minh. Đặc biệt thủ đô Saigon trở nên sầm uất, nhộn nhịp với đủ loại xe cộ có từ thời Pháp đến những loại xe du nhập từ Mỹ, Anh, Đức, Ý, Nhật…Lần đầu tiên người Saigon nhìn thấy những loại xe to, dài, nhiều màu, kiểu cách do người Mỹ đem vào mà họ gọi chung là xe Hoa Kỳ.

Bài viết gồm ba phần

Phần 1 –Xe cổ điển Pháp ở miền Nam trước 1975
Phần 2 -Xe cổ điển không xuất xứ từ Pháp ở miền Nam trước 1975.
Phần 3- Xe chở khách, xe buýt xưa – trước 1975

                                                PHẦN 1 -XE CỔ ĐIỂN PHÁP Ở MIỀN NAM TRƯỚC 1975

.Phần lớn các công ty xe hơi đầu thế kỷ 20 có trụ sở trong địa hạt quận 1 trước 1954, một số có công ty đại diện ở các tỉnh lớn, Hà Nội Hải Phòng, làm đại lý cho hãng xe Pháp Peugoet, Citroen, Renault, Simca, Packard, Panhard, hãng xe Mỹ như Ford, Chrysler, General Motors, xe Anh như Vauxhall, Austin, Morris và xe Đức như Opel, Volswagen, xe Ý như Fiat, Nhật như Toyota, Honda..

Biểu hiệu xe Pháp (logos) thường thấy ở Việt Nam

hinh 19ahinh 20

Hinh 20: Ảnh chụp khoảng đầu thập niên 1940s, có thể nhận được loại xe peugeot 202, Traction 11 L (Legère) và xe buýt Renault. Có người lính ″mã tà ″ đội nón cối trắng điều khiển lưu thông.

hinh 21

Hinh 21. Xe Panhard, Austin 1100, Chevrolet, Renault , Volswagen, Simca, Peugeot, Jeep, Dauphine… chen chúc trên đường một chiều trung tâm quận nhất Saigon năm 1967.

hinh 22

Hinh 22: Xe đậu vị trí trước nhà hát Tây (thời VNCH là trụ sở Hạ Viện), đầu thập niên 1950s

Khảo sát hình 22, bãi xe đậu trước nhà hát Tây – trước tháng 5/1975 là Hạ Nghị Viện, sau 1975 mang tên nhà hát Thành phố. Tiệm Nouveautés Catinat của ông Lucien Barthet (Khởi thuỷ xây cất năm 1887 là tiệm Bách hóa department store, nằm ở góc đường Catinat và Bonard, đến thời VNCH trở thành Phòng thông tin triển lãm Quận 1 (hình 23, bây giờ Louise Vutton 2015).

hinh 23

Hinh 23: Phòng thông tin trước Hạ Viện 1972 (nhà hát Thành Phố sau 75)
Đường Catinat trước 1975 là đường Tự Do và Bonard là Lê Lợi
Trên bải xe ̣ (hinh 22) , các loại xe hơi có thể nhận dạng gồm có Citroen Traction Avant, Renault 4CV, Traction 11, Peugeot 202, Peugeot 203, possible Land Rover, Panhard Dyna X 1953, Peugeot 203.
Đây là quang cảnh điển hình thời Pháp, nói chung xe xuất xứ từ Pháp chiếm đa số, đi đâu cũng thấy phần đông Renault 4 CV, rồi đến Simca, Dauphine, Renault, Peugeot, Citroen và một số xe từ các nước ở Âu Châu như Đức, Ý, Anh… Cuối thập niên 1950s, và thập niên 60s, khi người Mỹ và đồng minh cùng các công ty ngoại quốc bắt đầu vào miền Nam họ mang vào các loại xe sản xuất từ Mỹ-mà người Nam gọi là xe Hoa Kỳ, đặc điểm chung là kích thước lớn, dài, kiểu đột phá táo bạo, bumper (cây cảng-hãm xung) mạ kền, đuôi vẩy cá (fintail), sơn hai ba màu. Trên đường phố Sàigòn, cuối thập kỷ 40 và bắt đầu thịnh hành từ thập kỷ 50 có nhiều loại taxi xuất hiện- xe Renault 4CV, Simca Dauphine loại xe khách như Citroen Traction và cùng các loại xe Hoa Kỳ (thường được mướn làm xe “hoa” hay cho những cơ hội đặc biệt).
Người đọc chú ý, từ taxi dùng trong bài viết cho những loại xe chở khách có gắn taximetre (taximeter) để tính tiền. Trong hình kế tiếp 24, bức ảnh cho thấy loại xe khách mà người Pháp gọi là taxi đã xuất hiện ở Saigon năm 1905-12? bên cạnh xe lôi pousse-pousse (có người kéo mang bảng số 1100 )

hinh 24

Hinh 24: Xe chở khách năm 1912 ? –Saigon –chạy ngang tháp đồng hồ-hai phu xe pousse-pousse đứng trên thềm đá tháp đồng hồ- nổi tiếng thời bấy giờ -nhìn vào trường đua Phú Thọ.

Panhard cars

Công ty Panhard và Levassor đã được thành lập vào năm 1887, một thời nổi tiếng là một trong những công ty xe hơi tiền phong sớm nhất và quan trọng hơn bao giờ hết với chiếc xe đầu tiên sản xuất vào năm 1891 dựa trên một giấy phép của các bằng sáng chế của Daimler. Nhưng thay vì động cơ đặt phía sau như xe Daimler Benz, Panhard đặt động cơ và bộ tản nhiệt radiator- ở phía trước, điều khiển bánh xe phía sau, và một truyền trượt bánh răng thô. Cách cấu tạo này trở thành và được biết đến như là “Système Panhard”
Nhưng sau Thế chiến II, Panhard quyết định thay đổi, sản xuất xe cho tầng lớp trung lưu và phát triển một loại xe nhẹ, chi phí sản xuất thấp nhằm đáp ứng như cầu dùng xe phổ quát trong xã hội thời kỳ hậu chiến, dự kiến loại xe nầy sẽ trở thành phương tiện thông dụng di chuyển của mọi người. Đây cũng là chiến lược mà Citroen đã áp dụng để sản xuất 2CV, được biết như Panhard Rod thời bây giờ.

hinh 25

Hinh 25: Panhard Model X 86 Saloon 1952. Máy đặt phía trước (traction-avant), 2 cylinder car.

Hinh 25a

Hinh 25a: Panhard Model X 86 Saloon 1952 và Traction 11 trên đường Tự Do năm 1955
Dyna Panhard X, sedan 4 cửa , nhẹ, gọn là công trình thiết kế có tầm nhìn xa của kỹ sư Jean Albert Grégoire, đầu tiên được trưng bày Dyna AFG Paris Motor Show 1946. Sản xuất thương mại bắt đầu từ cơ xưởng Panhard ở Ivry (Paris) năm 1948 và trở thành xe mẫu (pattern) cho những loại xe Panhard khác, cho đến khi ngừng sản xuất năm 1967.
Dyna X còn được gọi là Dyna 110, Dyna 120 và Dyna 130 dựa theo tốc độ 110, 120 hay 130 km/giờ do sự tăng tiến của ỗ máy
Dyna X bị thay thế bởi loại xe lớn hơn, mạnh hơn Dyna Z năm 1954.

hinh 26.jpg

Hinh 26: Panhard dyna model Z (1963). Panhard xáp nhập (absorbed) với Citroen năm 1965.

http://www.thetruthaboutcars.com/2010/03/an-illustrated-history-of-panhard/

hinh 26a

 

 

 

Hinh 26: Panhard dyna model Z (1963). Panhard xáp nhập (absorbed) với Citroen năm 1965.

Simca cars

Tên SIMCA (Société industrielle để Méchanique et Carrosserie). Công Ty thành lập bởi Henry- Théodore Pigozzi năm 1934 sản xuất xe Fiat (của Ý) cho thị trường Pháp. Khởi thủy Piozzi là đại diện phân phối xe Fiat trong nước Pháp công ty SAFAF (Société Anonyme Franais des Automobiles FIAT), dần dà bắt đầu nhập càng các bộ phận và được phép (under license) lắp ráp xe Fiat bán trên thị trường nội địa Pháp. Sau đó, cơ hội đến, ông mua lại cơ xướng cũ ở Nanterre và bất đầu sản xuất Simca tự do.
Mẫu Fiat 500 Topolino được sản xuất từ năm 1937, loại xe nhỏ, 569cc với 85km/giờ, máy đặt phía trước, ổ bánh phía sau ( rear wheel drive), 2 cửa. Fiat 500 Topolino được biến đổi thành SIMCA 5 (Cinq), và loại Fiat sinh sau Fiat 1100 được thay thế bởi SIMCA 8 (Huit.)
Sau thế chiến thứ hai, Simca cho ra mắt Aronde năm 1951, với thiết kế công nghệ monocoque (unitary body) của Simca, Simca Aronde được cho ra đời để cạnh tranh trực tiếp với Peugeot 203. Trong năm đầu tiên đã là xe bán chạy nhất so với Simca 8. Năm 1959 trở thành công vượt bực cho Simca, sản xuất 200,000 chiếc. Năm 1954, SIMCA mua lại cơ xưởng Poissy của Ford Pháp-vào thời này đang sản xuất Ford Vedette. Sau đó Simca sản xuất Vedette nhưng vẫn giữ bảng hiệu cũ. Cơ xưởng nầy thành cơ xưởng chính của SIMCA trong khi cơ xưởng cũ ở Nanterre bán lại cho Citroen năm 1961.
Sự thành công lớn của SIMCA cho phép Simca thâu tóm hãng xe Talbot (Từ đó Talbot biến mất trên thị trường), để trở thành món mồi ngón cho Chrysler sau này.

hinh 27
Hinh 27: Simca 1000 Rallye model năm 1963

Simca 1000 là loại sedan 4 cửa, máy đặt phía sau. Ổ máy 4 cylinders .9L sản xuất 43 Bhp ($3.6PS/32.1 kW) với tốc độ tối đa là 116km/giờ. Xe cân nặng 700kg

hinh 28

Hinh 28: Mẫu xe Simca 9 Aronde-1300 sản xuất đầu tiên năm 1951-55

 

hinh 29

Hinh 29: Sản xuất trong khoảng 1951-1963 SIMCA Aronde –thiết kế Pháp với nhãn hiệu Aronde/hirondell/chim nhạn. Trong suốt 12 năm với bốn kiểu xe Simca 8, 9 , 1300 và P69 Simca thành công nhất với các dòng xe này- Xe được sản xuất từ Pháp và Úc.
Simca 9 Aronde thấy ở Saigon sản xuất khoảng 1951-55, không phải là traction avant nhưng máy cũng đặt phía trước, năng xuất khoảng 1.2L. The Aronde rất phổ biến ở Pháp, giúp Simca trở thành hãng sản xuất xe hơi lớn thứ hai bên Pháp vào khoảng cuối thập niên 1950s, Simca ngừng sản xuất Arondecuối năm 1963.

 

hinh 30

Hinh 30: Simca trên đường Nguyễn Huệ

hinh 31

Hinh 31: Simca Aronde chết vì bị đặt chất nổ .

Hinh 32

Hinh 32: Simca 6-1947-50 đậu trên đường quê.
Simca 6 là một chiếc xe nhỏ sản xuất và bán nội địa (Pháp) giữa năm 1947 và 1950. Simca trước đó đã được thành lập như là một công ty con của công ty Fiat (Ý), Simca 6 được phát triển dựa vào mẩu Simca 5. Simca 5, bản thân chính là loại Fiat Topolino và sản xuất tại Pháp được bán dưới nhản hiệu Simca.

Với sự ra mắt, tại 1947 Paris Motor Show, của Simca 6 thể hiện tư thế thiết kế độc lập cho một mô hình sản xuất Simca. Các Simca được tách từ nguồn gốc của nó bởi độ Mỹ hoá xe Fiat, mở rộng đặt hạ lưới tản nhiệt thấp, phía trước, hai bên là đèn pha được lên tích hợp(integrated) vào các tấm cánh (wing panels), tương tự như các dòng xe Peugeot 203 và Renault 4CV thời bấy giờ.

 

hinh 33

Hinh 33: Simca Aronde 1968 trên đường Lê Lợi, phia sau International Havester Scout 800-1967

 

hinh 34

Hì̀nh 34: Simca 5-2 cửa-569cc (Fiat 500- Topolino đổi huy hiệu (rebadged)-động cơ phía trước (front engine) ổ bánh sau (rear wheel drive). Đừng lầm lẩn với Peugeot 202 là phiên bản cải tiến dựa trên lọai xe SIMCA 8 -4 cửa

 

hinh 35

Hinh 35: The Fiat 500, thường được biết là “Topolino”, loại xe nhỏ sản xuất ở thành phố Topolino ở Ý từ 1936 đến 1955.

 

hinh 36

Hinh 36: Simca 1000 Ralye

Simca Rallye 1.3 (Simca 1000), xe sedan 4 cửa, máy đặt phía sau Simca Pháp sản xuất từ năm 1961 đến 1978. Thuộc loại xe hạng nhẹ, cân 700kg, đạt tốc độ tối đa 116km/giờ

 

hinh 37

Hinh 37: Xe cộ trên đường Trần Hưng Đạo 1969 – picture Bob Carolan

Renault cars

Sản phẩm trí tuệ của một kỹ sư nhiệt tình tên là Louis Renault , công ty Renault được thành lập cùng với hai người anh em của ông ở Pháp vào năm 1899 , những người em lo về tài chính , trong khi ông chú trọng về cơ học, máy móc” . Thành lập cơ xưởng cạnh sông Sein năm 1899. Louise Renault sản xuất loại xe đầu tiên từ 1898-1903, loại xe nhỏ Renault Voiturette.
Khủng hoảng kinh tế 1929-31, cũng như các hảng xe hơi khác đều phải giảm giá, cắt nhân công, tăng hiệu quả năng xuất, mang giá thành sản xuất xe xuống thấp, công ty Renault trở thành công ty đa dạng sản xuất xe buýt, xe chở hàng trucks, xe lửa điện electric railcars, máy cày và cả động cơ cho máy bay.
Do nhiều cuộc đình công gây rắc rối cho các nước trong khu vực, Renault đã được quốc hữu hoá năm 1945 để tránh phá sản như Citroen đã làm trước đó vài năm. Các dự án đầu tiên được thực hiện bởi công ty mới sản xuất 4CV nhỏ, nhưng bị hoãn lại cho đến sau Thế chiến II. Đối với thị trường châu Âu, xe nhỏ là tương lai vì giá rẻ, dể mua và duy trì. Sau khủng hoảng kinh tế và thế chiến, sự cách biệt giữa Âu Châu và Mỹ càng ngày càng lớn. Louis quyết định tối tân hóa cơ xưởng, bắt chước lối sản xuất dây chuyền của hảng Ford (Ford dùng công nghệ này bắt đầu năm 1912 sản xuất hàng loạt Ford T2)
Ngày nay Renault hòa hợp với Nissan (công ty xe hơi lớn của Nhật) trở thành một trong 4 hãng sản xuất xe hơi lớn nhất trên thế giới.

hinh 38

Hinh 38: Xe 4 bánh Renault đầu tiên-Renault Voiturette 1989-1903

Dòng xe 4CV, được giới thiệu vào năm 1946, là một thành công lớn so với dự kiến ban đầu. Với sự thành công này công ty thực hiện bán, mua lại và phát triển máy móc hạng nặng để giúp gia tăng sản xuất. Renault sau đó quay trở lại với lĩnh vực chế xe hạng nặng và qua việc sáp nhập với hai công ty hiện có Latil và Somua-cả hai là công ty sản xuất xe tải chở người và hàng hoá- họ và tạo ra một công ty mới, hoàn toàn dành riêng để làm xe tải, buýt với tên Saviem.
Dòng 4CV được thay thế bằng dòng xe Dauphine xuất hiện vào năm 1956. Đây là dòng xe thành công lớn kể cả trên thị trường Mỹ. Dauphine ngừng sản xuất năm 1961, được thay thế bởi hai dòng xe Renault 4 va Renault 8
Renault bắt đầu những năm 70 với những dòng xe thành công khác, thể thao hơn và nhanh nhẹn hơn nhưi dòng xe Renault 5, vì xe xài tiết kiệm nhiên liệu nhất là trong thời gian khủng hoảng dầu trong thập niên 1970s

Cũng trong những năm 70s, Renault bắt đầu mở rộng ảnh hưởng của mình và mở ra các nhà máy ở Đông Âu, châu Phi, Úc cũng như hợp tác với công ty Mỹ AMC đến năm 1979. Vào đầu những năm 80, Renault gặp rắc rối tài chính một lần nữa nên công ty ra khỏi hoạt động đua xe hoàn toàn, cũng như bán tất cả các phi tài sản và giảm chi mọi mặt.
Năm 1987 công ty bắt đầu biến cán cân nghiêng về lợi nhuận, do đó, vào đầu những năm 90, một loạt xe mới được phát hành trên thị trường và tất cả các mô hình đều thành công: Clio Espace, Twingo và Laguna. 1995 Renault Megane là chiếc xe đầu tiên để đạt được Euro NCAP (New Car Assessment Program) đánh giá bốn sao về an toàn .
Cũng trong những năm 90, Renault trở lại Formula 1 racing đua thành công, sau khi giành chức vô địch năm 1992, 1993, 1995, 1996, 1997. Trong năm 1996, Công ty chuyển hướng, cho rằng một tình trạng nhà nước sở hữu công ty sẽ không được hưởng lợi lâu dài nên công ty đã được tư nhân hóa một lần nữa. Renault đã đầu tư hơn nữa tại Brazil, Argentina và Thổ Nhĩ Kỳ.
Sau năm 2000, tuy thất bại với một loạt xe kém thành công như Avantime và Vel Satis, nhưng cũng tiếp tục thành công với hàng loại xe cũ như Clio, Laguna và Megane.

Read more: http://www.autoevolution.com/renault/history/#ixzz44kGHFLHk

hinh 39

Hinh 39: Renault Floride-Caravelle

Floride, còn được biết đến với cái tên Caravelle, là dòng xe thể thao 2 cửa, 2 + 2 chỗ ngồi của hãng xe Pháp Renault, được sản xuất trong giai đoạn từ 1958 – 1968.
Renault ghen tị với sự thành công phát triển ở Bắc Mỹ của dòng xe Volkswagen / Beetle quyết định tìm kiếm những phương cách để Renault có được sự thành công như hãng Volkswagen-Đức. Renault quyết định thay đổi xe Renault Dauphine của mình. Tại một hội nghị của các nhà phân phối ở Bắc Mỹ diễn ra ở Florida, người kinh doanh Renault ở Hoa Kỳ kêu gọi thành lập một Dauphine coupe / cabriolet sẽ cải thiện hình ảnh của Renault tại thị trường quan trọng của Mỹ. Chủ tịch Renault, Pierre Dreyfus đồng ý, và kể từ khi khái niệm đã được sinh ra tại một hội nghị đó ở Florida cho đến lúc nổi tiếng trong công ty gọi xe là “Renault Floride”. Tuy nhiên tên “Floride” được coi là không phù hợp với các tiểu bang khác của Hoa Kỳ, nên một tên khác, “Caravelle”bắt đầu được sử dụng cho khu vực Bắc Mỹ và các thị trường lớn khác (bao gồm cả Anh)

 

hinh 40

Hinh 40: Renault Caravelle sản xuất khỏang 1947-1961

 

hinh 41

Hình 41: Dáng hao hao giống Renault Caravelle, 1968 VW Type 3 Fastback của nhân viên Úc trong khuôn viên Tổ chức hỗ trợ quân sự của thế giới tự do ( Free World Military Assistance Organization (FWMAO), hiện nay là địa chỉ khách sạn Kỳ Hoà 238 ba tháng hai (trước 1975 Trần Quốc Toản) thuộc quận 10.

Hinh 42

Hinh 42: Xe buýt Renault 6C-2 vào năm 1951 trên đường Bonard (Lê Lợi), Saigon ?.
Trong ảnh này, phia sau xe bus, tòa nhà hát Tây –sau là Hạ Viện trước 1975 – là công trình xây cất của kiến trúc sư Pháp Eugene Ferret năm 1897.

hinh 43

Hinh 43: Renault Juvaquatre -4CV- berline trên đường Saigon 1968. Juvaquate sản xuất đầu tiên 1939, chấm dứt 1955.

hinh 44

Hinh 44: Renault Juvaquatre ảnh chụp 1969 chạy trên đường Pasteur 1969 , bên trái phía xa là Saigon xe hơi công ty, bên phải qua hàng cây cao là Vương Cung Thánh Đường –nhà thờ  Đức  Bà. Xe được sản xuất vào khoảng 1936-1948, loại xe sedan 4 chổ. Đến năm 1947-48 Juvaquatre được thay thế bằng loại xe 4CV cho đến năm 1961. Juvaquatre được hồi sinh 1950-1960 biến chế thành panel van hay station wagon với nhãn hiệu Renault Dauphinoise

hinh 45

Hinh 45: Renault Dauphinoise fourgonnette là loại xe panel van hay station wagonwagon, sản xuất từ năm 1950-1960.

 

hinh 46

Hinh 46: Renault Novaquatre mẫu YN2 1934, ảnh chụp 1946

Renault Novaquatre (4CV) kiểu 1934 đậu trước trường Chasse Loup-Laubat 1946 (bây giờ Lê Quý Đôn) – so với Juvaquatre, hai đèn phía trước nằm trên 2 vành bánh xe, phía sau chiếc Renault là loại xe Jeep thời thế chiến hai 1941-45.

 

hinh 47

Hinh 47: Renault Monaquatre 1934

 

hinh 48

Hinh 48: Bến Taxi ở đường Lê Lai (Boudonnet) bên hông tường ga xe lửa Saigon (bây giờ là khu khách sạn New World). Rạp hát xưa Aristo năm đối diện bến xe taxi khoảng 1950

Taxi – Renault 4CV

Renault 4CV mà người Việt gọi là xe 4 ngựa- quatre cheveaux, xe con cóc, sản xuất khoảng 1946-61 là thối thân của xe Juva Quatre và tiền thân của Renault Dauphine . Rất thông dụng thời bấy giờ và được dùng làm taxi vì xe nhỏ, nặng 620kg, rẻ tiền, thiết kế giản dị, dể sửa ,4 chỗ ngồi, máy đặt phía sau, ổ bánh phía sau, phía trước có đặt đồng hồ tính tiền. Đầu thập niên 1960s , chính phủ với chương trình “Hữu Sản Hoá” người nghèo, nhập cảng loại xe mới Renault Dauphine, bán góp cho người muốn chạy xe taxi làm kế sinh nhai. Thành phố Saigon lại xuất hiện nhiều taxi Dauphine, bên cạnh taxi Renault 4CV 750 và 760 phân khối.
Chiếc xe này cho người viết cảm giác đi taxi đầu tiên vào khoảng năm 1952-53,người tài xế cũng là người thân vừa mua xe để chạy taxi làm nghề sinh sống, cũng muốn chạy quanh thành phố cho quen nên người viết được tháp tùng. Thời VNCH, thân xe sơn hai màu-màu bơ và xanh lá cây, có mui trần được mở, nhìn lên bầu trời như chạy đua với trăng sao lùa những luồng gió mát thổi vào xoa dịu cái nóng của thành phố vừa ngả về đêm.

hinh 49

Hinh 49: Taxi Renault 4CV chạy quanh bồn nước góc đường Nguyễn Huệ và Lê Lợi khoảng thập niên 1960

Hinh 49a

Hinh 49a : Taxi mẫu 1952.

 

hinh 50

Hinh 50: Bến Taxi Renault CV (mẫu 1957), 2 chiếc taxi Renault 750 (747cc), bên cạnh là xe La Dalat chiếc xe hơi sản xuất đầu tiên ở Việt Nam.
Những ai đã từng đặt chân đến Sàigòn trước 1975 mà không nhớ đến những chiếc taxi Renault chạy khắp nẻo đường Sài Gòn, Chợ Lớn, Gia Định,miền Nam, chứng kiến bao nhiêu cảnh vui buồn, thương hận trước 1975. Có thể nói taxi quatre cheveaux là một thứ văn hóa của dân Saigon, miền Nam là một cái gì mới, xa lạ với người miền Bắc trước 1975.

hinh 51

Hinh 51: Renault 760 (760cc) trên đường Tự Do

hinh 52

Hinh 52: Renault 4 R4 1961, phía sau là Taxi Renault 4CV 750 (747cc)

 

hinh 53

Hinh 53 : Renault 4 R4

http://www.taringa.net/posts/autos-motos/11752930/Entra-Autos-Que-Quedaron-En-La-Historia-Argentinaa.html
Renault 4, còn được gọi là 4L (phát âm là “Quatrelle”) hay 4R, là loại xe không đắt, tiết kiệm (economy) mở ra phia sau (hatchback ) được sản xuất bởi hãng Renault từ năm 1961 đến 1992
Renault 4 là một thiết kế xe nhỏ sản xuất hàng loạt đơn giản nên rất phổ biến, thông dụng trong đô thị và vùng phụ cận. Đây cũng là ứng dụng đầu tiên kỹ thuật lực kéo áp dụng trên chiếc Renault chở khách Estafette vào năm 1958 (máy đặt phía trước, ổ bánh xe phía trước (front engine, front wheel drive) Cũng la kết quả sau khi khảo cứu, khai thác những ưu điểm và nhược điểm của xe Citroën 2 CV 1948 .
Xe được bắt đầu sản xuất từ tháng 8 năm 1961 đến cuối năm 1992 tại 28 quốc gia

Renault Dauphine

Dauphine sản xuất từ năm 1956 đến 1967 , loại xe thông dụng máy đặt phía sau , thân khung liền vỏ , hộp số tự động có ba số, không tự động có 3 hoặc 4 số , 4 cửa, động cơ 845 phân khối. Dauphine được đưa ra thị trường nhằm thay thế cho dòng xe rất thành công trước đó 4CV
Một số lớn Dauphine được nhập cảng vào VNCH qua chương trình Hữu Sản Hoá 1968 làm taxi. Cùng thời với Volkswagen Beetle, Morris Minor, Mini and Fiat 500, đây là những dòng xe đi đầu trong chiến lược sản xuất xe thông dụng, giá phải chăng ở Âu Châu thời bấy giờ

 

hinh 54

Hinh 54 Tem thư phát hành khuyến khích phong trào Hửu Sản Hóa.
Chương trình Hửu Sản Hóa
https://www.facebook.com/notes/nam-r%C3%B2m/h%E1%BB%AFu-s%E1%BA%A3n-h%C3%B3a-tr%C6%B0%E1%BB%9Bc-75-v%C3%A0-qu%E1%BB%91c-h%E1%BB%AFu-h%C3%B3a-sau-75-/483065861887422/

 

hinh 55

Hinh 55: Xe nhà Dauphine chạy gần dinh Độc Lập.

 

hinh 56

Hinh 56: Taxi Dauphine –góc Nguyễn Huệ và Lê Lợi, Tòa nhà trắng bên trái là thư viện Abraham Lincoln, phía sau là Tòa Độ Chính 1967.

 

hinh 57

Hinh 57: Renault –Dauphine mẫu 1956

hinh 58

Hinh 58 : Taxi Dauphine trên đường Công lý, phia sau là chiếc Chevrolet 1950s

hinh 59

Hinh 59 : Renault Fregate model 1951 trên đường Norodom (bây giờ là lê duẩn) năm 1953.

hinh 60

Hinh 60: Renault Fregate 1954 (NBF 338), Renault 4CV Taxi (NBI 992) và Volswagen Beetle NBP… trên đường Tự Do 1961.

 

hinh 61

Hinh 61 : Renault Fregate đường Nguyễn Cư Trinh, bùng binh Cống Quỳnh quận Nhì (giờ là Q1), phía sau xe van Renault Goelette dừng lại cho người qua đường.

hinh 62

Hinh 62: Renault 8 (mẫu 1962) Saigon 1969-70 – Ngã tư Trần Hưng Đạo-Đề Thám.

hinh 63

Hinh 63: Renault 8 Gordini -4 đèn pha phía trước , sản xuất khoảng 1964-1970

hinh 64

Hinh 64: Renault Estafette trên đường Tự Do năm 1965, phía trước van Estafette là đuôi xe Citroen DS

hinh 65

Hinh 65: Xe Van Renault Estafette được sản xuất từ năm 1959 đến năm 1980 với tổng số 533,209 chiếc- Estafette là loại xe van đầu tiên ra mắt của công ty với công nghệ ổ diã xe đặt phía trước (front wheel drive)
Thiết kế thân xe có 3 cửa phía sau (three-part tailgate) cửa trượt bên hông (sliding side door) dựa vào sự thành công của Type H van Citroën.

hinh 65a

Van estafette có ba cửa mở ra phía sau.
Sau khi xe Van Estafette tung vào thị trường năm 1959, Renault là hảng chế tạo xe hơi duy nhất trên thế giới sản xuất các loại xe với 3 kỷ thuật công nghệ khác nhau:
Má đặt trước với ổ dỉa xe đặt phía trước ( the front engined front wheel drive ) như Van Estafette, máy đặt sau với ổ dỉa xe đặt phía sau (rear engined rear wheel drive ) như dòng xe Dauphine và máy đặt trước với ổ dỉa xe đặt phía sau (front engined rear wheel drive ) như dòng xe Fregate.

hinh 66

Hinh 66: Renault Estafette và bến xe buýt Renault-Saviem màu xanh-ngà, bùng binh chợ Bến Thành 1961

hinh 67

Hinh 67: Renault Goelette fourgon 1950 của trường nữ trung học Áo tím Gia Long

hinh 68

Hinh 68: Renault Goelette chở khách hàng trên quốc lộ 1 –Saigon Mỹ tho 1968 (photo Lance Nix)

 

hinh 69

Hinh 69: Renault Goelette Bien Hoa 1968 và Volswagen Van có cửa sổ., phía sau cùng xe Citroen Ami 6.

Peugeot cars

Peugeot là một trong số hãng sản xuất xe hơi lâu nhất, tuy nhãn hiệu lúc đầu- không phải đó làm xe hơi- bắt đầu năm 1842 (buôn bán máy nghiền cà phê, muối và tiêu). Người đầu tiên quan tâm đến chuyện làm xe hơi là ông Armand Peugeot và sau khi gặp ông Gottlieb Daimler, chiếc xe Peugeot đầu tiên được sinh ra – loại xe ba bánh- chạy bằng hơi nước vào năm 1889 .

hinh 70

 

Hinh 70: the Serpollet-Peugeot, xa ba bánh với động cơ bằng hơi nước ( steam powered tricycle) 1889
Năm sau, máy chạy bằng hơi nước được thay thế bằng xe bốn bánh với máy chạy xăng của Daimler.
Sau thế chiến thứ nhất, xe hơi trở thành phương tiện cần thiết và không được xem như hàng đắt giá, công ty khá thành công với hàng loạt dòng xe chạy xăng sản xuất từ hàng Societe Anonyme Des Automobiles Peugeot , xưởng sản xuất ở Adincourt. Công ty này là công ty tách ra từ công ty mẹ đó bà anh em Peugoet thành lập. Năm 1929 dòng xe Peugeot 201 được tung ra cùng với cách định mẫu các dòng xe độc đáo về sau bằng 3 con số, với số không nằm ở giữa.

Trong thời gian thế chiến 2, Peugoet bị ảnh hưởng nặng phải sản xuất các loại xe hơi và dụng cũ chiến tranh cho Đức. Khí thế chiến 2 chấm dứt hầu hết cơ xưởng Peugeot bị phá hủy cần phải được xửa chữa vì thế đến năm 1948 Peugeot mới cho ra dòng xe mới, dòng xe 203. Thời nầy Pháp trở lại ViệtNam và cho nhập cảng loại xe này rất nhiều!
Read more: http://www.autoevolution.com/peugeot/history/#ixzz44dNoqRG9
Các dòng xe Peugeot và năm được tung ra trên thị trường
• 104 (1972), 106 (1991), 107 (2005), 108 (2014)
• 201 (1929), 202 (1938), 203 (1948), 204 (1965), 205 (1983), 206 (1998), 207 (2006), 208 (2012)
• 301 (1932), 302 (1936), 304 (1969), 305 (1977), 306 (1993), 307 (2001), 308 (2007), 309 (1985), 301 (2012)
• 401 (1934), 402 (1935), 403 (1955), 404 (1960), 405 (1987), 406 (1995), 407 (2004), 408 (2010)
• 504 (1968),
Nhung dòng xe thường thấy ở Viet Nam , nhất là Miền Nam.
Peugoet 202, 203, 302, 403, 404 and 504

hinh 71

Hinh 71: NHA TRANG 1904-1907 – Gabrielle Vassal dans une voiture – Bà Gabrielle Vassal ngồi trên xe hơi ở Nha Trang. Có thể là biến thể của dòng xe Peugeot 33 -1901

https://www.google.com.au/#q=Gabrielle+Vassal+dans+une+voiture

hinh 72

Hinh 72 : Peugeot 202 và xe vận tải nhỏ Renault trên đường Charner 1950s

hinh 73

Hinh 73: Peugeot 202 thùng, chở hàng hóa (đầu 1950s)

hinh 74

Hinh 74: Taxi renault 4 CV, Jeep, Toyota Corona, Peugeot 404 , xe Hoa Kỳ trên đường Nguyễn Huệ.

hinh 75

Hinh 75: So sánh Peugeot với Simca
Đừng nhầm lẩn Peugeot với Simca 5 hoặc 8 (1946-50) –Peugeot 202 thiết kế với hai đèn trước nằm sau vỉ sắt tản nhiệt-radiator grill.

hinh 76

Hinh 76: Simca 5 hoặc 8, hai đèn trước nằm bên trong vỉ sắt
Peugeot 202 được sản xuất từ giữa năm 1938 -1942 và rồi sau đó bắt đầu sản xuất lại cuối năm 1945 , được bán trên thị trường đến năm 1949, thì được thay thế bằng Peugeot 203.
Peugeot 202 được trang bị động cơ làm mát bằng nước 1133 cc , cho tối đa là 30 PS (22 kW) tại 4000 rpm và tốc độ tối đa khoảng 100 km / h (62 mph).
Máy gắn phía trước tới bánh sau thông qua hộp số 3 tốc độ . Nhiên liệu được dẩn qua van trên cao , tại thời điểm đó đối thủ cạnh tranh rõ ràng nhất là Renault tung ra chiếc Renault Juvaquatre, vẫn cung cấp nhiên liệu qua van bên cạnh máy.

hinh 77

Hinh 77: Peugeot 302. Để ý sự khác biệt bên hông xe và kính trước.

Peugeot 302 là tiền thân của 202. Được giới thiệu tại Paris Motor Show 1936 và chỉ sản xuất trong 18 tháng, cho đến tháng tư năm 1938. Động cơ bốn xi lanh 1.758 cc làm mát bằng nước , tương tự như động cơ được trang bị cho peugeot 402, với tốc độ tối đa 105 km / h (65 mph).

hinh 78

Hinh 78: Peugeot 402 B.E 1939

hinh 79

Hinh 79 : Peugeot 203 , VW Kombi, Peugept 404, Simca Aronde góc đường Tự Do và Lê Lợi, bên hông khách sạn Continental Saigon 1968 – Photo by John F. Cordova – Café Givral bên trái và Continental Palace Hotel bên phải

Peugeot Taxi

Hinh 79a : Peugeot 203 taxi

hinh 80

Hinh 80: Peugoet 203 có thùng, dùng làm xe cứu thương và chở hàng nằm trong kho thương cảng Saigon 1951.

hinh 81

Hinh 81: Peugeot 203 Familiale khoảng đầu thập niên 1950s, 3 hàng ghế, chở đến 6 người.

hinh 82

Hinh 82: Peugeot 203-1955

hinh 83b

Peugoet 203 (late 1940s) Peugeot 1950s và Traction Legere 11
Hinh 83: Peugeot trên đường quê, thời Pháp thuộc trước 1954

hinh 84

Hinh 84: Peugeot 403 sản xuất từ 1955 đến 1966, với kiểu Pininfarina với 1468cc. Chiếc xe này hiện được trưng bày trong phòng triển lãm ở Saigon.

hinh 85

Hinh 85: Peugeot 403- 1960

hinh 86

Hinh 86: Peugeot 403 trên đường Tự Do, trước Hạ Viện 1968 (bây giờ nhà hát Thành phố)

hinh 87

Hinh 87: Peugeot 403 trên đường Thống Nhất, trước dinh Độc Lập

hinh 88

Hinh 88: Peugeot 403 trước Vương Cung Thánh Đường 1966 (Tom Briggs)

hinh 89

Hinh 89: Peugeot 404 trên đường Nguyễn Huệ

hinh 90

Hinh 90: Peugeot 404 SAIGON 1971 – Ngã tư Đoàn Thị Điểm – Phan Đình Phùng
Nay là ngã tư Trương Định – Nguyễn Đình Chiểu – Photo by Dick Leonhardt

hinh 91

 

Hinh 91: Peugeot 404 station wagon

hinh 92

Hinh 92: Peugeot 404-1964 hiện được trưng bày trong bảo tàng viện xe cổ ở Saigon.

http://www.thetruthaboutcars.com/2012/09/no-credit-no-problem-uncle-hos-used-cars-has-a-low-mile-zis-for-you/#comments

hinh 93
Hinh 93: Ford Fairlane 500 model 1957, Peugeot 404 1960 and Renault 12TS (1970s) hay Peugeot 504 trên đường Tự Do trước Hạ Viện (bây giờ Nhà hát thành phố)

hinh 94

 

Hinh 94: Peugeot D3A Camionette 1954 trên đường Phan Đình Phùng.

Citroen cars

hinh 94a

SOCIÉTÉ ANONYME DES ÉTABLISSEMENTS BAINIER
21, bd Bonard và 100-102, bd Charner
Traction Avant, tiếng Anh là front-wheeled drive –FWD-lực kéo xe đặt ổ bánh phía trước được thiết kế bởi hai ông André Lefebvre và Flaminio Bertoni khỏang cuối năm 1933, đầu năm 1934. Tuy không phải là những người sản xuất FWD đầu tiên (xe Alvis được thiết kế FWD năm 1928 ở Anh, L29 từ năm 1929-1932 tại Hoa Kỳ và DKW F1 năm 1931 tại Đức) Traction Avant áp dụng công nghệ FWD vào khung liền vỏ – unitary body. Cùng với dòng xe DKW 1930s của Đức, Traction tiên phong trong công nghệ FWD được tung lên thị trường sản xuất xe khối ở Âu Châu (European mass car market).
Trong năm 1930, hãng Citroen đã đấu tranh để cạnh tranh với các hảng đối thủ như Peugeot và Renault. Andre Citroen nhìn thấy công ty của ông cần một thiết kế mới với tiềm năng cách mạng hóa ngành công nghiệp xe hơi. Ông sang Mỹ và tìm được cảm hứng ấy sau khi thăm viếng Tổng công ty Budd tại Hoa Kỳ. Nơi đây ông chứng kiến xe hơi được thiết kế theo kiểu khung liền vỏ (vỏ xe ̣không phải là vỏ bánh xe -tiếng Anh Unitary Body or Unibody), kết cấu thân xe và khung xe (chassis) vào một đơn vị nhẹ. Thiết kế của công ty Budd bao gồm sáng kiến mới, đặt máy xe (engine) và bộ phần truyền tải (transmission) phía trước của xe, lợi thế công nghệ này làm nội thất xe rộng hơn, trung tâm trọng lực gravity thấp hơn và như vậy giúp cho việc xử dụng xe hoàn hảo (superior) hơn.
Cấu trúc Traction Avant dựa trên khung và vỏ sườn hàn lại với nhau-gọi chung là khung vỏ như đã nói trên. Hầu hết các xe khác của thời đại này dựa trên một khung riêng biệt (chassis) và vỏ (thùng) xe được hàn vào. Công nghệ khung vỏ –unibody or unitary body thân đơn nhất- đưa đến kết quả sản xuất xe nhẹ hơn, và vì thế công nhiệp này được sử dụng cho hầu như tất cả các công trình xe sedan về sau.
Mẫu Traction Avant ban đầu là một saloon nhỏ với 2.910 mm (115 in) chiều dài và 1.303 cc (79.5 cu in) động cơ, mô hình này được gọi là 7A. Chỉ sau 2 tháng, với khoảng 7.000 xe được sản xuất, 7A được nối tiếp trong tháng sáu năm 1934 bởi dòng xe 7B với động cơ 1.529 cc với hai cần gạt nước (screen wipers) thay vì một gạt nước duy nhất của dòng xe 7A . Dòng xe 7Bs được thay thế bởi dòng xe 7C mạnh hơn với động cơ 1628cc
Mẫu xe về sau dòng 11 (tung ra tháng 11, 1934) với 1,911 cc (116.6 cu in) bốn xy lanh và dòng 15 (tung ra khoang tháng 6, 1938), với 2,867 cc với 6 xy lanh. Dòng 11 có hai kiểu 11BL (“légère”, or “light”), có cùng kích thước với dòng 7 CV, và 11B (“Normale”, or “normal”) với bánh xe (wheel) to hơn và bề ngang bánh xe rộng hơn.
Nhin qua, không thấy sự khác biệt to lớn giữa 7CV và loại sinh sau 11CV và 15CV, tuy vậy những dòng xe này được thiết kế hài hòa, thú vị, được ham chuộng thời ấy, mặc dù không phải là loại xe có chiến lược viễn kiến Traction Avant trở thành một trong những dòng xe đặc biệt nhất, mở màn cho những loại xe sinh nửa thế kỷ sau-dòng xe “cách mạng” Citroën DS.

Các dòng xe Citroen và thời gian sản xuất

Citroen 7CV –1934-41
Citroen 11CV -1934-57
Citroen 15CV-1938-56
Citroen DS 19-1955
Citroen DS 21-1970
Citroen DS 23-1973

hinh 95

Hinh 95: Citroen cổ xưa AC4 model 1927-đậu trước hảng xăng dầu Shell , góc đường Norodom-Luro (Thống Nhất Cường Để thời VNCH sau nầy Lê duẩn-Tôn đức thắng), công ty được thành lập đầu thập niên 1930s với tên Companie Franco Asiatique des Petroles

hinh 96

Hinh 96 : Xe xưa Citroen, Peugeot và Renault, góc đường Catinat (Đồng Khởi ) và Bonard ( Lê Lợi) phía trước nhà hát Thành Phố-bên hông là công viên Garnier trước 1954. (Manhhai photo albums)

hinh 97

Hinh 97: Traction 11B Cabriolet RHD 1937 và Traction 11B Sedan 1937

hinh 98

Hinh 98: Traction Avant 11B –cabriolet 1937 tân trang đậu trên đường phố Saigon

hinh 99

Hinh 99: Traction Onze BL 11 (Legere=nhẹ) bên phải và Traction 11 màu trắng bên trái với thùng xe phía sau to gấp đôi được giới thiệu với kiểu xe 1952 (Ra mắt vào tháng năm 1934), 1.911 cc , động cơ bốn xy-lanh.

hinh 100

Hinh 100: Citroen traction-avant 11 model 1953.

hinh 101

Hinh 101: Xe Citroen và Vedette đậu ở góc đường Lê Lợi và Pellerin (Pasteur) ngày xưa có khu giải trí và rạp hát Casino Saigon

hinh 102

Hinh 102: Traction 15 ra mắt tháng 6 năm 1938 với 2,867 cc, sáu xy lanh

hinh 103

Hinh 103: Chiếc xe Traction 11 đậu trước nhà hàng Sing Sing, phía sau xe Traction là ngã tư Phan Đình Phùng & Đoàn Thị Điễm.

hinh 104

Hinh 104: Traction 11 xưa trên đường phố Saigon 1969

hinh 105

Hinh 105: Traction 11 kiểu sau 1935, chỉ có một ống bơm xăng và có thể mở cóp sau để chứa đồ. Traction sản xuất trước 1935 có 2 ống bơm xăng 2 bên.

hinh 106

Hinh 106: Traction Onze BL (legere) mẫu 1937

hinh 107

Hinh 107: Citroen đậu tại bến xe lô-ca-xông đường Phạm Ngũ Lăo gần Chợ Bến Thành năm 1969.Người Saigon một thời dùng xe này như xe khách, gọi là xe lô-ca- xông (location).

hinh 108

Hinh 108: Xe traction đậu trên đường Bonard (Lê Lợi)  năm 1953- Chiếc đầu là custom-made (làm theo kiểu đặt hàng) traction avant  Onze 11, sau đó là chiếc traction 11, kế tiếp là Renault Monaquatre.

Citroen DS
Citroen tung vô thị trường loại xe DS thay thế Traction Avant 11.Mẫu đầu tiên DS 19 được tung ra năm 1955, trong khi dòng ID rẻ hơn, máy yếu hơn được tung ra năm 1957. Dòng xe DS và ID luôn luôn được cái thiện trong suốt quá trình sản xuất 20 năm. Đầu tiên DS 19 với 1911 phấn khối- mang qua từ Traction Avant, sau đó được thay thế bởi DS 19a với 1985 cc (phấn khởi) năm 1965 (còn gọi là DS 20 từ năm 1969). Cùng năm DS 21 được tung ra với 2175 cc, máy mạnh hơn nhờ bộ phận phun nhiên liệu cửa hãng Bosch được gắn vào xe đầu tiên năm 1970. DS 21 trở thành một trong những loại xe đầu tiên bán trên thị trường khối (mass market) với bộ phun nhiên liệu điện tử năm 1970.
Sau cùng dòng DS 23 được giới thiệu vào năm 1973 với lòng máy 2347 cc, với 2 lựa chọn với bộ máy hòa khí (carburator) hay bộ máy phun nhiên liệu điện tử. Dòng DS 23 với bộ máy phun khi là dòng xe mạnh nhất sản xuất 141 hp (105 kW). Cũng nên biết 1Hp=.7457Kw

hinh 109

Hinh 109: Hinh quảng cáo DS 19, năm 1957, trước cổng Lăng Tả quân Lê Văn Duyệt
http://www.dsinasia.com/Vietnam/history.html

hinh 110

Hinh 110: Citroen DS 19 trên Bến Bạch Đằng (Tôn đức thắng) góc đường Hàm Nghi, tòa nhà là trụ sở Tổng Cục Quan thuế trước 1975- Trong ảnh có thể nhìn thấy cả xe taxi Dauphine và Peugoet 203. Ảnh chụp khoảng cuối thập niên 1960s.

Khi Citroen tung DS 19 năm 1955 vào thị trường báo chí thời bấy giờ ca ngợi chiếc xe này như được thiết kế từ một hành tinh nào đó trong vũ trụ.
Hệ thống nhúng treo thuỷ khí (Hydro-pneumatic suspension), Hệ thống phù trợ cho tay lái (assistance systems for the steering), thằng –phanh (brakes) và cần đổi số (gearshift lever), and inboard đĩa thắng trước (inboard front disc brakes) là những tiến bộ tiền phong của loài thiết kế đặc biệt-khác thường này.

hinh 111

Hinh 111: Citroen DS 19 series đậu trước hội trường Diên Hồng- trụ sở Thương Nghị Viện thời Việt Nam Cộng Hoà (bến Chương Dương)-bây giờ là Sở Giao dịch Chứng khoán ( 45-47 Bến Chương Dương, Quận 1)- trong thời gian hội nghị Colombo.

hinh 112

Hinh 112: DS 19 đậu trước khách sạn Continental

hinh 113

Hinh 113 : DS 19 trên quốc lộ 1 Saigon–Trung Lương 1968 (Lance Nix)

hinh 114

Hinh 114: DS 21 and DS 19 tại Càphê 30/4 trong khuôn viên Định Độc Lập (Hội trường Thông Nhất bây giờ) đường Huyền Trân Công Chúa.

hinh 115

Hinh 115: DS 23 là loại xe DS hiếm thời bấy giờ, chiếc nầy được đồn đại là của Tổng Thống Thiệu, Đệ Nhị Cộng Hoà, sau lọt vào tay tướng Trán văn trà.

Những tính năng như hệ thống nhúng treo tự cân bằng, đèn pha hướng, phanh trợ lực( power brakes) và trợ lực tay lái- power steering (tất cả được điều khiển bởi hệ thống thủy lực treo ( hydraulic suspension) xác nhận vị trí Citroen một lần nữa ở đỉnh cao của sự sáng tạo xe hơi thời bấy giờ.

DS 21 (1968-1975)
DS 21 đến thị trường 16 năm sau DS19, về cơ bản là một cải thiện quan trọng của dòng xe DS. Sự khác biệt kỹ thuật chủ yếu là động cơ công suất lớn hơn DS 19 và là một trong những Citroëns đầu tiên với hệ thống phun nhiên liệu.
DS 23
Với động cơ 2347cc đến trong cả hai hệ thống phun nhiên liệu fuel injection và các hình thức dùng bộ chế hòa khí carburetor. Các mẫu xe dùng hệ thống phun nhiên liệu điện tử đã sản xuất DS mạnh nhất mọi thời đại, với 143 HP. Các dòng DS biến thể (variant) mới nhất này đi kèm với sự lựa chọn loại hộp số: một bốn số tự động gọi là “HYDRAULIQUE” (four-speed automatic called “Hydraulique”), một ba số tự động từ Borg-Warner và hai không tự động (manuals) với hộp số gồm 4 hoặc 5 tốc độ (4 or 5 speeds)
(http://www.autoevolution.com/cars/citroen-ds23-1973.html#aeng_citroen-ds23-1973-23-117-hp)
Chú ý Citroen tung lên thị trường dòng xe DS bên cạnh dờng ID được tung ra thị trường nội địa Pháp với giá rẻ hơn. Tuy bề ngoài khó phân biệt, ID có lòng máy nhỏ hơn nên công xuất yếu hơn cộng với bộ thằng đĩa không tân tiến.

Citroen 2 CV (citroen deux cheveaux)-xe con coc

Citroen 2CV (tiếng Pháp: “deux chevaux” tức là “deux chevaux-VAPEUR” (dịch nghĩa “hai con ngựa hơi”, hay tax hores power “hai thuế mã lực”) là một FWD (Front Wheel Drive) ổ đĩa bánh trước , máy mát bằng không khí, xe được giới thiệu tại hội chợ 1948 Paris Mondial de l’Automobile , Citroën sản xuất năm mẫu xe trong khoảng thời gian 1948-1990.
Được thai nghén bởi Phó Chủ tịch Pierre Boulanger nhằm cơ giới hóa số lượng lớn nông dân vẫn còn sử dụng ngựa và xe ngựa kéo trong năm 1930 Pháp, 2CV được ghi nhận từ sự kết hợp tối đơn giản về kỹ thuật sáng tạo và tiện dụng, đơn giản thân xe bằng kim loại – khởi thủy uốn như tôn vượn sóng làm tăng thêm sức mạnh cho thân xe mà không cần thêm trọng lượng. 2CV đặc trưng với giá bình dân, chi phí thấp, bảo trì và vận hành, một động cơ làm mát bằng gió ,tiêu thụ nhiên liệu thấp, và một hệ thống nhúng treo, nhẹ nhàng off-road, sàn xe cách cao mặt đất , và điều chỉnh chiều cao hệ thống nhúng bằng cách kéo dài / rút ngắn của thanh kéo (tie rods) . Thường được hóm hỉnh, thân mật gọi “một chiếc ô-dù trên bánh xe”. 2CV có điểm nổi bật là mui trần có thể mở cuốn lại (canvas, rolled back sun roof) kéo dài tới gần cản sau của xe, cho phép xe tải vật dụng quá khổ.
Sản xuất tại Pháp giữa năm 1948 và 1989 (và cuối cùng hai năm ở Bồ Đào Nha 1989-1990), hơn 3,8 triệu 2CVs đã được sản xuất, cùng với hơn 1,2 triệu xe tải thùng nhỏ giao hàng 2CV được biết đến như Fourgonnette. Citroen cuối cùng đưa ra một số dòng xe biến thể giống nhau về cơ học bao gồm cả dòng Ami (hơn 1,8 triệu chiếc); các Dyane (hơn 1,4 triệu chiếc); các Acadiane (trên 250.000 chiếc); và Mehari (hơn 140.000 chiếc ). Tổng cộng, Citroën sản xuất hơn 8,8 triệu “A Series” xe, gồm các biến thể 2CV được biết đến.
Một đánh giá kỹ thuật 1953 của tổ chức Autocar (Anh) mô tả “sự khéo léo phi thường của thiết kế này, mà chắc chắn là độc đáo nhất kể từ Model T Ford của Henry Ford ở Mỹ”. Năm 2011, The Globe and Mail (Canada) gọi đó là một “chiếc xe độc nhât không có đối thủ”.

hinh 116

Hinh 116: Citroen 2CV Mẫu 1959 và mẫu 1962.

hinh 117

Hinh 117: Citroen mẫu 1970 và Citroen mẫu 1955.

hinh 118

Hinh 118: Citroen 2CV mẫu 1955 chạy trên Bến Chương Dương–đầu đường Tự Do

hinh 119

Hinh 119:Citroen 2 CV fourgonnette AU 1951-1962

hinh 120

Hinh 120: Citroen 2 CV sedan và Citroen 2CV fourgonnette AU 1951-1962 chạy phía trước góc Tự Do và công trường Lam Sơn.

hinh 121

Hinh 121: 1966 Citroen Ami 6 Berline Sedan

hinh 122

Hinh 122: Ami 8 1971

Citroen Ami được tung ra thị trường ngày 25 tháng 4 năm 1961, bốn tháng trước Renault 4 R 4 (xem hinh 50). Cả Renault 4 và Citroen Ami đáp ứng nhu cầu thị trường cần một chiếc xe hơi cỡ lớn hơn và it mộc mạc hơn 2CV. Ami là một 2CV với thân xe được làm lại , máy lớn hơn so với 1950 2CV), để bù đắp cho trọng lượng tăng thêm. Lúc tung ra trên thị trường, xe được trang bị máy làm mát bằng không khí với 602 cc hai xy-lanh động cơ phẳng.
Bộ khung chính và hệ thống nhúng treo tương tự như 2CV. Ghế của Ami dễ dàng tháo rời. Citroen Ami loại xe siêu nhỏ (supermini) được sản xuất từ năm 1961 đến năm 1978, là một trong số năm mẫu xe bán chạy nhất tại Pháp. Sản xuất đạt 1.840.396 đơn vị. Amis được thay thế bằng Visa Citroen từ năm 1978.
Cũng nên biết, ở Pháp biệt danh 3CV còn được dùng cho dòng xe Ami 6, nhưng không bao giờ được áp dụng cho dòng Ami 8.

hinh 123

Hinh 123: Citroen Ami 6 trên đường Lê Lợi –công trường Lam Sơn 1971

Xe La Dalat-Xe hơi sản xuất đầu tiên ở VietNam.

hinh 124

Hinh 124: Xe La Dalat-xe hơi sản xuất từ Việt Nam lần đầu tiên với sự yểm trợ công nghệ từ Citroen. Ảnh chụp “Saigon June 1974 – Hàm Nghi boulevard” by Jack Garofalo-Paris Match via Getty Images, và giao lộ Tôn Thất Đạm) (https://www.facebook.com/photo.php?fbid=872558386132787&set=g.865130223501356&type=1&theater)

 

hinh 125

Hinh 125: Các kiểu xe La DaLat
http://saigoneer.com/saigon-technology/3129-made-in-vietnam-la-dalat

Sau thế chiến thế nhất, công ty Ford tung ra loại xe hơi thực dụng – rẻ tiền, để đáp ứng nhu cầu di chuyển của dân Mỹ- Ford Model T2. Sự thành công của Ford Model T2 do tài sáng tạo thiên tài của Henry Ford qua công nghệ sản xuất dây chuyền. Ford Model T được bầu là xe có ảnh hưởng nhất của thế kỷ 20 trong cuộc thi Car of the Century-Xe hơi của thế kỷ năm 1999, trước các dòng xe BMC Mini, Citroën DS, và Volkswagen Type 1
(https://en.wikipedia.org/wiki/Ford_Model_T)
Cũng thế, để đáp ứng nhu cầu về phương tiện di chuyễn của dân Pháp sau thế chiến 2 , Citroen đã tung ra thị trường chiếc xe 2CV, sau khi gặt hái thành công trong việc sản xuất một chiếc xe rẻ tiền, bền bỉ, bảo trì và sửa chửa dễ dàng, thực dụng cho dân chúng thời hậu chiến. Citroen tiếp tục tung ra Citroën Dyane 6 và Méhari sản xuất cuối thập niên 50 và đầu thập niên 60. Xe Citroën La Dalat sản xuất ở Việt Nam là loại xe căn bản dựa trên kiểu Citroën Baby Brousse sản xuất ở Côte d’ivoire, dựa theo kiểu xe Méhari.
Như đã biết Citroen đã xuất hiện ở Đông Dương (Indochine) từ đầu thập niên 1930s qua các đại lý, nổi tiếng nhất là Công Ty Bainier ở góc đường Bonard và Charner. Từ năm 1937, quyền đại lý cho Citroen chuyển qua cho Công Ty Saigon-Citroen của ông Henri Hospital ở 37 Lê Thánh Tôn.

hinh 126

Hinh 126: Cơ xưởng sản xuất La Dalat ở Bến Vân Đồn 1971.

Từ năm 1971 Xe La Dalat được lắp ráp sản xuất tại Bên Vân Đồn (đường Tôn Thất Thuyết) nơi tọa lạc của hãng thuốc lá Bastos ngày xưa.
Xe hơi Citroen Công Ty đổi về địa chỉ Establishments Le Comte ở đường Thống Nhất (bây giờ Diamond Plaza) rồi biến thành Saigon Xe hơi Công Ty là nơi trưng bày, bán sản phẫm Citroen và xe La Dalat.
Đầu tiên Citroen nhập cảng vào Việt Nam những bộ phận chính như máy, tay lái, bộ nhúng, bộ thắng… Phần còn lại như đèn, kèn báo hiệu, ghế, giàn đồng, mui xe được chế tạo tại Việt Nam. Lúc tung ra thị trường vào năm 1970, tỷ lệ cơ phận nhập cảng so với cơ phận nội địa là 75/25 cho đến năm cuối cùng khi hảng Citroen đóng cửa vào năm 1975 là 60/40. Có tất cả là 4 kiểu La Dalat: loại 4 chổ ngồi hoặc 2 chổ ngồi với thùng chở hàng (hinh 122).

hinh 127

Hinh 127 : Citroen Mehari

Delahaye cars

hinh 128

Hinh 128: Quảng cáo xe Delahaye của công ty Bainier, Saigon

hinh 129

Hinh 129: Delahaye 235 mẫu 1951-54

Hãng xe hơi Delahaye do Emile Delahaye thành lập từ năm 1894 tại Tours, Pháp. Năm 1896, xe Delahaye tham gia cuộc đua Paris–Marseille–Paris và đứng hạng 8 với tốc độ trung bình 20 km/giờ. Một thành tích đáng nể vào thời đó.
Hiệu xe Delahaye chấm dứt hoạt động năm 1954 nhưng đã để lại một tiếng vang khá lớn trong giới yêu xe cổ. Nổi bật nhất là ca sĩ Elton John với chiếc Delahaye 178 Drophead Coupé được sản xuất năm 1949.
Không thấy dấu vết của loại xe này tồn tại ở Vietnam.

hinh 130

Hinh 130: Xe Delahaye của ca sĩ nổi tiếng người Anh, Sir Elton John.

Phụ Lục:

Citroen 11

Citroen, xe hơi đầu tiên thiết kế với ổ bánh lái phiá trước (Front Wheel Drive FWD), năm 1934 là chiếc xe Citroen Traction Avant (FWD) nguyên mẫu (prototype) với máy 1300 cc trên thân khung liền vỏ (unibody). Mặc dầu thành công với Citroen 7, Andre Citroen yêu cầu kỹ sư của ông cưa chiếc 7 ra làm đôi và làm bề ngang rộng thêm khoảng 12 cm . Dòng xe thứ nhất ra đời vẫn với 1300cc cho công xuất 23,5kW (32 Hp), so với trọng lượng xe 1000kg, máy hơi yếu. Dòng xe thứ hai ra đời máy mạnh hơn với công xuất 26.5 kw (36hp) 1628 cc và cuối cùng với 1911 cc cho ra công xuất 34 Kw (46 hp) cho đến hết đời của traction 11 năm 1957.

Đặc điểm công nghệ, máy, bộ hợp ly (clutch) và bộ hộp số có thể tách rời ra bộ phận riêng làm cho việc bảo trì, sửa chữa dễ dàng, ổ bánh trước (FWD) với nhúng treo độc lập, chiếc xe có chiều dài nên trọng lực thấp, sàn thấp làm cho xe dễ lái và bắt đường (road holding).

Vì khả năng dễ lái và chạy nhanh Traction 11 rất được yêu thich và phổ biến trong giới xã hội đen(gangster), nên còn được mệnh danh là xe của dân xã hội đen.
Citroen hầu hết sản xuất loại sedan 4 cửa, nhưng cũng có một số ít mẫu Coupe và roadster.

hinh 131

Hinh 131: Trái, Traction 7; Giữa, Traction 11 ; Phải, Traction 15

Renault 2CV

Trích từ http://hoangkimviet.blogspot.com.au/2013/05/xe-con-coc-citroen-2-cv.html
Cuộc phiêu lưu Paris-Tokyo bằng 2 CV

hinh 132

Thập niên 50 có hai người pháp gốc Lyon tổ chức một chuyến đi từ thủ đô Pháp Quốc, Paris đến Tokyo, nước Nhật Bản băng qua 2 lục địa, châu Âu và châu Á. Chuyến đi khởi hành ngày 2 tháng tám 1956 và đến Tokyo ngày 19 tháng tư 1957 với đường về không ngưng nghỉ trong một tháng trên một chiếc xe Citroën 2 CV kiểu A sản xuất năm 1939.

hinh 133.jpg

Với 9 tháng thám hiểm trên các nẻo đường. Jacques Cornet và Georges Kim đã chứng kiến từng khuôn mặt thay đổi trên những chặng đường đi qua. Vừa có tính cách mạo hiểm đầy thể lực mà cũng là kinh nghiệm cho con người. Họ đã quan sát và nhìn tận mắt những phong tục tập quán, những chế độ chính trị, những phong cảnh của Á châu đầy cảm xúc. Mổi một quốc gia mà họ đi qua, để lại hàng lớp những bất ngờ, điều tốt và xấu, những tai nạn năng nề hoặc dí dỏm nhẹ nhàng.

hinh 134.jpg

Họ đã chống chỏi với thiên nhiên, vượt qua những chặng đường chưa có xe cộ lưu thông hoặc những chặng đường biến mất trong những cơn lũ dưới những cơn mưa tầm tã của vùng nhiệt đới.

hinh 135.jpg

Họ cũng hưởng được những sự tiếp đón nồng hậu của các sắc dân á châu, chia xẽ cuộc sống với những dân du mục trên sa mạc và củng hưởng những xa hoa tráng lệ của những nhà triệu phú.

hinh 136.jpg

Trên đường về, thật là một cuộc chạy đua với thời gian đã đưa họ về đến Paris dưới 1 tháng, sự hư hỏng máy móc nhiều khi làm họ khốn đốn trên sa mạc. Khi họ khởi động lại được cổ máy để tiếp tục con đường, nhờ vào trí thông minh tháo vát và năng động, họ vẫn thành công bắt chiếc xe phải hoạt động và đưa họ trở về nhà.

hinh 137.jpg

 

Đại lý hảng xe hơi ỏ Hà Nội.

 

Nguồn :https://36hn.wordpress.com/2015/07/24/xe-hoi-va-cac-hang-xe-o-ha-noi-xua/

ha noi auto hall

ha noi sim ca

(http://tranthanhnhan1263.blogspot.com.au/)

 

ha noi hang peugeot

 

Tham Khảo:

http://saigon-vietnam.fr/
http://stubs-auto.fr/
http://www.hemmings.com/
https://www.flickr.com/groups/vehicle/
http://www.avant-train-latil.com/hanoi.php
http://www.antiqbrocdelatour.com/
http://www.dsinasia.com/Vietnam/history.html
http://www.flickriver.com/photos/photiste/8169524851/
http://motoburg.com/549-citroen-type-a-tourer.html
1949 Delahaye Type 178 Drophead Coupe - Elton John car - rvr
http://belleindochine.free.fr/Automobile.htm
http://www.renaultoloog.nl/autos-francais.htm
https://en.wikipedia.org/wiki/
http://www.entreprises-coloniales.fr
http://www.erclassics.fr/voitures-francaises-de-collection.php
https://www.flickr.com/photos/13476480@N07/albums (manhhai albums)
British family cars of the fifties . Michael Allen
Martin Buckley and Chris Rees .The Complete Illustrated Encyclopedia of Classic Cars
David Lillywhite et al. The Encyclopedia of Classic Cars

http://hoangkimviet.blogspot.com.au/2013/05/xe-con-coc-citroen-2-cv.html

Y Nguyen  Mai Tran 4/2016

Xem phần 2-Xe cổ điển không phải từ Pháp ở miền Nam trước 1975

Xem phần 3-Xe chở khách miền Nam trước 1975