Xe xưa trên lối cũ: Xe chở khách miền Nam trước 1975.

Xe xưa trên lối cũ

Phần 3 :  : Xe chở khách miền Nam trước 1975.

Xe Buýt  Xe Đò Xe Taxi

Y Nguyên Mai Trần 

Xem phần 1 Xe cổ điển Pháp trước 1975
Xem phần 2 Xe cổ điển xuất xứ không từ Pháp-Mỹ-Anh-Đức-Ý-Nhật

Phương tiện chuyên chở khách bằng xe hơi ở miền Nam trước 1975 rất đa dạng. Thời Pháp thuộc-Hòn Ngọc Viễn Đông trước 1954, người Pháp đã xử dụng một số xe chở khách nhỏ lớn trong phạm vi thành phố Saigòn Chợ Lớn và các tỉnh phụ cận như Tây Ninh, Vũng Tàu, Vĩnh Long Cần Thơ. Khi miền Bắc trở thành bảo hộ, người Pháp cũng mang vào xe khách chuyên chở người và thư tín, hàng hoá đến các tỉnh chung quanh Hà Nội như Bắc Ninh, Hải Phòng…
Ở Saigon, người cần dùng phương tiện có thể đến mướn xe ở những bãi đậu – trước sở Hoả Xa (đường Hàm Nghi) (thập niên 1930s, 1940s), đường Lê Lai (Boudonnet) cạnh ga xe lửa Saigon xưa (1940s, 1950s), hoặc sau nầy dọc theo đường Nguyễn Huệ, Lê Lợi, hoặc vẫy tay dừng taxi trên đường phố. Taxi là từ đã được dùng từ khi người Pháp dùng cho xe chở khách từ thập niên 1930s-1940s. Sau đó Renault 4CV được nhập cảng vào Miền Nam cho tư dụng và dùng làm taxi vào cuối thập niên 1940s. Tuy nhiên phải đến thời VNCH sau 1954 taxi mới trở thành phổ biến – taxi phải được sơn 2 màu, phần dưới màu xanh (dương), phần trên màu bơ (màu ngà) và phải gắn đồng hồ tính tiền (taxi meter). Tuy đa số taxi thuộc dòng xe Renault 4CV, các dòng xe khác cũng được dùng làm taxi như Peugeot, Simca và Dauphine xuất hiện trên đường phố khoảng giữa thập niên 1960s.
Taxi là phương tiện giao thông nổi bật của Sài Gòn nói riêng và của cả Việt Nam nói chung từ cuối thập niên 1940s qua những thập niên 1950s, 1960s đến 1975.
Song song với Taxi , từ năm 1957 , hệ thống xe buýt thay thế xe lửa điện vận hành trong địa phận Sàigòn Chợ lớn Gia định. Từ bến xe buýt chính ở công trường Diên Hồng, các tuyến xe buýt vận hành thay thế  các tuyến xe lửa xưa với nhiều tram dừng xe hơn. Nếu đi xa hành khách có thể đến những bến xe đò đi về đi miền Đông, miền Trung hay Miền Tây. Ở các tỉnh lớn như Mỹ Tho, Cần Thơ, Vĩnh Long, Đà Nẳng-Huế…cũng có những bến xe đò địa phương đi những vùng lân cận.

Có thể phân biệt một cách tổng quát, những loại xe chở khách:

Xe đò, xe buýt: Đây là loại xe to, trung và nhỏ, nhiều hàng ghế, chở 10 người trở lên, từ buýt mượn từ phương Tây bus hay autobus thường để chỉ loại xe khách lưu hành trong nội vi thành phố lớn và thường là vận hành bởi cơ quan nhà nước (xe buýt trong thành phố) hay công ty tư nhân (xe đò). Hành khách xe buýt không cần mua vé trước, lên/xuống tại những trạm xe bus được định sẵn và cách nhau không xa. Xe đò thường để chỉ loại xe chở khách đi đến địa điểm xa hơn thành phố, đi liên tỉnh, chở hàng hoá, đồ đạt trên mui xe nói chung, thường phải nên mua vé trước tại trạm xe đò có số ghế ngồi hoặc không tùy hãng. Ở miền Nam thời ấy, xe đò đủ lọại lớn, nhỏ, trung (lỡ). Xe lớn và lỡ thường có một người lơ phụ giúp tài xế, xe buýt thì có người bán vé trên xe, giúp khách hàng lên xuống.
Phần đông các xe đò miền Nam trước 75 đều được đóng thùng (thân xe) tại VN dựa trên dàn gầm (khung chassis), động cơ, hộp số… nhập cảng từ Pháp ngoại trừ một số được nhập cảng nguyên chiếc hoặc bộ phận từ Mỹ giai đoạn 54-75.
Cũng nên biết những bộ phận nhập cảng này , tùy nhu cầu cũng được ráp làm xe cam nhông. Thời này xe cam nhông khác biệt với xe đò vì đầu máy thường nhô ra phía trước thùng xe (đầu nhọn), một số xe buýt xưa đầu máy không nhô ra phía trước mà lại thụt vào phía trong thùng (đầu bằng) và như vậy bác tài và cần sang số ngồi bên hông của đầu máy được che chở bởi một lớp da cách nhiệt.
Cuối cùng cụm từ xe đò thường gợi lại bao nhiêu hoài niệm cho những ai từng xuôi ngược miền Nam, liên tỉnh hay từ làng thôn ra thành phố.
Hoài niệm về xe đò đối với người viết là chuyến đi xe đò từ bến xe Hậu Giang (bến xe Miền Tây) từ Saigon xuống Cần Thơ với hai đêm không ngủ bên đường vì đường bị đặt mìn, xập cầu, đào hố, lấp hố ở đoạn qua Trung Lương, Cai Lậy, Cái Bè trước khi tới Vĩnh Long 1966/67 với bao nhiêu lo âu trăn trở, bất an vì sợ pháo kích trong đêm, bắt gặp những ánh mắt bâng quơ, những nụ cười gượng gạo, tiếng khóc em bé khát sữa với tiếng ru buồn của người mẹ trong đem đen với ánh đèn măng xông bên cạnh những mảnh ruộng vô tình, âm vang của xe công binh ra sức lấp hố, sửa cầu trong đêm, chưa kể vấn đề vệ sinh cá nhân phiền toái.

Den ManchonHinh 1: Đèn Măng Xông (Manchon) xưa.

Cũng nên biết ngày xưa, xe đò từ Saigon về miệt Mỹ Tho, Gò Công, về Hậu Giang mất cả ngày, phải qua hai cầu sắt Tân An và Bến Lức, hai cầu này thiết kế cho cả xe lửa Saigon –Mỹ Tho và vận hành giống như cầu Bình Lợi (đi từ Bà Chiểu xuống đường Nguyễn Văn Học để qua cầu lên Thủ Đức ăn nem hay Lái Thiêu ăn măng cụt, sầu riêng, lên núi Châu Thới Biên Hoà, hay thẳng đường ra Cấp (Vũng Tàu). Ai về miền Châu Đốc, Long Xuyên thường phải qua hai bac Mỹ Thuận và Vàm Cống còn về Hậu giang phải qua hai phà Mỹ Thuận và Cần Thơ mà thời gian đến tuỳ thuộc vấn đề an ninh và tình trạng kẹt Bac (Bac tiếng Pháp, có nghĩa là phà, hay ferry tiếng Anh )
Xe taxi: Xe nhỏ, thường chở tối đa 4-5 người, thường chạy trong thành phố, địa điểm đi đến tùy khách, tiền xe được tính dựa trên đồng hồ taxi meter. Nếu được bao thuê, giá cả thương lượng giữa người bao thuê và tài xế Taxi.
Taxi có thể được neo (máy tính tiền vẩn “nhảy”) taxi được giữ lại bởi khách cho tới khi khách không dùng dịch vụ nữa.
Xe chở khách: Những loại xe chở khách khác taxi hay xe đò. Những dòng xe của thập niên 30s hay 40s hay sau này như xe lô ca xông hay xe Hoa-Hoa Kỳ, thường chở tối đa 4-5 người, thường chạy trong thành phố, địa điểm đi đến tùy khách, tiền xe được thương lượng giữa khách và tài xế lái xe.

Xe buýt, xe đò miền Nam trước 1975.

Xe đò là loại xe chở khách số lượng nhiều it tùy loại xe lớn, trung hay nhỏ và tùy hãng vận hành. Xe nhỏ 10-15 người, lớn lên đến 50-70 người, hàng hóa thường để trên mui xe.
Xe buýt, xe đò xuất hiện từ thời Pháp thuộc để đáp ứng nhu cầu chuyên chở người, hàng hoá và thư tín. Người Pháp dùng từ autobus, autocar để chỉ một trong những dòng xe dùng làm xe đò thời bấy giờ được nhập cảng từ Pháp như Renault Latil, Saviem, Saurer, Berliet (phần đông các hãng này về sau đều xáp nhập vào hãng Renault) hoặc những dòng xe Mỹ, sau 1954, gồm những nhản hiệu như De Soto, Chevrolet, International Harvester, Fargo, Ford , GMC hay xe Nhật Toyota .
Hành khách đi xe đò có thể đến các bến xe nằm rác khắp nơi trong thành phố như bến xe An đông, bến xe Lục tỉnh Petrus Ký, bến xe Chợ lớn Bình Tây, bến xe Nguyễn cư Trinh, bến xe Nguyễn thái Học . Sau cuối thập niên 1950s đầu 1960s thì lần lượt chuyển về bến xe Petrus Ký, xe khách đi các tỉnh thành phố miền Đông, miền Trung, hay Tây thường sơn màu khác nhau để cho khách dể tìm xe.
Bến xe Petrusky trở nên quá tải, để giải toả áp lực xe đi miền Tây (được gọi là bến xe Miền Tây) được dời ra Phú Lâm (Bình Chánh) đổi thành Xa cảng Miền Tây (bến xe Hậu Giang) khoảng 1965, xe đi Miền Đông vẩn còn ỏ đường Petrus Ký đổi thành xa cảng Miền Đông. Sau năm 1976 xa cảng miền Đông dời về quận Bình Thạnh với tên củ Bến xe Miền Đông.

Hinh 2 Ben xe Pertus Ky

Hinh 2 : Bến xe đò lớn trên đường Trương Vĩnh Ký (Petrus Ký) năm 1950, gần Ngã sáu Sài Gòn có tượng Phù Đổng thiên vương ( Ảnh Donald F. Harrison Collection – The Vietnam Centerand Archive)

Hinh 3 Ben Xe do Luc Tinh

Hinh 3: Bến xe đò Lục Tỉnh (miền Tây) với xe đò lỡ (lỡ cở=không lớn không nhỏ=trung)

Hinh 4 Be xe do Petrus Ky 2M

Hinh 4: Saigon, August 1955 – Bến xe đò lục tỉnh đường Trương Vĩnh Ký với xe đò nhỏ thường thấy như – Renault Goelette, Estafette, Volkswagen Kombi, Toyota, Ford –cho khách đi Vũng Tàu, Biên Hoà, Bình Dương, Long Khánh – François Guillemot Collection- Source Báo Tiếng Dội Miền Nam https://www.flickr.com/photos/97930879@N02/15326931012
Hinh 5
Hinh 5: Bến xe Petrus Ký 1960.
http://tuoitre.vn/tin/ban-doc/20160116/duong-petrus-ky-o-sai-gon-voi-ben-xe-lay-lung-mot-thoi/1039267.html

Hinh 6 -Nguyen cu trinh
Hinh 6 : Xe đò Ford tại bến xe Nguyễn cư Trinh 1965

Quang cảnh nhộn nhịp của những bến xe đò-người, hàng hoá, âm thanh, màu sắc…không nơi nào bằng bến Petrus Ký. Những chiếc xe đò mang tên như Á Đông, Tân Á,Đông Á, Thuận Thành và Ngọc Châu chạy tuyến Saigon Mỹ tho. Các hảng Tam Hữu, Thành Long, Công Tạo- Thuận Thành chạy tuyến SG-Châu Đốc .Xe đò đi miền Tây (Thuận Thành, Lộc Thành, Nhan Nhựt, Quang Minh, Đại Hưng, Thuận Hiệp, Vĩnh Phát, Thuận Lợi, Liên Hiệp, Nhơn Hòa, Phi Long, Hiệp Hưng, Kim Long, Nam Thành, Hữu Phước, Quang Minh, Hiệp Thành,Tam Hữu … phục vụ nhu cầu đi lại và chuyên chở hàng hoá của người dân khắp miền Nam Việt Nam, đặc biệt là những chuyến xe thơ chở thơ tín và hàng hoá cho bưu điện nhà nước.
Những chiếc xe đò nầy thường chạy sớm khoảng 4 hay 5 giờ sáng và có quyền ưu tiên qua phà…

Xe đò miền Đông (Bình Dương, Phước Long, Long Khánh), Đông Bắc (Vũng Tàu), Cao nguyên (Đà Lạt), và miền Trung như Thuận Hiệp, Liên Hiệp, Hiệp Thành, Nam Thành Kim Long (Tuyến SG-Thủ Dầu Một (QL 13) …. thì hầu như là hãng xe đò duy với các điểm dừng ở Dầu Tiếng, Bến Cát, Đôn Luân (Đồng Xoài), Phước Bình, Lộc Ninh, v..v… Nói tóm lại thì toàn là vùng “xôi đậu” .. có khi vừa gửi “tờ báo” cho ông “Trưởng đồn Bảo an” ở Lai Khê … thì chạy khoảng 10 phút sau đã ghé “đóng Thuế” cho “trạm Giải Phóng” ở Lai Uyên rồi …. Cái thế “hai hàng” này có lẽ đã là lợi thế cạnh tranh mà hãng này giữ lâu dài nhất … và gần như độc chiếm …. trong hoạt động vận tải hành khách trên con lộ Tử thần ấy của các hãng xe đò đối thủ … Rất hiếm khi dân SG nghe nói “xe đò của hãng Kim Long bị mìn trên QL 13” so với các tin tương tự trên các tuyến đường khác …

Miền Trung thì gần như chỉ có hãng Phi Long chọn hướng vận tải xa nhất : SG-Huế-Quảng Trị … Hành khách trên tuyến này có khi ăn ngủ luôn trên xe trong suốt hành trình … Ngày xưa, chỉ cần thấy trên xe đò có một chiếc gà-mên lớn, bằng inox … cao bằng đứa bé 12 tuổi … trên mui có một cái bồn nước … loại dùng trong quân đội .. Người ta biết ngay đó là xe đò miền Trung … Thỉnh thoảng cũng có tin “xe đò bị mìn” trên tuyến này … Nhưng là những hiệu khác .. không phải Phi Long …
Trich từ
http://memory2010blog.blogspot.com.au/2011/02/269-sai-gon-xua-phan-3.html

Xe đò xưa trước 1954.

Hinh 7
Hinh 7: Xe đò Renault mẫu 1927 của hãng STACA trên quai Courbet 1950,, trước trụ sở của hãng Liên hiệp thương mại Đông Dương và Phi Châu (L’U.C.I.A) lập năm 1904- Về sau là trụ sở Tổng lãnh sự Hoa Kỳ trước 1975 – Ngày nay là khách sạn Indochina River side .

http://ktsdanang.vn/Default.aspx?PageId=706

Hinh 8
Hinh 8 : Xe đò băng qua cầu trên đường Saigon-Mỹ tho 1950s.

Hinh 9
Hinh 9 : Xe đò Renault chạy tuyến từ Huế qua An Lỗ rồi đến Sịa –trung tâm huyện Quảng điền ngày nay. Hinh chụp 1964. Nguồn Lonnie M. Long Collection – Vietnam Center and Archive
Trích”
Một điều nữa là trừ Huế ra, Sịa ngày xưa cũng là một vùng đất trù mật, buôn bán sầm uất của cả một vùng ngoại vi kinh thành, không thiếu thứ gì, lại còn mang chút dáng vẻ văn vật đất thần kinh. Từ những sản vật địa phương như bánh tráng, bánh ướt, tôm chua, cá chột nưa, vô số hải sản… vừa ngon vừa hấp dẫn, đến cả những sản phẩm văn hóa như chơi đu tiên, đua ghe, hội vật, hò giã gạo, hò mái nhì, mái đẩy. Cái gì cũng có, cũng không thua chi Huế cả…”
http://tapchisonghuong.com.vn/tap-chi/c271/n10945/Mat-Tam-Giang.html

Hinh 10

Hinh 10 : Xe buýt ISOBLOC của hảng COSARA (1954) là loại mẫu DP 648 102 trang bị động cơ diesel Panhard, 4 xi-lanh 6.8 lít.
Isobloc là một thương hiệu xe buýt cổ điển do Joseph Besset thành lập năm 1930 tại vùng Ardèche, Pháp (8). Isobloc chuyên thiết kế thân xe với công nghệ cao thời bấy giờ thân không khung, áp dụng khí động học và vật liệu nhẹ –sàn xe phẳng, máy nằm phía sau, xe rộng thoáng bên trong.

ISOBLOC type 648 DP 102 (1954)

Hinh 11
Hinh 11 : Lên xe buýt Hàng không Việt Nam ra phi trường 1965 . Hinh anh Bill Eppridge .

Hàng Không Việt Nam (Air Vietnam) được thành lập năm 1951 tại Saigon.Trước đó COSARA là một công ty hàng không và vận tải tư nhân được thành lập tháng 9 1947, bởi Maurice Loubière cùng với một người bạn Việt Nam COSARA (Comptoirs Saigonnais de Ravitaillements) có văn phòng đặt tại 5-13, đường Turc bây giờ Hồ Huấn Nghiệp Sài Gòn.
Mục đích lúc đầu của công ty là cung cấp vận chuyển hàng hoá cho các đơn vị quân trú đóng của Pháp nằm rải rác khắp nơi ở Việt Nam bằng cách sử dụng các sân bay được xây dựng bởi người Nhật trong Thế chiến II.
Sau Hiệp định Genève (20/7/1954) phân chia Nam Bắc, COSARA ngừng hoạt động năm 1955. Loại phi cơ Dakota (Douglass DC 3) chở hàng hoá và hành khách bán lại cho Hàng Không Việt Nam (Air Vietnam).
Cosara có một đội xe buýt dùng đưa đón hành khách từ văn phòng ở Saigon ra sân bay, tuy thế Cosara có tuyến đi Châu Đốc, những chỉ được vận hành 1,2 năm rồi ngưng. Đội xe buýt Cosara, trở thành xe buýt của Hàng Không Việt Nam với biểu hiện con Rồng nằm trên lá cờ vàng ba sọc đỏ. Maurice Loubière trở về Pháp sau khi công ty ngưng hoạt động.

Hinh 12
Hinh 12 : Xe đò Renault Goelette của hãng SITA đưa đón khách phi trường Tân Sơn Nhất, đậu trước trụ sở SITA, 5 Bến Chương Dương (Le Myre de Villers Quay) năm 1952.
Indochina Air Transport Company (Société Indochinoise để Transports Aériens) thành lập 1950 chuyển vận tải hàng hoá và hành khách.

Hinh 13
Hinh 13 : Dòng xe Toyota Coaster mẫu 1969 được dùng làm xe đò chuyên chở từ 15-25 khách trên tuyến đường Saigon Vũng Tàu đầu thập niên 1970s

Hinh 14

Hinh 14 : Xe đò “lỡ” Renault Goelette biến chế với thùng dài hơn của hảng Hiệp Hoà chạy đường Bình Dương Saigon 1959.

Hinh 15

Hinh 15 : Trong khoảng năm 1960, Renault Goelette được mang về Việt Nam, lmodel 1400 (được ra đời năm 1956) và được tận dụng để chở hành khách và hàng hóa. Trong bức ảnh trên là chiếc xe đò lỡ Renault Goelette thân dài u6 hãng Tân Mỹ chạy tuyến Tân An – Mỹ Tho.

Những chiếc Renault Goelette xuất hiện ở Việt Nam chủ yếu là phiên bản Renault Goelette 1400 (được ra đời năm 1956). Xe có dung tích động cơ 2.383cc sử dụng dầu hoặc xăng tùy loại. Kích thước của xe là 4.540 x 1.920 x 2.250m (dài x rộng x cao).
http://www.quehuongngaymai.com/forums/showthread.php?201785-Xe-%C4%90%C3%B2-X%C6%B0a

Hinh 16
Hinh 16 : Xe Renault Goelette trong thành phố Qui Nhơn 1966.

Hinh 17

Hinh 17 : Xe đò Renault Goelette Cam Ranh-Nha Trang 1969-70
Hinh 18
Hinh 18 : Xe đò Renault Goelette Đà Nẳng Quảng Ngãi 1966-67?

Hinh 19
Hinh 19: Xe đò Dodge mẫu 1954 – Tuyến đường Sai Gon –Vũng Tàu hình chụp 1970 Vũng Tàu

Hinh 20

Hinh 20 : Xe đò Dodge 1970 tuyến đường Saigon Cần Thơ Rạch Giá.

hinh 21
Hinh 21 : Xe đò Dodge Vũng Tàu Saigon 1968

hinh 22
Hinh 22: Xe đò Mercedes tuyến đường Saigon Vũng Tàu, hình chụp 1968 Stan Middleton

Hinh 22a
Hinh 22a: Xe đò Ford tuyến đường Saigon – Ba Rịa, Phước Lể.Photo Bob Cogan 1967/68
Hinh 23
Hinh 23 : Xe đò Desoto trên đường Saigon Tây Ninh. Hình chụp 13/2/1967 Sully Francoise

Hinh 24

Hinh 24 : Xe đò Desoto Ngọc Minh tuyến Saigon Bình Định Quy Nhơn.
Hinh 25
Hinh 25 : Xe đò Desoto mẫu 1959 tuyến đường Saigon Tây Ninh– hình chụp 1967

Hinh 26

Hinh 26: Xe Dodge trên tuyến đường Saigon – Tây Ninh 1965 Photo John Hansen.

Hinh 27

Hinh 27 : Xe đò Desoto trên tuyến Saigon Bảo Lộc
Hinh 28

Hinh 28 : Xe đò Desoto tuyến đường Saigon Rạch Giá Hà Tiên 1968

Hinh 29
Hinh 29 : Xe đò Desoto Saigon Mỹ Tho hinh chup 1968
Hinh 30
Hinh 30 : Xe đò Chevrolet, Vỉnh Long 70-71. Hình Frank Effenberger

Hinh 31
Hinh 31 : Xe đò Hiệp Thuận-Chevrolet 1964

Hinh 32
Hinh 32 : Bến xe Cần Thơ 1970, xe Desoto tuyến Cà Mau – Cần Thơ. Hình Douglas Pike Photograph Collection

Hinh 33
Hinh 33 : Desoto 1970

Hinh 34

Hinh 34: Xe đò Hotchkiss PL25 –Qui Nhơn 1965-66 . Hình Dave Glenn

Hinh 35
Hinh 35 : Xe đò Huỳnh Long hiệu Hotchkiss biến chế, khoảng đầu năm 1950s chạy liên tỉnh. Hình chụp năm 1964 Chris Newlon Green

Hinh 36

Hinh 36 : Xe đò Hotchkiss còn gọi là “xe đò mỏ nhọn” 1968.

Hinh 37

Hinh 37 : Xe đò Hotchkiss (phía trái) và xe Renault Goelette cải biến (bên phải), bùng binh Cây Gỏ, Saigon 1969, tên chính là công trường Duy Linh và tượng Lê Lợi trên đường ra xa cảng miền Tây–photo by George Lane

Hinh 38
Hinh 38 : Xe đò Citroen U-23 xưa chạy tuyến Phước Tuy – Bình Giã 1968

Xe buýt: Theo Tim Doling, một nhà nghiên cứu về Saigon gốc Anh, do sự tranh chấp giữa công ty CFTI (Compagnie des tramways de l’Indo-Chine ) và chính quyền Saigon từ năm 1955 thì đường xe điện tramway ở Saigon, kể cả đường Saigon-Gò Vấp ngưng hoạt động, bỏ hoàn toàn vào năm 1957 và được thay thế bằng hệ thống xe buýt.
(http://www.diendan.org/phe-binh-nghien-cuu/he-thong-xe-lua-cong-cong-tramway-o-sai-gon-thoi-phap)
Xe buýt chạy trên các tuyến đường trong thành phố Sàigòn-Chợ lớn-Gia định, mà trước đó là lộ trình của xe lữa điện (electric tramway system) theo một lộ trình định sẵn, khách chỉ trả tiền vé khi lên xe.Các xe buýt của CFTI được nhượng lại cho công quản chuyên chở công cộng Đô thành Sàigòn 1957. Vào thời thịnh nhất 1960/61 công quản khai thác thêm các tuyến đường mới , tăng cường số xe buýt từ 119 với 12 tuyến lên 224 chiếc. Chi phí cao vận hành không hiệu quả, cộng với sự cạnh tranh khốc liệt của các xe lam ba bánh tư nhân, công quản xe buýt được nhường lại cho tư nhân khai thác qua sắc lệnh của Thủ Tướng Trần Văn Hương tháng 12 năm 1968 (9). Bến xe chính xe buýt Saigon, trước đó là ga Cuniac của tuyến đường xe điện chạy từ đầu đường De la Somme-Hàm Nghi giáp ranh với Bến Chương Dương đến đường Bonhour –Hải Thượng Lãn Ông –Chợ Lớn. Gọi là ga Cuniac vì ga này nằm đối diện với Place Cuniac-Công trường Diên Hồng-bây giờ Quách Thị Trang. Eugène Cuniac là Đô Trưởng Saigon ( Maire de Saigon) người xưa gọi là người Xã Tây, người có công san lấp vùng ao cạn đầm lầy (ao Bồ Rệt- Marais Boresse) để xây dựng chợ Bến Thành.
Hinh 39
Hinh 39 : Công quản xe Buýt góc đường Lê Lợi Pasteur

Xe buýt/xe chở khách xưa trong thành phố Saigon
Hinh 40

Hinh 40 : Trong hình có 2 chiếc Citroen Type A (10CV) tourer và một Citroen C4 (1928)
Xe Citroen mẫu đầu 1930s chạy ra từ Autohall garage và xe bus renault 1910s chạy về hướng nhà hát Thành Phố. Phòng trưng bày AutoHall nằm ở góc đường Bonard/ Lê Lợi và Charner/Nguyễn Huệ. Đây là địa điểm cũ của Autohall , trước khi được Emile Bainier chuyển qua lại tòa nhà Garage Bainier+ AutoHall xây cất mới, cùng nằm trên góc đường Lê Lợi /Nguyễn Huệ phía bên trái của tấm ảnh này.

Hinh 41
Hinh 41 : Xe buýt Citroen C4 biến chế trước “nhà dây thép Saigon”

Hinh 42

Hinh 42 : Xe buýt Renault 6C-2 1951 trên đường Bonard (Lê Lợi), Saigon cùng với Peugeot 203 ?
Trong ảnh này, phía sau xe buýt là nhà hát Tây –trước 1975 là Hạ Viện thời VNCH – là công trình xây cất của kiến trúc sư người Pháp Eugene Ferret năm 1897.
hinh 43
Hinh 43 : Xe buýt Renault chạy quanh công trường Diên Hồng (bên phải) cuối thập niên 1950s, bên trái là bến xe buýt bùng binh chợ Bến Thành –sau được đặt tên Công quản chuyên chở công cộng Đô thành.

Hinh 44

Hinh 44 : Xe buýt Latil type M 1B chuyên chở từ 12 đến 15 người, bến xe công trường Diên Hồng

Hinh 45

Hinh 45 : Xe buýt Renault-Saurer
hinh 46

Hinh 46: Bến xe buýt Sài Gòn đối diện Công trường Diên Hồng thời đệ nhất Cộng Hòa (thời Pháp, Place Eugène Cuniac) phía bên phải.
Xe buýt trong ảnh là những dòng xe Renault 215 D hay Renault Saviem. Tên công trường Quách Thị Trang chỉ xuất hiện sau 1964.
Trước 1954, xe buýt của hãng CFTI (Compagnie Francaise Tramwayélectric Indochine) chạy tuyến Sài Gòn – Gò Vấp qua Dakao, Bà Chiểu Lăng Ông, Bình Hòa, Xóm Gà, chợ Gò Vấp ; tuyến Sài Gòn – Chợ Lớn (dọc theo đường Galliéni, nay là đường Trần Hưng Đạo), Sài Gòn – Chương Dương (quai de Belgique), Sài Gòn – Hóc Môn – Bà Điểm.
Tuyến đường Saigon- Phú nhuận qua đường Lê Lợi (Bonard) Hai Bà Trưng qua cầu Kiệu chấm dứt ở chợ Phú Nhuận
Sau khi Chiến tranh thế giới thứ hai, sản xuất xe buýt lại tiếp tục với dòng 215 D. Hầu hết các thân (body) xe được sản xuất bởi Scemia, một công ty mà Renault đã họp tác trước chiến tranh. Sự cạnh tranh ráo riết trên đưa đến chuyện Renault bị truất ngôi từ vị trí đứng của mình bởi Chausson. Renault chuyễn theo xu hướng mới đặt động cơ ở phía sau và cửa sau cho hành khách lên xuống. Trong tháng 11 năm 1955, Renault tổ chức lại việc sản xuất xe buýt, phân chia chức năng công nghệ bằng cách hợp hợp nhất với Latil và Somua, tạo thành công ty mới SAVIEM LRS (Society Anonymous của công nghiệp xe và Cơ học Thiết bị). Năm 1957, SACA (Hợp nhất giữa hai công ty Floriat và Isobloc) gia nhập Saviem. Năm 1959, Saviem tóm thâu luôn Chausson. Từ tháng 12 năm 1961, thương hiệu Floriat ngừng sản xuất và biến mất. Qua sự liên kết Chausson -Saviem thừa hưởng một nhà máy xe buýt hiện đại ở vùng Annonay. Nhanh chóng, thương hiệu mới Saviem trở nên quen thuộc trên thị trường dành cho xe buýt và xe chở khách. Tên Renault biến mất trên những dòng xe hạng nặng (xe tải và xe buýt) nhưng vẫn còn hiện diện trên xe thương mại hạng nhẹ, như Renault Goelette. Dòng xe khách nhỏ phổ biến, chẳng hạn như Saviem SG2 và Super Goelette và sau đó là l’Alouette, được giao cho các thuộc địa cũ của Pháp. Năm 1978 Saviem hợp nhất với công ty đối thủ Berliet trở thành Renault Véhicules Industriels.(10,11)

Hinh 47

Hinh 47 : Xe buýt Saigon Gò vấp chạy trước Hạ Viện đầu thập niên 1960s

Hinh 48
Hinh 48 : Hành khách trên tuyến Saigon Binh Tây Chợ Lớn lên xuống bến xe buýt Saigon

Hinh 49
Hinh 49 : Xe Buýt Renault trên đường Lê Lợi- Công trường Lam Sơn 1967
Hinh 50
Hinh 50 : Saurer buýt trên đường Paul Blanchy –Hai Bà Trưng- Hình chụp tháng 7 1949 (http://www.panoramio.com/photo/16497279)
Tuyến đường Saigon- Phú nhuận qua đường Lê Lợi (Bonard) Hai Bà Trưng qua cầu Kiệu chấm dứt ở chợ Phú Nhuận.

Hinh 51
Hinh 51 : Renault Bus 1960-61 SAIGON 1961 – by John Dominis

Hinh 52

Hinh 52: Bến xe buýt Công Quản Chuyên Chở Công Cộng bùng binh Công trường Diên Hồng.

Hinh 53

Hinh 53 : Xe buýt Renault chết máy ngang bồn phun nước trên giao lộ Lê Lợi-Nguyễn Huệ, trước tòa Đô Chánh cuối thập niên 1960s

 

xe buyt xanh cam 1965-CTDH

Hinh 53a : Xe buýt Renault màu xanh và IH màu cam -công trường Diên Hồng 1965
Hinh 54
Hinh 54: Xe buýt Hàng Không Việt Nam đưa đón khách đến sân bay Tân Sơn Nhất 1965.

Hinh 55
Hinh 55 : IH (International Harvester) buýt phía sau bến xe buýt Sài Gòn, hướng về đường Hàm Nghi.

Hinh 56

Hinh 56: Xe buýt Dodge Mỹ trên đường Hai Bà Trưng đi phi trường Tân Sơn Nhất
Hinh 57
Hinh 57: IH( Internatiọnal Harves̀ter) Loadstar , phi trường Phú Bài Huế,1960s
http://www.vnafmamn.com/AirVN_Photo/pages/AirVN-Bus2.htm

IHinh 58
Hinh 58 : Xe đò Renault-Saviem của Hàng Không Việt Nam chở khách ra phi trường
http://www.vnafmamn.com/AirVN_Photo/index.htm

hinh 58a

Hinh 58a: Xe đò Mercedes của Hàng Không Việt Nam đưa/rước khách phi trường Tân Sơn Nhất 1968.

Xe Taxi
Đây là một nét văn hóa đặc trưng của miền Nam – thành phố Saigon Chợ Lớn –Gia Định. Taxi chạy khắp mọi nẻo đường, hành khách muốn đi phải vẫy xe ngừng lại vì thời ấy taxi không có tổng đài để giao dịch, khách vào là bẻ cờ cho đồng hồ tính tiền chay. Bến xe taxi là những nơi các bác tài kinh nghiệm có nhiều khách vãng lai như Bến Bạch Đằng, công trường Mê Linh, chợ Bến Thành, vùng Lăng Ông Bà Chiểu…Ban đêm thì các rạp hát bóng (cinema), nhất là rạp hát cải lương hay đại nhạc hội.
Những chiếc Renault 4CV đầu tiên được nhập cảng vào Việt Nam vào cuối thập niên 1940, sau đó xe được dùng thành xe taxi vì giá rẻ, dể bảo trì đáp ứng nhu cầu vận chuyển cho khách vùng Saigon , Chợ lớn, Gia định.
Đến cuối năm 1968, đô thành Sài Gòn – Gia Định 7.400 taxi, 2.440 xích lô máy (nguồn: Đoàn Thêm – 1969 Việc từng ngày). Đến năm 1971, xe Lam là phương tiện vận chuyển quan trọng nhất Sài Gòn cũng như các tỉnh miền Nam vì hệ thống xe buýt đã ngưng hoạt động và chưa phục hồi. Theo báo chí lúc đó thì toàn miền Nam có 30.668 chiếc, số xe Lam lưu hành gấp 7 lần xe taxi.

Hinh 59
Hinh 59 : Renault Juvaquatre 4CV- Berline trên đường Saigon 1968. Juvaquate sản xuất lần đầu tiên 1939 và chấm dứt 1955.

Hinh 60

Hinh 60 : Taxi mẫu 1952, lúc này taxi chưa phải sơn hai màu.
http://saigon-vietnam.fr/gendarmerie-indochina.php

Hinh 61
Hinh 61: Taxi 1956 sơn màu xanh dương và ngà.
http://kienthuc.net.vn/ta-tay/anh-mau-hiem-va-dep-ve-sai-gon-nam-1956-230636.html

Hinh 62
Hinh 62: Taxi Saigon 1958 đường Trần Hưng Đạo

Hinh 63
Hinh 63: Taxi 1968 dừng cho người đi bộ góc đường Lê Lợi và Pasteur.

Hinh 64
Hinh 64: Taxi trên đường Hồng Thập Tự Saigon 1971

Hinh 65
Hinh 65 : Taxi trên đường phố khoảng 1960.
http://hid0141.blogspot.com.au/2013/10/taxis-em-saigon-vietna-1960.html
Hinh 66
Hinh 66 : Taxi Dauphine 1965 trên đường Nguyễn Huệ, công trường Lam Sơn.
http://cj3b.info/Military/VietnamStreets2.html
Dauphine sản xuất từ năm 1956 đến 1967 , loại xe thông dụng máy đặt phía sau , thân khung liền vỏ , hộp số tự động có ba số, không tự động có 3 hoặc 4 số , 4 cửa, động cơ 845 phân khối. Dauphine được đưa ra thị trường nhằm thay thế cho dòng xe rất thành công trước đó 4CV
Một số lớn Dauphine được nhập cảng vào VNCH qua chương trình hữu sản hoá 1968 làm taxi. Cùng thời với Volkswagen Beetle, Morris Minor, Mini and Fiat 500, đây là những dòng xe đi đầu trong chiến lược sản xuất xe thông dụng, giá phải chăng ở Âu Châu thời bấy giờ
Xem thêm chương trình hữu sản hoá
https://www.facebook.com/notes/nam-r%C3%B2m/h%E1%BB%AFu-s%E1%BA%A3n-h%C3%B3a-tr%C6%B0%E1%BB%9Bc-75-v%C3%A0-qu%E1%BB%91c-h%E1%BB%AFu-h%C3%B3a-sau-75-/483065861887422/

Hinh 67
Hinh 67 : Xe Peugeot 203 được dùng làm Taxi trên đường phố Saigon

Hinh 68

Hinh 68 : Một loại đồng hồ taxi Pháp BB được sửa thành đồng hồ cho taxi VNCH (phía trái) . Một loại nữa, đồng hồ có “cây cờ”, khi có khách vào thi cờ được quay để khởi động đồng hồ tính tiền.

Dong ho taxi 1
Hinh 68a : Đồng hồ Taxi có “cây cờ” thịnh hành thập niên 1960-70.(12)

Xe khách xưa

Xe do di tay ninh 1906

Hinh 69: Xe chở thư và chở khách Sài Gòn Tây Ninh  1906

Hinh 69
Hinh 69a : Xe khách Nha Trang 1904-1907 – loại chế biến của dòng xe Peugeot 33 -1901
Mes trois ans d'Annam - Gabrielle-M. Vassal - préface de M. Le Dr Roux.
https://www.flickr.com/photos/13476480@N07/albums/7215766195
0864426

Hinh 70
Hinh 70: Xe chở khách đến tháp Đồng hồ trường đua Phú Thọ-1905-1912 , phu xe pousse-puosse đứng trên bệ tháp nhìn vào trường đua.

Hinh 71
Hinh 71 : Xe chở khách trước sở Thuế bến Chương Dương-phiá sau dáng hình cầu Mống và Nhà Rồng thập niên 1940s

Hinh 72

Hinh 72: Xe chở khách Citroen Rue Schroder, nay là đường Phan Châu Trinh phía bên trái chợ Bến Thành.

Hinh 73

Hinh 73 : Bến xe khách Taxi Renault 1920s, Berliet 1920s and Hotchkiss 1930s trước sở Hỏa Xa Đông Dương, đối diện bùng binh chợ Bến Thành Dãy nhà nhiều tầng phía trái nằm trên đường Bonard (Lê Lợi). Con đường phía sau sở Hỏa Xa (đường Hàm Nghi) và cũng là đường phía sau nhà Thương Saigon (nằm trên đường Lê Lợi, gần bót Lê Văn Ken) mang tên đường Hamlin thời Pháp-sau đổi là Đỗ Hữu Vị và bây giờ là Huỳnh Thúc Kháng

Hinh 74
Hinh 74 : Bến xe khách ở đường Lê Lai (Boudonnet) bên hông tường ga xe lửa Saigon khoảng 1950 (bây giờ là khu khách sạn New World), nằm đối diện rạp hát xưa Aristo.
Xe lô ca xông -Traction Avant 11.
Phần đông sơn màu đen , Loại xe traction avant-Front wheel drive-xe kéo bằng hai bánh trước một đột phá trong công nghệ xe hơi thời bấy giờ-đầu thập kỷ 1930s- được nhập càng vào Miền Nam từ khoảng 1936/37 qua một số đại lý xe hơi ở Saigon (xem phần 1 , xe cổ điển Pháp trước 1975).
Dòng xe này rất thông dụng ở Miền Nam. Về sau khoảng thập niên 1960s , nhiều chiếc traction được biến cải để chạy xe khách trong thành phố, hay những vùng gần như Biên Hòa, Thủ dầu Một, nhất là loại traction 11 familial bên trong rộng hơn loại Legere Berline. Bên trong những chiếc xe Lộ cả xong nầy, vị trí hàng ghế ngồi được thay đổi , có khi có cả 1 hàng ghế giua, không có lưng dựa, phần đông khách đi phải đợi cho đủ số người , sau đó xe sẽ chạy suốt đến địa điểm mà ít ngừng ở dọc đường.

Hinh 75
Hinh 75 : Citroen đậu tại bến xe lô-ca-xông đường Phạm Ngũ Lăo gần Chợ Bến Thành năm 1969.

Phụ Lục

Xe buýt/xe đò Hà Nội xưa

Có lẽ xe đò là từ dụng trong Nam để phân biệt với xe buýt, còn ở Bắc ít nhất trước năm 1975 ? chỉ dùng từ thông dụng là xe Buýt- người Pháp gọi xe chở hành khách là autobus, autocar hay nói chung là voitures des voyaguers thời xưa . Taxi là tiếng chỉ dùng sau này du nhập từ Âu Mỹ khoảng đầu thập kỷ 1900, từ khi taximeter (taximetre) đượ xữ dụng trên xe chở khách.

Hinh 76
Hinh 76 : Xe buýt/Xe đò Latil của hãng M.M.Chapelon & Cie ở bến Clemenceau 1928

Hinh 77
Hinh 77 : Cammionette Latil ltype B, năng xuât 14CV, hộp số có 4 số và số de, tốc độ tối đa là 44km/giờ. Sản xuất giữa khoảng 1923-1930.

Hinh 78

Hinh 78 : Bến xe buýt gần cột đồng hồ- bến Clemenceau 1920s

Hinh 79
Hinh 79 : Một điểm đón trả khách của xe buýt ở phố Clemenceau (nay là đường Trần Nhật Duật) Hà Nội năm 1928.
http://belleindochine.free.fr/Automobile.htm
MM CHAPELON & Cie, doanh nghiệp vận tải, cư trú tại tỉnh Bắc Ninh, được phép đưa vào lưu thông xe được mô tả dưới đây, đăng ký ngày 13 Tháng 1 năm 1926 theo số 2386 T và thực hiện vận chuyển hành khách công cộng 1 °) Hà Nội-Đáp Cầu, 2) Hà Nội 7 chùa .
Latil thương hiệu xe tải cơ thể.
Mặt bánh lốp 955 x 155 bánh sau lốp 955 x 155.
Tổng số tare 2.050 kg. : Trục trước 880 kg, trục sau 1170 kgs
Việc ủy quyền này là tùy thuộc vào các điều kiện sau đây:
Trọng lượng của chiếc xe trong toàn bộ chi phí sẽ không vượt quá 2.950 kg, chia ra như sau:
Tare Trọng lượng: 2,050 kg.
Mọi người: 18 x 50 = 900 kg kg. Hành lý: 0 kg. Mặt hàng: 0 kg.
Phân phối của các tải trọng trục tối đa: 1.180 kg trước. phía sau 1,770 kg.
Số lượng tối đa của người vận chuyển, bao gồm cả nhân viên của nhà thầu là cố định tại mười tám (18)
Các tuyến đường có sự cho phép được cấp là:
1) Hà Nội đến Đáp Cầu với điểm dừng cố định tại Rive Gauche, Gia Lâm, Yên Viên, Phú Từ Sơn, chùa Lim, Bắc Ninh.
2) Hà NộiTừ tháng chín ngôi chùa Hà Nội với các điểm dừng cố định ở Bắc Ninh, Đại Tràng, Cầu Ngã (Tư Sở], Phương Mao, Chai-Lai, Quế Dương, Đồng Du…

Ngoài công ty Chapelon một số doanh nghiệp khắp mọi miền cũng dùng loại xe này để đi xe khách, hay chở hàng hoá như Thanh Hoá, Vinh, Đà Lạt, Phan Rang, Sài Gòn.
http://www.avant-train-latil.com/hanoi.php
http://www.avant-train-latil.com/camionnette_B.php

Hinh 80

Hinh 80 : Renault buýt ở Hà Nội 1940 đổ xăng gần cầu Doumer –Long Biên

Hinh 81

Hinh 81 : Renault autocar khoảng 1934 trước đại lý Renault (STAI) ở Hà Nội.

Hinh 82
Hinh 82: Xe chở khách Delhorme Bernard Six Reybier 1930s

Carrossiers 1930-1950 : quelques photos !

Hinh 83
Hinh 83: Khu vực cột đồng hồ, nơi đặt bến xe buýt đầu tiên của Hà Nội (điểm giao nhau của đường Trần Quang Khải, Trần Nhật Duật, Hàng Muối, Nguyễn Hữu Huân) hiện nay nằm dưới đường dẫn của cầu Chương Dương.

Tham khảo :

Ghi nhận: Hinh ảnh sưu tầm từ các trang Blogs,albums manhai , flickr.com, Tommy Japan
1-http://www.historicvietnam.com/tim-doling/
2-http://saigoneer.com/
3-http://bellindochine.free.fr
4-http://yeudoi.net/2011/08/xe-cho-khach-mot-thoi-truoc-75.html
5-http://mytour.vn/location/6801-hoai-niem-mot-sai-gon-xua-hon-ngoc-vien-dong-cua-chau-a-ky-i.html
6-http://saigon-vietnam.fr/cosara_fr.php.
7-http://thaolqd.blogspot.com.au/2014/10/mot-vai-con-uong-cua-ky-uc-uong-tran.html
8 https://fr.wikipedia.org/wiki/Isobloc
9 http://thanhnien.vn/van-hoa/xe-lam-chieu-690300.html
10 http://www.renaultoloog.nl/bussen-francais.htm
11 http://www.entreprises-coloniales.fr/inde-indochine/STACA.pdf
12 http://hoangkimviet.blogspot.com.au/2014/02/renault-4cv-xe-taxi-sai-gon.html- Bài khảo cứu về Renault 4CV.

Y Nguyen Mai Tran

 

Advertisements

XE XƯA TRÊN Lối CŨ: Xe hơi cổ điển không xuất xứ từ Pháp ở Miền Nam trước 1975.

XE XƯA TRÊN Lối CŨ

Phần 2: Xe hơi cổ điển không xuất xứ từ Pháp ở Miền Nam trước 1975.

Y Nguyên Mai Trần

Sau hiệp định Geneve 20/7/1954, miền Nam trở thành Việt Nam Cộng Hoà. Trong nỗ lực ngăn chặn làn sóng Cộng Sản từ phương Bắc, Người Mỹ thay Pháp hỗ trợ VNCH-được xem như là tiền đồn của thế giới tự do- viện trợ tài chính, kinh tế và quân sự, quốc phòng.
Trên các tuyến đường Saigon người ta nhìn thấy ngoài những xe thời Pháp trước 1954, nhiều loại xe nhập vào từ Mỹ, Anh, Đức, Nhật… xuất hiện ngày càng nhiều, nhưng phần đông là loại xe của người Mỹ nhập vào xử dụng đa số với tính cách riêng (dân sự cũng như tư, quan chức nhà nước Mỹ), một số xe khác được nhập vào từ nhân viên làm việc thuộc khối đồng minh South East Asia Treaty Organization (SEATO) như Anh, Pháp, Úc, Đại Hàn, Phi, Tân Tây Lan, Thái Lan và Hồi Quốc (Pakistan) và Uỷ ban giám sát đình chiến Hiệp Định Geneve 1954 như Ấn, Ba Lan và Canada. Khoảng cuối thập niên 1960s, tất cả nhân viên thuộc công ty quân sự hay công ty có khế ước quân sự Mỹ đều được nhập cảng xe cũ hoặc mới vào miền Nam không trả thuế nhập cảng, có khi được đem xe vào miễn phí .Dọc đường Nguyễn Huệ và Lê Lợi có cái mà dân Saigon thời ấy gọi là bến xe hoa, là những loại xe Hoa Kỳ thường có vây đuôi dài (tail fins), thường được mướn làm xe đám cưới, đưa dâu có trang trí treo hoa. Một số xe thì được tư nhân ngoại quốc, dân buôn bán, người giàu có, dân chịu chơi, có máu mặt ở Saigon yêu thích. Người Việt khá giả thường sắm xe Pháp, nhỏ hơn và ít hao xăng, hay được truyền lại từ đời ông cha trước, hoặc mua rẻ lại của người Pháp về nước.

Bạn đọc lưu ý, bài viết chi đề cập các loại xe xuất hiện ở Vietnam –được mang vào Vietnam thời trước 1975. Riêng về loại xe Mỹ, phần đông là loại xe thường được sản xuất từ ba công ty lớn nhất thời bây giờ.
Hãng General Motors sản xuất xe thông thường mang nhãn hiệu: Chevrolet (Chevy), Buick, GMC, Cadillac, Pontiac, GTO, Oldsmobile
Hãng Ford với nhản hiệu Fairlane, Falcon, Rebel, Mercury, Edsel, Thunderbird…
Hãng Chrysler có Plymouth, Belvedere,Baracuda, Jeep,Dodge, De Soto…

American logos

Những biểu tượng xe Mỹ thông dụng thời bấy giờ

Hinh 1

 

 

Đôi dòng về Lịch sữ các xe và hãng xe Mỹ.

Cadillac

Công ty Cadillac được hình thành ở Detroit. Michgan vào tháng 8 năm 1902 bằng cách sử dụng các tài sản còn lại khi công ty Ford Henry ngắn ngủi ngừng giao dịch đầu năm đó.
Chiếc xe đầu tiên, 10 hp hai chỗ ngồi, sản xuất trong tháng 10 năm 1902, gần như giống hệt với Model T Ford.

Cadillac 1902
Quảng cáo xe Cadillac đầu tiên dựa trên Ford T2.
Năm 1909, General Motors mua Cadillac  và một năm sau đó sản xuất Model 30..
Dòng xe thường thấy ở Saigon là Cadillac Deville, Cadillac Coup de Ville và dòng xe “ 59 caddie” nổi tiếng với vây đuôi dài (tail fins).
Sau đó là dòng Eldorado, được sản xuất từ năm 1953.

Chevrolet
Chevrolet được thành lập vào năm 1911 bởi Louis Chevrolet và William Durant. Năm sau đó công ty giới thiệu các xe 4,9 lít, sáu xi-lanh mẫu Classic 6.

chevrolet classic 6

Năm 1912, công ty đã bán được gần 3.000 xe.
Năm 1917, Chevrolet đã trở thành một bộ phận của General Motors.
General Motors sản xuất những loại thường nghe thấy như Corvette, Chevy, Impala, Camaro, Bel Air

Chrysler
Chrysler được thành lập vào năm 1925 bởi Walter P Chrysler từ tài sản của Công ty xe hơi Maxwell có từ năm 1904.
Chiếc xe đầu tiên mang tên Chrysler là Chrysler 6 ra mắt vào năm 1924 (khi công ty vẫn được gọi là Tổng công ty Maxwell).
Chiếc xe đầu tiên được sản xuất bởi tập đoàn Chrysler 4 vào năm 1925, Tiếp theo là 80 kiẻu xe Imperial vào năm 1926.

chrysler four 1925

Các dòng xe Plymouth và DeSoto được giới thiệu vào năm 1928. Ngoài ra Chrysler mua lại Dodge Brothers Motor Company năm 1928, một công ty đã được thành lập bởi John và Horace Dodge năm 1914.
Trong khoảng thời gian 1954 đến 1987 Chrysler tiếp quản AMC (American Motor Company) lúc đó là đã tiếp quản những công ty sản xuất xe hơi như Hudson, Rambler, Nash, Willys Overland Motor Company, Kaiser Motors và Kaiser-Jeep.

Năm 1998, tập đoàn Chrysler đã được mua bởi Daimler-Benz của Đức và trở thành các Daimler Chrysler Motors Company.

Ford

Năm 1896, Henry Ford xây dựng đầu tiên “cỗ xe ngựa kéo-horse carriage”, tiền bán được đầu tư vào một mô hình được cải thiện sau này. Đến giữa 1898, ông đã xây dựng tổng cộng ba chiếc xe, bao gồm một chiếc xe chở hàng.
Tháng 7 năm 1898, được hỗ trợ bởi một nhóm nhà đầu tư, Henry Ford sản xuất khoảng 25 xe nguyên mẫu cho các công ty xe hơi ở Detroit. Vào tháng Hai năm 1901, do thiếu vốn, công ty đã giải thể.
Chín tháng sau đó, vào tháng 11 năm 1901, ông thành lập Công ty Henry Ford, nhưng công ty này lại bị giải thể vào năm 1902. Tháng Sáu năm 1903 Henry Ford thành lập công ty Ford Motor.
Ford Model T (thường được biết đến như là Tin Lizzie, T-Model Ford Model T, hay T) là một chiếc hơi được sản xuất bởi Công ty Ford Motor từ tháng 10 năm 1908, đến tháng 26, 1927. Nói chung được coi là dòng xe hơi giá cả phải chăng đầu tiên, đã trở thành phổ biến với dân Mỹ, đem đến một cách mạng giao thông- người Mỹ trở thành di động khấp nơi-từ thôn quê đến thành thị. Sáng tạo sản xuất dây chuyền-lấp ráp bộ phận, , hiệu năng sản xuất cao , bảo trì giản di và rẻ tiền cho phép hạ giá thành thấp.

ford T

Hinh bên phải là Model T sedan 1919 và bên trái các bộ phận cần để lấp ráp xe Ford Model T touring 1923.
Hinh chụp tại Viện bảo tàng Ford Company ở Dearborn, Michigan 2015 ̣(photo by maivantran).

Sau model T , Ford bắt đầu sản xuất thế hệ thứ hai Model A vào tháng 10 năm 1927 và tiếp tục cho đến tháng 12 năm 1931.
Model A cũng đã được sản xuất tại Liên Xô do công ty GAZ là “NAZ A” từ năm 1932 đến năm 1936.
Model A đã được thay thế bằng các Model B được sản xuất giữa năm 1932 và 1935.
Model C được sản xuất tại Hoa Kỳ năm 1904-1905
Năm 1922, Ford mua lại công ty Lincoln (đã được thành lập năm năm trước đó).

Lincoln

Công ty Lincoln được thành lập vào năm 1917 bởi Henry M Leland và con trai của ông. Trong năm 1902, ông là một trong những người đồng sáng lập Cadillac, sau đó trở thành một trong những đối thủ cạnh tranh chính của Lincoln.
Năm 1922, Lincoln đã được mua lại bởi công ty Ford Motor.
Giữa năm 1920 và năm 1930, công ty sản xuất Lincoln L-series. Trong năm 1931, K-series được giới thiệu, các trong đó có một động cơ 6.3 lít dựa trên động cơ V8 được trang bị cho L-series.
Các mô hình Zephyr đã được giới thiệu vào tháng 11 năm 1935, ban đầu là một chiếc sedan 2 hoặc 4 cửa. Một chiếc coupe mui trần đã được giới thiệu vào năm 1938. Sản xuất kết thúc vào năm 1942.
Năm 1932 Lincoln bắt đầu thiết kế một chiếc xe trở nên nổi tiếng như continental

Lincoln Sunshine

Lincoln sunshine special 1939 cho Tổng Thống Mỹ Franklin D Roosevelt
lincoln bubletop
Chiec Lincoln Bubbletop 1950 cho Tổng Thống  Mỹ D.Eisenhower

Continental.

Chiếc xe Lincoln Continental đầu tiên được sản xuất vào năm 1939 đặc biệt cho con trai của Henry Ford, Edsel (lúc đó là Chủ tịch của công ty Ford Motor). Chiếc xe là một hit với bạn bè, Edsel quyết định cho sản xuất hai loại sedan và convertible. Hai mươi bốn chiếc được xây dựng năm đó, tiếp theo là bốn trăm trong năm 1940

lincoln 1939

Licoln Continental mẫu 1939 cho contrai của Henry Ford, Edsel

Các dòng xe Ford cũng được sản xuất tại Anh Quốc thời kỳ từ 1940 đến 1980 bao gồm các Anglia, Prefect, Consul, Zephyr, Zodiac, Granada, Capri, Escort and Cortina.
Ford cũng đã được sản xuất tại một số quốc gia khác, bao gồm Argentina, Australia, Brazil, Trung quốc, Hà Lan, Mexico và Nam Phi.
Mô hình sản xuất tại Mỹ từ năm 1946 đến năm 1990 bao gồm các dòng xe như Crown Victoria, Custom, Deluxe, Escorti, EXP, Fairlane Skyliner, Falcon, Fiesta, Galaxy, Maverick, Mustang (1964,  xe hơi bán chạy nhất thế giới ), Pinto, Tempo và Thunderbird giới thiệu vào năm 1955.

General Motors

General Motors được thành lập năm 1908 như là một công ty cổ phần cho Công ty xe hơi Buick.
Dưới sự lèo lái của William C. Durant , từ hãng xe Buick sang, General Motors nhanh chóng mở rộng công ty bằng cách mua lại các nhà sản xuất xe khác.
Oldsmobile (1897) trở thành một phần của GM vào năm 1908. Năm sau, 1909, General Motors mua Cadillac (thành lập 1902), Elmore (1893), Oakland (1907), cộng với một số công ty nhỏ khác.
Durant rời GM năm 1910 và gia nhập với Louis Chevrolet, thành lập công ty Chevrolet vào năm 1911.
Năm 1916, Durant đã nắm giữ phần lớn cổ phần của GM và quay trở lại công ty làm chủ tịch vào năm 1917. Chevrolet trở thành một phần của GM năm đó.
Các công ty khác tiếp quản bởi GM bao gồm Vauxhall (1903) vào năm 1925 và Opel (1902) vào năm 1929.
Năm 1953 GM tung ra Chevrolet Bel-Air , rất phổ biến thời bấy giờ.
Cũng nên biết từ 2007 GM bao gồm: Buick, Cadillac, Chevrolet, GMC, Holden, Hummer, Opel, Pontiac, Saab, Saturn và Vauxhall cũng như liên kết với tập đoàn GM Daewoo, Suzuki và Wuling.

Hinh 2

Hinh 2: Đủ loại xe đậu trước Hạ Viện (nhà hát Thành Phố)

Hinh 3.jpg
Hinh 3: Cadillac series 62 -1955

hinh 3a.jpg
Hinh 3a: Chevrolet Bel Air đầu 1950s

hinh 4.jpg

Hinh 4: Plymouth Fury Star 1958, Dodge Kingsway Delux 1958, Chevrolet Bel Air 1959.
Hình này chụp đường Nguyễn Huệ hướng từ bến Bạch Đằng chụp vào , nhìn phía cuối con đường có cái chóp nhà , đó là Toà Đô Chính ” UBNDTP ” bây giờ . Toà nhà cao nhất bên phải bức hình này là toà nhà Imexco có lần bị cháy tháng 10 năm 89 cạnh bên có tòa nhà thấp hơn một chút có mái màu đỏ ngày đó là cục đăng kiểm 6, kế bên là đường Ngô Đức Kế bây giờ . Tiếp theo cao ốc thứ 2 là Khách sạn Hữu Nghị bây giờ là Palace , đối diện với tòa nhà SUNWAH ” đồng hồ 4 mặt “, trước 1975 là Tòa Hoà Giải Sàigòn

hinh 5

Hinh 5 : Cadillac De ville 1962

hinh 6.jpg
Hinh 6 : 1958 Cadillac Coupe de Ville

hinh 6a
Hinh 6a: 1957 Chevrolet Bel Air 4 Door

hinh 7a.jpg

Hinh 7: Chevrolet Bel Air 1958

hinh 8

Hinh 8: Chevrolet Bel Air 1965 hình chụp Saigon 1966 – Đường Công Lý, gần Ngã tư Yên Đổ-Công Lý . Photo by Donald MacKinnon

hinh 8a.jpg
Hinh 8a: 1957 Chevrolet Bel Air 4 Door, bên ngoài Câu lạc bộ thể thao Sài Gòn đường Hồng Thập Tự (1968-70) nay là Cung Văn hóa Lao động TP HCM, đường Nguyễn Thị Minh Khai) Photo by Charles F. Rauch.

hinh 9.jpg

Hinh 9: Chevy 1952

hinh 9a

Hinh 9a: Chevy 1952

hinh 10.jpg
Hinh 10: SAIGON 1967 – Chevrolet Bel Air -1955 Đường Hồng Thập Tự Saigon- Photo by Nathan Meek

hinh 11.jpg

Hinh 11: 1955 Chevrolet Bel Air đậu trên đường Đồng Khánh

hinh 12.jpg
Hinh 12 : Chevrolet Bel Air -1955 , Taxi 4CV, Autobus Renault-Saviem 1960s bến xe buýt , trước công viên Quách thị Trang-Chợ Bến Thành.

hinh 12a
Hinh 12a : Chevrolet Bel Air Base Sedan 3.8L 1955 đường Lê Lợi

hinh 13

Hinh 13 : Chevrolet Impala 1966

hinh 14.jpg
Hinh 14: Đường Lê Lợi 1964, 1956 Fairlane (chiếc thứ tư từ trái), Buick Electra 1959 (thứ ba) 1958 Ford Fairlane 500 Skyliner (thứ hai), Mercury Turnpike (cuối 1950s)(chiếc đầu từ trái)

hinh 15
Hinh 15 : Taxi Renault 4CV and Chevrolet Bel Air 1955 trên đường Tự Do 1961.

hinh 16.jpg

Hinh 16 : Ford Fairlane 500-1957 , Chevy Impala 1960 (General Motors) Buick Electra 1960 (General Motors) trên đường Lê Lợi, gần thương xá Tax.
hinh 17.jpg
Hinh 17 : Chevrolet impala 1958-60 góc Hai Bà Trưng – Lam Sơn
hinh 18
Hinh 18 : Chevrolet Impala 1960 flat top (màu đỏ) , đường Nguyễn Huệ.

hinh 19.jpg
Hinh 19: Pontiac Tempest trên đường Trần Quý Cáp năm 1967 – Photo by Nathan Meek

hinh 20.jpg
Hinh20: Oldsmobile super 88 -1958.

hinh 21.jpg

Hinh 21: Oldsmobile model late 1950s đường Lê Lợi , gần thư viện Abraham Lincoln 1960. Thư Viện Abraham Lincoln (tên vị Tổng Thống Hoa Kỳ trong thời Nội Chiến) trực thuộc Cơ Quan Thông Tin (USIS – United States Information Service) của chính phủ Hoa Kỳ, thư viện nầy lúc đầu tọa lạc tại trung tâm thành phố Sài Gòn, bên cạnh rạp chiếu bóng Rex, trước Toà Ðô Chánh, sau dời về số 8 đường Lê Quý Ðôn, và sau cùng dọn về bên trong trụ sở của Hội Việt Mỹ, ở số 55 đường Mạc Ðĩnh Chi, thuộc Quận I.
Trước năm 1953, địa chỉ này cũng là nơi tọa lạc của Công Ty Bainier-AutoHall, một trong những đại lý xe hơi lớn nhất ở Vietnam trước 1954.

hinh 22.jpg
Hinh 22: Năm 1951. Thủ tướng Quốc gia Việt Nam Trần Văn Hữu và Tổng Tham mưu trưởng Quân đội QG Việt Nam, Thiếu tướng Nguyễn Văn Hinh, trong lễ duyệt binh trên chiếc Plymouth Special Delux convertible 1946-48.
http://oldiesfan67.canalblog.com/archives/2012/11/13/25556445.html

Ford

hinh 23.jpg

Hinh 23 : Xe cổ xưa 1912 Ford Model T trên đường Catina St (Tự Do-Đồng Khởi) Photo Studio của Paul Gastaldy (136-138) cạnh Hotel Continental 132-134 Catinat St. Hinh chụp khoảng đầu thập niên 1920s.
http://saigon-vietnam.fr/saigon_en2.php
hinh 24.jpg
Hinh 24: Henry Ford I với chiếc Ford Model T (Tin Lizzie) – khoảng 1910 – Photo of Ullstein Bild
http://www.gettyimages.com.au/detail/news-photo/cars-henry-ford-i-with-his-ford-model-t-undated-probably-news-photo/542426247

hinh 25.jpg
Hinh 25 : Ford Prefect, VW beetles đường Tự Do 1968, xe thứ ba, lề phải

hinh 26.jpg
Hinh 26 : Ford Prefect đậu trên đường Trần Quang Khải 1966
(https://www.facebook.com/photo.php?fbid=920373314678254&set=g.865130223501356&type=1&theater)

hinh 27.jpg

Hinh 27: Ford Corvair V4 -1498 cc sản xuất ở Anh giai đoạn 1963-1970. Cảnh sát giao thông mặt đồng phục đứng trên bồn giao thông tại các ngã tư.

hinh 28

Hinh 28. Ford Falcon 1964 SAIGON 1965 – đường Hàm Nghi

Hinh 29.jpg

Hinh 29 : Ford Falcon đang chạy trước chợ Bà Chiểu-Ngả tư Lê Quang Định- Chí Lãng 1968 hướng về rap Cao Đồng Hưng trên đường Hàng Xanh.
Ford Edsell

 

Mustang 1967

Hình 29a: Ford Mustang 1967  được tân trang với bảng số sau  1975.

Hinh 30.jpg

Hinh 30: Ford Edsel 1958-1960 chạy trên xa lộ Saigon –Biên Hoà

Nhãn hiệu Edsel đã được lên kế hoạch, phát triển và sản xuất bởi công ty Ford Motor cho năm mẫu (models-mô hình) từ 1958-1960. Với Edsel, Ford đã dự kiến xâm nhập đáng kể vào thị phần của cả General Motors và Chrysler và thu hẹp khoảng cách giữa Ford và GM tại thị trường xe hơi nội địa của Mỹ. Ford đã đầu tư mạnh vào một chiến dịch quảng cáo, tiếp thị nhưng khi tung ra thị trường Edsel được coi là không hấp dẫn, đắt đỏ, và được thổi phồng quá đáng. Edsel không bao giờ trở nên phổ biến, ế ẫm và bán không chạy. Ford mất 250 triệu $US một số tiền lớn, cho sự phát triển, sản xuất và tiếp thị Edsels, từ “edsel” trở thành biểu tượng (symbol) phổ biến của sự thất bại thương mại
Bài học Edsel cho thấy trường hợp chính trị của công ty có thể giết chết một ý tưởng. Tuy việc thiết kế và lập kế hoạch sản xuất là những lý do được trích dẫn thường xuyên nhất cho sự thất bại , biên bản nội bộ của Ford Motor Company cho thấy rằng Edsel có thể thực sự đã là một nạn nhân của sự chia rẽ trong hàng ngũ quản lý của Ford.
Sau Thế chiến II, Henry Ford II giữ Robert McNamara là một trong những “Whiz Kids” để giúp Ford cắt giảm chi phí, tăng năng xuất tránh sự sụp đổ của công ty sau chiến tranh. Kết quả là, McNamara cuối cùng tích lũy được nhiều quyền lực trong công ty. McNamara đã cam kết sản xuất dòng xe Ford gần như loại trừ các sản phẩm khác của công ty như Continental, Lincoln, Mercury và Edsel.
McNamara phản đối sự hình thành của các bộ phận công ty riêng biệt cho Continental, Lincoln, Mercury, và Edsel, bằng sự củng cố Lincoln, Mercury, và Edsel vào bộ phận M-E-L. Cuối cùng huỷ bỏ dòng Continental , sáp nhập với dòng Lincoln năm 1958. Thay vào đó, thiết kế lại Edsel sử dụng cấu trúc cơ thể bên trong của Ford năm 1959. Năm 1960, Edsel xuất hiện ít hơn so với xe Ford với trang trí khác nhau. McNamara cũng di chuyển để giảm ngân sách quảng cáo Edsel cho năm 1959. Đến năm 1960, ông hầu như loại bỏ nó. Cuối 1959, khi McNamara thuyết phục Henry Ford II và quản lý của Ford rằng Edsel đã bị tiêu diệt và đã đến lúc phải kết thúc sản xuất trước khi Edsel chảy máu khô của công ty. Năm 1961, McNamara rời Ford khi ông trở thành Bộ trưởng Quốc phòng của Tổng thống John F. Kennedy.

Hinh 31.jpg

Hinh 31: Ford Taurus 1960-1964
Ford Taurus nổi bật khác lạ bên cạnh những chiếc xe Pháp giao thông trên đường phố Sài Gòn trong những năm 1960 và 1970. Có nguồn tin chiếc xe của bà Ngô Bá Thành, sinh năm 1931 và  chết  2004, một trong những luật sư hàng đầu của Sài Gòn thời VNCH.

Hinh 32.jpg
Hinh 32: Ford Fairlane 500 (1957) Peugeot 404 và Renault 12TS (1970s)

Hinh 33
Hinh 33: Ford Fairlane model 1967-đường Pasteur
http://www.yesterdaysweapons.com/phpBB3/viewtopic.php?f=54&t=12244&start=0

hinh 34
Hinh 34: Two Ford Falcon Futura 1969 đậu bên hông tòa nhà USIS (US information Services) và thư viện Abraham Lincoln (trước là khách sạn Rex do ông Nguyễn Phúc Ưng Thi xây cất năm 1959, đường Nguyễn Huệ, trước tòa Đô Chánh.

Hinh 34a
Hinh 34a : Khách sạn Rex góc đường Nguyễn Huệ-Lê Lợi đầu thập niên 1960s

In Search of Saigon’s American War Vestiges

hinh 35.jpg

Hinh 35: Ford Cortina Mark 1 GT 1963

hinh 36.jpg
Hinh 36 : Ford Anglia trước Bưu Điện cạnh nhà thờ Đức Bà.

hinh 37
Hinh 37: Ford Anglia chạy trước Casino Dakao–đường Đinh Tiên Hoàng 1967-1968

hinh 38
Hinh 38: Mercury Turnpike Cruiser 1957-58

hinh 39.jpg
Hinh 39: Mặt trước xe Mercury Turnpike Cruiser

hinh 40.jpg
Hinh 40: Xe hoa Mercury Turnpike Cruiser trên đường Thống Nhất

Chrysler-Jeep cars

hinh 41.jpg

Hinh 41: American Willys MB jeep
Dòng xe jeep (GP, General Purpose) này dùng trong quân đội thời Pháp ,Mỹ và VNCH trước 1975 , đây là loại xe nhẹ băng đồng, 4 wheel drive dùng trong công việc thị sát, di chuyển nhanh trong các đơn vị/cơ quan quốc phòng hay ngoài mặt trận. Đây là tiền thân của những loại xe SUV 4-wheel trên thị trường hiện nay.

hinh 42.jpg

Hinh 42: Quân cảnh trên xe Mitsubishi Jeep gần phi trường Tân Sơn Nhất 1972

hinh 43.jpg
Hinh 43 : 1958 Dodge Coronet (chrysler) trên đường Catinat –Tự Do (nay Đồng Khởi) năm 1960.

hinh 44.jpg

Hinh 44 : Dodge Kingsway trên đường Tự Do 1961

hinh 45.jpg
Hinh 45 : Dodge Kingsway 1958 và xe Thổ Mộ.

hinh 45a
Hinh 45a : Dodge Coronet 1958 trên đường Trần Hưng Đạo – góc Đề Thám. Ngã tư kế tiếp phía sau xe hơi màu đỏ là ngã tư Đề Thám – Bùi Viện, còn có tên khác là “Ngã tư Quốc tế”

hinh 46.jpg
Hinh 46 : Citroen traction 11 và Dodge Royal 4-Door Touring Sedan 1939

 

Dodge mayfair 1958

Dodge Mayfair 1958

hinh 47.jpg
Hinh 47 : Saigon 1961 –Dinh Độc Lập-1957 DeSoto Firedom (Chrysler)

hinh 48.jpg
Hinh 48: 1957 Desoto Firedom

hinh 49.jpg
Hinh 49: De Soto 1958 Fireflite (trái) và Simca Aronde màu đỏ tím đậu trên
đường Nguyễn Huệ.

hinh 50.jpg
Hinh 50: Peugeot 203, VW Kombi, Peugeot 404, Simca Aronde

hinh 51.jpg

Hinh 51: 1950 – Photo by Harrison Forman.
Quang cảnh xe đậu phía trước nhà hát Thành phố đối diện với công trường Garnier, xe cộ lưu thông trên đường Tự Do

Hinh 52.jpg
Hinh 52: Photo by Charlotte 1969
Volkswagon Beetles, taxi Renault 4 CV, Jeep, Ford, VW van chen chúc trên đường Công Lý .

Xe Anh Quốc -English Cars

hinh 53.jpg
Hinh 53: Vauxhall Victor 1950 and Morris Minor 1000s 1950, gần góc đường Hai Bà Trưng và Hiền Vương (vỏ thị sáu) 1968

Hinh 54.jpg
Hinh 54: Vauxhall Victor and Morris Minor

Hinh 54a.jpg

Hinh 54a: Hinh dáng của Morris Minor cổ điển
http://www.morrisminorclubeastsussex.co.uk/id22.htm

 

Morris Minor Traveller  Early 1960s
hinh 55.jpg
Hinh 55 : Standard Eight Deluxe and Misubishi Jeep trên đường Tự Do, 1971

Hinh 56
Hinh 56: Morrris Minor trên đường Hàm Nghi chạy về hướng bến Chương Dương 1968-70 (photo Charles F. Rauch)

hinh 57.jpg
Hinh 57 : Mini Cooper 1966/67 và VW kombi van

hinh 57a.jpg
Hinh 57a : 1970 Austin Mini 1000cc

Hinh 58.jpg
Hinh 58 : Austin Westminster A95 trên đường Phan đình Phùng

Hinh 59.jpg

Hinh 59: Austin Westminster A95 -1957 trưng bày ở chùa Thiên Mụ Huế http://baodansinh.vn/canh-dep-chua-co-thien-mu-xu-hue-d2967.html

Hinh 60.jpg
Hinh 60: Austin Westminster A95 mẫu 1957 dùng xe chở Thích Quảng Đức đến chổ tự thiêu xem hình ̀ 58.

hinh 61.jpg

Hinh 61: Ford Prefect 100E, 1956

hinh 62.jpg
Hinh 62: Ford Prefect 100E, 1956 và Taxi 4CV

hinh 62a.jpg
Hinh 62a: Ford Anglia 105E Delux . 1960.

hinh 63

Hinh 63: Ford Anglia station wagon

hinh 64

Hinh 64: 1967 Mini Cooper

hinh 65
Hinh 65 : Austin Healy 3000 Mark 3 , 2912cc, cung cấp 150 hp (112 kW) engine
Loại xe thể thao rất được ưa chuộng của công ty Austin Healy với 3 loại xe Austin Healy 3000 từ năm 1959-1967. Loại Mark 3 bắt đầu từ năm 1963 ngưng sản xuất thương mại năm 1967.

hinh 65a
Hình 65a: Morris 1100 mẫu 1960s (màu trắng) trước khách sạn Caravelle, công trường Lam Sơn 1967

Xe Ý-Italian Cars

hinh 66.jpg
Hinh 66: Fiat 1960-600 đậu trên đường Nguyễn văn Thinh 1967 (nay Mạc Thị Bưởi)

hinh 67.jpg

Hinh 67: Fiat Sport Spider 1967-69
http://songmoi.vn/otoxemay-xe-cua-ban/xa%CC%89-xi%CC%80-tre%CC%81t-noi-ho%CC%A3i-qua%CC%81n-xe-co%CC%89-%E2%80%9Cvu%CC%80ng-sau-vu%CC%80ng-xa%E2%80%9D-sa%CC%81t-na%CC%81ch-sa%CC%80i-go%CC%80n

Fiat 1100-1955

Hình ̉̃67a:  Fiat 1100 mẫu 1955

Xe Nhật-Japanese cars

hinh 68.jpg
Hinh 68: Nissan Datsun 240K GT -1973

hinh 69.jpg
Hinh 69 : Honda N360-1967
hinh 70
Hinh 70 : Honda 360 mẫu 1967
Một trong những chiếc hơi mini đầu tiên của Honda tung ra thị trường năm 1967. Chỉ sau một năm (1968), dòng mini trở thành dòng xe bán chạy nhất trên thị trường Nhật Bản. Giai đoạn từ năm 1967-1970 là thời điểm cực thịnh của mẫu xe này. Sự thành công cho chiến lược chiếm lĩnh thị trường tiêu thụ xe hơi của Nhật bằng cách tập trung phát triển những mẫu xe hơi thực sự hữu ích và tuy nhỏ nhưng thoải mái, hình dáng gọn kèm trọng lượng nhẹ.

 

hinh 71

Hinh 71: Hino Contessa  1964 trên đường Tự Do năm 1967, bên phải Simca Rallye 1.3 (simca 1000) Các Simca 1000 là một nhỏ, động cơ phía sau , bốn cửa saloon được sản xuất bởi hãng Simca Pháp giai đoạn 1961-1978.
Hino bắt đầu ra trong việc xây dựng thị trường xe hơi Renault của 4CV theo giấy phép tại Nhật Bản. Khát vọng để xây dựng chiếc xe riêng của mình, Hino nhập vào Contessa 900 cc, loại xe với động cơ đặt phía sau xe. Về cơ bản dựa trên bí quyết từ việc sản xuất 4CV Renault, Hino bắt đầu theo hướng riêng của họ với các kỹ thuật mới. Năm 1964, Hino tuyển Giovanni Michelotti để thiết kế lại chiếc xe với động cơ mạnh 4 xy lanh-1251 cc đặt phía sau và ổ đĩa phía sau (rear wheel drive ) và cho ra đời chiếc Contessa 1300. Contessa làm mát máy bằng nước thay vì bằng gió với tốc độ hơn 130km, nhiên liệu 6.5L / 100km tại 75km / h. Xe Hino Contessa 1300 tương đối hiếm trong nước Nhật, thậm chí hiếm hơn ở thị trường ngoài Nhật. Hino Motors sản xuất Hino Contessa trong khoảng thời gian từ 1961 đến 1967 với loại coupe và sedan.

hinh 72Xe Toyota tren duongMinh Mang
Hinh 72 : Toyota corona mẫu 1967-̉́1968, Toyota trên đường Minh Mạng

 

hinh 73.jpg
Hinh 73: Toyota Sports 800 1962 siêu xe một thời của danh ca Chế Linh
http://vietbao.vn/vi/O-to-xe-may/Toyota-Sports-800-1962-sieu-xe-mot-thoi-cua-danh-ca-Che-Linh/150511165/350/

hinh 74
Hinh 74 : Mitsubishi CJ3B-J4 made in Japan , viện trợ  quân sự cho VNCH. Giá  rẻ hơn xe Willys Jeep sản xuất từ Mỹ.

German Car Logos
hinh 75.jpg

Hinh 75: German car logos

hinh 76.jpg

Hinh 76 : Auto Union DKW F94 1957-60

Hinh 77.jpg

Hinh 77 : Mercedes Benz 600 1967 trên đường Lê Lợi, đây là mẫu xe Mercedes đắt tiền nhất thời bây giờ, được tung ra thị trường năm 1963.

Hinh 78.jpg
Hinh 78: Ponton 190, năm 1953 tại viện bảo tàng Mercedes-Benz ở Stuttgard là tiền thân của các dòng Mercedes hiện tại như dòng C, E, S thiết kế theo công nghệ khung vỏ (unibody).

Hinh 79.jpg

Hinh 79: Black Mercedes Benz Type 300d (W 189) dùng chuyên chở lãnh đạo Tổng Thống VNCH trong khi hành sự công vụ (presidential limousine). Dòng xe độc quyền thanh lịch, mạnh mẽ và đắt giá này được nhiều lảnh đạo các quốc gia trên thế giới xữ dụng, được sản xuất từ năm 1957 đến năm 1962. Động cơ có 6 xy lanh, 2996cc , hộp số tay có 4 tốc độ và hộp số tự động có 3 tốc độ, nhưng vượt trội về hiệu suất với đối thủ cạnh tranh thời ấy như Rolls-Royce Silver Cloud (Anh) và BMW501 (Đức).

Hinh 80

Hinh 80: Mercedes 200 (W110) 4 cửa, 4 xy lanh vẩy đuôi Fintail lòng máy 2.0L , sản xuất từ năm 1965 đến 1968. Được biết là của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu VNCH từ năm 1965 đến khi từ chức 21, tháng 4, 1975. Ông rời Saigon 5 ngày sau bỏ lại hầu hết của cải và chiếc xe Mercedes.

hinh 81
Hinh 81 : Mercedes 1960 Type W120 180b sedan with Right Hand Drive (RHD) chạy trên đầu đường Chỉ Lăng(ngã Tư Phú Nhuận) hướng về tòa Hành chánh tỉnh Gia Định, Chợ Bà Chiểu, và Lăng Tả Quân Lê Văn Duyệt, các xe jeep quân đội đang rẽ vào đường Võ Tánh (nay Hoàng Văn Thụ) hướng về bộ Tổng Tham Mưu QLVNCH-phi trường Tân Sơn Nhứt

Hinh 82
Hinh 82 : Mercedes-benz model 190 (W 121) 1958

Hinh 83
Hinh 83: Mercedes-Benz 190 ( W121) 1959 Sedan . Lần đầu tiên tung vào thị trường 1956.

hinh 84

Hinh 84 : Mercedes Ponton 220S (W180) model 1957 có 8 xy lanh, thân xe với ba phong cách sedan, coupe và convertible sản xuất từ 1954 đến 1959.

Hinh 85

Hinh 85: 1961 Mercedes-Benz 190 SL Roadster

hinh 86

Hinh 86 : Audi 60 RD between 1965-74

Volkswagen

hinh 87
Hinh 87 : Công ty KYXACO , đại lý công ty volkswagen 1957-1975
Công ty này do Ông Chí Tín ( Lê Văn Ba) và hãng East Asiatic Đan Mạch lập ra, hãng Kyxaco nhập cảng độc quyền xe Wolks Wagen ở Việt Nam. Trụ sở 155 đường Nguyễn Huệ, bên cạnh rạp REX.
http://antruong.free.fr/damdaiganhdao2.html

Hinh 88
Hinh 88 : 1953 Panel Van,1966 21 Window Samba; 1970 Microbus; 1978 Kombi L

Hinh 88a
Hinh 88a : Hình dáng xe cổ điển Volkswagen Beetles
http://www.amazon.com/7093-M-Volkswagen-Classic-Collection-Decoration/dp/B00EZ1U9Q0

Hinh 89
Hinh 89 : VW 1953 Panelvan, VW van barn door 1959-60 và Toyota Corona 40 RT 1970, trước nhà hàng Maxim trên đường Tự Do nay là Đồng khởi

Hinh 90
Hinh 90 : 1971 Peugeot 404 and 1966 Volkswagon 21 Window Samba

Hinh 91
Hinh 91: Tổng hành dinh của Lực lượng thế giới Hỗ Trợ Quân Sự tại Sài Gòn. Một Land Rover 1/4 xe tải tấn Úc và ba Volkswagen Vans (với con chuột túi (kangaroo) màu đỏ) đang đậu trong bãi đậu xe. (1967-68)
https://www.awm.gov.au/collection/P05317.012

volkswagen floride tren duong le loihinh 41

Hinh 92: 1968 VW Loại 3 Fastback, trên đường Lê Lợi, hình bên phải môt chiếc xe khác với 2 quân nhân Úc và một người phụ nữ trong FWO.
Trụ sở lực lượng thế giới Hỗ Trợ Quân Sự (FWO) ở Sài Gòn từ năm 1965 cho đến năm 1973, văn phòng liên lạc quốc gia khác nhau cho các hoạt động đồng minh chiến tranh Việt Nam, bây giờ là khách sạn ba sao Kỳ Hoà sạn tại 238 Ba Tháng Hai (trước đây là 12 Trần Quốc Toản) quận 10 .

Tru so Dong Minh

Hinh 92a: Trụ sở lực lượng thế giới Hỗ Trợ Quân Sự (FWO)
.

http://www.historicvietnam.com/us-vestiges/Saigon

Hinh 93

Hinh 93 : VW beetle gần khu vực ga xe lửa xưa Saigon, đầu thập niên 1950s.

Hinh 94

Hinh 94: Volswagon Beetle 1970s trên đường Công Lý , SAIGON 1968 by Sue Ellen‘s father

Hinh 95
Hinh 95 : VW Beetle 1966, Ford Vedette và Plymouth Valiant 1964 ? đậu trước hotel Continental năm 1966
http://www.pbase.com/tombriggs/image/78214034

DKW

hinh 96
Hinh 96 : DKW F102 Saloon 1963-1965 chạy trước chiếc taxi 4CV. DWK ngừng sản xuất chiếc này năm 1966 và thay thế bằng dòng xe F103, 4 xy lanh tung ra thị trường dưới nhản hiệu Audi

Hinh 97

Hinh 97 : Opel Olympia Rekord mẫu 1955 trên đường Tự Do , đầu thập niên 1960s

 

Hinh 98.jpg

Hinh 98 : Opel GT 1900 model 1969-based on Open Kadett.

hinh 98a

Hinh 98a : Chevrolet Corvett 1968 ̣bên trái, Opel GT 1900 trên đường phố Saigon

Opel GT là loại xe thể thao hai chỗ ngồi ra mắt ở Paris và Frankfurt Motor Show năm 1965. Tung ra thị trường lần đầu cuối năm 1968, xe được thiết kế, xây dựng căn bản dựa trên chiếc Opel Kadett, trông đầu xe có nhiều nét tương đồng với Chevrolet Corvette 1968. Xe được trang bị động cơ 1.1 lít, 4 xy-lanh thẳng hàng, công xuất 67 mã lực tại 6.000 vòng/phút. Tuy nhiên, hầu hết người mua lựa chọn phiên bản thể thao dung tích 1.9 lít, công suất 102 mã lực trong dải vòng tua từ 5.200 đến 5.400 vòng/phút. Opel GT được thiết kế theo phong cách fastback. Nội thất xe rộng , khoảng không bên trong đủ thoải mái cho những người cao trên 1m80.
Năm 1971, do quy định khí thải, Opel cắt giảm tỷ lệ nén của động cơ 1.9 lít, khiến công suất giảm còn 83 mã lực. Ngoài ra, Opel GT còn có phiên bản rẻ hơn chỉ bán tại châu Âu. Phiên bản tiêu chuẩn đi kèm hộp số tay 4 tốc độ. Hộp số 3 tốc độ tự động có sẵn trên bản 1.9 lít.
Opel GT sử dụng thân đơn bằng thép, động cơ đặt trước và truyền động trục sau. Hệ thống phanh trợ lực sử dụng đĩa phía trước, tang trống phía sau.
Một đặc điểm khác thường của Opel GT là hệ thống đèn pha kiểu mắt ếch. Nó được vận hành bằng tay bằng một đòn bẩy đặt cạnh tay lái. Trong khoảng thời gian từ 1968 đến 1973, tổng cộng 103.463 xe đã được bán. Tuy nhiên tại Việt Nam, mẫu xe này khá hiếm, chỉ có khoảng 1-2 chiếc.

(http://news.zing.vn/xe-co-opel-gt-hang-hiem-xuat-hien-o-sai-gon-post617176.html)
.

Phụ lục.

Volkswagen Beetle và Volkswagen van, microbus (tham khảo hình 88).
Năm 1950, Volkswagen sản xuất xe Volkswagen Beetle, mở rộng thị trường sản phẩm bằng cách tung ra chiếc van (microbus), chính thức gọi là loại Volkswagen 2 (Beetle là loại Volkswagen 1)
Bắt nguồn từ sáng kiến của doanh nhân Hoà Lan Ben Pon (một nhà nhập cảng VW Beetle vào Hoà Lan), nhìn thấy một thị trường cho một chiếc xe buýt nhỏ, năm 1947 đã phác thảo ra ý tưởng của mình. Kỹ sư Volkswagen tiếp tục phát triển ý kiến ấy cho đến tháng 3 năm 1950, chiếc xe, với hình hộp, giản dị thực dụng với động cơ đặt phía sau đi vào sản xuất. Microbus Wolkswagen trở thành phổ biến nhanh chóng được tặng một số biệt danh như “Combi” (combined-use vehicle-xe sử dụng hỗn hợp) và “Splitty” ( chia kính chắn gió, xem hinh 88), ở Đức còn được được biết đến như là “Bulli.”
Cũng nên nhắc lại lịch sử của công ty VW, năm 1933, Adolf Hitler trở thành thủ tướng của Đức, ông muốn xây dựng hệ thống đường xá mới và sản xuất xe hơi giá cả phải chăng, tiện dụng cho người dân Đức. Tại thời điểm đó, kỹ sư gốc Áo Ferdinand Porsche (1875-1951), trong thời gian “Đại suy thoái kinh tế thế giới”  đã thiết kế chiếc xe nhỏ cho quần chúng, ông gởi cho Hitler các bảng vẽ. Hitler và Porsche sau đó gặp nhau và ông được giao sứ mệnh sản xuất hàng loạt (mass production) Volkswagen cứng cáp, dể sửa , chạy nhanh tiện lợi , giá phải chăng rẻ hơn 1000 Đức kim cho dân Đức (được gọi là people car-Volkswagen). Ông sang Mỹ học cách sản xuất dây chuyền, mua dụng cụ máy móc cần thiết và bắt đầu sản xuất trên các nhà máy Volkswagen tọa lạc vùng Wolfsburg từ năm 1938 đến nay , tuy thế sản xuất quy mô chỉ bắt đầu sau thế chiến II.
Cuối năm 1939, Volkswagen sản xuất được 20000 chiếc – máy 4 xy lanh, mát bằng gió, 1131 cc , công xuất 24 Hp (17.8 kW) với 3000 rpm.
Trong những năm 1950, Volkswagen đến Mỹ, trở nên phổ biến vì là sản phẩm dính dáng tới Đức Quốc Xã trong quá trình thành hình của chiếc xe cũng như kích thước nhỏ và hình dạng tròn khác thường (mà sau này được mệnh danh là “Beetle”) VW trở thành xe nhập khẩu bán chạy nhất tại Mỹ. VW Beetle mang tính biểu tượng như xe bán chạy nhất thế giới hơn cả Ford Model T, tiếp tục sản xuất cho đến 1978 với 19.200.000 chiếc xe.

Hinh99

Hinh 99: Cha đẻ xe Porsche (Ferdinand Porsche) trình mẫu xe Volkswagen Beetle with Adolf Hitler năm 1935

Tham Khảo:

http://classiccars.com/http://www.historicvietnam.com/https://en.wikipedia.org/wiki/Mercedes-Benz_Type_300
http://www.carhistory4u.com/the-last-100-years/car-manufacturers-by-country/united-states
http://www.britsinternational.com/oldbootsales.htmlhttp://www.asialifemagazine.com/vietnam/classic-cars-in-saigon/
http://www.erclassics.fr/voitures-francaises-de-collection.php/
http://saigon-vietnam.fr/menu-indochine.php
http://belleindochine.free.fr/sommaire.htm
http://www.entreprises-coloniales.fr/inde-et-indochine.html#transportsterrestres
Martin Buckley and Chris Rees .The Complete Illustrated Encyclopedia of Classic Cars
David Lillywhite et al. The Encyclopedia of Classic Cars
Michael Allen. British family cars of the fifties.

Y Nguyen Mai Tran tháng tư 2016

Xem phần 1-Xe cổ điển Pháp ỏ miền Nam trước 1975

Xem phần 3-Xe chở khách miền Nam trước 1975


Xe xưa trên lối cũ -Xe cổ điển Pháp ở Miền Nam trước 1975.

XE XƯA TRÊN Lối CŨ 

Phần 1 : Xe cổ điển Pháp ở Miền Nam trước  1975.

Y Nguyên Mai Trần

Hoài niệm Saigon một thời là Hòn Ngọc Viễn Đông với những con đường hai bên là hàng me, hàng sao, lác đác cành phượng vỹ, thấp thoáng tà áo tung bay. Những thập niên giữa thế kỷ 19 đến giữa thế kỷ thứ 20, Pháp chiếm miền Nam và biến thành thuộc địa của họ với tên Cochinchine, bảo hộ miền Bắc và Trung. Vì nhu cầu phát triển kinh tế và chính trị cũng như khai thác tài nguyên, người Pháp đã đem vào Việt Nam và nhất là vào Cochinchine -Miền Nam hàng ngàn máy móc, xe buýt, xe vận tải và xe hơi. Sau Hiệp định Geneva 20 tháng 7, 1954, người Mỹ thay Pháp hổ trợ miền Nam không cộng sản, thành lập thể chế Cộng Hòa, viện trợ quân sự, kinh tế, giao thông, phát triển cơ cấu kinh tế thị trường. Từ đó Saigon xuất hiện những loại xe hơi,to, dài, nhiều mầu-mà người ta gọi chung là xe Hoa Kỳ, xen lẫn với các dòng xe thời Pháp, lưu thông trên khắp thành phố, tỉnh thành trước tháng 5 , 1975.
Bài sưu khảo này dựa vào tài liệu từ Internet, hình ảnh, postcards của các nhiếp ảnh gia, thư viện Pháp, Anh, Mỹ, của những người ngoại quốc đã từng đến thăm hoặc làm việc, của quân nhân Mỹ-Úc đã phục vụ trên chiến trường Việt Nam trước 1975 và manhhai albums cùng với tư liệu của người viết một thời lang thang trên các nẻo đường xưa Sài Gòn –Chợ Lớn-Gia Định, có dịp chiêm ngưỡng “xe hoa-xe Hoa Kỳ”, xe “lô ca xông citroen traction-avant””, xe taxi “con cóc, 4 ngựa”,xe “nhà binh-xe quân sự GMC”, xe “díp (jeep)”… cũng như có dịp tiếp cận xe Ford, Renault và Opel trong thập niên 60.
Mặc dù cố gắng tìm tòi, nghiên cứu hình ảnh xưa, đối chiếu với tài liệu trong thư viện, internet và kỹ niệm xưa, sự thiếu xót và nhằm lẩn có thể xảy ra, không tránh khỏi.
Bài viết nhằm giúp người đọc nhận diện, tham khảo các loại xe cổ xuất hiện ở miền Nam từ thời kỳ Pháp thuộc đến trước 1975 (tạm gọi là classic cars, xe cổ điển), cùng nhau tìm lại một thoáng hương xưa, hoài niệm phút giây lang thang trên phố củ với những ước mơ thầm lén-người viết không bàn về lịch sử hay quá trình phát triển chi tiết của các loại xe từ cổ xưa (antique) cố cựu (đầu những thập niên 1900s-veteran) và cổ điển (classic) theo quan điểm của sử gia về xe hơi, cũng như bối cảnh kinh tế xã hội chính trị thời bấy giờ.
Cũng nên lưu ý, người viết sẽ dùng danh từ xe hơi (thay vì ô-tô) cho tất cả các loại xe sedan-chạy xăng (petrol powered), để phân biệt với các loại xe chạy điện (electric powered) chạy bằng hơi nước (steam powered) hay xe đua (racing cars), cũng như không đi sâu vào chi tiết kỹ thuật công nghệ của những loại xe. Người viết xin lưu ý người đọc từ CV (chevaux vapeur)-tax horsepower-liên quan đến thuế má dùng trong kỹ nghệ xe hơi của Pháp đánh giá sức mạnh của các dòng xe, trong khi các xứ nói tiếng Anh dùng  horsepower-hp. Nếu cần xin tra tài liệu trên Internet để biết rõ ràng hơn.

Thống kê xe cộ ba miền Việt Nam trước 1945

Năm Loại Trung Kỳ Nam Kỳ Bắc Kỳ
(An Nam) (Cochinchine) (Tonkin)
1922 Xe Hơi 308 2230 1126 Automobiles
1929 Xe Hơi 1392 8712 4129 Automobiles
Xe Vận Tải 214 671 325 Trucks
Xe Bus 495 643 390 Buses
Xe Gắn Máy 156 1099 901 Motorcycles
Tổng cộng 2257 11125 5745 Total
1937 Xe Hơi 1600 6000 4300 Automobiles
Xe Vận Tải 300 620 440 Trucks
Xe Bus 300 560 300 Buses
Xe Gắn Máy 50 260 620 Motorcycles
Máy Kéo 20 260 200 Tractors
Tổng cộng 2270 7700 5280

http://www.departments.bucknell.edu/history/projects/BeaucarnotDiary/documents/Ryan_Mayfield_Paper.pdf

Tính đến năm 1974 VNCH có 35.384 xe vận tải nặng và 64.229 chiếc xe hơi chạy trên hệ thống đường xá  21.000 km, trong đó gần 12.000 km là đường trải nhựa, đi được quanh năm. (https://vi.wikipedia.org/wiki/Vi%E1%BB%87t_Nam_C%E1%BB%99ng_h%C3%B2a#Giao_th.C3.B4ng)

So về số lượng xe hơi ở ba kỳ, Cochinchine Miền Nam thời ấy có nhiều nhất, hơn phân nữa tập trung vào khu vực Saigon-Chợ Lớn-trung tâm Gia định (Statistique Générale, Moyens de Transport et de Communication (Averages of Transportation and Communication), 1936-37, p. 115.

ĐẠI LÝ XE HƠI Ở SAIGON-TỪ THỜI PHÁP THUỘC ĐẾN 1975

Saigon là nơi đặt trụ sở chính của Hội vận tải và xe hơi của Đông Dương Indochine. Saigon là nơi có nhiều công ty đại lý buôn bán, sửa chửa, bảo hiểm xe du lịch, chở khách, taxi cho mướn. (Claudie Beaucarnot, Adieu Saigon, Au Revoir Hanoi: The 1943 Vacation Diary of Claudie Beaucarnot, (David Del Testa, 2002), p.14. 27 Société des Transports et Automobiles de I’indochine, Grand Rallye des Hauts Plateaux (pamphlet), (1954), p.p 22,32,34,40,41).
Những loại xe thông dụng giai đoạn 1900-1930 là xe Pháp, Renault, Peugeot, Citroen, Panhard, Berliet, Hotchkiss, và một số ít xe Mỹ của hảng Ford, Chrysler và GM (General Motors).
Công ty xe hơi đầu tiên ở Saigon Ippolito et Cie -Maison V. Ippolito- thành lập năm 1900, đại lý xe Peugeot và cung cấp dịch vụ chuyên chở công cộng (public courier service)- thư tín và khách hàng- đầu tiên giữa Saigon-Tây Ninh (24 tháng 10, 1901), sau đó đến Biên Hòa , Bà Rịa và Vũng Tàu (Cap Saint-Jacques). Trụ sở nằm ở góc Nguyễn Huệ và Lê Thánh Tôn, trước tòa Đô Chính (bây giờ UBNDTPHCM). Quyền đại lý xe Peugeot sau được chuyển qua công ty Le Comte, 34 Norodom (đường Thống Nhất) năm 1931.

Công Ty Bainier

Garage Bainier, công ty nổi tiếng nhất nằm ở góc đường Bonard (Lê Lợi) và Charner (Nguyễn Huệ) được thành lập năm 1914.

hinh 1.jpg

Hình 1: Công ty Bainier với Auto Hall góc đường Lê Lợi và Nguyễn Huệ, từ năm 1920.

Hinh 2.jpg

 

 

 

 

 

 

Hinh 2: Vị trí AutoHall đối diện với nhà hàng Pancrazi (trước 1975, tòa nhà thương mại Eden)
Khảo sát hình, có hai chiếc Citroen Type A tourer và một Citroen C4 (1928) chạy ra từ Bainier-AutoHall garage, chiếc xe chở khách Citroen chạy về hướng Auto Hall, Auto Hall nằm đối diện với nhà hàng Pancrazi trên đường Bonard và nằm xéo góc với Garage Bainier.Từ năm 1920 Ông E Bainier thành lập SOCIÉTÉ ANONYME DES ÉTABLISSEMENTS BAINIER, dời trụ sở về gốc đường 21 Bonard và 100-102 Nguyễn Huệ, cho xây lại AutoHall với công nghệ hiện đại thời bấy giờ (hình 1), mở rộng phạm vi thượng mãi làm đại lý cho nhiều hiệu xe như Unic,Dodge, Darracq và Citroen.
Garage Bainier được xây dựng dùng công nghệ cao, tận dụng ánh sáng và không gian, được xem như một phòng trưng bày xe hơi đẹp nhất vùng Viễn Đông (http://www.entreprises-coloniales.fr/inde-indochine/Bainier-Auto-Hall-Saigon.pdf)
Ông Emile Bainier đến Saigon làm trường thợ máy (mechanic foreman), năm 1911 ông làm Giám đốc cho công ty Ippolito. Sau đó ông rời Ippolito thành lập công ty riêng SOCIÉTÉ ANONYME DES ÉTABLISSEMENTS BAINIER năm 1914 địa chỉ số 40 Bonard.
Ông Emile Bainier mất năm 1941 ở Saigon, gia đình ông tiếp tục kinh doanh cho đến năm 1953 thì trở về Pháp. Vợ chồng hoàng tử Nguyễn Phúc Ưng Thi và Nguyễn Thị Nguyệt Nga mua lại tòa nhà Bainier và phá đi để xây lên khách sạn Rex, rạp chiếu phim Đại Nam năm 1958.
Công ty Bainier lúc đầu làm đại lý cho Citroen (xem Hình 1) nhưng đến năm 1931, quyền đại lý giao cho Mr Henri Hospital chủ Garage Citroen, 37 đường D’ Espagne (Lê thánh Tôn) đến năm 1936 trở thành công ty trực thuộc Citroen với tên Công ty Xe hơi Viển đông (Société Automobile d’Extrême-Orient)

Công Ty Garage Citroen

hinh 3

Hinh 3:  Quảng cáo Garage Citroen

Hinh 4

Hinh 4: Garage Citroen của ông Henri Hospital số 37 đường D’Espagne (Lê thánh Tôn) .Năm 1936, Garage Citroen trực thuộc công ty Citroen với tên Công ty Xe hơi Viển đông (Société Automobile d’Extrême-Orient).The SAEO đổi thành Xe Hơi Citroën Công Ty (Société
des Automobiles Citroën) năm 1969.

Hinh 4a

Hinh 4a: Xe Citroen được trưng bày tại Garage Aviat ở Hànội năm 1952, Garage Aviat đại diện cho Garage Citroen ở Bắc (Tonkin ) và Trung (An Nam).

Công Ty Garage Charner

hinh 5

Hinh 5: Hinh chụp 1953, Peugeot 202 Cabriolet (1939-1949) chạy ngang qua Garage Charner 131-133 Nguyễn Huệ. Garage Charner được thành lập năm 1923, đại diện chính thức cho xe Renault (bây giờ là khách sạn Kim Đô-Royal City Hotel ).

hinh 6

Hinh 6: Garage Charner là đại lý độc quyền bán các xe hơi Delage, Renault, Panhard, Monet-Goyou…
Toà nhà Garage Charner nằm gần thương xá GMC (Grand Magasin Charner) bị cháy tháng 6 năm 1929, được xây lại.

hinh 7

Quảng cáo xe Renault của Garage Charner năm 1931

 

hinh 8b

 

 

 

Hinh 8: Renault Monasix model RY2 -1930

hinh 9

Hinh 9 : Garage Renault 231, Bến Chương Dương (thời Pháp Quai de Belgique), phòng trưng bày xe Renault tai 59 đường Lê Thánh Tôn.

Công Ty Saigon Garage đại lý Simca (S.E.I.C)

hinh 10

Hinh 10: Công ty Saigon Garage thành lập năm 1936, góc đường Nguyễn Huệ và Công trường Garnier (công trường Lam Sơn thời VNCH-công viên nằm đối diện với Hạ Viện-bây giờ Nhà Hát Thành Phố)

hinh 10a

Hình 10a: Saigon Garage S.E.I.C năm 1961

Công ty Olympic đại lý xe Anh Mỹ trên đường Hồng Thập Tự

hinh 11

Hình 11: Ảnh chụp 1953 Cinéma (nằm giữa) và Garage Olympic tọa lạc tai số 97-99 đường Hồng Thập Tự (Chasseloup Laubat) sau này là rạp cải lương Kim Chung. Trong ảnh có thể nhìn thấy xe Citroen 11 và xe Vauxhall Velox 1952-53.

Công Ty xe hơi Jean Comte-Etablissements Jean Comte

Tọa lạc tại địa chỉ 34 đường Norodom (Thống Nhất-Lê duẩn), được thành lập năm 1911 bởi hai ông Laroche và ông Le Comte.
http://www.entreprises-coloniales.fr/inde-indochine/Comte-Saigon-Pnom-Penh.pdf

hinh 12

Hình 12 – Ảnh chụp 1952-53. Etablissements Jean Comte, số 34 Boulevard Norodom (Thông Nhất (VNCH) và Lê duẩn) nằm sau nhà thờ Đức bà. Sau 1975 tòa nhà công ty bị phá bỏ để xây trung tâm thương mại Diamond Plaza). Công ty Jean Comte hoạt động ở Cochinchine từ năm 1920, đại lý các loại xe Peugeot, Hotchkiss, Dodge, Packard, Saurer và xe Vélo Solex.

hinh 13
Hình 13-Phòng trưng bày xe hơi Công Ty Jean Comte-Dãy xe Peugeot 202s và một chiếc Hotchkiss vị trí cuối cùng của dãy xe, bên phải là xe Peugeot 203.

hinh 14

Hinh 14. Năm 1960 Etablissements Jean Comte trở thành Saigon Xe hơi Công Ty, trụ sở chính thức của công ty Citroen (Société Automobile d’Extrême-Orient) được thiết lập năm 1936. Sau khi lấy lại quyền đại lý Citroen từ công ty Bainier (xem hình 1) để giao cho ông Henri Hospital –Garage Citroen số 37 đường D’Espagne (Lê Thánh Tôn), (xem hinh 4). Công ty Citroen mua lại Etablissements Jean Lecome thành lập Saigon Xe hơi Công Ty.
Hình chụp 1964 (ref manhhai’s album), Saigon Xe hơi Công ty là trưng bày và buôn bán dòng xe hơi đầu tiên của Việt Nam –xe La Dalat.

http://www.ddth.com/showthread.php/399458-La-Dalat-v%C3%A0-c%C3%A1c-lo%E1%BA%A1i-xe-th%C3%B4ng-d%E1%BB%A5ng-c%E1%BB%A7a-ng%C6%B0%E1%BB%9Di-S%C3%A0i-G%C3%B2n-tr%C6%B0%E1%BB%9Bc-1975#ixzz42NEwmey6

 

Công ty SCAMA Đại lý cho xe Ford (Mercury, Lincoln…)

hinh 15

Hinh 15: SOCIÉTÉ COLONIALE D’AUTOMOBILES ET DE MATÉRIEL AGRICOLE (SCAMA) đăng ký 1928, trụ sở 41 đường Tôn Thất Đạm (Chaigneau).
Năm 1936 công ty mở thêm tại địa chỉ 23-39, Boulevard Bonard (Lê Lợi), Saigon. Công ty đại diện cho hảng xe Ford, Mercury, Lincoln-hinh chụp 1952 với 3 chiếc Ford Vedette đậu phía trước
Thời Cộng hòa , công ty SCAMA có trụ sở tại số 9 đường Phạm Hồng Thái , đối diện với hội Kỵ Mã (bây giờ là nhà thi đấu Nguyễn Du?) cũng là đại lý cho xe Đức Opel, Mercedes, GMC
http://www.entreprises-coloniales.fr/inde-indochine/SCAMA-Ford.pdf

SIT Societe Indochinoise de transports

hinh 16

Hinh 16: Đại lý cho xe DeLahaye

 

hinh 17

Hình 17: Quảng cáo SIT Siege social -4 Filippini (đường Nguyễn Trung Trực)
Công ty khởi thuỷ nằm ở đường Nguyễn Trung Trực , thời VNCH dời về đường Ngô Tùng Châu (Lê thị Riêng). Đại lý cho xe Mỹ và Anh.
http://www.entreprises-coloniales.fr/inde-indochine/Indoch._de_transports.pdf

KYXACO Đại lý độc quyền Volkswagen VNCH

Công ty này do Ông Chí Tín (Lê Văn Ba) và hảng East Asiatic Đan Mạch lập ra. Kyxaco nhập cảng độc quyền xe Volkswagen ở Việt Nam. Trụ sở 155 đường Nguyễn Huệ, bên cạnh cinema REX góc Lê Thánh Tôn. http://antruong.free.fr/damdaiganhdao2.html

hinh 18

Hinh 18: Công ty KYXACO, 155 Nguyễn Huệ, góc Lê Thánh Tôn.
Đại lý độc quyền xe Volkswagen 1957-1975.

hinh 19

Hình 19: Công ty xe hơi Kim Long trên đường Lê Lợi, gần thương xá Tax, đại diện hãng xe Ford của Mỹ. Photo by Bruce Baumler, 1965

NHỮNG CÔNG TY XE HƠI LỚN VẨN HỌAT ĐỘNG Ở SAIGON CHO ĐẾN GIỮA 1975.

Saigon Grarage, 100 Nguyễn Huệ
Garage Charner, 131 Nguyễn Huệ
Kyxaco, 155 Nguyễn Huệ
Olympic 97-99 Hồng Thập Tự
Renault 231 Bến Chương Dương
SCAMA 9 Phạm Hồng Thái
SIT 102 Ngô Tùng Châu (Lê thị Riêng)
SàiGòn xe hơi công ty 2-B Duy Tân-34 Thống Nhất
Kim Long Garage 70 Le Loi
Lucia, Fiat Garage 11 Đổ Thành Nhân, Khánh Hội

Xe xưa trên lối cũ.

Khảo sát ảnh xưa, số lượng xe lưu thông nhiều nhất trên các tuyến đường như Tự Do, Nguyễn Huệ, Lê Lợi, Hai Bà Trưng, Trần Hưng Đạo, Bến Bạch Đằng, Võ Di Nguy, Chi Lăng, …những đường thuộc quận 1, quận 3, quận 5 (Chợ Lớn) những địa điểm có nhiều du khách và quan chức Pháp Việt, ngoại quốc cùng với thương nhân khá giả, giàu có. Phần đông là xe có biểu tượng (logos) nhập từ Pháp và các xứ Âu Châu.
Sau khi Hiệp định Genève 20/7/1954 chia đôi Việt Nam. Miền Nam xây dựng thể chế Việt Nam Cộng Hòa với sự giúp đỡ của Mỹ và Đồng Minh. Đặc biệt thủ đô Saigon trở nên sầm uất, nhộn nhịp với đủ loại xe cộ có từ thời Pháp đến những loại xe du nhập từ Mỹ, Anh, Đức, Ý, Nhật…Lần đầu tiên người Saigon nhìn thấy những loại xe to, dài, nhiều màu, kiểu cách do người Mỹ đem vào mà họ gọi chung là xe Hoa Kỳ.

Bài viết gồm ba phần

Phần 1 –Xe cổ điển Pháp ở miền Nam trước 1975
Phần 2 -Xe cổ điển không xuất xứ từ Pháp ở miền Nam trước 1975.
Phần 3- Xe chở khách, xe buýt xưa – trước 1975

                                                PHẦN 1 -XE CỔ ĐIỂN PHÁP Ở MIỀN NAM TRƯỚC 1975

.Phần lớn các công ty xe hơi đầu thế kỷ 20 có trụ sở trong địa hạt quận 1 trước 1954, một số có công ty đại diện ở các tỉnh lớn, Hà Nội Hải Phòng, làm đại lý cho hãng xe Pháp Peugoet, Citroen, Renault, Simca, Packard, Panhard, hãng xe Mỹ như Ford, Chrysler, General Motors, xe Anh như Vauxhall, Austin, Morris và xe Đức như Opel, Volswagen, xe Ý như Fiat, Nhật như Toyota, Honda..

Biểu hiệu xe Pháp (logos) thường thấy ở Việt Nam

hinh 19ahinh 20

Hinh 20: Ảnh chụp khoảng đầu thập niên 1940s, có thể nhận được loại xe peugeot 202, Traction 11 L (Legère) và xe buýt Renault. Có người lính ″mã tà ″ đội nón cối trắng điều khiển lưu thông.

hinh 21

Hinh 21. Xe Panhard, Austin 1100, Chevrolet, Renault , Volswagen, Simca, Peugeot, Jeep, Dauphine… chen chúc trên đường một chiều trung tâm quận nhất Saigon năm 1967.

hinh 22

Hinh 22: Xe đậu vị trí trước nhà hát Tây (thời VNCH là trụ sở Hạ Viện), đầu thập niên 1950s

Khảo sát hình 22, bãi xe đậu trước nhà hát Tây – trước tháng 5/1975 là Hạ Nghị Viện, sau 1975 mang tên nhà hát Thành phố. Tiệm Nouveautés Catinat của ông Lucien Barthet (Khởi thuỷ xây cất năm 1887 là tiệm Bách hóa department store, nằm ở góc đường Catinat và Bonard, đến thời VNCH trở thành Phòng thông tin triển lãm Quận 1 (hình 23, bây giờ Louise Vutton 2015).

hinh 23

Hinh 23: Phòng thông tin trước Hạ Viện 1972 (nhà hát Thành Phố sau 75)
Đường Catinat trước 1975 là đường Tự Do và Bonard là Lê Lợi
Trên bải xe ̣ (hinh 22) , các loại xe hơi có thể nhận dạng gồm có Citroen Traction Avant, Renault 4CV, Traction 11, Peugeot 202, Peugeot 203, possible Land Rover, Panhard Dyna X 1953, Peugeot 203.
Đây là quang cảnh điển hình thời Pháp, nói chung xe xuất xứ từ Pháp chiếm đa số, đi đâu cũng thấy phần đông Renault 4 CV, rồi đến Simca, Dauphine, Renault, Peugeot, Citroen và một số xe từ các nước ở Âu Châu như Đức, Ý, Anh… Cuối thập niên 1950s, và thập niên 60s, khi người Mỹ và đồng minh cùng các công ty ngoại quốc bắt đầu vào miền Nam họ mang vào các loại xe sản xuất từ Mỹ-mà người Nam gọi là xe Hoa Kỳ, đặc điểm chung là kích thước lớn, dài, kiểu đột phá táo bạo, bumper (cây cảng-hãm xung) mạ kền, đuôi vẩy cá (fintail), sơn hai ba màu. Trên đường phố Sàigòn, cuối thập kỷ 40 và bắt đầu thịnh hành từ thập kỷ 50 có nhiều loại taxi xuất hiện- xe Renault 4CV, Simca Dauphine loại xe khách như Citroen Traction và cùng các loại xe Hoa Kỳ (thường được mướn làm xe “hoa” hay cho những cơ hội đặc biệt).
Người đọc chú ý, từ taxi dùng trong bài viết cho những loại xe chở khách có gắn taximetre (taximeter) để tính tiền. Trong hình kế tiếp 24, bức ảnh cho thấy loại xe khách mà người Pháp gọi là taxi đã xuất hiện ở Saigon năm 1905-12? bên cạnh xe lôi pousse-pousse (có người kéo mang bảng số 1100 )

hinh 24

Hinh 24: Xe chở khách năm 1912 ? –Saigon –chạy ngang tháp đồng hồ-hai phu xe pousse-pousse đứng trên thềm đá tháp đồng hồ- nổi tiếng thời bấy giờ -nhìn vào trường đua Phú Thọ.

Panhard cars

Công ty Panhard và Levassor đã được thành lập vào năm 1887, một thời nổi tiếng là một trong những công ty xe hơi tiền phong sớm nhất và quan trọng hơn bao giờ hết với chiếc xe đầu tiên sản xuất vào năm 1891 dựa trên một giấy phép của các bằng sáng chế của Daimler. Nhưng thay vì động cơ đặt phía sau như xe Daimler Benz, Panhard đặt động cơ và bộ tản nhiệt radiator- ở phía trước, điều khiển bánh xe phía sau, và một truyền trượt bánh răng thô. Cách cấu tạo này trở thành và được biết đến như là “Système Panhard”
Nhưng sau Thế chiến II, Panhard quyết định thay đổi, sản xuất xe cho tầng lớp trung lưu và phát triển một loại xe nhẹ, chi phí sản xuất thấp nhằm đáp ứng như cầu dùng xe phổ quát trong xã hội thời kỳ hậu chiến, dự kiến loại xe nầy sẽ trở thành phương tiện thông dụng di chuyển của mọi người. Đây cũng là chiến lược mà Citroen đã áp dụng để sản xuất 2CV, được biết như Panhard Rod thời bây giờ.

hinh 25

Hinh 25: Panhard Model X 86 Saloon 1952. Máy đặt phía trước (traction-avant), 2 cylinder car.

Hinh 25a

Hinh 25a: Panhard Model X 86 Saloon 1952 và Traction 11 trên đường Tự Do năm 1955
Dyna Panhard X, sedan 4 cửa , nhẹ, gọn là công trình thiết kế có tầm nhìn xa của kỹ sư Jean Albert Grégoire, đầu tiên được trưng bày Dyna AFG Paris Motor Show 1946. Sản xuất thương mại bắt đầu từ cơ xưởng Panhard ở Ivry (Paris) năm 1948 và trở thành xe mẫu (pattern) cho những loại xe Panhard khác, cho đến khi ngừng sản xuất năm 1967.
Dyna X còn được gọi là Dyna 110, Dyna 120 và Dyna 130 dựa theo tốc độ 110, 120 hay 130 km/giờ do sự tăng tiến của ỗ máy
Dyna X bị thay thế bởi loại xe lớn hơn, mạnh hơn Dyna Z năm 1954.

hinh 26.jpg

Hinh 26: Panhard dyna model Z (1963). Panhard xáp nhập (absorbed) với Citroen năm 1965.

http://www.thetruthaboutcars.com/2010/03/an-illustrated-history-of-panhard/

hinh 26a

 

 

 

Hinh 26: Panhard dyna model Z (1963). Panhard xáp nhập (absorbed) với Citroen năm 1965.

Simca cars

Tên SIMCA (Société industrielle để Méchanique et Carrosserie). Công Ty thành lập bởi Henry- Théodore Pigozzi năm 1934 sản xuất xe Fiat (của Ý) cho thị trường Pháp. Khởi thủy Piozzi là đại diện phân phối xe Fiat trong nước Pháp công ty SAFAF (Société Anonyme Franais des Automobiles FIAT), dần dà bắt đầu nhập càng các bộ phận và được phép (under license) lắp ráp xe Fiat bán trên thị trường nội địa Pháp. Sau đó, cơ hội đến, ông mua lại cơ xướng cũ ở Nanterre và bất đầu sản xuất Simca tự do.
Mẫu Fiat 500 Topolino được sản xuất từ năm 1937, loại xe nhỏ, 569cc với 85km/giờ, máy đặt phía trước, ổ bánh phía sau ( rear wheel drive), 2 cửa. Fiat 500 Topolino được biến đổi thành SIMCA 5 (Cinq), và loại Fiat sinh sau Fiat 1100 được thay thế bởi SIMCA 8 (Huit.)
Sau thế chiến thứ hai, Simca cho ra mắt Aronde năm 1951, với thiết kế công nghệ monocoque (unitary body) của Simca, Simca Aronde được cho ra đời để cạnh tranh trực tiếp với Peugeot 203. Trong năm đầu tiên đã là xe bán chạy nhất so với Simca 8. Năm 1959 trở thành công vượt bực cho Simca, sản xuất 200,000 chiếc. Năm 1954, SIMCA mua lại cơ xưởng Poissy của Ford Pháp-vào thời này đang sản xuất Ford Vedette. Sau đó Simca sản xuất Vedette nhưng vẫn giữ bảng hiệu cũ. Cơ xưởng nầy thành cơ xưởng chính của SIMCA trong khi cơ xưởng cũ ở Nanterre bán lại cho Citroen năm 1961.
Sự thành công lớn của SIMCA cho phép Simca thâu tóm hãng xe Talbot (Từ đó Talbot biến mất trên thị trường), để trở thành món mồi ngón cho Chrysler sau này.

hinh 27
Hinh 27: Simca 1000 Rallye model năm 1963

Simca 1000 là loại sedan 4 cửa, máy đặt phía sau. Ổ máy 4 cylinders .9L sản xuất 43 Bhp ($3.6PS/32.1 kW) với tốc độ tối đa là 116km/giờ. Xe cân nặng 700kg

hinh 28

Hinh 28: Mẫu xe Simca 9 Aronde-1300 sản xuất đầu tiên năm 1951-55

 

hinh 29

Hinh 29: Sản xuất trong khoảng 1951-1963 SIMCA Aronde –thiết kế Pháp với nhãn hiệu Aronde/hirondell/chim nhạn. Trong suốt 12 năm với bốn kiểu xe Simca 8, 9 , 1300 và P69 Simca thành công nhất với các dòng xe này- Xe được sản xuất từ Pháp và Úc.
Simca 9 Aronde thấy ở Saigon sản xuất khoảng 1951-55, không phải là traction avant nhưng máy cũng đặt phía trước, năng xuất khoảng 1.2L. The Aronde rất phổ biến ở Pháp, giúp Simca trở thành hãng sản xuất xe hơi lớn thứ hai bên Pháp vào khoảng cuối thập niên 1950s, Simca ngừng sản xuất Arondecuối năm 1963.

 

hinh 30

Hinh 30: Simca trên đường Nguyễn Huệ

hinh 31

Hinh 31: Simca Aronde chết vì bị đặt chất nổ .

Hinh 32

Hinh 32: Simca 6-1947-50 đậu trên đường quê.
Simca 6 là một chiếc xe nhỏ sản xuất và bán nội địa (Pháp) giữa năm 1947 và 1950. Simca trước đó đã được thành lập như là một công ty con của công ty Fiat (Ý), Simca 6 được phát triển dựa vào mẩu Simca 5. Simca 5, bản thân chính là loại Fiat Topolino và sản xuất tại Pháp được bán dưới nhản hiệu Simca.

Với sự ra mắt, tại 1947 Paris Motor Show, của Simca 6 thể hiện tư thế thiết kế độc lập cho một mô hình sản xuất Simca. Các Simca được tách từ nguồn gốc của nó bởi độ Mỹ hoá xe Fiat, mở rộng đặt hạ lưới tản nhiệt thấp, phía trước, hai bên là đèn pha được lên tích hợp(integrated) vào các tấm cánh (wing panels), tương tự như các dòng xe Peugeot 203 và Renault 4CV thời bấy giờ.

 

hinh 33

Hinh 33: Simca Aronde 1968 trên đường Lê Lợi, phia sau International Havester Scout 800-1967

 

hinh 34

Hì̀nh 34: Simca 5-2 cửa-569cc (Fiat 500- Topolino đổi huy hiệu (rebadged)-động cơ phía trước (front engine) ổ bánh sau (rear wheel drive). Đừng lầm lẩn với Peugeot 202 là phiên bản cải tiến dựa trên lọai xe SIMCA 8 -4 cửa

 

hinh 35

Hinh 35: The Fiat 500, thường được biết là “Topolino”, loại xe nhỏ sản xuất ở thành phố Topolino ở Ý từ 1936 đến 1955.

 

hinh 36

Hinh 36: Simca 1000 Ralye

Simca Rallye 1.3 (Simca 1000), xe sedan 4 cửa, máy đặt phía sau Simca Pháp sản xuất từ năm 1961 đến 1978. Thuộc loại xe hạng nhẹ, cân 700kg, đạt tốc độ tối đa 116km/giờ

 

hinh 37

Hinh 37: Xe cộ trên đường Trần Hưng Đạo 1969 – picture Bob Carolan

Renault cars

Sản phẩm trí tuệ của một kỹ sư nhiệt tình tên là Louis Renault , công ty Renault được thành lập cùng với hai người anh em của ông ở Pháp vào năm 1899 , những người em lo về tài chính , trong khi ông chú trọng về cơ học, máy móc” . Thành lập cơ xưởng cạnh sông Sein năm 1899. Louise Renault sản xuất loại xe đầu tiên từ 1898-1903, loại xe nhỏ Renault Voiturette.
Khủng hoảng kinh tế 1929-31, cũng như các hảng xe hơi khác đều phải giảm giá, cắt nhân công, tăng hiệu quả năng xuất, mang giá thành sản xuất xe xuống thấp, công ty Renault trở thành công ty đa dạng sản xuất xe buýt, xe chở hàng trucks, xe lửa điện electric railcars, máy cày và cả động cơ cho máy bay.
Do nhiều cuộc đình công gây rắc rối cho các nước trong khu vực, Renault đã được quốc hữu hoá năm 1945 để tránh phá sản như Citroen đã làm trước đó vài năm. Các dự án đầu tiên được thực hiện bởi công ty mới sản xuất 4CV nhỏ, nhưng bị hoãn lại cho đến sau Thế chiến II. Đối với thị trường châu Âu, xe nhỏ là tương lai vì giá rẻ, dể mua và duy trì. Sau khủng hoảng kinh tế và thế chiến, sự cách biệt giữa Âu Châu và Mỹ càng ngày càng lớn. Louis quyết định tối tân hóa cơ xưởng, bắt chước lối sản xuất dây chuyền của hảng Ford (Ford dùng công nghệ này bắt đầu năm 1912 sản xuất hàng loạt Ford T2)
Ngày nay Renault hòa hợp với Nissan (công ty xe hơi lớn của Nhật) trở thành một trong 4 hãng sản xuất xe hơi lớn nhất trên thế giới.

hinh 38

Hinh 38: Xe 4 bánh Renault đầu tiên-Renault Voiturette 1989-1903

Dòng xe 4CV, được giới thiệu vào năm 1946, là một thành công lớn so với dự kiến ban đầu. Với sự thành công này công ty thực hiện bán, mua lại và phát triển máy móc hạng nặng để giúp gia tăng sản xuất. Renault sau đó quay trở lại với lĩnh vực chế xe hạng nặng và qua việc sáp nhập với hai công ty hiện có Latil và Somua-cả hai là công ty sản xuất xe tải chở người và hàng hoá- họ và tạo ra một công ty mới, hoàn toàn dành riêng để làm xe tải, buýt với tên Saviem.
Dòng 4CV được thay thế bằng dòng xe Dauphine xuất hiện vào năm 1956. Đây là dòng xe thành công lớn kể cả trên thị trường Mỹ. Dauphine ngừng sản xuất năm 1961, được thay thế bởi hai dòng xe Renault 4 va Renault 8
Renault bắt đầu những năm 70 với những dòng xe thành công khác, thể thao hơn và nhanh nhẹn hơn nhưi dòng xe Renault 5, vì xe xài tiết kiệm nhiên liệu nhất là trong thời gian khủng hoảng dầu trong thập niên 1970s

Cũng trong những năm 70s, Renault bắt đầu mở rộng ảnh hưởng của mình và mở ra các nhà máy ở Đông Âu, châu Phi, Úc cũng như hợp tác với công ty Mỹ AMC đến năm 1979. Vào đầu những năm 80, Renault gặp rắc rối tài chính một lần nữa nên công ty ra khỏi hoạt động đua xe hoàn toàn, cũng như bán tất cả các phi tài sản và giảm chi mọi mặt.
Năm 1987 công ty bắt đầu biến cán cân nghiêng về lợi nhuận, do đó, vào đầu những năm 90, một loạt xe mới được phát hành trên thị trường và tất cả các mô hình đều thành công: Clio Espace, Twingo và Laguna. 1995 Renault Megane là chiếc xe đầu tiên để đạt được Euro NCAP (New Car Assessment Program) đánh giá bốn sao về an toàn .
Cũng trong những năm 90, Renault trở lại Formula 1 racing đua thành công, sau khi giành chức vô địch năm 1992, 1993, 1995, 1996, 1997. Trong năm 1996, Công ty chuyển hướng, cho rằng một tình trạng nhà nước sở hữu công ty sẽ không được hưởng lợi lâu dài nên công ty đã được tư nhân hóa một lần nữa. Renault đã đầu tư hơn nữa tại Brazil, Argentina và Thổ Nhĩ Kỳ.
Sau năm 2000, tuy thất bại với một loạt xe kém thành công như Avantime và Vel Satis, nhưng cũng tiếp tục thành công với hàng loại xe cũ như Clio, Laguna và Megane.

Read more: http://www.autoevolution.com/renault/history/#ixzz44kGHFLHk

hinh 39

Hinh 39: Renault Floride-Caravelle

Floride, còn được biết đến với cái tên Caravelle, là dòng xe thể thao 2 cửa, 2 + 2 chỗ ngồi của hãng xe Pháp Renault, được sản xuất trong giai đoạn từ 1958 – 1968.
Renault ghen tị với sự thành công phát triển ở Bắc Mỹ của dòng xe Volkswagen / Beetle quyết định tìm kiếm những phương cách để Renault có được sự thành công như hãng Volkswagen-Đức. Renault quyết định thay đổi xe Renault Dauphine của mình. Tại một hội nghị của các nhà phân phối ở Bắc Mỹ diễn ra ở Florida, người kinh doanh Renault ở Hoa Kỳ kêu gọi thành lập một Dauphine coupe / cabriolet sẽ cải thiện hình ảnh của Renault tại thị trường quan trọng của Mỹ. Chủ tịch Renault, Pierre Dreyfus đồng ý, và kể từ khi khái niệm đã được sinh ra tại một hội nghị đó ở Florida cho đến lúc nổi tiếng trong công ty gọi xe là “Renault Floride”. Tuy nhiên tên “Floride” được coi là không phù hợp với các tiểu bang khác của Hoa Kỳ, nên một tên khác, “Caravelle”bắt đầu được sử dụng cho khu vực Bắc Mỹ và các thị trường lớn khác (bao gồm cả Anh)

 

hinh 40

Hinh 40: Renault Caravelle sản xuất khỏang 1947-1961

 

hinh 41

Hình 41: Dáng hao hao giống Renault Caravelle, 1968 VW Type 3 Fastback của nhân viên Úc trong khuôn viên Tổ chức hỗ trợ quân sự của thế giới tự do ( Free World Military Assistance Organization (FWMAO), hiện nay là địa chỉ khách sạn Kỳ Hoà 238 ba tháng hai (trước 1975 Trần Quốc Toản) thuộc quận 10.

Hinh 42

Hinh 42: Xe buýt Renault 6C-2 vào năm 1951 trên đường Bonard (Lê Lợi), Saigon ?.
Trong ảnh này, phia sau xe bus, tòa nhà hát Tây –sau là Hạ Viện trước 1975 – là công trình xây cất của kiến trúc sư Pháp Eugene Ferret năm 1897.

hinh 43

Hinh 43: Renault Juvaquatre -4CV- berline trên đường Saigon 1968. Juvaquate sản xuất đầu tiên 1939, chấm dứt 1955.

hinh 44

Hinh 44: Renault Juvaquatre ảnh chụp 1969 chạy trên đường Pasteur 1969 , bên trái phía xa là Saigon xe hơi công ty, bên phải qua hàng cây cao là Vương Cung Thánh Đường –nhà thờ  Đức  Bà. Xe được sản xuất vào khoảng 1936-1948, loại xe sedan 4 chổ. Đến năm 1947-48 Juvaquatre được thay thế bằng loại xe 4CV cho đến năm 1961. Juvaquatre được hồi sinh 1950-1960 biến chế thành panel van hay station wagon với nhãn hiệu Renault Dauphinoise

hinh 45

Hinh 45: Renault Dauphinoise fourgonnette là loại xe panel van hay station wagonwagon, sản xuất từ năm 1950-1960.

 

hinh 46

Hinh 46: Renault Novaquatre mẫu YN2 1934, ảnh chụp 1946

Renault Novaquatre (4CV) kiểu 1934 đậu trước trường Chasse Loup-Laubat 1946 (bây giờ Lê Quý Đôn) – so với Juvaquatre, hai đèn phía trước nằm trên 2 vành bánh xe, phía sau chiếc Renault là loại xe Jeep thời thế chiến hai 1941-45.

 

hinh 47

Hinh 47: Renault Monaquatre 1934

 

hinh 48

Hinh 48: Bến Taxi ở đường Lê Lai (Boudonnet) bên hông tường ga xe lửa Saigon (bây giờ là khu khách sạn New World). Rạp hát xưa Aristo năm đối diện bến xe taxi khoảng 1950

Taxi – Renault 4CV

Renault 4CV mà người Việt gọi là xe 4 ngựa- quatre cheveaux, xe con cóc, sản xuất khoảng 1946-61 là thối thân của xe Juva Quatre và tiền thân của Renault Dauphine . Rất thông dụng thời bấy giờ và được dùng làm taxi vì xe nhỏ, nặng 620kg, rẻ tiền, thiết kế giản dị, dể sửa ,4 chỗ ngồi, máy đặt phía sau, ổ bánh phía sau, phía trước có đặt đồng hồ tính tiền. Đầu thập niên 1960s , chính phủ với chương trình “Hữu Sản Hoá” người nghèo, nhập cảng loại xe mới Renault Dauphine, bán góp cho người muốn chạy xe taxi làm kế sinh nhai. Thành phố Saigon lại xuất hiện nhiều taxi Dauphine, bên cạnh taxi Renault 4CV 750 và 760 phân khối.
Chiếc xe này cho người viết cảm giác đi taxi đầu tiên vào khoảng năm 1952-53,người tài xế cũng là người thân vừa mua xe để chạy taxi làm nghề sinh sống, cũng muốn chạy quanh thành phố cho quen nên người viết được tháp tùng. Thời VNCH, thân xe sơn hai màu-màu bơ và xanh lá cây, có mui trần được mở, nhìn lên bầu trời như chạy đua với trăng sao lùa những luồng gió mát thổi vào xoa dịu cái nóng của thành phố vừa ngả về đêm.

hinh 49

Hinh 49: Taxi Renault 4CV chạy quanh bồn nước góc đường Nguyễn Huệ và Lê Lợi khoảng thập niên 1960

Hinh 49a

Hinh 49a : Taxi mẫu 1952.

 

hinh 50

Hinh 50: Bến Taxi Renault CV (mẫu 1957), 2 chiếc taxi Renault 750 (747cc), bên cạnh là xe La Dalat chiếc xe hơi sản xuất đầu tiên ở Việt Nam.
Những ai đã từng đặt chân đến Sàigòn trước 1975 mà không nhớ đến những chiếc taxi Renault chạy khắp nẻo đường Sài Gòn, Chợ Lớn, Gia Định,miền Nam, chứng kiến bao nhiêu cảnh vui buồn, thương hận trước 1975. Có thể nói taxi quatre cheveaux là một thứ văn hóa của dân Saigon, miền Nam là một cái gì mới, xa lạ với người miền Bắc trước 1975.

hinh 51

Hinh 51: Renault 760 (760cc) trên đường Tự Do

hinh 52

Hinh 52: Renault 4 R4 1961, phía sau là Taxi Renault 4CV 750 (747cc)

 

hinh 53

Hinh 53 : Renault 4 R4

http://www.taringa.net/posts/autos-motos/11752930/Entra-Autos-Que-Quedaron-En-La-Historia-Argentinaa.html
Renault 4, còn được gọi là 4L (phát âm là “Quatrelle”) hay 4R, là loại xe không đắt, tiết kiệm (economy) mở ra phia sau (hatchback ) được sản xuất bởi hãng Renault từ năm 1961 đến 1992
Renault 4 là một thiết kế xe nhỏ sản xuất hàng loạt đơn giản nên rất phổ biến, thông dụng trong đô thị và vùng phụ cận. Đây cũng là ứng dụng đầu tiên kỹ thuật lực kéo áp dụng trên chiếc Renault chở khách Estafette vào năm 1958 (máy đặt phía trước, ổ bánh xe phía trước (front engine, front wheel drive) Cũng la kết quả sau khi khảo cứu, khai thác những ưu điểm và nhược điểm của xe Citroën 2 CV 1948 .
Xe được bắt đầu sản xuất từ tháng 8 năm 1961 đến cuối năm 1992 tại 28 quốc gia

Renault Dauphine

Dauphine sản xuất từ năm 1956 đến 1967 , loại xe thông dụng máy đặt phía sau , thân khung liền vỏ , hộp số tự động có ba số, không tự động có 3 hoặc 4 số , 4 cửa, động cơ 845 phân khối. Dauphine được đưa ra thị trường nhằm thay thế cho dòng xe rất thành công trước đó 4CV
Một số lớn Dauphine được nhập cảng vào VNCH qua chương trình Hữu Sản Hoá 1968 làm taxi. Cùng thời với Volkswagen Beetle, Morris Minor, Mini and Fiat 500, đây là những dòng xe đi đầu trong chiến lược sản xuất xe thông dụng, giá phải chăng ở Âu Châu thời bấy giờ

 

hinh 54

Hinh 54 Tem thư phát hành khuyến khích phong trào Hửu Sản Hóa.
Chương trình Hửu Sản Hóa
https://www.facebook.com/notes/nam-r%C3%B2m/h%E1%BB%AFu-s%E1%BA%A3n-h%C3%B3a-tr%C6%B0%E1%BB%9Bc-75-v%C3%A0-qu%E1%BB%91c-h%E1%BB%AFu-h%C3%B3a-sau-75-/483065861887422/

 

hinh 55

Hinh 55: Xe nhà Dauphine chạy gần dinh Độc Lập.

 

hinh 56

Hinh 56: Taxi Dauphine –góc Nguyễn Huệ và Lê Lợi, Tòa nhà trắng bên trái là thư viện Abraham Lincoln, phía sau là Tòa Độ Chính 1967.

 

hinh 57

Hinh 57: Renault –Dauphine mẫu 1956

hinh 58

Hinh 58 : Taxi Dauphine trên đường Công lý, phia sau là chiếc Chevrolet 1950s

hinh 59

Hinh 59 : Renault Fregate model 1951 trên đường Norodom (bây giờ là lê duẩn) năm 1953.

hinh 60

Hinh 60: Renault Fregate 1954 (NBF 338), Renault 4CV Taxi (NBI 992) và Volswagen Beetle NBP… trên đường Tự Do 1961.

 

hinh 61

Hinh 61 : Renault Fregate đường Nguyễn Cư Trinh, bùng binh Cống Quỳnh quận Nhì (giờ là Q1), phía sau xe van Renault Goelette dừng lại cho người qua đường.

hinh 62

Hinh 62: Renault 8 (mẫu 1962) Saigon 1969-70 – Ngã tư Trần Hưng Đạo-Đề Thám.

hinh 63

Hinh 63: Renault 8 Gordini -4 đèn pha phía trước , sản xuất khoảng 1964-1970

hinh 64

Hinh 64: Renault Estafette trên đường Tự Do năm 1965, phía trước van Estafette là đuôi xe Citroen DS

hinh 65

Hinh 65: Xe Van Renault Estafette được sản xuất từ năm 1959 đến năm 1980 với tổng số 533,209 chiếc- Estafette là loại xe van đầu tiên ra mắt của công ty với công nghệ ổ diã xe đặt phía trước (front wheel drive)
Thiết kế thân xe có 3 cửa phía sau (three-part tailgate) cửa trượt bên hông (sliding side door) dựa vào sự thành công của Type H van Citroën.

hinh 65a

Van estafette có ba cửa mở ra phía sau.
Sau khi xe Van Estafette tung vào thị trường năm 1959, Renault là hảng chế tạo xe hơi duy nhất trên thế giới sản xuất các loại xe với 3 kỷ thuật công nghệ khác nhau:
Má đặt trước với ổ dỉa xe đặt phía trước ( the front engined front wheel drive ) như Van Estafette, máy đặt sau với ổ dỉa xe đặt phía sau (rear engined rear wheel drive ) như dòng xe Dauphine và máy đặt trước với ổ dỉa xe đặt phía sau (front engined rear wheel drive ) như dòng xe Fregate.

hinh 66

Hinh 66: Renault Estafette và bến xe buýt Renault-Saviem màu xanh-ngà, bùng binh chợ Bến Thành 1961

hinh 67

Hinh 67: Renault Goelette fourgon 1950 của trường nữ trung học Áo tím Gia Long

hinh 68

Hinh 68: Renault Goelette chở khách hàng trên quốc lộ 1 –Saigon Mỹ tho 1968 (photo Lance Nix)

 

hinh 69

Hinh 69: Renault Goelette Bien Hoa 1968 và Volswagen Van có cửa sổ., phía sau cùng xe Citroen Ami 6.

Peugeot cars

Peugeot là một trong số hãng sản xuất xe hơi lâu nhất, tuy nhãn hiệu lúc đầu- không phải đó làm xe hơi- bắt đầu năm 1842 (buôn bán máy nghiền cà phê, muối và tiêu). Người đầu tiên quan tâm đến chuyện làm xe hơi là ông Armand Peugeot và sau khi gặp ông Gottlieb Daimler, chiếc xe Peugeot đầu tiên được sinh ra – loại xe ba bánh- chạy bằng hơi nước vào năm 1889 .

hinh 70

 

Hinh 70: the Serpollet-Peugeot, xa ba bánh với động cơ bằng hơi nước ( steam powered tricycle) 1889
Năm sau, máy chạy bằng hơi nước được thay thế bằng xe bốn bánh với máy chạy xăng của Daimler.
Sau thế chiến thứ nhất, xe hơi trở thành phương tiện cần thiết và không được xem như hàng đắt giá, công ty khá thành công với hàng loạt dòng xe chạy xăng sản xuất từ hàng Societe Anonyme Des Automobiles Peugeot , xưởng sản xuất ở Adincourt. Công ty này là công ty tách ra từ công ty mẹ đó bà anh em Peugoet thành lập. Năm 1929 dòng xe Peugeot 201 được tung ra cùng với cách định mẫu các dòng xe độc đáo về sau bằng 3 con số, với số không nằm ở giữa.

Trong thời gian thế chiến 2, Peugoet bị ảnh hưởng nặng phải sản xuất các loại xe hơi và dụng cũ chiến tranh cho Đức. Khí thế chiến 2 chấm dứt hầu hết cơ xưởng Peugeot bị phá hủy cần phải được xửa chữa vì thế đến năm 1948 Peugeot mới cho ra dòng xe mới, dòng xe 203. Thời nầy Pháp trở lại ViệtNam và cho nhập cảng loại xe này rất nhiều!
Read more: http://www.autoevolution.com/peugeot/history/#ixzz44dNoqRG9
Các dòng xe Peugeot và năm được tung ra trên thị trường
• 104 (1972), 106 (1991), 107 (2005), 108 (2014)
• 201 (1929), 202 (1938), 203 (1948), 204 (1965), 205 (1983), 206 (1998), 207 (2006), 208 (2012)
• 301 (1932), 302 (1936), 304 (1969), 305 (1977), 306 (1993), 307 (2001), 308 (2007), 309 (1985), 301 (2012)
• 401 (1934), 402 (1935), 403 (1955), 404 (1960), 405 (1987), 406 (1995), 407 (2004), 408 (2010)
• 504 (1968),
Nhung dòng xe thường thấy ở Viet Nam , nhất là Miền Nam.
Peugoet 202, 203, 302, 403, 404 and 504

hinh 71

Hinh 71: NHA TRANG 1904-1907 – Gabrielle Vassal dans une voiture – Bà Gabrielle Vassal ngồi trên xe hơi ở Nha Trang. Có thể là biến thể của dòng xe Peugeot 33 -1901

https://www.google.com.au/#q=Gabrielle+Vassal+dans+une+voiture

hinh 72

Hinh 72 : Peugeot 202 và xe vận tải nhỏ Renault trên đường Charner 1950s

hinh 73

Hinh 73: Peugeot 202 thùng, chở hàng hóa (đầu 1950s)

hinh 74

Hinh 74: Taxi renault 4 CV, Jeep, Toyota Corona, Peugeot 404 , xe Hoa Kỳ trên đường Nguyễn Huệ.

hinh 75

Hinh 75: So sánh Peugeot với Simca
Đừng nhầm lẩn Peugeot với Simca 5 hoặc 8 (1946-50) –Peugeot 202 thiết kế với hai đèn trước nằm sau vỉ sắt tản nhiệt-radiator grill.

hinh 76

Hinh 76: Simca 5 hoặc 8, hai đèn trước nằm bên trong vỉ sắt
Peugeot 202 được sản xuất từ giữa năm 1938 -1942 và rồi sau đó bắt đầu sản xuất lại cuối năm 1945 , được bán trên thị trường đến năm 1949, thì được thay thế bằng Peugeot 203.
Peugeot 202 được trang bị động cơ làm mát bằng nước 1133 cc , cho tối đa là 30 PS (22 kW) tại 4000 rpm và tốc độ tối đa khoảng 100 km / h (62 mph).
Máy gắn phía trước tới bánh sau thông qua hộp số 3 tốc độ . Nhiên liệu được dẩn qua van trên cao , tại thời điểm đó đối thủ cạnh tranh rõ ràng nhất là Renault tung ra chiếc Renault Juvaquatre, vẫn cung cấp nhiên liệu qua van bên cạnh máy.

hinh 77

Hinh 77: Peugeot 302. Để ý sự khác biệt bên hông xe và kính trước.

Peugeot 302 là tiền thân của 202. Được giới thiệu tại Paris Motor Show 1936 và chỉ sản xuất trong 18 tháng, cho đến tháng tư năm 1938. Động cơ bốn xi lanh 1.758 cc làm mát bằng nước , tương tự như động cơ được trang bị cho peugeot 402, với tốc độ tối đa 105 km / h (65 mph).

hinh 78

Hinh 78: Peugeot 402 B.E 1939

hinh 79

Hinh 79 : Peugeot 203 , VW Kombi, Peugept 404, Simca Aronde góc đường Tự Do và Lê Lợi, bên hông khách sạn Continental Saigon 1968 – Photo by John F. Cordova – Café Givral bên trái và Continental Palace Hotel bên phải

Peugeot Taxi

Hinh 79a : Peugeot 203 taxi

hinh 80

Hinh 80: Peugoet 203 có thùng, dùng làm xe cứu thương và chở hàng nằm trong kho thương cảng Saigon 1951.

hinh 81

Hinh 81: Peugeot 203 Familiale khoảng đầu thập niên 1950s, 3 hàng ghế, chở đến 6 người.

hinh 82

Hinh 82: Peugeot 203-1955

hinh 83b

Peugoet 203 (late 1940s) Peugeot 1950s và Traction Legere 11
Hinh 83: Peugeot trên đường quê, thời Pháp thuộc trước 1954

hinh 84

Hinh 84: Peugeot 403 sản xuất từ 1955 đến 1966, với kiểu Pininfarina với 1468cc. Chiếc xe này hiện được trưng bày trong phòng triển lãm ở Saigon.

hinh 85

Hinh 85: Peugeot 403- 1960

hinh 86

Hinh 86: Peugeot 403 trên đường Tự Do, trước Hạ Viện 1968 (bây giờ nhà hát Thành phố)

hinh 87

Hinh 87: Peugeot 403 trên đường Thống Nhất, trước dinh Độc Lập

hinh 88

Hinh 88: Peugeot 403 trước Vương Cung Thánh Đường 1966 (Tom Briggs)

hinh 89

Hinh 89: Peugeot 404 trên đường Nguyễn Huệ

hinh 90

Hinh 90: Peugeot 404 SAIGON 1971 – Ngã tư Đoàn Thị Điểm – Phan Đình Phùng
Nay là ngã tư Trương Định – Nguyễn Đình Chiểu – Photo by Dick Leonhardt

hinh 91

 

Hinh 91: Peugeot 404 station wagon

hinh 92

Hinh 92: Peugeot 404-1964 hiện được trưng bày trong bảo tàng viện xe cổ ở Saigon.

http://www.thetruthaboutcars.com/2012/09/no-credit-no-problem-uncle-hos-used-cars-has-a-low-mile-zis-for-you/#comments

hinh 93
Hinh 93: Ford Fairlane 500 model 1957, Peugeot 404 1960 and Renault 12TS (1970s) hay Peugeot 504 trên đường Tự Do trước Hạ Viện (bây giờ Nhà hát thành phố)

hinh 94

 

Hinh 94: Peugeot D3A Camionette 1954 trên đường Phan Đình Phùng.

Citroen cars

hinh 94a

SOCIÉTÉ ANONYME DES ÉTABLISSEMENTS BAINIER
21, bd Bonard và 100-102, bd Charner
Traction Avant, tiếng Anh là front-wheeled drive –FWD-lực kéo xe đặt ổ bánh phía trước được thiết kế bởi hai ông André Lefebvre và Flaminio Bertoni khỏang cuối năm 1933, đầu năm 1934. Tuy không phải là những người sản xuất FWD đầu tiên (xe Alvis được thiết kế FWD năm 1928 ở Anh, L29 từ năm 1929-1932 tại Hoa Kỳ và DKW F1 năm 1931 tại Đức) Traction Avant áp dụng công nghệ FWD vào khung liền vỏ – unitary body. Cùng với dòng xe DKW 1930s của Đức, Traction tiên phong trong công nghệ FWD được tung lên thị trường sản xuất xe khối ở Âu Châu (European mass car market).
Trong năm 1930, hãng Citroen đã đấu tranh để cạnh tranh với các hảng đối thủ như Peugeot và Renault. Andre Citroen nhìn thấy công ty của ông cần một thiết kế mới với tiềm năng cách mạng hóa ngành công nghiệp xe hơi. Ông sang Mỹ và tìm được cảm hứng ấy sau khi thăm viếng Tổng công ty Budd tại Hoa Kỳ. Nơi đây ông chứng kiến xe hơi được thiết kế theo kiểu khung liền vỏ (vỏ xe ̣không phải là vỏ bánh xe -tiếng Anh Unitary Body or Unibody), kết cấu thân xe và khung xe (chassis) vào một đơn vị nhẹ. Thiết kế của công ty Budd bao gồm sáng kiến mới, đặt máy xe (engine) và bộ phần truyền tải (transmission) phía trước của xe, lợi thế công nghệ này làm nội thất xe rộng hơn, trung tâm trọng lực gravity thấp hơn và như vậy giúp cho việc xử dụng xe hoàn hảo (superior) hơn.
Cấu trúc Traction Avant dựa trên khung và vỏ sườn hàn lại với nhau-gọi chung là khung vỏ như đã nói trên. Hầu hết các xe khác của thời đại này dựa trên một khung riêng biệt (chassis) và vỏ (thùng) xe được hàn vào. Công nghệ khung vỏ –unibody or unitary body thân đơn nhất- đưa đến kết quả sản xuất xe nhẹ hơn, và vì thế công nhiệp này được sử dụng cho hầu như tất cả các công trình xe sedan về sau.
Mẫu Traction Avant ban đầu là một saloon nhỏ với 2.910 mm (115 in) chiều dài và 1.303 cc (79.5 cu in) động cơ, mô hình này được gọi là 7A. Chỉ sau 2 tháng, với khoảng 7.000 xe được sản xuất, 7A được nối tiếp trong tháng sáu năm 1934 bởi dòng xe 7B với động cơ 1.529 cc với hai cần gạt nước (screen wipers) thay vì một gạt nước duy nhất của dòng xe 7A . Dòng xe 7Bs được thay thế bởi dòng xe 7C mạnh hơn với động cơ 1628cc
Mẫu xe về sau dòng 11 (tung ra tháng 11, 1934) với 1,911 cc (116.6 cu in) bốn xy lanh và dòng 15 (tung ra khoang tháng 6, 1938), với 2,867 cc với 6 xy lanh. Dòng 11 có hai kiểu 11BL (“légère”, or “light”), có cùng kích thước với dòng 7 CV, và 11B (“Normale”, or “normal”) với bánh xe (wheel) to hơn và bề ngang bánh xe rộng hơn.
Nhin qua, không thấy sự khác biệt to lớn giữa 7CV và loại sinh sau 11CV và 15CV, tuy vậy những dòng xe này được thiết kế hài hòa, thú vị, được ham chuộng thời ấy, mặc dù không phải là loại xe có chiến lược viễn kiến Traction Avant trở thành một trong những dòng xe đặc biệt nhất, mở màn cho những loại xe sinh nửa thế kỷ sau-dòng xe “cách mạng” Citroën DS.

Các dòng xe Citroen và thời gian sản xuất

Citroen 7CV –1934-41
Citroen 11CV -1934-57
Citroen 15CV-1938-56
Citroen DS 19-1955
Citroen DS 21-1970
Citroen DS 23-1973

hinh 95

Hinh 95: Citroen cổ xưa AC4 model 1927-đậu trước hảng xăng dầu Shell , góc đường Norodom-Luro (Thống Nhất Cường Để thời VNCH sau nầy Lê duẩn-Tôn đức thắng), công ty được thành lập đầu thập niên 1930s với tên Companie Franco Asiatique des Petroles

hinh 96

Hinh 96 : Xe xưa Citroen, Peugeot và Renault, góc đường Catinat (Đồng Khởi ) và Bonard ( Lê Lợi) phía trước nhà hát Thành Phố-bên hông là công viên Garnier trước 1954. (Manhhai photo albums)

hinh 97

Hinh 97: Traction 11B Cabriolet RHD 1937 và Traction 11B Sedan 1937

hinh 98

Hinh 98: Traction Avant 11B –cabriolet 1937 tân trang đậu trên đường phố Saigon

hinh 99

Hinh 99: Traction Onze BL 11 (Legere=nhẹ) bên phải và Traction 11 màu trắng bên trái với thùng xe phía sau to gấp đôi được giới thiệu với kiểu xe 1952 (Ra mắt vào tháng năm 1934), 1.911 cc , động cơ bốn xy-lanh.

hinh 100

Hinh 100: Citroen traction-avant 11 model 1953.

hinh 101

Hinh 101: Xe Citroen và Vedette đậu ở góc đường Lê Lợi và Pellerin (Pasteur) ngày xưa có khu giải trí và rạp hát Casino Saigon

hinh 102

Hinh 102: Traction 15 ra mắt tháng 6 năm 1938 với 2,867 cc, sáu xy lanh

hinh 103

Hinh 103: Chiếc xe Traction 11 đậu trước nhà hàng Sing Sing, phía sau xe Traction là ngã tư Phan Đình Phùng & Đoàn Thị Điễm.

hinh 104

Hinh 104: Traction 11 xưa trên đường phố Saigon 1969

hinh 105

Hinh 105: Traction 11 kiểu sau 1935, chỉ có một ống bơm xăng và có thể mở cóp sau để chứa đồ. Traction sản xuất trước 1935 có 2 ống bơm xăng 2 bên.

hinh 106

Hinh 106: Traction Onze BL (legere) mẫu 1937

hinh 107

Hinh 107: Citroen đậu tại bến xe lô-ca-xông đường Phạm Ngũ Lăo gần Chợ Bến Thành năm 1969.Người Saigon một thời dùng xe này như xe khách, gọi là xe lô-ca- xông (location).

hinh 108

Hinh 108: Xe traction đậu trên đường Bonard (Lê Lợi)  năm 1953- Chiếc đầu là custom-made (làm theo kiểu đặt hàng) traction avant  Onze 11, sau đó là chiếc traction 11, kế tiếp là Renault Monaquatre.

Citroen DS
Citroen tung vô thị trường loại xe DS thay thế Traction Avant 11.Mẫu đầu tiên DS 19 được tung ra năm 1955, trong khi dòng ID rẻ hơn, máy yếu hơn được tung ra năm 1957. Dòng xe DS và ID luôn luôn được cái thiện trong suốt quá trình sản xuất 20 năm. Đầu tiên DS 19 với 1911 phấn khối- mang qua từ Traction Avant, sau đó được thay thế bởi DS 19a với 1985 cc (phấn khởi) năm 1965 (còn gọi là DS 20 từ năm 1969). Cùng năm DS 21 được tung ra với 2175 cc, máy mạnh hơn nhờ bộ phận phun nhiên liệu cửa hãng Bosch được gắn vào xe đầu tiên năm 1970. DS 21 trở thành một trong những loại xe đầu tiên bán trên thị trường khối (mass market) với bộ phun nhiên liệu điện tử năm 1970.
Sau cùng dòng DS 23 được giới thiệu vào năm 1973 với lòng máy 2347 cc, với 2 lựa chọn với bộ máy hòa khí (carburator) hay bộ máy phun nhiên liệu điện tử. Dòng DS 23 với bộ máy phun khi là dòng xe mạnh nhất sản xuất 141 hp (105 kW). Cũng nên biết 1Hp=.7457Kw

hinh 109

Hinh 109: Hinh quảng cáo DS 19, năm 1957, trước cổng Lăng Tả quân Lê Văn Duyệt
http://www.dsinasia.com/Vietnam/history.html

hinh 110

Hinh 110: Citroen DS 19 trên Bến Bạch Đằng (Tôn đức thắng) góc đường Hàm Nghi, tòa nhà là trụ sở Tổng Cục Quan thuế trước 1975- Trong ảnh có thể nhìn thấy cả xe taxi Dauphine và Peugoet 203. Ảnh chụp khoảng cuối thập niên 1960s.

Khi Citroen tung DS 19 năm 1955 vào thị trường báo chí thời bấy giờ ca ngợi chiếc xe này như được thiết kế từ một hành tinh nào đó trong vũ trụ.
Hệ thống nhúng treo thuỷ khí (Hydro-pneumatic suspension), Hệ thống phù trợ cho tay lái (assistance systems for the steering), thằng –phanh (brakes) và cần đổi số (gearshift lever), and inboard đĩa thắng trước (inboard front disc brakes) là những tiến bộ tiền phong của loài thiết kế đặc biệt-khác thường này.

hinh 111

Hinh 111: Citroen DS 19 series đậu trước hội trường Diên Hồng- trụ sở Thương Nghị Viện thời Việt Nam Cộng Hoà (bến Chương Dương)-bây giờ là Sở Giao dịch Chứng khoán ( 45-47 Bến Chương Dương, Quận 1)- trong thời gian hội nghị Colombo.

hinh 112

Hinh 112: DS 19 đậu trước khách sạn Continental

hinh 113

Hinh 113 : DS 19 trên quốc lộ 1 Saigon–Trung Lương 1968 (Lance Nix)

hinh 114

Hinh 114: DS 21 and DS 19 tại Càphê 30/4 trong khuôn viên Định Độc Lập (Hội trường Thông Nhất bây giờ) đường Huyền Trân Công Chúa.

hinh 115

Hinh 115: DS 23 là loại xe DS hiếm thời bấy giờ, chiếc nầy được đồn đại là của Tổng Thống Thiệu, Đệ Nhị Cộng Hoà, sau lọt vào tay tướng Trán văn trà.

Những tính năng như hệ thống nhúng treo tự cân bằng, đèn pha hướng, phanh trợ lực( power brakes) và trợ lực tay lái- power steering (tất cả được điều khiển bởi hệ thống thủy lực treo ( hydraulic suspension) xác nhận vị trí Citroen một lần nữa ở đỉnh cao của sự sáng tạo xe hơi thời bấy giờ.

DS 21 (1968-1975)
DS 21 đến thị trường 16 năm sau DS19, về cơ bản là một cải thiện quan trọng của dòng xe DS. Sự khác biệt kỹ thuật chủ yếu là động cơ công suất lớn hơn DS 19 và là một trong những Citroëns đầu tiên với hệ thống phun nhiên liệu.
DS 23
Với động cơ 2347cc đến trong cả hai hệ thống phun nhiên liệu fuel injection và các hình thức dùng bộ chế hòa khí carburetor. Các mẫu xe dùng hệ thống phun nhiên liệu điện tử đã sản xuất DS mạnh nhất mọi thời đại, với 143 HP. Các dòng DS biến thể (variant) mới nhất này đi kèm với sự lựa chọn loại hộp số: một bốn số tự động gọi là “HYDRAULIQUE” (four-speed automatic called “Hydraulique”), một ba số tự động từ Borg-Warner và hai không tự động (manuals) với hộp số gồm 4 hoặc 5 tốc độ (4 or 5 speeds)
(http://www.autoevolution.com/cars/citroen-ds23-1973.html#aeng_citroen-ds23-1973-23-117-hp)
Chú ý Citroen tung lên thị trường dòng xe DS bên cạnh dờng ID được tung ra thị trường nội địa Pháp với giá rẻ hơn. Tuy bề ngoài khó phân biệt, ID có lòng máy nhỏ hơn nên công xuất yếu hơn cộng với bộ thằng đĩa không tân tiến.

Citroen 2 CV (citroen deux cheveaux)-xe con coc

Citroen 2CV (tiếng Pháp: “deux chevaux” tức là “deux chevaux-VAPEUR” (dịch nghĩa “hai con ngựa hơi”, hay tax hores power “hai thuế mã lực”) là một FWD (Front Wheel Drive) ổ đĩa bánh trước , máy mát bằng không khí, xe được giới thiệu tại hội chợ 1948 Paris Mondial de l’Automobile , Citroën sản xuất năm mẫu xe trong khoảng thời gian 1948-1990.
Được thai nghén bởi Phó Chủ tịch Pierre Boulanger nhằm cơ giới hóa số lượng lớn nông dân vẫn còn sử dụng ngựa và xe ngựa kéo trong năm 1930 Pháp, 2CV được ghi nhận từ sự kết hợp tối đơn giản về kỹ thuật sáng tạo và tiện dụng, đơn giản thân xe bằng kim loại – khởi thủy uốn như tôn vượn sóng làm tăng thêm sức mạnh cho thân xe mà không cần thêm trọng lượng. 2CV đặc trưng với giá bình dân, chi phí thấp, bảo trì và vận hành, một động cơ làm mát bằng gió ,tiêu thụ nhiên liệu thấp, và một hệ thống nhúng treo, nhẹ nhàng off-road, sàn xe cách cao mặt đất , và điều chỉnh chiều cao hệ thống nhúng bằng cách kéo dài / rút ngắn của thanh kéo (tie rods) . Thường được hóm hỉnh, thân mật gọi “một chiếc ô-dù trên bánh xe”. 2CV có điểm nổi bật là mui trần có thể mở cuốn lại (canvas, rolled back sun roof) kéo dài tới gần cản sau của xe, cho phép xe tải vật dụng quá khổ.
Sản xuất tại Pháp giữa năm 1948 và 1989 (và cuối cùng hai năm ở Bồ Đào Nha 1989-1990), hơn 3,8 triệu 2CVs đã được sản xuất, cùng với hơn 1,2 triệu xe tải thùng nhỏ giao hàng 2CV được biết đến như Fourgonnette. Citroen cuối cùng đưa ra một số dòng xe biến thể giống nhau về cơ học bao gồm cả dòng Ami (hơn 1,8 triệu chiếc); các Dyane (hơn 1,4 triệu chiếc); các Acadiane (trên 250.000 chiếc); và Mehari (hơn 140.000 chiếc ). Tổng cộng, Citroën sản xuất hơn 8,8 triệu “A Series” xe, gồm các biến thể 2CV được biết đến.
Một đánh giá kỹ thuật 1953 của tổ chức Autocar (Anh) mô tả “sự khéo léo phi thường của thiết kế này, mà chắc chắn là độc đáo nhất kể từ Model T Ford của Henry Ford ở Mỹ”. Năm 2011, The Globe and Mail (Canada) gọi đó là một “chiếc xe độc nhât không có đối thủ”.

hinh 116

Hinh 116: Citroen 2CV Mẫu 1959 và mẫu 1962.

hinh 117

Hinh 117: Citroen mẫu 1970 và Citroen mẫu 1955.

hinh 118

Hinh 118: Citroen 2CV mẫu 1955 chạy trên Bến Chương Dương–đầu đường Tự Do

hinh 119

Hinh 119:Citroen 2 CV fourgonnette AU 1951-1962

hinh 120

Hinh 120: Citroen 2 CV sedan và Citroen 2CV fourgonnette AU 1951-1962 chạy phía trước góc Tự Do và công trường Lam Sơn.

hinh 121

Hinh 121: 1966 Citroen Ami 6 Berline Sedan

hinh 122

Hinh 122: Ami 8 1971

Citroen Ami được tung ra thị trường ngày 25 tháng 4 năm 1961, bốn tháng trước Renault 4 R 4 (xem hinh 50). Cả Renault 4 và Citroen Ami đáp ứng nhu cầu thị trường cần một chiếc xe hơi cỡ lớn hơn và it mộc mạc hơn 2CV. Ami là một 2CV với thân xe được làm lại , máy lớn hơn so với 1950 2CV), để bù đắp cho trọng lượng tăng thêm. Lúc tung ra trên thị trường, xe được trang bị máy làm mát bằng không khí với 602 cc hai xy-lanh động cơ phẳng.
Bộ khung chính và hệ thống nhúng treo tương tự như 2CV. Ghế của Ami dễ dàng tháo rời. Citroen Ami loại xe siêu nhỏ (supermini) được sản xuất từ năm 1961 đến năm 1978, là một trong số năm mẫu xe bán chạy nhất tại Pháp. Sản xuất đạt 1.840.396 đơn vị. Amis được thay thế bằng Visa Citroen từ năm 1978.
Cũng nên biết, ở Pháp biệt danh 3CV còn được dùng cho dòng xe Ami 6, nhưng không bao giờ được áp dụng cho dòng Ami 8.

hinh 123

Hinh 123: Citroen Ami 6 trên đường Lê Lợi –công trường Lam Sơn 1971

Xe La Dalat-Xe hơi sản xuất đầu tiên ở VietNam.

hinh 124

Hinh 124: Xe La Dalat-xe hơi sản xuất từ Việt Nam lần đầu tiên với sự yểm trợ công nghệ từ Citroen. Ảnh chụp “Saigon June 1974 – Hàm Nghi boulevard” by Jack Garofalo-Paris Match via Getty Images, và giao lộ Tôn Thất Đạm) (https://www.facebook.com/photo.php?fbid=872558386132787&set=g.865130223501356&type=1&theater)

 

hinh 125

Hinh 125: Các kiểu xe La DaLat
http://saigoneer.com/saigon-technology/3129-made-in-vietnam-la-dalat

Sau thế chiến thế nhất, công ty Ford tung ra loại xe hơi thực dụng – rẻ tiền, để đáp ứng nhu cầu di chuyển của dân Mỹ- Ford Model T2. Sự thành công của Ford Model T2 do tài sáng tạo thiên tài của Henry Ford qua công nghệ sản xuất dây chuyền. Ford Model T được bầu là xe có ảnh hưởng nhất của thế kỷ 20 trong cuộc thi Car of the Century-Xe hơi của thế kỷ năm 1999, trước các dòng xe BMC Mini, Citroën DS, và Volkswagen Type 1
(https://en.wikipedia.org/wiki/Ford_Model_T)
Cũng thế, để đáp ứng nhu cầu về phương tiện di chuyễn của dân Pháp sau thế chiến 2 , Citroen đã tung ra thị trường chiếc xe 2CV, sau khi gặt hái thành công trong việc sản xuất một chiếc xe rẻ tiền, bền bỉ, bảo trì và sửa chửa dễ dàng, thực dụng cho dân chúng thời hậu chiến. Citroen tiếp tục tung ra Citroën Dyane 6 và Méhari sản xuất cuối thập niên 50 và đầu thập niên 60. Xe Citroën La Dalat sản xuất ở Việt Nam là loại xe căn bản dựa trên kiểu Citroën Baby Brousse sản xuất ở Côte d’ivoire, dựa theo kiểu xe Méhari.
Như đã biết Citroen đã xuất hiện ở Đông Dương (Indochine) từ đầu thập niên 1930s qua các đại lý, nổi tiếng nhất là Công Ty Bainier ở góc đường Bonard và Charner. Từ năm 1937, quyền đại lý cho Citroen chuyển qua cho Công Ty Saigon-Citroen của ông Henri Hospital ở 37 Lê Thánh Tôn.

hinh 126

Hinh 126: Cơ xưởng sản xuất La Dalat ở Bến Vân Đồn 1971.

Từ năm 1971 Xe La Dalat được lắp ráp sản xuất tại Bên Vân Đồn (đường Tôn Thất Thuyết) nơi tọa lạc của hãng thuốc lá Bastos ngày xưa.
Xe hơi Citroen Công Ty đổi về địa chỉ Establishments Le Comte ở đường Thống Nhất (bây giờ Diamond Plaza) rồi biến thành Saigon Xe hơi Công Ty là nơi trưng bày, bán sản phẫm Citroen và xe La Dalat.
Đầu tiên Citroen nhập cảng vào Việt Nam những bộ phận chính như máy, tay lái, bộ nhúng, bộ thắng… Phần còn lại như đèn, kèn báo hiệu, ghế, giàn đồng, mui xe được chế tạo tại Việt Nam. Lúc tung ra thị trường vào năm 1970, tỷ lệ cơ phận nhập cảng so với cơ phận nội địa là 75/25 cho đến năm cuối cùng khi hảng Citroen đóng cửa vào năm 1975 là 60/40. Có tất cả là 4 kiểu La Dalat: loại 4 chổ ngồi hoặc 2 chổ ngồi với thùng chở hàng (hinh 122).

hinh 127

Hinh 127 : Citroen Mehari

Delahaye cars

hinh 128

Hinh 128: Quảng cáo xe Delahaye của công ty Bainier, Saigon

hinh 129

Hinh 129: Delahaye 235 mẫu 1951-54

Hãng xe hơi Delahaye do Emile Delahaye thành lập từ năm 1894 tại Tours, Pháp. Năm 1896, xe Delahaye tham gia cuộc đua Paris–Marseille–Paris và đứng hạng 8 với tốc độ trung bình 20 km/giờ. Một thành tích đáng nể vào thời đó.
Hiệu xe Delahaye chấm dứt hoạt động năm 1954 nhưng đã để lại một tiếng vang khá lớn trong giới yêu xe cổ. Nổi bật nhất là ca sĩ Elton John với chiếc Delahaye 178 Drophead Coupé được sản xuất năm 1949.
Không thấy dấu vết của loại xe này tồn tại ở Vietnam.

hinh 130

Hinh 130: Xe Delahaye của ca sĩ nổi tiếng người Anh, Sir Elton John.

Phụ Lục:

Citroen 11

Citroen, xe hơi đầu tiên thiết kế với ổ bánh lái phiá trước (Front Wheel Drive FWD), năm 1934 là chiếc xe Citroen Traction Avant (FWD) nguyên mẫu (prototype) với máy 1300 cc trên thân khung liền vỏ (unibody). Mặc dầu thành công với Citroen 7, Andre Citroen yêu cầu kỹ sư của ông cưa chiếc 7 ra làm đôi và làm bề ngang rộng thêm khoảng 12 cm . Dòng xe thứ nhất ra đời vẫn với 1300cc cho công xuất 23,5kW (32 Hp), so với trọng lượng xe 1000kg, máy hơi yếu. Dòng xe thứ hai ra đời máy mạnh hơn với công xuất 26.5 kw (36hp) 1628 cc và cuối cùng với 1911 cc cho ra công xuất 34 Kw (46 hp) cho đến hết đời của traction 11 năm 1957.

Đặc điểm công nghệ, máy, bộ hợp ly (clutch) và bộ hộp số có thể tách rời ra bộ phận riêng làm cho việc bảo trì, sửa chữa dễ dàng, ổ bánh trước (FWD) với nhúng treo độc lập, chiếc xe có chiều dài nên trọng lực thấp, sàn thấp làm cho xe dễ lái và bắt đường (road holding).

Vì khả năng dễ lái và chạy nhanh Traction 11 rất được yêu thich và phổ biến trong giới xã hội đen(gangster), nên còn được mệnh danh là xe của dân xã hội đen.
Citroen hầu hết sản xuất loại sedan 4 cửa, nhưng cũng có một số ít mẫu Coupe và roadster.

hinh 131

Hinh 131: Trái, Traction 7; Giữa, Traction 11 ; Phải, Traction 15

Renault 2CV

Trích từ http://hoangkimviet.blogspot.com.au/2013/05/xe-con-coc-citroen-2-cv.html
Cuộc phiêu lưu Paris-Tokyo bằng 2 CV

hinh 132

Thập niên 50 có hai người pháp gốc Lyon tổ chức một chuyến đi từ thủ đô Pháp Quốc, Paris đến Tokyo, nước Nhật Bản băng qua 2 lục địa, châu Âu và châu Á. Chuyến đi khởi hành ngày 2 tháng tám 1956 và đến Tokyo ngày 19 tháng tư 1957 với đường về không ngưng nghỉ trong một tháng trên một chiếc xe Citroën 2 CV kiểu A sản xuất năm 1939.

hinh 133.jpg

Với 9 tháng thám hiểm trên các nẻo đường. Jacques Cornet và Georges Kim đã chứng kiến từng khuôn mặt thay đổi trên những chặng đường đi qua. Vừa có tính cách mạo hiểm đầy thể lực mà cũng là kinh nghiệm cho con người. Họ đã quan sát và nhìn tận mắt những phong tục tập quán, những chế độ chính trị, những phong cảnh của Á châu đầy cảm xúc. Mổi một quốc gia mà họ đi qua, để lại hàng lớp những bất ngờ, điều tốt và xấu, những tai nạn năng nề hoặc dí dỏm nhẹ nhàng.

hinh 134.jpg

Họ đã chống chỏi với thiên nhiên, vượt qua những chặng đường chưa có xe cộ lưu thông hoặc những chặng đường biến mất trong những cơn lũ dưới những cơn mưa tầm tã của vùng nhiệt đới.

hinh 135.jpg

Họ cũng hưởng được những sự tiếp đón nồng hậu của các sắc dân á châu, chia xẽ cuộc sống với những dân du mục trên sa mạc và củng hưởng những xa hoa tráng lệ của những nhà triệu phú.

hinh 136.jpg

Trên đường về, thật là một cuộc chạy đua với thời gian đã đưa họ về đến Paris dưới 1 tháng, sự hư hỏng máy móc nhiều khi làm họ khốn đốn trên sa mạc. Khi họ khởi động lại được cổ máy để tiếp tục con đường, nhờ vào trí thông minh tháo vát và năng động, họ vẫn thành công bắt chiếc xe phải hoạt động và đưa họ trở về nhà.

hinh 137.jpg

 

Đại lý hảng xe hơi ỏ Hà Nội.

 

Nguồn :https://36hn.wordpress.com/2015/07/24/xe-hoi-va-cac-hang-xe-o-ha-noi-xua/

ha noi auto hall

ha noi sim ca

(http://tranthanhnhan1263.blogspot.com.au/)

 

ha noi hang peugeot

 

Tham Khảo:

http://saigon-vietnam.fr/
http://stubs-auto.fr/
http://www.hemmings.com/
https://www.flickr.com/groups/vehicle/
http://www.avant-train-latil.com/hanoi.php
http://www.antiqbrocdelatour.com/
http://www.dsinasia.com/Vietnam/history.html
http://www.flickriver.com/photos/photiste/8169524851/
http://motoburg.com/549-citroen-type-a-tourer.html
1949 Delahaye Type 178 Drophead Coupe - Elton John car - rvr
http://belleindochine.free.fr/Automobile.htm
http://www.renaultoloog.nl/autos-francais.htm
https://en.wikipedia.org/wiki/
http://www.entreprises-coloniales.fr
http://www.erclassics.fr/voitures-francaises-de-collection.php
https://www.flickr.com/photos/13476480@N07/albums (manhhai albums)
British family cars of the fifties . Michael Allen
Martin Buckley and Chris Rees .The Complete Illustrated Encyclopedia of Classic Cars
David Lillywhite et al. The Encyclopedia of Classic Cars

http://hoangkimviet.blogspot.com.au/2013/05/xe-con-coc-citroen-2-cv.html

Y Nguyen  Mai Tran 4/2016

Xem phần 2-Xe cổ điển không phải từ Pháp ở miền Nam trước 1975

Xem phần 3-Xe chở khách miền Nam trước 1975

 

 

 

 

 

 


Việt Nam và Thế Vận Hội trước 1975

Việt Nam và Thế Vận Hội trước 1975

Mai Trần –Y Nguyên

 

Việt Nam tham dự Thế Vận Hội lần đầu tiên năm 1952 tại Helsinki, Phần Lan.  Phái đoàn lực sĩ Việt Nam mang chuông đi đánh xứ người dưới quốc kỳ cờ vàng ba sọc đỏ.  Tưởng cũng nên nhắc lại cờ vàng có từ thời Hai bà Trưng (40) thời Gia Long (1802).

Sau khi được Nhật trả lại độc lập, vua Bảo Đại cử Trần Trọng Kim (1), vị thủ tướng Việt Nam đầu tiên (từ 17  tháng 3,1945 – 23 tháng 8, 1945)  chọn cờ quẻ ly, quốc kỳ của Đế Quốc Việt Nam, mặc dù  Nam kỳ (Cochinchina) vẩn còn là thuộc địa của Pháp.

Cờ Quẻ LY

Cờ quẻ ly (Trần Trọng Kim 8 tháng 5 – 30 tháng 8, 1945)

Đến năm 1948 thủ tướng Nguyễn văn Xuân ra sắc lệnh ngày 2/6/1948 qui định “Biểu hiệu Quốc Gia là một lá cờ nền vàng, chiều ngang bằng 2/3 chiều dài, giữa có ba sọc đỏ đi suốt lá cờ, rộng bằng 1/15 chiều dọc và cũng cách bằng nhau chừng ấy” trong khung cảnh đang đàm phán Hiệp ước  Elysée (Elysée Accords) trao trả độc lập cho Việt Nam.  Hiệp định này được ký kết ngày 8/3/1949 tại điện Elysée, Paris  giữa vua Bảo Đại và Tổng Thống  Pháp Vincent Auriol.  Sau hiệp định Geneve (Geneva Accords) 20 tháng 7 1954 chia đôi đất nước, cờ Việt Nam nền vàng ba sọc đỏ trở thành cờ Việt Nam Cộng Hoà.

Cờ Vàng ba sọc đỏ

Cờ vàng 3 sọc đỏ từ tháng 2, 1948 – 30 tháng 4, 1975

Việt Nam  tham dự Thế Vận Hội dưới màu cờ vàng ba sọc đỏ lần đầu tiên năm 1952 tại Helsinki , thủ đô Phần Lan và các Thế Vận Hội tiếp theo –Melbourne, Úc 1956; Rome, Ý 1960; Tokyo, Nhật Bản 1964;Mexico, Mễ Tây Cơ 1968  và Munich, Tây Đức 1972.

Việt Nam và Thế Vận Hội Helsinki, Phần Lan 1952

Khai mạc: 19 tháng 7 1952
Kết thúc: 3 tháng 8 1952

Tuyên bố độc lập ngày 6/12/1918 từ Nga, Phần Lan được uỷ quyền tổ chức Thế Vận Hội 1940, nhưng vì chiến tranh thế giới hai, phải hoản lại đến 1952.  Việt Nam lần đầu tiên tham dự Thế Vận Hội tổ chức tại thủ đô Helsinki, Phần Lan. Tuy tình hình chính trị và chiến tranh vẩn còn xôi động, chính phủ Nguyễn Văn Tâm  gởi một phái đoàn nam lực sỉ gồm có 8 người tranh tài trong các bộ môn bơi lội, điền kinh (athletics), quyền Anh (boxing) và đua xe đạp (cycling).

Tuy với dân số hơn 4 triệu, Thế Vận Hội đã thành công trong bầu không khí “Chiến Tranh Lạnh” với 4932 (4411 Nam, 521 nữ) lực sỉ tham dự từ 69 quốc gia/lảnh thổ.

Bản Đồ Phần Lan

http://www.sports-reference.com/olympics/summer/1952/

Cờ VN Helsinki

Cờ VN phất phới tại Thế Vận Hội Helsinki 1952

Vận Động Trương va Huy Chuong Helsinki

Bieu tương và đuoc Helsinki 1952

Cờ VN canh My và Phan Lan

Cờ Việt Nam bên cạnh cờ Mỹ và Phần Lan

 

Thành phần lực sỉ tham dự

Tên Giới Tính Tuổi/Ngày Sanh Bộ Môn
Lê Văn Phước Nam 22/15  tháng 10 1929 Đua xe đạp Đường trườngCá nhân 190.4kmĐồng đội 190.4km
Châu Phước Vinh Nam 25/8  tháng 5 1927 Đua xe đạp Đường trườngCá nhân 190.4kmĐồng đội 190.4km
Lưu Quần Nam 27/19 tháng 6 1925 Đua xe đạp Đường trườngCá nhân 190.4kmĐồng đội 190.4km
Nguyễn đức Hiền Nam 27/14 tháng 11 1925 Đua xe đạp Đường trườngCá nhân 190.4kmĐồng đội 190.4km
Nguyễn văn Phan Nam 23/30 tháng 6 1929 Bơi lội 100m tự do;400m tự do
Tiến Vinh Nam 31 Quyền Thuât Quyền Anh hạng gà (bantamweight)
Tôn Thất Hải Nam 16/16 tháng 7 1935 Kiếm thuật Epée (kiếm ba cạnh)
Trần văn Lý Nam 25/20 tháng 2 1927 Điền kinh Chạy 10.000m

 

Việt Nam không được huy chương nào (cả 4 cua rơ đều bỏ cuộc) nhưng phái đoàn Việt Nam được hoan nghinh nhiệt liệt khi diển hành trong lễ khai mạc tại vận động trường The Olympiastadion Helsinki.

Tôn That Hải 1952

Tôn Thất Hải, lực sỉ trẻ nhất phái đoàn (16 tuổi), tranh tài bộ môn Kiếm ba cạnh (epée)

Cua rơ  Nguyễn Đức Hiền sinh năm 14/1/1925 tại Châu Đốc. Năm 20 tuổi, Nguyễn Đức Hiền lên Sài Gòn làm thư ký bưu điện và đầu quân cho đội URAGO, sau đó là các đội STELLA, Độc Lập… Trong những năm từ 1949 đến 1956, ông là một trong những tay đua luôn có thứ hạng cao trong các cuộc đua ở Sài Gòn. Đặc biệt, Nguyễn Đức Hiền cùng các cua rơ  Châu Phước Vĩnh, Lê Văn Phước và Lưu Quần đã được vinh dự tham gia Thế Vận Hội Hensinki năm 1952 bô môn đua xe đạp đường trường cá nhân và chung đội. Năm 1982, ông còn đoạt chức vô địch giải đua xe đạp lão tướng tại Sài gòn trước khi vế hưu.

(http://vncycling.org/modules.php?name=Event&file=print&sid=39)

 

 Việt Nam (VNCH) và Thế Vận Hội Melbourne, Úc 1956

Khai mạc: 22 tháng 11, 1956
Kết thúc: 8 tháng 12, 1956

Lực sĩ tham dự 3314 (376 nữ và 2938 nam) đến từ 72 quốc gia.

Map of  Australia

Ngày 20/7/1954 Hiệp Định Genève phân chia VN thành hai nước từ vỉ tuyến 17 tại Cầu Hiền Lương, sông Bến Hải, thuộc tỉnh Quảng Trị , miền Nam theo chế độ Cộng Hoà, miền Bắc theo chủ nghĩa cộng sản Marx-Lenin-Mao.

Tuy Hiệp Định có đề cập đến chuyện Tổng Tuyển Cử thống nhất đất nước sau hai năm ký hiệp Định (1956), Mỹ  và phái đoàn  không cộng sản  Viêt Nam  (đứng đầu là vua Bảo Đại và thủ tư ớng Ngô Đình Diệm)  từ chối không ký Hiệp Định này vì cho rằng “không thể đảm bảo bầu cử tự do ở miền Bắc”, tổ chức chánh trị miền Nam còn phân tán, thiếu đoàn kết, không thể thắng cộng sản  được sự giúp đỡ của bộ máy cộng sản quốc tế đứng đầu với “đồng chí “ Nga và Trung Cộng , cũng như cơ hội biến miền Nam, dưới sự ủng hộ của Mỹ, thành một nước cộng hòa, tự do, dân chủ thânTây phương. Ngày 7/7/1954 Ngô Đình Diệm, với tư cách thủ tướng tuyên bố thành lập chính phủ mới gởi quan sat viên đến Geneva và bác bỏ đòi hỏi Tổng Tuyển Cử.

26/10/1955, thủ tướng Ngô Đình Diệm qua cuộc Trưng Cầu Dân Ý, bải bỏ chế độ Quân Chủ, thiết lập nền Cộng Hoà, tổ chức Quốc Hội Lập Hiến, soạn thảo Hiến Pháp

Ngày  26/10/1956, thủ tướng  Ngô đình Diệm tuyên bố Hiến Pháp mới, bải bỏ Chế độ Quân Chủ, truất phế vua Bảo Đại và thành lập nền Đệ Nhất Cộng Hoà. Ngô đình Diệm là vị Tổng Thống đầu tiên. Miền Bắc sau hiệp Định Geneve 20/7/1954 theo chế độ Cộng sản dưới sự lảnh đạo của Hồ chi minh.

Cũng nên biết Việt Nam dân chủ cộng hoà (VNDCCH ), sau khi đánh chiếm miền Nam, chỉ gởi lực sỉ tham dự  lần đầu tiên tại Thế Vân Hội  Montreal Canada  1980.

Phái đoàn Việt Nam có sáu nam lực sỉ tham dự bộ môn đua xe đạp, trong đó có 4 người tham dự môn xe đạp đường trường

Van Đông trương MCG 1956

Bieu tương và đuốc Melbourne 1956

olympic Australia

olympic Australia1956

Phái đoàn Việt Nam (VNCH) trong buổi lể khai mạc tại vận động trường MCG

Thành phần lực sỉ tham dự

Tên Giới Tính Tuổi/Ngày Sanh Bộ Môn
Lê Văn Phước Nam 27/15  tháng 10 1929 Đua xe đạp Cá nhân , rút (sprint)  1000m
Ngô thành Liêm * Nam Đua xe đạp Đua đường trường 187.7Km- đồng độiĐua đường trường 187.7Km-Cá  nhân
Nguyễn Hửu Thoại Nam Đua xe đạp Đua đường trường 187.7Km- đồng độiĐua đường trường 187.7Km-Cá  nhân
Nguyễn văn Nhiều Nam Đua xe đạp 1000m Tính giờ (time trial)
Trần Gia Thu Nam Đua xe đạp Đua đường trường 187.7Km- đồng độiĐua đường trường 187.7Km-Cá  nhân
Lê Trung Trung Nam 31 Đua xe đạp Đua đường trường 187.7Km- đồng độiĐua đường trường 187.7Km-Cá  nhân

Phái đoàn không nhận được huy chương nào (4 tay đua đường trường bỏ cuộc).

Tay đua Ngô Thành Liêm người Cần Thơ. Ngay từ lúc 14 tuổi, Ngô Thành Liêm đã tập môn xe đạp do sự dìu dắt của người anh trai là Ngô Bá Tạo, cũng là một cựu cua rơ thời bấy giờ. Năm 1949, ông lên Sài Gòn gia nhập đội URAGO và đến năm 1950 thì đầu quân cho đội A.J.S. Năm 1952, tay đua trẻ Ngô Thành Liêm đã giành được chiến thắng đầu tiên, Hạng Nhất trong cuộc đua Sài Gòn – Mỹ Tho – Sài Gòn. Từ năm 1952 – 1956, ông là một trong những tay đua xuất sắc và luôn giành được thứ hạng cao trong các cuộc đua lớn ở miến Nam. Ông chính thức giã từ đường đua năm 1974 và mất năm 1980 tại TP. Hồ Chí Minh.

URAGO là đội đua xe đạp dưới sự bảo trợ của hảng làm xe đạp URAGO Pháp, trụ sở chính ở Nice, miền Nam nước Pháp,  Urago giải thể thập niên 1980s.

AJS (Association de la Jeunesse Sportive) là hiệp hội thể thao có nhiều bộ môn, nổi tiếng nhất là bóng tròn.  AJS nổi tếng với những trận đá đèn giao hữu với các đội từ Âu Châu sang tại sân Tao Đàn phiá sau dinh Độc Lập (bây giờ là Hội trường Thống Nhất).

Một vài đặc điểm cuả Thế Vận Hội Melbourne 1956

-Các môn thể thao có dính dáng với Ngựa được tổ chức tại Thụy Điển  (tháng 6, 4 tháng trước lể khai mạc chính thức Thế Vận Hội ) để tránh những khó khăn vì  luật cách ly kiễm dịch (quarantine) của Úc.

-Trung cộng không tham gia Thế vận Hội vì sự có mặt cuả Đài Loan (Taiwan, Trung Hoa Dân Quốc).

– Sự kiện tẩy chay Thế  Vận Hội lần đầu tiên vì lý do thuần túy chính trị (Nga xăm lăng Hung, một số nước Á Rập vì Anh Pháp can thiệp vào chuyện kinh đào Suez)

Việt Nam (VNCH) và Thế Vận Hội Rome, Ý 1960

Thế Vận Hội được tổ chức tại Vận động trường Stadio Olimpico Rome, thủ đô Ý.

Khai mạc: 25 tháng 8 1960
Kết thúc: 11 tháng 9  1960

Lực sĩ tham dự 5338 (611 nữ và 4727 nam) đến từ 83 quốc gia.

map of Italy

 

 Van Đông trương Rome 1960

Bieu tương và đuốc Rome 1960

Phái đoàn Việt Nam có 3 người tham dự môn bơi lội và đánh kiếm nhưng không đoạt được huy chương nào. Lực sĩ trẻ nhất là Trương Kế Nhơn (21 tuổi) và lớn nhất Trần Văn Xuân 26 tuổi

Cờ VN Rome 1960

Cờ Việt Nam trong buổi lể khai mạc Thế Vận Hội Rome.

Danh sách lực sĩ tham dự:

Tên Giới Tính Tuổi/Ngày Sanh Bộ Môn
Phan Hữu Dõng Nam 21/14/11/1038Bến Tre Bơi Lội 100m Tự Do
Trần Văn Xuân Nam 25/6/9/1934 Đánh Kiếm Kiếm Ba cạnh (epée)Kiếm Chém(sabre)Kiếm Liểu

(foil)

Trương Kế Nhơn Nam 21/1/1/1939
Bạc Liêu
Bơi Lội 200m lội ếch

Trước  khi được cử tham dự Thế Vận Hội, Trương Kế Nhơn đoạt huy chương vàng tại Đông Nam Á vận hội  (SEAP) tổ chức ở Bangkok, Thái Lan từ 12-17 tháng 12, 1959.

Sau Thế Vận Hội , Phan Hữu Dõng, vô địch bơi lội Việt Nam (miền Nam) thời bấy giờ, đoạt được huy chương vàng SEAP tổ chức lần thứ hai ở Rangoon, Burma (now Myanmar) từ  11-16 tháng 12, 1961.

Cờ VN Seap 1959

Trương Kế Nhơn đoạt Huy Chương vàng với môn lội ếch 100m tại Đông Nam Á vận hội SEAP 1959 Bangkok.  

 Trần văn Xuân 

Kiếm sĩ tham dự hai Olympics 1960 và 1964 Trần văn Xuân 2005

Trần Văn Xuân sanh ngày 6 tháng 9 năm 1934.  Ông theo học trường Yersin (Đà Lạt) từ năm 1948 đến 1952 và học tập môn đấu kiếm nơi đây. Ông vừa làm công chức và tập luyện kiếm và được cử tham dự Thế Vận Hội Rome 1960 và Thế  Vận Hội Tokyo 1964. Ở thế vận hội Rome 1960, ông tranh cả ba loại kiếm (kiếm liểu (foil), kiếm ba cạnh (epée) và kiếm chém). Ở Tokyo 1964 ông chỉ tham dự kiếm ba cạnh và chém (Sabre).

Môn đấu kiếm phương Tây (fencing) du nhập vào Sài Gòn từ những năm đầu thế kỷ 20. Khoảng thập niên 50 đến giữa thập niên 70, Kiếm thuật được tập luyện tại Câu lạc bộ Thể thao Sài Gòn (C.S.S cũ), CLB Phan Đình Phùng, trụ sở Phong trào Phát triển Sinh viên Học sinh, các trường Taberd, Trưng Vương, Gia Long… thu hút khoảng vài trăm người và hàng năm đều diễn ra một số giải thi đấu khá sôi nổi.

Trên thao trường quốc tế, kiếm sĩ Tôn Thất Hải đã tham dự Olympic Helsinki (1952) rồi Trần Văn Xuân dự Olympic Rome (1960), Olympic Tokyo (1964), Asian Games Teheran (1974).

http://www.sggp.org.vn/thethao/nam2005/thang9/68346/

Vài đặc điểm của Thế Vận Hội Rome 1960

-Nhạc chính thức của Olympics (Olympics Anthem) được chấp nhận và được phát thanh. Bản nhạc này cũng là bản nhạc được phát thanh ở Thế VẬn Hội đầu tiên ( I Olympiad) ở thủ đô Athens, Hy lạp năm 1896

-Cấm Nam Phi (South Africa) tham dự vì chính sách kỳ thị chũng tộc (Apartheid)- South Africa trở lại tham dự Thế Vận Hội năm 1992.

-Truyền Hình trực tiếp (live)  đến 18 nước  Âu châu, Mỹ, Gia Nả Đại và Nhật vài giờ sau đó.

-Người Phi Châu da đen đoạt huy chương vàng đầu tiên. Lực sĩ Abebe Bikila chạy marathon bằng chân không. Bốn năm sau ông cũng đoạt huy chương vàng tại thế vận hội Tokyo 1964 nhưng lần này ông chạy mang giầy.

Việt Nam (VNCH) và Thế Vận Hội Tokyo, Japan 1960

Vận động trường chính: Tokyo, Japan

Lể khai mạc: 10 Tháng 10, 1964
Lể bế mạc: 24 Tháng 10, 1964

Lực sĩ tham dự 5151 (678 nữ và 4473 nam) đến từ 93 quốc gia.

map of japan

Van Đông trương tokyo 1964

Vân động trường Kokuritsu Kasumigaoka Rikujō Kyogijō, Tokyo và huy chương cho Thế Vận Hội Tokyo 1964

Bieu tương và đuốc tokyo 1964

 

Cờ VN Tokyo 1964

Phái đoàn lực sĩ Việt Nam gồm có 16 nam lực sĩ, đây là phái đoàn đông nhất tham dự Thế Vận Hội trước 1975 tham dự nhiều bộ môn.

Người trẻ tuổi nhất Nguyễn đình Lê -Bộ môn bơi lội tự do (freestyle) 15 tuổi, 156 ngày.

Môn Nhu Đạo (Judo) lần đầu tiên được đưa vào Thế Vận Hội. Việt Nam gởi một phái đoàn nhu đạo với ba người mà người lớn tuổi nhất là Thái Thúc Tuấn 37 tuổi 208 ngày.

Viêt Nam không được huy chương nào.

Phái đoàn Việt Nam (VNCH) diển hành trong buổi lể khai mạc Thế Vận Hội Tokyo 1964

Danh sách lực sĩ trong phái đoàn:

 

Tên Giới Tính Tuổi/Ngày Sanh Bộ Môn
Hồ Thành Chinh Nam 22/21/2/1941 Điền Kinh  Chạy nước rút 100m
Huỳnh Anh Nam 31/16/10/1932 Đua xe đạp 100 km  tính giờ
Huỳnh Văn Hải Nam 24/28/8/1940 Bơi Lội 200m lội ếch
Lê Bả Thành Nam 29/12/10/1934 Nhu Đạo Hạng trung (middleweight)
Nguyễn Thế Lộc Nam 29/5/9/1935 Đánh Kiếm Kiếm chém
Nguyễn Văn Bình Nam 24/1/1/1939 Nhu Đạo Hạng nhẹ(Lightweight)
Nguyễn Văn Châu Nam 24/24/8/1940 Đua xe đạp Đua rút 1000m
Nguyễn Văn Khôi Nam 29 Đua xe đạp Cá  Nhân 100kmĐội 100km
Nguyễn Văn Lý Nam 22/30/5/1942 Điền Kinh
marathon
5000m43km
Nguyễn Văn Ngân Nam 21/20/9/1943 Đua xe đạp Cá  Nhân 100kmĐội 100km
Nguyễn Ðình Lê Nam 15/9/5/1949 Bơi Lội 100m Tự Do
Phạm Văn Sáu Nam 25/6/7/1939 Đua xe đạp Cá  Nhân 100kmĐội 100km
Phan Hữu Dõng Nam 25/14/11/1938 Bơi Lội 100m Tự Do
Thái Thúc Tuấn Nam 37/28/3/1927 Nhu Đạo Hạng trung (middleweight)
Trần Văn Nên Nam 37/6/8/1927 Đua xe đạp Cá  Nhân 100kmĐội 100km
Trần Văn Xuân Nam 30/6/9/1934 Đánh Kiếm Kiếm ChémKiếm Ba Cạnh

 

Kết quả đua xe đạp

  1. Nguyễn Văn Châu – Đua rút 1000m – đừng nhì vòng 1 nhóm 1 (gồm 3 người), vòng 1 vớt vát (round 1 repêchage) đứng nhì nhóm 3 (gồm 3 người) và sau đó bị loại.
  2. Huỳnh Anh – hạng 31/33 100 km  tính giờ  với thời gian là 3 giờ  08 phút  35 giây ( tay đua về hạng nhất  2g 26ph 31.19gi)
  3. Nguyễn Văn Khôi , bỏ cuộc môn đường trường, đua tính giờ đồng đội 100km xếp hạng 31/33 (3 giờ 08 phút  35 giây, tay đua về hạng nhất  2g 26ph 31.19gi)
  4. Nguyễn Văn Ngân bỏ cuộc đường trường, nhưng đua tính giờ đồng đội 100km xếp hạng 31/33 (3 giờ  08 phút  35 giây, tay đua về hạng nhất  2g 26ph 31.19gi)
  5. Phạm Văn Sáu – Road race – hạng 76, thua về 1 đúng 20 giây
  6. Trần Văn Nên.Đường trường 194.8 Km – hạng 90, thua tay đua về nhất ( 4-39:51.63) đúng 20 giây (4-40:11.63)

Tính giờ 1000m – hạng 25/27 (1:21:58 so với tay đua về đầu 1:09:59 khoảng cách 12.1 giây)

Theo đưổi cá nhân (Individual Pursuit) , 4,000m – bị loại vòng 1 do bị bắt kịp (overtaken)

Tính giờ đồng đội Team Time Trial 100km – hạng 31/33, với thời gian là 3h 08m 59.35s ( tay đua về nhất  là     2h 26m 31.19s)

Lực sĩ Nguyễn Văn Lý đã đoạt huy chương đồng chạy 10.000m, với thành tích 36 phút 12 giây 8 (Somnuek Srisombat, Thái Lan đoạt huy chương vàng, với 35 phút 7 giây 8 tại vận hội SEAP 1959 tổ chức tại Thái Lan.

Kiếm Sĩ  Nguyễn Thế Lộc tham dự  Thế Vận Hội Tokyo 1964 và Mexico 1968 trong môn kiếm chém

Gặp lại cua rơ vô địch Nguyễn Văn Châu (xem phụ lục 1)

http://www.sggp.org.vn/thethao/2007/11/130547/

Lực Sĩ Nhu Đạo

http://books.google.com.au/books?id=B9kDAAAAMBAJ&lpg=PA10&ots=7YLum65FqQ&dq=%22le+ba+thanh%22+judo&pg=PA10&redir_esc=y#v=onepage&q=thanh&f=false

Một vài đặc điểm Thế Vận Hội Tokyo 1964

-Môn Nhu Đạo và môn Bóng Chuyền (nam và nữ) được đem vào thi đua lần đầu tiên và Việt Nam gởi 3 nam lực sĩ nhu đạo.

-Th ế Vận Hội đầu tiên được tổ chức ở Á Châu.

 

Việt Nam (VNCH) và Thế Vận Hội Ciudad de México, Mexico 1968

Thế Vận Hội Mexico được tổ chức tại thành phố Mexico-Ciudad de México

Lể Khai Mạc: 12 tháng 10, 1968
Lể Bế Mạc:  27 th áng 10, 1968

Lực sĩ tham dự 5116 đến từ 112 quốc gia.

map of mexico

 

Van Đông trương Mexico 1968

Bieu tương và đuốc Mexico 1968

Olympic mexico

Cờ VNCH phất phới buổi lể khai mạc tại vận động trường Estadio Olimpico Universitario

Phái đoàn Việt Nam gồm có 9 lực sĩ-7 nam và lần đầu tiên 2 nữ- tham dự 5 bộ môn –Đua xe đạp, Điền Kinh, Bơi Lội, Bắn Súng và Đánh Kiếm.

Lực sĩ trẻ nhất Trương Kim Hùng 16 tuổi bộ môn xe đạp (đường trường và cá nhân 196km) và lực sĩ lớn tuổi nhất Vũ văn Danh 42 tuổi, môn bắn súng ngắn. Phái đoàn không được huy chương nào.

 

Tên Giới Tính Tuổi/Ngày Sanh Bộ Môn
Bùi Văn Hoàng Nam 25/13/12/1943 Đua xe đạp Đường Trường  cá nhân  196Km
Dương Văn Dần Nam 30/20/12/1937 Bắn Súng 50m súng ngắn tự do nam
Hồ Hạnh Phước Nam 28/26/8/1940 Đi ền KinhDecathlon Mười môn thể thao
Hồ Minh Thu Nam 39/15/6/1929 Bắn Súng 50m súng ngắn tự do nam
Nguyễn Minh T âm Nữ 18/26/8/1950 Bơi  Lội 100m Tự Do
Nguyễn Thế  Lộc Nam 33/5/9/1935 Đánh kiếm Kiếm Chém(Sabre)
Nguyễn thị Mỹ Liên Nữ 17/31/7/1951 Bơi  Lội 100m Bơi Ngữa
Trương Kim Hùng Nam 16/tháng 2 1951 Đua xe đạp Đường  trường  cá nhân  196Km
Vũ Văn Danh Nam 42/17/4/1926 Bắn Súng 25 m súng ngắn bắn nhanh nam

Lực sĩ  Hồ Hạnh Phước ,điền kinh Decathlon-mười môn điền kinh -được chọn đi Thế Vận Hội Mexico dựa vào thành tích của ông –Huy chương đồng môn này tại Đông Nam Á vận hội SEAP 1967 tổ chức tại Bangkok từ 9-16  tháng 12, 1967.

Trương Kim Hung

Hai cua rơ Trương Kim Hùng (áo vàng) và Bùi văn Hoàng

Hai nữ lực sĩ Việt Nam (VNCH) đầu tiên tham dự Thế Vận Hội

Minh Tam My Lien

Hai nữ lực sĩ bơi lội-Nguyễn Minh Tâm và Nguyễn Thị Mỹ Liên diển hành ngày khai mạc

https://www.youtube.com/watch?v=pwRYsVl3z8c

Một vài đặc điểm Thế Vận Hội Mexico 1968.

-Phản kháng về chủng tộc-Quyền công dân cho nguời da đen (Black power salute)

http://life.time.com/culture/black-power-salute-tommie-smith-and-john-carlos-at-the-1968-olympics/#1

-Lần đầu ViệtNam (VNCH) gởi 2 nữ lực sĩ (trong số 9 lực sĩ tham dự nhiều bộ môn thể thao như đua xe đạp, bắn súng, điền kinh, bơi lội và đánh kiếm) Nguyễn Minh Tâm bơi 100m tự do (free style) và Nguyễn thị Mỹ Liên 100m bơi ếch (breaststroke)

-Bấm giờ bằng đồng hồ điện tử số (digital timer) được chính thức công nhận 

Độ cao (altitude) 2300m của thành phố Mexico tạo lợi thế cho lực sĩ những môn thể thao ngắn nhưng và bất lợi cho những môn đòi hỏi sức dai, chịu đựng dài hơn 2 phút.

 

Việt Nam (VNCH) và Thế Vận Hội Munich, West Germany, 1972

Được tổ chức tại Munich, thủ phủ và thành phố lớn nhất ở tiểu bang Bavaria, thuộc Tây Đức.  Có 121 nước tham dự với 7170 lực sỉ (6075 nam và 1095 nữ).

Lể Khai Mạc: 26 tháng 8 1972
Lể Bế Mạc:  10 tháng 9, 1972

map of germany copy

 

Van Đông trương Munich 1972

Bieu tương và đuốc Munich 1972

Biểu Tượng Munich Olympics 1972

 

Tuy trải qua biến cố  Tổng công kích đẩm máu Tết Mậu Thân 30/1/1968 và mùa Hè Đỏ Lửa  từ 30 tháng 3 đến 31 tháng 1 năm 1973, Viêt Nam Cộng Hoà tham gia Thế Vận Hội lần cuối với một phái đoàn  gồm 2 nam lực sỉ.

Phái đoàn lực sĩ tham dự:.

 

Tên Giới Tính Tuổi/Ngày Sanh Bộ Môn
Hồ Minh Thu Nam 43/15/6/1929 Bắn Súng 50m súng ngắn tự do nam
Hoàng Thi  Hưong Nam Bắn Súng 50m súng ngắn tự do nam

Cờ VN Munich 1972

Hồ Minh Thu người cầm cờ diển hành trong buổi lể khai mạc.

Một vài đặc điểm Thế Vận Hội Munich 1972.

-11  lực sĩ Do Thái bị giết bởi nhóm Á Rập “Black September”.

-Môn Bắn cung (Archery) trở lại Thế vận Hội sau 52 năm vắng bóng.

-7 huy chương vàng- 7kỷ lục thế giới cho lực sỉ bơi lội Mỹ Mark Spitz

 

Người viết xin ghi ơn sự cố gắng và quyết tâm vượt bực của các lực sĩ, cũng như của Chính Phủ Việt Nam Cộng Hòa, dù trong hoàn cảnh khó khăn của chiến tranh tàn khốc, đại diện Việt Nam, mang màu cờ sắc áo, đem chuông đi đánh xứ người, góp mặt tranh tài trên thao trường thế giới. Trong suốt thời gian này 1952-1975, VNDCCH không cử phái đoàn nào tham dự Thế Vận Hội!

Xem video Việt Nam tham gia Thế Vận Hội trước 1975 nơi đây.

Vận động trường Olympics đầu tiên Olympia, Hy lạp (Greece)

Mai Tran Y Nguyên

 

 

Tham khảo:

 

 

 

Phụ Lục 1:

 Cựu Vô Địch Xe Đạp Nước Rút Châu Á và Đông Nam Á.

Thần tượng một thời thơ ấu của tôi  Nguyễn Văn Châu .

Kính dâng lên anh hồn các cua rơ quá cố đã làm rạng danh môn đua xe đạp Việt Nam trên các thao trường quốc tế.
Kính tặng đến những ai đã từng một thời yêu mến môn đua xe đạp.

Trần Đình Phước

Mỗi người trong chúng ta. Có lẽ ai cũng có một thần tượng để tôn thờ cho chính mình. Riêng tôi, cựu vô địch xe đạp nước rút Châu Á tại Đông Kinh, Nhật Bản, và Đông Nam Á Vận Hội tại Ngưỡng Quang, Miến Điện ( Myamar ), năm 1961: “Cua rơ Nguyễn Văn Châu là Thần Tượng Thời Thơ Ấu của tôi.”

Vào môt buổi trưa cuối tháng Bảy, năm 2014, trong chuyến về thăm gia đình ngắn ngày, tôi cố gắng dành chút thời giờ thả bộ từ phía Cầu Kiệu đi về hướng chợ Tân Định. Thời tiết rất nóng bức và khó chịu. Mới rảo vài bước mà quần áo đã ướt đẫm mồ hôi. Khi đi ngang qua nhà bác sĩ Kính, bác sĩ chuyên trị về mắt trước năm 1975, tôi tình cờ gặp một người đàn ông khoảng ngoài bảy mươi tuổi đang đứng trông chừng xe cho khách trước tiệm “Bánh Tằm Bì 370 – Đặc Sản Bạc Liêu.” Tiệm này trước kia là nhà của ông Lang Sách, chuyên bắt mạch, cho thuốc Đông Y gia truyền.

Sau vài giây định thần, tôi hỏi ông ta: ”Có phải ông là cua rơ Nguyễn Văn Châu đã từng làm rạng danh nền đua xe đạp VNCH trước năm 1975 không?”

Ông ngạc nhiên hỏi sao tôi lại biết tên ta. Sau đó, ông trả lời: Đúng! chính ông là cua rơ xe đạp Nguyễn Văn Châu. Nói xong ông mời tôi nếu có rảnh, thì thử thưởng thức đặc sản của tiệm, do chính con trai thứ của ông làm chủ và trực tiếp đứng nấu. Còn ông thì chỉ giữ nhiệm vụ coi chừng xe cho khách, để khách an tâm thưởng thức và không sợ khi trả tiền xong đi ra ngoài tự nhiên thấy xe không cánh mà bay thì “Buồn ơi! Chào mi!” Mỗi khi quán thiếu gì, ông liền xách xe đạp chạy ngay ra chợ Tân Định gần đó để mua thêm.

Đang đói bụng và thèm một ly trà đá lạnh, nên tôi đi thẳng vào quán và chọn bàn cuối cùng ngồi. Tôi gọi một tô Bánh Tằm Bì, vì tôi nghĩ chắc là món chiến lược của quán, và không quên kêu thêm một ly trà đá lạnh.

Lúc này đã quá trưa, quán chỉ còn tôi là khách. Ông đến ngồi bên cạnh tôi và nói: ”Bao nhiêu năm nay, ít có ai hỏi đến tên tôi.” Đây là lần đầu tiên có người nhắc đến tên ông.
Tôi xin phép được gọi ông bằng anh và cho biết hồi nhỏ tôi rất mê môn đua xe đạp, nhưng không theo đuổi được, vì lý do sức khoẻ. Hôm nay gặp đươc ông, người mà tôi coi như thần tượng lúc còn nhỏ, thật là một điều may mắn và bất ngờ đối với tôi.

Tôi hỏi ông: ”Nếu có thể, xin anh cho tôi được có vài câu hỏi.” Ông cười vui vẻ với cái miệng móm xọm rất có duyên, rồi nói: ”Em cứ tự nhiên. Anh sẵn sàng trả lời các thắc mắc của em.”

– Anh có thể cho em biết sơ lược qua về anh.

Nguyen van Châu

Tay đua Nguyễn Văn Châu

Anh sinh ngày 24 tháng 8, năm 1940, tại Phú Nhuận – Gia Định. Gia đình gồm Ba Má và sáu anh em, hai trai và bốn gái. Lúc đầu gia đình ở Phú Nhuận. Năm 1952, dọn về Tân Định, hẻm 392 đường Hai Bà Trưng. Bên trái hẻm là tiệm chụp hình Văn Hoa, kế bên có tiệm nhuộm Tô Hồng, Thuốc Lào Vĩnh Bảo. Bên phải hẻm có Billards và Phở Vạn Lợi, sát bên có con hẻm nhỏ sửa giày dép và tiệm Cà Rem Hoàn Kiếm. Nhìn sang bên kia là đường Nguyễn Văn Mai, có nhà thuốc Tây Trần Ngọc Tiếng, Pháp Hoa Ngân Hàng, tiệm may Thái Lai, nhà thuốc Bắc của ông Thần Bút.

Hồi nhỏ anh và em trai theo học tại trường Hoà Bình, gần nhà thờ Đức Bà. Lúc mười hai tuổi thì chuyển sang học trường La San Đức Minh. Còn các em gái thì theo học trường Thiên Phước.

– Nguyên nhân nào anh đến với môn đua xe đạp?

Lúc đầu anh rất thích môn bóng tròn. Nhưng Ba anh nói ”Con đá banh có một cẳng thì chán lắm!” Sao con không chọn môn đua xe đạp? Chơi môn này con có thể dùng cả hai chân, hai tay và cả cái đầu. Nghe theo lời ba anh đốc thúc. Anh tập đạp thử chiếc xe đạp cà tàng của ba anh. Tình cờ, hai cua rơ đàn anh là Trần Gia Thu và Trần Văn Nên thấy anh chạy có nét, nên khuyến khích anh tập chạy đua nước rút. Hai đàn anh ra sức hướng dẫn một mầm non sẽ có nhiều triển vọng trong tương lai.

Thấy con mình đam mê, miệt mài tập tành. Thế là ba anh hy sinh bỏ ra một tháng lương để sắm cho anh một con ngựa sắt chiến đấu vào thời đó.

– Khi nào thì anh chính thức bắt đầu sự nghiệp đua xe? Chạy dưới màu áo nào?

– Anh bắt đầu chập chững chạy cho Đội Liên Hiệp Công Nhân lúc mười sáu tuổi. Năm sau chạy cho Thủy Quân Lục Chiến. Năm 1959, vào lính thì chạy cho đội Quân Vận. Trong thời gian này không có huấn luyện viên chính thức, mà chỉ có các đàn anh dìu dắt đàn em. Cá nhân anh, lúc nào anh cũng kính trọng và thương quý hai đàn anh: Trần Gia Thu và Trần Văn Nên về tư cách, đạo đức và nhất là hết lòng chỉ dạy tận tình cho đàn em, mà không bao giờ than thở hay nặng lời.

– Xin anh cho biết anh sử dụng xe đạp hiệu nào? Phụ Tùng thay thế khi cần thiết mua ở đâu?

– Anh chạy xe đạp hiệu Bernard. Khi cần phụ tùng ngoại quốc của Ý, Pháp thay thế, thì nhờ tiệm chuyên bán xe đạp và phụ tùng Đoàn Văn Thẩm, nằm trên đường Hai Bà Trưng, đối diện với đường Yên Đổ và trường Trung Học Vạn Hạnh đặt mua giùm.

Mỗi lần tham dự cuộc đua, thì trước đó vài ngày, anh phải tháo hết xe ra từng bộ phận, vô dầu mỡ cho thật kỹ. Chạy thử tới, lui nhiều lần. Kiểm soát mọi bộ phận thật bảo đảm và chắc chắn. Săn sóc chiếc xe còn hơn đứa con cưng của mình.

– Trong cuộc đời đua xe đạp. Xin anh cho biết đã đạt được bao nhiêu thành tích.

– Anh không nhớ hết! Tuy nhiên, anh đã đoạt chín lần vô địch nước rút trong nước. Đặc biệt, hai lần trong cùng năm 1961, mà cho đến bây giờ vẫn còn in đậm trong tâm trí của anh.

Lần thứ nhất “Vô Địch Nước Rút Á Châu” ở Đông Kinh. Trước khi đến Nhật Bổn, anh chỉ vỏn vẹn có ba ngày thực tập tại vòng chảo ở Huế rất thô sơ. Khi tới Tokyo với hơn bốn mươi vòng chảo hiện đại hơn, anh thấy choáng ngộp, và hoàn toàn xa lạ nên cũng rất lo lắng. Do đó, anh ra sức tập luyện ngay. Anh thầm nói: “Vì danh dự tổ quốc, vì màu cờ sắc áo, vì đồng đội đặt nhiều tin tưỏng, anh quyết tâm phải thắng cuộc đua này bằng mọi giá.”

Nguyen van Châu 2

Người Nhật phải chảy nước mắt vì anh

Và anh đã làm được điều ước nguyện này, khi bánh xe đua của anh cán mức trước tay đua nổi tiếng của Nhật tên Ywanmato, trong cuộc đua nước rút 200 mét lòng chảo chỉ đường tơ, kẽ tóc, với thời gian 11 phút 4 giây, khiến cả vận động trường nín lặng. Nhiều người Nhật đã bật khóc, khi đứa con cưng của họ bị thua đau đớn, mà trước đó họ tin rằng tấm “Huy Chương Vàng” chắc chắn sẽ nằm trong tay nước chủ nhà dễ dàng.

Nguyen van Châu 3

Vô Địch Đông Nam Á Vận Hội

Lần thứ hai ”Vô Địch Đông Nam Á Vận Hội” tại Ngưỡng Quang – Miến Điện. Cuộc đua nước rút lần này không phải chạy trên lòng chảo, mà chạy trên đường bình thường. Anh đã thắng không mấy khó! Vì đó là sở trường của anh. Anh cười và nói thêm ”Nghề của chàng mà em.”

– Xin anh kể cho biết vài tên tuổi cua rơ nổi tiếng cùng thời với anh.

Thú thật, bây giờ anh không thể nào nhớ hết! Có thể kể những cua rơ đàn anh có thành tích như: Lê Thành Các với biệt danh là Phượng Hoàng. Ông ta xuống đèo mà vẫn tiếp tục đạp hết tốc lực, dù trong đêm tối, với bất cứ mọi thời tiết. Ó đen Bùi Văn Hoàng được xếp sau ông. Tiếp theo, Ngô Thành Liêm, Lưu Quần, Trần Văn Nên, Huỳnh Anh, Trần Gia Thu, Trần Gia Châu, Trương Tỷ, Huỳnh Ngọc Chánh, Tô Hiếu Thuận, Võ Vĩnh Thời, Nguyễn Hữu Thoại, Nguyễn Văn Hoà, Nguyễn Văn Kỉnh, Trần Hữu Tuấn… Về hướng dẫn, dìu dắt và giúp đỡ hết mình cho phong trào đua xe đạp có Cựu Đ/T Trần Văn Xồi, Phạm Văn Cự, Nguyễn Văn Tạo.

– Xin anh cho biết lúc nào anh giải nghệ hẳn?

Sau năm 1975, anh vẫn còn tiếp tục đua xe đạp. Năm 1976, đoạt giải nhì trong một cuộc đua chạy ra Vũng Tàu. Sau đó anh chuyển sang làm Huấn Luyện Viên cho các đội: Cửu Long, Quận 3, Quận 5, Tân Bình, Quân khu 7. Có lúc phải ra ngã bảy sửa xe đạp và môi giới mua bán xe đạp. Chiếc xe đạp đã làm nên tên tuổi anh cũng phải bán để mưu sinh, mà thời giá lúc đó bằng giá trị chiếc xe Honda. Về sau hai vợ chồng mượn vốn để chuyển sang bán “Bánh Tằm Bì” và các món Đặc Sản Bạc Liêu. Chiếc bàn nhỏ, vài chiếc ghế ngồi chồm hổm nằm trên đường Hai Bà Trưng, trước Billards Vạn Lợi, gần hẻm nhà anh. Sau này bị dẹp lòng lề đường, nên hai vợ chồng anh thuê được căn nhà số 459B đường Hai Bà Trưng, để mở tiệm. Tiền thuê hàng tháng rất cao, vì nằm trên điạ điểm thuận lợi. May mắn được thực khách thương quý anh đến ủng hộ rất đông. Lúc này anh không còn vương vấn với nghiệp xe đạp, để tập trung cho việc buôn bán.

– Hiện nay tình hình kinh tế gia đình anh thế nào?

Anh im lặng trong chốc lát và cho biết: “Thoi thóp qua ngày nào, mừng ngày đó em ơi!” Sức khoẻ càng ngày càng yếu đi vì đủ thứ tật bệnh của tuổi già. Hiền thê của anh chẳng may mất đột ngột lúc vừa đặt chân đến Hoa Kỳ, khi viếng thăm người em. Một trong ba người con trai ra đi vì tai nạn giao thông. Hiện còn hai con trai đều đã lập gia đình. Con trai lớn đang hành nghề tài xế và con trai thứ đang làm chủ cửa hàng ăn uống mang tên “Bánh Tằm Bì 370.” Hiện anh sống cùng với người con thứ ở căn nhà hẻm 392 và phụ giúp con anh trông coi tiệm.

Nguyen van Châu xưa va nay

Nguyễn Văn Châu ngày xưa và bây giờ!

Tôi xin lỗi anh vì đã đặt câu hỏi làm khơi lại nỗi buồn của anh. Bắt tay xin chào từ giã anh. Bước chân ra khỏi tiệm mà trong lòng nặng trĩu. Tràn dâng lên một nỗi buồn cho một nhân tài bị bỏ quên. Cơn mưa bất chợt cùng lúc xuất hiện, càng làm tôi thấy thương mến anh hơn. Tôi hứa sẽ cố gắng viết vài hàng về anh và xin được trân trọng giới thiệu cùng bà con khắp nơi “Bánh Tằm Bì 370” với các món Đặc Sản Bạc Liêu. Điạ chỉ số 459B, đường Hai Bà Trưng, phường 8, Quận Ba, Sài Gòn.

Nếu ai còn quý mến anh. Người đã tạo nên kỳ tích có một không hai trong lịch sử đua xe đạp nước nhà, mà từ trước đến nay chưa có cua rơ Việt Nam nào thực hiện được. Anh đã làm đã làm rạng danh hai chữ Việt Nam trên các thao trường quốc tế.

Xin bà con hãy đến ủng hộ tiệm ăn của con trai anh, với các món ăn đặc sản quê hương của miền sông nước Bạc Liêu. Thức ăn ngon miệng, giá cả vừa phải và tiếp đón lịch sự. Thực khách sẽ có dịp chuyện trò, hàn huyên với nhà vô địch, thể tháo gia tên tuổi đã từng làm say mê giới trẻ yêu xe đạp vào đầu thập niên sáu mươi, bảy mưoi. Chúng ta sẽ cùng anh nhắc lại một thời để nhớ và không bao giờ quên.

Xin được chào anh: “Cua Rơ Vô Địch Nước Rút Nguyễn Văn Châu.” Người con yêu của vùng đất hiền hoà Tân Định và Đa Kao. Thần tượng của nhiều người yêu môn đua xe đạp, và cũng là thần tượng thuở còn ấu thơ của riêng tôi.
Trần Đình Phước

Theo Trần Đình Phước (5)

 

Phụ Lục 2Nói thêm về môn đánh kiếm (Olympics fencing)

Các loại kiếm

Hình dáng và kích thước các loại kiếm

 

  • Foil: (Kiếm Liểu) – Loại kiếm để luyện tập cuả gìới quý phái thời xưa, lưởi kiếm mềm dẻo dài 1.10m, lưởi hình chử nhật, nhẹ khoảng 450g. Thắng điểm bằng mủi kiếm đâm vào thân (torso), không được đâm vào tay, chân, đầu, cổ. Vì động tác xảy ra nhanh, nên hệ thống chấm điểm bắng điện chỉ ghi nhận nếu mục tiêu bị đâm trúng-đầu kiếm có lò xo khi chạm phần thân áo giáp (nguời đánh kiếm phải mặc áo giáp gọi là lamé) máy chấm điểm sẽ bật đèn đỏ, nếu đánh trật mục tiêu (đánh trúng những phần thân thể không có áo giáp che) thì đèn trắng bật lên giây lát nhưng không bị trừ điểm, rồi hai đối thủ bắt đầu đánh tiếp.
  • Epee – (kiếm ba cạnh) The epee (pronounced “EPP-pay” – literally meaning “sword” in French) thối thân của loại kiếm được dùng trong những cuộc đọ kiếm tay đôi ngày xưa, lưởi kiếm cứng và dày hơn kiếm liểu và có cán che tay. Không giống như kiếm liễu, đối thủ được điểm khi đánh trúng bất kể phần nào của cơ thể từ đầu đến chân và vì thế không cần phải mặc áo giáp lamé.
  • Sabre (or saber) (kiếm chém.) – The sabre is the modern version of the slashing cavalry sword. Sự khác biệt gìữa loại kiếm này với hai loai liểu và ba cạnh là kiếm dùng để đâm và chém bất cứ điểm nào trên cơ thể từ lưng trở lên để ghi điểm. Vì thế mặt và tay, cổ cũng phài che bằng áo giáp kim loại -lamé. Khi đánh trật mục tiêu máy không ghi nhận nên không phải dừng ngằt khoảng

Phụ Lục 3: Huy chương Vàng, hoài niệm túc cầu trước 1975.

Đội tuyển túc cầu Việt Nam

Các tuyễn thủ của đội banh đoạt Huy chương vàng vô địch túc cầu Đông Nam Á vận hội (SEAP 1959). Huy chương quốc tế duy nhất từ trước đến nay .

 

Huy Chương vàng túc cầu

Mặt trước và mặt sau Huy Chương Vàng duy nhất cho làng túc cầu Việt Nam, SEAP 1959

Dưới thời VNCH , Đội tuyển túc cầu quốc gia VNCH tham dự Asia Cups, Asia Games, Seap Games và cuối cùng World Cup 1974. Thành tich đáng kể cuả môn Túc câu trước 1975

1 huy chương vàng (1959), 2 bạc (1967 và 1973) và 2 đồng (1965 và 1971) ở Đông Nam Á Vận Hội. (11)

Phụ Lục 4: Vòng Cộng Hoà năm 1959:

Tiếp theo những thành công của Vòng Cộng Hoà năm 1957 và 1958, Tổng nha Thanh niên tiếp tục phối hợp với Tổng cuộc Xe đạp tổ chức Vòng Cộng Hoà lần III gồm 20 chặng đua có tổng chiều dài là 2.846 km. Mặc dù lần này quãng đường ngắn hơn so với 2 lần trước nhưng lại lớn hơn về số lượng VĐV tham gia với tổng số 78 tay đua của 11 đoàn cùng 24 tay đua độc lập đăng ký thi đấu trong đó phải kể đến Đoàn Đại biểu Việt Nam và Đoàn Đại biểu Đại hàn dân quốc. Lần đầu tiên góp mặt nhưng đoàn Đại hàn dân quốc đã tỏ ra rất mạnh với chiến thắng của Sang Ho Rin ở chặng nhỏ Bến Hải – Quảng Trị. Tuy nhiên, ngay sau khi chiến thắng ở chặng này Đoàn Đại hàn dân quốc đã bất ngờ bỏ cuộc sau khi đưa ra một loạt các yêu sách. Các tay đua Đại hàn dân quốc đã bỏ cuộc ở chặng 2 nhưng lại tiếp tục tham gia từ chặng 3 nhưng chỉ với tư cách khán giả. Trước tình thế đó, Ban Giám đốc đã quyết định giải tán Đoàn Đại biểu Việt Nam và trả các tuyển thủ về với Đoàn của họ. Nhờ vậy mà lực lượng của một số đoàn đã tương đối mạnh hơn trước, cuộc đua vì thế mà ngày càng quyết liệt và hấp dẫn hơn. Vòng Cộng Hoà lần III một lần nữa chứng kiến sự xuất sắc của Ngô Thành Liêm, tay đua cũ của Thanh niên Thể thao nay khoác áo của Đoàn Công An. Anh là người mặc áo vàng từ chặng 8 cho đến hết chặng 19, chặng áp chót của cuộc đua. Lúc này Ngô Thành Liêm đang ít hơn Nguyễn Văn Hoà 18 giây và Trần Gia Châu 1 phút 18 giấy. Tuy nhiên ở chặng cuối cùng Vĩnh Long – Sài Gòn, Nguyễn Văn Hoà đã xuất sắc về nhất, được thưởng 1 phút, qua đó thắng ngược Ngô Thành Liêm, đoạt áo vàng Vòng Cộng Hoà lần III năm 1959.

Sai khi Vòng Cộng Hoà lần III kết thúc thành công, chỉ tổ chức được duy nhất một cuộc đua nhỏ Sài Gòn – Mỹ Tho – Sài Gòn vào ngày 29/05/1960. Năm 1961, Chủ tịch Tổng cuộc mới nhận chức và một số cuộc đua được tổ chức thành công như: Vòng Tiểu Cộng Hoà (7 chặng), Tiền Thế Vận (12 chặng), Vùng I Chiến Thuật 65 và  66 (4 chặng), Vòng 6 Chặng Miền Nam (6 chặng), 4 Chặng Miền Tây (4 chặng), Tiền Á Vận (5 chặng)… Bên cạnh đó, Tổng cuộc Xe đạp còn duy trì được hệ thống thi đấu hàng năm bao gồm: Vô địch đường trường, nước rút, bán tốc độ, tính giờ đồng đội… qua đó tuyển chọn đội tuyển tham dự các cuộc đua quốc tế như: Giải Vô địch châu Á, Đông Nam Á, Thế vận hội… và đã đạt được những giải thưởng lớn như: Huy chương vàng giải Vô địch châu Á năm 1961 của Nguyễn Văn Châu, Huy chương đồng giải Vô địch châu Á năm 1965 ở nội dung 200 km đồng đội nam, Huy chương đồng tại ASIAD Games năm 1966 tại Philippines ở nội dung 100 km đồng đội nam, Huy chương vàng SEA Games 1965 (Malaysia) ở nội dung 200 km đồng hành của Trần Văn Nên…

Có thể nói, thời kỳ 1954 – 1975 là thời kỳ mà phong trào xe đạp thể thao ở Việt Nam rất phát triển (ở miền Nam) với hàng loạt các cuộc đua lớn, tạo được tiếng vang không chỉ ở trong nước và quốc tế. http://www.vncycling.org/modules.php?name=Event&file=print&sid=24

 


Xếp loại Bưởi Cam Quýt

   Xếp loại Bưởi Cam

     Mai Tran – Y Nguyên

 

Bài sưu khảo viết dựa vào tư liệu riêng với tài liệu tham khảo thu thập qua từ mạng nhằm hy vọng giúp người đọc giảm thiểu nhầm lẩn khi nhận diện hoặc tiêu thụ loại trái cây thông dụng nhất trên thế giới-cam, quýt, bưởi, tắc, chanh…thuộc chi họ Cam Quýt (Genus Citrus). Cảm hứng bắt nguồn từ hoài niệm xưa trong khu vườn phía trước nhà có nhiều loại cây ăn trái như bưởi, hồng quân, thanh long, mảng cầu, lucuma, cà phê, ổi, sa bô chê bên cạnh vú sửa, hồng nhung, mít mật, tố nử. Tuổi thơ của người viết thường quanh quẩn ngoài vườn vì tàn cây che bóng mát quanh một ngôi miếu thiết kế kiểu xưa thờ Đức thánh Trần, bên trong miếu có tượng và nhiều loại kiếm cung có cả bao chạm trỗ công phu bằng gổ. Vẩn theo tập tục của Cố, miếu thờ lung linh nhang khói trong ánh đèn dầu cho đến ngày “ai giải phóng ai”.

Miểu Xưa

Hình 1: Miểu xưa 1950

Bạn bè trong xóm hay đến chơi, trưa hè hay trăng sáng, “thăm” cây trái trong vườn, hoặc học bài, tập tành làm văn thi sĩ, hoa bưởi trắng tỏa hương thơm ngào ngạt, hè có hoa nắng, ve kêu, xuân có hoa mai, cúc, vạn thọ. Trưa hè trèo lên cây ổi, vừa hái ăn vừa đọc sách, lớn lên thì rũ nhau đạp xe đi Thủ Đức , Lái Thiêu thăm măng cụt, sầu riêng.

“Trèo lên cây bưởi hái hoa

Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân”

“Đầu năm ăn quả thanh yên
Cuối năm ăn bưởi cho nên đèo bòng
Vì cam cho quýt phải lòng
Vì em nhan sắc cho lòng anh thương” (Ca dao)

Đầy vườn hoa bưởi hoa cam rụng

Ngào ngạt hương bay, bướm vẽ vòng

…         (Xuân về, trong tập thơ Tâm Hồn Tôi, Nguyễn Bính 1940)

Hoài niệm về bưởi, chanh không phải là ca dao mà là mùa hoa bưởi thơm tỏa trong vườn, và những trái bưởi da xanh, dày, ăn hơi đăng đắng và những đêm sáng trăng quay quần trước sân trò chuyện, ăn bánh, trái, khoai mì, khoai lang, khoai từ, đậu phộng nấu, củ ấu… hoặc gọi chè bán rong thoang thoáng mùi khói bưởi. Nội bảo lột bưởi phải cho đúng cách, lấy vỏ bưởi phơi khô để dành đốt đuổi muổi.  Không biêt muổi có sợ mùi khói bưởi bao nhiêu, nhưng hương thơm tỏa ra cũng làm người dể chịu.

Củ Ấu

Hình 2: Củ Ấu

Trên dĩa quả tử (loại dĩa xưa, có vẻ trang trí màu xanh) trưng bày trên bàn thờ gia tiên  “ba ng ày Tết”  lúc nào cũng có bưởi cam quýt, loại cam sành và quýt đường to gần bằng cam hòa lẩn với vú sửa đu đủ, khóm, mẳng cầu ta(na), thanh long cho đủ màu…kiểu ngủ quả!

Bưởi nhà cho nhiều trái, ăn không hết làm quà cho hàng xóm, vị cũng ngọt nhưng hơi đắng không như bưởi Biên Hòa, ngọt thanh, hạt nhỏ-mà đặc biêt là bưởi ổi Biên Hòa, trái to bằng gấp đôi trái ổi xá lị lớn.

Bưởi được trồng nhiều nhưng phần đông chỉ thấy loại da xanh, mãi về sau mới thấy nhiều loại da xanh vàng, ruột hồng đỏ hoặc trắng, vàng rất thông dụng ở miền Nam.

Ở miền Tây, cam Sành da xanh, nhiều nước, nhiều hột, cam Xoàn da ửng vàng, quýt da vàng,  quýt đường da xanh khi chin ửng vàng, dể lột vỏ,nhiều nước nhưng không ngọt lắm, cũng là vùng trồng cam, buởi, quýt nhiều nhất Việt Nam, tựu trung vùng Bến Tre, Vĩnh Long, Cần Thơ. Đây là loại cây xanh lá quanh, trái, thân, lá có hương thơm, lá có dầu nên dể bốc cháy, mùa ra hoa thơm nứt mũi. Rải rác ở những vùng địa phương khác cũng có bưởi như Đồng Nai-Biên Hoà, Huế, Hà Tỉnh và các giống bưởi Đoan Hùng ngoài Bắc. Ở Mỹ Úc, Âu Châu nhiều vườn cây ăn trái trồng Cam Quýt, hoặc trồng trong sân vườn, hay cả hai bên lề đường. Chi họ Cam Quýt, tên khoa học là Citrus là một trong số nhỏ họ thực vật công dụng nhất, trồng nhiều nhất vì có khả năng thụ phấn lẩn nhau (interfertile), tự lai giống và từ sự nghiên cứu khoa học, công nghệ  đã sản sinh nhiều giống lai ( cultivars) do sự kết hợp nhân tạo hay biến hóa ngẩu nhiên, tạo ra nhiều thay đổi về hình dáng (shape), màu ruột bưởi, có hạt hay không, cũng như vị thơm (fragrance), ngọt chua (taste)

Nên biết trong chi họ Citrus có nhiều giống (Species) loại (varieties).

Cũng nói thêm là variety (loại) cũng được phân định loại thiên nhiên (nature variety) và loại không thiên nhiên (non-nature cultivars) Cultivar là từ hai chử cultivated varieties có nghiã là loại thảo mộc , thực vật có sự can thiệp của người (lai giống, genetic engineering, artificial intervention hoặc tự biến thể (mutation).

Giống Bưởi da xanh (nature varieties), bưởi Diển, Đoan Hùng (ngoài Bắc) sau này (non-nature cultivars).

Một đặc điểm chi họ Cam quýt (Citrus) vì là loài cây ăn trái trồng nhiều nhất trên thế gìới nên trái thường mang tên thương mại hay  xuất xứ địa phương vì tính đặc thù của giống (cultivars) như bưởi Thanh ( gốc Huế ) bưởi Long cổ cò ( gốc Tiền Giang), bưởi

Năm  Roi ( gốc Cần Thơ, Vĩnh Long ) , bưởi Tân Triều (Biên Hòa), Vinh…hoặc bưởi đường hồng , bưởi đường núm , bưởi da láng , bưởi da xanh , bưởi da cóc , bưởi chùm , bưởi ổi… cam  Mỹ , Úc, Tây Ban Nha, Ba Tây …quýt Tàu, Tứ Xuyên, Quảng Đông…Chanh Tây, Ta vân vân …

Sự phân định thực vật của các giống này sẽ phải được dựa vào quá trình phân loại khoa học (taxomony), tuy có tính cách lý thuyết nhưng là kiến thức giáo dục cần phải có.

Citrus Taxo Chart

Hình 3:  Bản phân loại chi họ Cam quýt (Genus Citrus).

Hầu hết các loại bưởi trồng ở Vietnam là bưởi thiên nhiên, kích thước tùy giống, bưởi  Năm Roi (Vĩnh Long), bưởi Tân Triều (Biên Hòa) bưởi da xanh (Bến Tre) và nhiều loại bưởi khác thường gặp ở Việt Nam có đường kính khoảng 18–20 cm, trong khi bưởi Đoan Hùng (ngoài Bắc) chỉ có đường kính độ 15 cm. Cây ra hoa, kết quả hầu như quanh năm, thường mùa hoa từ tháng 3 đến tháng 5 và mùa quả từ tháng 8 đến tháng 11.

Bưởi- Pomelo- Citrus Maxima (Merr,Burn.f.)

 Các giống bưởi thường thấy ở Vietnam có tên khoa hoc là Citrus Maxima (Merr,Burn.f.) or Citrus grandis, tiếng Anh gọi chung là Pomelo. để phân biệt với giống bưởi chùm, tiếng Anh gọi là Grapefruits-tên khoa học Citrus Paradisi không thấy nhiều ở Việt Nam. Bưởi Pomelo có nguồn gốc ở Việt Nam, Đông Nam Á. Bưởi chùm Grapefruits cho là có nguồn gốc ở vùng Caribbean

Có nhiều loại bưởi da xanh, cơm trái bưởi có màu từ vàng nhạt tới hồng và đỏ, độ ngọt, đắng, có hột hay không, tùy nơi địa phương trồng mà biến thể.  Tuy nhiên loại bưởi da xanh được trồng vùng Bến Tre, hơi the không đắng trái nhỏ, ngọt nhưng cũng có loại trái to, ngọt ruột hồng đỏ, trồng bằng cách chiết nhánh có nguồn gốc ở Mỏ Cày (Bến Tre)

Bưởi Da xanh

Hình 4 : Bưởi Da Xanh tìm thấy nhiều nơi ở miền Nam.

Da Xanh Ruột Hồng Bến Tre

Hình 5 : Bưởi da xanh-ruột hồng Bến Tre

Bưởi Năm Roi.

Được thấy trồng nhiều ở Vĩnh Long (Bình Minh, Tam Bình), Bến Tre, Cần Thơ…

Trái hình quả lê (pears), lúc chưa chín màu xanh, gần chín đổi màu vàng, vị ngọt, không the đắng, múi có khá nhiều nước, hương thơm, không hột.

Năm Roi

Hình 6 : Bưởi Năm Roi- Tam Bình, Vĩnh Long

Năm Roi Tân Triều

Hình 7: Bưởi Năm Roi –Tân Triều Biên Hoà

Bưởi Biên Hoà tên chung cho các loài bưởi đặc sản nổi tiếng từ lâu trồng vùng Đông Bắc Sàigòn, nhất là vùng Tân Triều như Bưởi đường, Da láng, Da xanh ruột đỏ, bưởi Thanh  (Thanh Long, Thanh Trà, Thanh Dây và bưởi Ổi).

Bưởi Thanh Long nhiều nước, màu trắng ngà, ngọt thanh, hột nhỏ. Bưởi Thanh Trà ruột trong trắng, ngọt. Bưởi Ổi là loại bưởi qúy hình dáng giống ổi xá lị to, trái rất thơm, múi dể lột, giữ càng lâu- da khô lại, hơi nhăn- ăn càng ngọt và thơm.

Những loại bưởi không ngọt, hơi chua cũng thấy trồng ở Biên Hòa như Bưởi Xiêm, Bưởi da cóc (vì da nhăn) vị chua, nhưng không được chuộng lắm

Bưởi Xiêm

Hình 8 : Bưởi Xiêm

Bưởi ổi Tân Triều

Hình 9:  Bưởi Ổi Tân Triều

Bưởi Long Cổ Cò

Hình 10 : Bưởi Lông Cổ Cò

Bưởi lông cổ cò là giống bưởi đặc sản của huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang.

Có hình dáng quả lê (pears) da ngoài có lớp lông trắng, sờ tay hơi nhám, lớp lông này sẽ mất dần. Khi chín vỏ đổi từ xanh sang xanh vàng có phủ lớp lông mịn.

Vỏ quả khá mỏng, trong quả bì màu trắng hồng, thịt quả bưởi lông cổ cò màu vàng đỏ, dễ lột, vị ngọt hoặc ngọt chua nhẹ, nhiều nước, mùi thơm.

Thanh trà Huế

Hình 11: Thanh Trà Huế

Đặc sản Huế, nổi tiếng từ lâu, quả nhỏ khá tròn, da xanh láng, vỏ mỏng, tép bưởi nhỏ, thơm dòn không nhiều nuớc, ngọt thanh,  Mùa Thanh trà Huế khoảng tháng 7, 8

Cơm Thanh trà Huế

Ngoài Thanh Trà Huế có loại bưởi Thanh trà ở Biên hoà

Thanh Trà Biên Hoà

Hình 12 : Bưởi Thanh Trà Biên Hòa.
Người Huế không ai gọi Thanh trà là Bưởi Thanh trà cả. Tiếng gọi bưởi Thanh Trà dành cho loại bưởi Thanh trồng ở Biên Hoà. Cũng là giống bưởi da xanh, nhưng hương thơm có vẽ khác nhau vì trồng ở điạ thổ khác nhau. Dòng Bưởi Thanh Biên hoà  gồm Bưởi Thanh long, Bưởi Thanh trà, Bưởi Thanh dây. Không nên lầm lẩn bưởi Thanh Trà với trái Thanh trà ở miền Nam, một loại trái nhỏ như trái quất, có vị chua, thanh và thơm.

Phân biệt Thanh Trà
Hình 13 : Phân biệt giữa Thanh trà Huế (trái) và trái Thanh trà của miền Nam (Cần Thơ)

Bưởi  Phúc Trạch

Phúc Trạch là giống bưởi đặc sản trồng nhiều ở Hương Khê (Hà Tĩnh) https://www.youtube.com/watch?v=5G7aGIG2rLg

Phúc Trạch

Hình 14 : Bưởi Phúc Trạch

 

Bưởi Phúc Trạch có hình cầu tròn, bề ngang và chiều cao gần bằng nhau, cuống quả không lồi, đế quả hơi lõm, vỏ không trơn không ráp, màu sắc vỏ quả xanh vàng, cơm màu hồng nhạt hoặc màu trắng trong, quả nặng hơn  1kg, số múi 14-16 múi/quả, khoảng 50-70 hạt/quả, có mùi thơm nhẹ, có vị ngọt hơi thanh chua.

Bưởi Vinh, quả to có núm, ngọt, ít nước, trồng nhiều ở Hương Sơn (Hà Tĩnh)

 

 Đoan hùng

Hình 15 : Bưởi Đoan Hùng- Vỉnh Phú-Phú Thọ

Đoan Hùng Lai

Hình 16 : Bưởi Đoan Hùng lai

http://nongnghiep.vn/nongnghiepvn/vi-vn/25/24366/khuyen-nong/giong-buoi-doan-hung-lai.html

Bưởi Đoan Hùng cũng như bao nhiêu đặc sản khác, chỉ có đất Đoan Hùng mới cho những trái bưởi thơm ngon được, và trên đất Đoan Hùng cũng chỉ có 2 vùng mà ở đó bưởi trở nên thơm ngon nhất, đó là bưởi Chí Đám và bưởi Bằng Luân.

Bưởi Sửu Chí Đám phát triển phù hợp trên đất phù sa sông Lô, sông Chảy. Về nguồn gốc, giống bưởi này được nhân dân xã Chí Đám nhân ra từ cây bưởi ngon của nhà lão nông có tên là Sửu cách đây trên 200 năm. Từ đó tên ông được đặt cho giống bưởi.

Bưởi Bằng Luân có cách đây 200 đến 300 năm là giống có nhiều nhất ở Đoan Hùng, hầu hết các xã trong huyện, đặc biệt là Bằng Luân và Quế Lâm đều trồng giống bưởi này.Bưởi Bằng Luân có dạng lá nhỏ, quả nhỏ có hình cầu dẹt hoặc dạng hình lá to, quả to, tròn đều. Khi chín có màu vàng rơm, màu thịt quả trắng, trục quả đặc, dễ tách múi, tép mềm mọng nước có màu trắng xanh, ngọt đậm, vị thơm.

http://trenguonresort.com/buoi-doan-hung-dac-san-phu-tho/

Grapefruits- Bưởi Chùm

Bưởi chùm grapefruit, tên khoa học là Citrus Paradisi-là một giống cây lai tự nhiên giữa cam (Citrus Sinensis ) và bưởi Pomelo (Citrus Maxima) được cho là có nguồn gốc ở Barbados từ thế kỹ 18.  Cây lá xanh không rụng l á thường cao khoảng 5-6m nhưng cũng có loại cao đến 13-15m, lá xanh đậm láng, cho trái nhiều đường kính khoảng 10-15cm, mọc chùm như chùm nho, trái giống cam nhưng to hơn, vỏ xanh khi chín trở vàng cam, vỏ mỏng, láng,không lột vỏ được, vị đắng, ít ngọt. Cơm bưởi (pulp) có thể có màu hồng, đỏ, trắng, thường cơm đỏ ngọt hơn tuỳ giống lai (cultivars). Năm 1929 Mỹ lần đầu tiên đăng ký (patent) loại grapefruit ruột đỏ US Ruby Read (giống RedBlush). Thông thường người ăn phải dùng dao cắt đôi và dùng muỗng múc để ăn hoặc ép lấy nước uống.

Một trái bưởi cỡ ở trung bình cung cấp khoảng 200 calori. Bưởi chua có nhiều acid, có vitamin C, A, chất sơ hoà tan pectin, và nhiều khoáng chất như Kalium calcium, phosphore, sắt, folate. Bưởi mầu đỏ và hồng còn có thêm beta carotene chống oxy hóa mà cơ thể chuyển hóa thành vitamin A

Grapefruit trắng vàng

Hình 17: Grapefruit -ruột trắng vàng

Grapefruit ruột đỏ

Hình 18 : Grapefruit-ruột đỏ

 

Cam-Oranges

Hầu hết các giống cam quýt được chọn lọc từ những đột biến lai giống tự nhiên (interfertile, mutation) và chỉ một tỷ lệ nhỏ được tạo ra từ lai giống công nghệ (hybridization).

Cam có nhiều kích thước và hình dáng từ tròn đến bầu dục, thường có 10 múi và có đến 6 hạt, bì trong trắng xốp. Khi chin vỏ ngoài (rind) trở màu từ màu cam rực rở đến vàng. Ở vùng khí hậu nhiệt đới khi chin da có thể vẩn có màu xanh. Những loại cam đột biến tự nhiên không hột

Cam đường (sweet orange) tên khoa học Citrus sinensis) trái nhỏ hơn bưởi, vỏ mỏng, khi chín thường có màu cam (vì chất carotene) hoặc vàng rực, có vị ngọt hoặc hơi chua. Cam sành miền Tây khi chín vẩn da vẩn còn màu xanh vì được trồng ở vùng nhiệt đới.  Loài cam có thể lai giống giữa loài bưởi Pomelo (Citrus maxima) và quýt (Citrus reticulata). Cây cam nhỏ, cao đến khoảng 10 m, có cành gai và lá thường xanh dài khoảng 4-10 cm. Cam bắt nguồn từ cổ xưa vùng Đông Nam Á, có thể từ  Ấn Độ , Việt Nam hay  miền nam Trung quốc.  Người Tây Ban Nha đem giống này vào Mỹ Châu khoảng giữa thế kỷ 16.

Cùng chi họ nhưng trái Citrus sinensis được phân loại là cam đường trong khi loại cam the Citrus aurantium được gọi là loại cam đắng (bitter orange)

Thống kê từ 1987, cam đươc trồng nhiều nhất trên thế giới từ vùng nhiệt đới (tropical) đến bán nhiệt đới (sub tropical). Cam được ăn hoặc ép lấy nước, tinh dầu thơm trong vỏ cam. Kể từ 2012 cam đường chiếm 70% tổng số chi họ Cam quýt (Citrus) sản xuất trên thế gìới, nơi sản xuất nhiều nhất là Ba Tây và Mỹ (California và Florida).

 (source-http://en.wikipedia.org/wiki/Orange_%28fruit%29)

 Cam rốn (Navel oranges)

Loài cam này có thể diển tả như có một cam thứ hai nhỏ nằm trên đỉnh đầu của quả cam, nhô ra như cái rốn (rúng)

Navel orangeNavel orange Cơm

Hình 19: Cam rốn (navel oranges)

Loại thông dụng gọi là Cam rốn Washington  có lẻ là ngẩu biến tự nhiên, hay thụ phấn lẩn nhau từ loài cam ngọt , phát hiện đầu tiên ở Ba Tây (Brasil) khoảng 1820, phát triển sang vùng Florida (Mỹ) chỉ trong vòng 15 năm.

Trái cam chín màu vàng, cơm vàng , rất ngọt, nhưng it nước, không có hột, vỏ dể lột.

Cam thích hợp vùng nhiệt đới, bán nhiệt đới với nhiều ánh nắng. Cây lùn khoảng 6-8ft (như Dwarf  Wahington Navel) hoặc như  Washington Navel cao đến 20 ft có lá xanh, bóng láng.

Loài cam này rất phổ thông và rất thành công về phương diện thương mại trên thị trường cam quốc tế.

Trovita

Cam Mỹ Trovita là loại cam lai giống công nghiêp ở California, mùi vị không bằng Cam Rốn (Navel) , cam không có rốn,  nhiều hạt nhưng có thể thích ứng cao với thời tiết khô, nóng. Cam có nhiều nước, trái nhỏ hơn loại Navel.

Cam Trovita

Hình 20: Cam Trovita

Valencia.

Đây là một giống lai có nguồn từ California (Santa Ana). Cam Valencia ngọt, hương vị thơm và nhiều nước. Được trồng nhiều vùng nhiệt đới và bán nhiệt đới, trái nhỏ, vỏ khá mỏng và ít hột.

http://www.survival.org.au/fruit_oranges.php#sthash.xFSP9khJ.dpuf

 

Cam Valencia

Hình 21 : Cam Valencia

 

 Cam Đỏ

 Cam Đỏ Moro

Hình 22: Cam Đỏ -Moro (Blood) Oranges

Vỏ cam màu vàng , cơm màu đỏ đậm vì có chứa nhiều pigment anthocyanin, múi cam thơm, thoang thỏang hương vị dâu mâm xôi (rasberry).

Cam Sành

Cam Sành

Hình 23 : Cam sành chưa trưởng thành da xanh đậm miền Tây (Tam Bình, Vỉnh Long)

 

Cam sành và quýt đường thích nghi tốt vùng đồng bằng sông Cửu Long,  cây cho năng suất cao, phẩm chất ngon, nước nhiều, vỏ khá dể lột. Trái có nhiều hột đã hạn chế phần nào việc tiêu thụ trái tươi. Có tài liệu nghiên cứu đã ghi nhận được nhiều trường hợp có trái không hột hay ít hột (nhỏ hơn 5 hột).

Cam Xoàn

Cam Xoàn là loại cây ít bệnh, ăn rất ngọt, vắt nước uống rất thanh, cơm màu vàng nhạt, vị ngọt đậm, mùi thơm, chắc múi hơn so với các loại cam sành, cam mật. Lúc chưa chín da láng màu xanh, lúc gần chín chuyển sang màu vàng.

Cam Xoàn có tác dụng giải khát, nhiều vitamin như vitamin C, vitamin B9. Cam Xoàn là giống cây ăn trái được trồng nhiều và lâu đời ở một số tỉnh đồng bằng sông Cửu Long. Cây sinh trưởng và phát triển mạnh, thích nghi với nhiều vùng đất cao ráo thoát nước tốt, đất không quá nhiễm phèn- mặn. Cây chống chịu khá tốt với bệnh vàng lá Geenning và một số dịch hại khác.  Sau 30 tháng trồng cây cho trái. Từ khi ra hoa đến khi thu hoạch khoảng 8 tháng.

Cam Xoàn

Hình 24. Cam Xoàn

Cây Cam Xoàn

Hình 24a: Cây cam Xoàn.

Múi Cam Xoàn

Hình 24b: Múi cam Xoàn.

 

Cam mật Phong Điền Cần Thơ

Cam mật ở Phong Điền được phát triển từ những năm 1950 – 1960, và trở thành sản vật đặc trưng làm nền văn minh miệt vườn Phong Điền, sánh vai cùng các xứ vườn nổi tiếng khác.

Cam mật là loại đặc sản nổi tiếng trong và ngoài nước, hương vị thơm ngon, vỏ sáng óng ánh, màu xanh tự nhiên, múi to hạt nhỏ, năng suất cao.

Cam Mật Phong Điền

Hình 25:  Cam mật

Cam Đường

Cam đường chính là một giống quýt, vỏ mỏng và bóc dễ nhưng vỏ lại dai nên có nơi còn gọi là cam giấy, được trồng nhiều ở Lào Cai, vùng Canh-Diễn (Từ Liêm, Hà Nội) nên có tên là cam đường Canh. Quả hình cầu hơi dẹt, nhẵn, khi chín có màu đỏ gấc rất tươi. Cam chín vào trước Tết khoảng 1 tháng nên được giữ để bày mâm ngũ quả cúng tổ tiên. Cam đường Canh lại thích nghi trồng được ở mọi nơi. Điều kiện trồng thuận lợi, cam cho năng suất cao.

Cam đường

Hình 26: Cam đường

Cam Đắng –Bitter Orange –Citrus Aurantium

 Cam Đắng

Hình 27: Cam đắng

Cam đắng (Bitter Orange), cam  Seville (Tây Ban Nha), cam chua, cam làm mức được gọi cho  loài cam có tên khoa học là Citrus  aurantium. Loài cam này là giống lai từ bưởi Citrus Maxima( Pomelo) và Quýt  Citrus Reticulata (Mandarin Orange). Da không láng, ít nước vị chua, những loại cam này thường được dùng lấy tinh dầu, pha trong dầu thơm, làm tăng mùi vị trong thức ăn hoặc làm mức. Cam đắng dùng trong thuốc Bắc, Nam như chất kích thích (stimulant) và chống thèm ăn (appetite suppressant).  http://en.wikipedia.org/wiki/Bitter_orange

 

Cam đắng Bergamot-Citrus Bergamia

Cam Bergamot

Hình 28: Cam Bergamot                                                                        Chanh Limetta

Cam Bergamot (Citrus bergamia) là loại cam có nguồn gốc Ý vùng Bergamo, da màu vàng khi trưởng thành, giống màu chanh, được cho là giống lai từ Citrus Limon Limetta và Citrus Aurantium.

Cam Bergamot vi chua đắng, được dùng trong công nghệ tinh dầu ở miền Nam Pháp hay làm mức ở  vùng Antalya Thổ Nhĩ Kỳ

Citrus Bergamia cũng đã được phân loại là Citrus aurantium subsp. bergamia (tức là một phân loài của cam đắng.

(http://citruspages.free.fr/lemons.html#limetta)

Quýt-Madarin Orange-Citrus reticulata

Quýt Ngọt

Hình 29:  Quýt ngọt

Cây Quýt (Citrus Reticulata Blanco.) thuộc chi họ Cam Quýt (Citrus), họ Rutaceae, có nguồn từ Trung Quốc,  Ấn Độ. Ở Việt Nam, quýt được trồng khắp nơi với nhiều giống và chủng loại khác nhau.

Cây thân gỗ nhỏ có dáng chắc và đều, thân và cành có ít gai.  Lá đơn, mọc so le; phiến lá hình ngọn giáo hẹp có khớp, trên cuống lá có viền mép. Hoa nhỏ, màu trắng, ở nách lá. Quả hình cầu hơi dẹt, màu vàng da cam hoặc ững đỏ, vỏ mỏng, láng hay hơi sần sùi, múi không dính nên dễ bóc, cơm dịu, thơm. Đơm hoa tháng 3-4, quả tháng 10-12.

Thân cây quýt chịu đựng khô dể hơn trái, trái dể bị hư hỏng do khí hậu khô hoặc lạnh quá nên chỉ thường trồng ở vùng nhiệt đới hay bán nhiệt đới. Nghiên cứu về phân tử học cho biết Quýt, Chanh Tây (Citron), Bưởi (Pomelo) là tổ tiên của những giống và chủng loại thuộc chi họ Cam Quýt (Citrus) qua cách thụ phấn lẩn nhau (interfertile, natural hybridization) hay lai giống công nghệ (hybrid).

Quýt bán trên thị trường thường được gọi tên theo vùng đia phương trồng, hoặc theo hình dáng và độ ngọt- quýt mật Nam phong, quýt Tàu ( Tứ Xuyên, Quảng Đông…) , rồi quýt đường, tiêu, quýt tuyết, quýt lô v.v..

Vỏ quýt thường xốp hơn cam, dễ bóc, múi có thể dễ dàng tách từng múi, trái nhỏ hơn cam.

 

Tangerines

 

Quýt Tangerine

Hình 30: Quýt tangerine

Loại tangerine (C. tangerina) liên hệ gần với quýt ngọt (C. reticulata), trái nhỏ hơn cam, da mỏng vàng đậm, dể lột hơn cam . Ngọt và hương vị mạnh hơn hương vị của cam, múi có hạt.  Lúc chín trái chắc và mềm hơn cam. Rất phổ thông ở Mỹ, tên tangerine được đặt tên từ loại quýt ngọt đươc giới thiệu qua phương Tây qua cảng Tangiers ở Morroco.

http://www.wisegeek.org/what-is-the-difference-between-mandarins-and-tangerines.htm

Clementines

Là một chủng loại từ lai giống của giống quýt ngọt.  Clementines ( C. Clementina) là loại quýt không hột , khác với tangerines có hột. Da láng, dể lột vỏ, trong có 7-14 múi, ngọt, nhiều nước, ít acid hơn cam.

Quýt Clementine.

Hình 31: Quýt Clementine

Satsuma tên khoa học Citrus Unshiu, giống quýt có nguồn từ Nhật vùng Satsuma thuộc đảo Kyushu, trái dể lột, da vàng khi trưởng thành, vị ngọt và không có hột.

Quýt Satsuma

Hình 32: Quýt Satsuma

Cây thân nhỏ chịu lạnh, mọc chậm, tàn lá rậm, thân rất it gai, da mõng nhiều tuyến dầu. Trái chin có 10-12 múi, dể tách, ruột rổng. Trái chín dể rụng nên thường phải hái trước, giữ chứa được lâu.

Satsuma thường bị lẩn với tangerine hay Clementine vì là các giống lai liên hệ trong giống quýt.

Chanh

Citron – Chanh da nhăn – Citrus Medica

Chanh Da nhăn

Hình 33: Chanh da nhăn.

Chanh da nhăn – Citrus Medica  là một trong ba giống khởi nguồn cuả chi họ cam quýt ( hai giớng kia là Buởi Citrus Maxima hay Paradisi và Quýt Citrus Reticulata). Tất cả các giống Citrus khác là do lai giống thiên nhiên (natural hybridization, interfertility) hay nhân tạo (artificial hybridization).

Chanh da nhăn ít nước, múi khô, phần chính là vỏ trong dày màu trắng (white rind) dính liền với các múi khó tách ra được- Không lột vỏ được như cam quýt .

Thường được dùng lấy mùi thơm (fragrance) hay vỏ ngoài cùng được cạo ra (zest) dùng trong salad hay nấu ăn. Ngày xưa được dùng như y dược trị say sóng, bệnh phổi, dầu từ lớp da ngoài cùng được xem là anti-biotic.

Nước (juice) của chanh nhăn (citron) chứa nhiều Vitamin C  được dùng pha chế dược phẩm chống thấp khớp (rheumatism), nôn mửa (vomiting) , hơi trong dạ dày (flatulence) , trỉ ( haemorrhoids), bệnh da , mắt yếu hay ngay cả lợi ích cho tim mạch (cardiovascular benefits)

(http://en.wikipedia.org/wiki/Citron)

 

Phật Thủ (chanh Phật Thủ)

Chanh Phật Thủ

Hình 34: Chanh Phật Thủ

Có tên khoa học là Citrus Medica (Citrus medica varsarcodactylis), tiếng Anh gọi là Chanh ngón tay (fingered citron) hay bàn tay  Phật (Buddha’s hand). Loại thân cao khoảng  2.5 đến 4.5m, thân nhánh có gai , hoa nở vào mùa Xuân, thích nơi có nhiều ánh sáng mặt trời.  Trái có vỏ dày, nhăn nhíu, cũng giống như các loại chanh Tây vỏ cạo ( Zest) trộn làm salad, hoặc làm gia vị nấu ăn vì hương thơm, làm bánh (cake, biscuit) hoặc làm jam hay marmalade .

Chanh Phật Thủ không chua nhiều, ít nước và nhiều khi không có hạt.

 

Chanh Tây-Lemon-Citrus Limon

Chanh tây hay chanh vàng, là tên khoa học Citrus Limon. Loài này được Carl Von Linné, Laurens Burman cùng các cộng sự miêu tả khoa học đầu tiên năm 1768.

Thanh yên hay chanh yên Citrus limonimedica hay Citrus medica ssp. bajoura hoặc Citrus medica L. var. ethrog Engl., Citrus medica L. cv. Ethrog) là cây ăn quả thuộc chi Cam Quýt. Là loài bản địa của Ấn Độ, Myanmar và vùng Địa Trung Hải, tại Việt Nam, giống cây này được trồng từ Lạng Sơn đến Lâm Đồng. Tên tiếng Anh của loài này là Citron.

Cây thanh yên là cây gỗ nhỏ, cao từ 2.5 m đến 5 m. Hoa thơm, màu trắng pha tím đỏ. Quả ra vào tháng 6, khá to, kích thước (12 – 20) x (8 – 12) cm hình bầu dục, màu vàng chanh khi chín, vỏ sần sùi, dày, mùi dịu và thơm; cùi trắng, dịu, nạc, tạo thành phần chính của quả, thịt quả ít, màu trắng và hơi chua (5-6% citric acid).

Vị chua đặc trưng của chanh làm tăng hương vị cho món ăn, nước uống (lemonade, lemon drink).

Về mặt thực vật học, đây là loài lai giữa C. medica và C. aurantium. Mặc dù các tác giả khác cho rằng chanh tây là kết quả lai giữa Citrus medica và Citrus aurantifolia

Chanh Tây

Hình 35: Chanh Tây

 

Chanh Ta – Key Lime- Citrus aurantifolia

Chanh hay còn gọi là chanh ta vỏ xanh (Citrus aurantifolia) để phân biệt với chanh tây (Citrus Limon), quả hình cầu, đường kính từ 2,5 cm – 5 cm (1–2 inch), khi chín có màu vàng rực (nhưng thường được khai thác khi quả còn xanh). Quả chanh ta có kích thước nhỏ hơn chanh Tây, nhiều hạt hơn, lượng axít cao hơn, mùi vị nồng hơn và vỏ mỏng hơn so với loại chanh không hạt (Citrus latifolia). Chanh ta được ưa chuộng vì mùi vị đặc trưng của nó so với các loại chanh khác – cụ thể là vị chua và đắng nồng hơn.

Chanh Ta

Hình 36: Chanh Ta

Chanh Ta -Lime

Hình 37: Chanh ta-Lime- Citrus Latifolia

Chanh ta vỏ mỏng, tiếng Anh gọi là Lime- tên khoa học Citrus Latifolia. Còn gọi là Persian hoặc Shiraz Limoo , Tahiti lime hoặc Bearss lime.  The Persian lime, chanh Trung đông là giống lai giữa key lime (Citrus aurantiifolia) với lemon (Citrus limon) hay citron (Citrus medica).

Chanh không hạt-ít gai là giống chanh được nhập vào Việt Nam trong thời gian gần đây, rất được ưa chuộng, do dễ trồng, cho năng suất cao. Có thân và quả gần giống chanh giấy truyền thống (chanh vỏ mỏng) của Việt Nam, khi cành ở giai đoạn trưởng thành thì các gai bị thoái hoá, cây cho sai quả, một chùm cho 7-8 quả. Năng suất rất cao từ 150-200kg quả/cây/năm, quả to, tròn, cơm màu trắng xanh, không hạt, nhiều nước, chua, thơm

Chanh Kaffir lime

Chanh Kafir Lime

Hình 38: Chanh Kafir Lime

Kafir Lime Citrus hystrix, tên Anh kaffir lime, là giống chanh bản địa (native) của bán đảo Đông Dương (IndoChina), cũng tìm thấy ở  xứ nhiệt đới như India, Nepal, Philippines, Bangladesh, Indonesia,Malaysia và Thái Lan. Da chanh sần sùi không láng, lá xanh đậm, láng, cơm thơm nhưng ít nước, lá và trái được dùng nấu ăn.

 

Chanh lai giống Úc

Úc có 6 giống Citrus bản địa (native), nhưng giống Chanh ngón tay được biết và trồng nhiều nhất. Được tìm thấy trong rừng nhiệt đới ở những dảy núi giữa tiểu bang Queensland và Bắc New South Wales, đây là loại cây thân bụi, có gai, cao không quá 6m, trái có hình dạng ngón tay dài đến 12cm, da màu xanh, lá cây xanh có chút vàng. Cơm chanh gồm bởi những túi nhỏ mọng nước (vesicles) vị chua. Cơm được dùng trong công nghệ làm nước xốt (sauces), mức (jam), thạch (jellies)

http://www.dpi.nsw.gov.au/__data/assets/pdf_file/0016/320272/growing-australian-native-finger-limes.pdf

Chanh Ngón Tay

Hình 39:  Chanh Ngón Tay-Finger Limes

Loại Chanh ngón tay đỏ là một giống lai tự nhiên, cấu trúc bên trong trái cũng giống như giống chanh vỏ màu xanh vàng nhưng cơm có màu đỏ hồng, tên khoa học là Citrus australasica var sanguina

Chanh ngón tay đỏ

Hình 40:  Chanh ngón tay đỏ-Citrus australasica var. sanguinea (the red finger lime)

Chanh Đỏ

Hình 41: Chanh đỏ

Chanh đỏ là giống lai giữa giống chanh ngón tay đỏ với giống chanh Rangpur (Rangpur lime *) tên khoa học là Citrus Limonia. Trái màu đỏ đến đỏ thẫm. Tàn cây bụi thấp đến 2-3m, lá bầu dục, láng màu xanh đậm khoảng 25-25mm và rộng khoảng 15mm, nách lá (axils) có kim cứng và nhọn gây khó khăn lúc hái. Trái chanh hình bầu dục , da màu vàng (gold) với đốm đỏ, đến đậm đỏ, kích thước khoảng 30-50mm chiều dài và 20-30mm chiều rộng, có thể thay đổi tùy muà và nơi trồng cũng như thòi gian thu họach. Hạt chanh nhỏ, nước chanh chua.

*Rangpur Lime loại chanh vỏ mỏng, giống lai giữa chanh Tây (lemon) và quýt (mandarin) , thịt thơm và cho nhiều nước, hơi chát, còn gọi là chanh Quảng Đông.

 

 Tắc, Hạnh

Quất ở Đông Nam Bộ Việt Nam gọi là tắc, Tây Nam Bộ là hạnh, tên khoa học là Citrus japonica ‘Japonica’; là một giống kim quất, và là giống hay được trồng nhất trong các giống kim quất.

Quất là loài cây xanh cũng thường trồng làm cảnh trong sân hay trong nhà. Cây quất ra đầy trái hay được trưng bày vào dịp Tết vì được xem là biểu tượng của may mắn.

Quất có nguồn từ Châu Á, Trung Quốc và Nhật được xếp vào chi họ Cam Quýt (Citrus) cho đến năm 1915 thì được xếp vào chi họ Fotunella theo sự nghiên cứu của Dr Walter T Swingle. Tên Fortunella (đặc theo tên nhà khoa học người Anh Robert Fortune) đã đem giống này về Âu Châu 1846. Có 4 loài tắc (kumquat), the Hong Kong Wild (Fortunella hindsii), Marumi loài tắc được trồng nhiều ở VN trái vàng tròn (Fortunella japonica), Meiwa (Fortunella crassifolia), and Nagami- trái vàng bầu dục vị thơm hơn Marumi (Fortunella margarita). Loài thông dụng nhất được trồng nhiều nơi là ‘Nagami’ and the ‘Meiwa’. Tắc có thể ăn luôn cả trái nhưng chua, ăn vỏ có vị ngọt.

Cây Tắc, thân dẽo, nhỏ cao độ khoảng 1-2m, màu xanh xám, nhiều cành nhánh, lá đơn hình bầu dục, cuốn có cánh rất nhỏ, lá màu xanh thẫm, hoặc có viền trắng như Nagami. Hoa thường đơn độc, nở xòe 5 cánh trắng, rất thơm, chùm nhụy rất ngắn. Đậu thành trái hình cầu hoặc bầu dục (oval như loài Nagami), lúc còn non màu xanh bóng, khi già chín đổi thành màu vàng cam, rất đẹp. Bên trong ruột có nhiều múi màu vàng nhạt, chứa nhiều nước chua gắt , nên thường dùng để làm nước uống với đường rất đã khát hoặc làm mứt (marmalade) để ăn…

Tắc Cây

Hình 42: Tắc (Quất, KumQuat, Kim Quat)

 

Tắc Nagami

Hình 43: Tắc Nagami Citrus japonica ‘Margarita’

Tăc Murami

Hình 44: Tắc Murami Citrus Japonica or Fortunella japonica

Tangelo (Citrus tangelo) là giống lai từ Quýt Tangerine (Citrus Tangerina) với giống bưởi chùm grapefruit (Citrus Paradisi).

Trái dể lột vỏ hơn cam, nhiều nước có mùi vị giống tangerine, đặc điểm có núm (nipple) nơi trái dính vào cành.

Tangelos
Hình 45: Tangelos

Minneolas cũng là giống lai giữa tangerine và grapefruit , tựa như tangelos dể nhận ra vì cũng có mủi nhỏ trên đầu trái

 Minneolas

Hình 46: Minneolas

Lai giống ở Florida ,trái hơi to hơn quýt có vị ngọt cuả quýt pha lẩn với vị chua chát cuả bưởi chùm (grapefruit), Đường kính trung bình 7-8cm, vỏ dể  lột như quýt hay tangerine, it hột.

Trái thanh trà

Bouea macrophylla (Bouea macrophylla Griff) loại trái có nguồn gốc ở Vietnam Đông Nam Á., thuộc họ Anacardiaceae lien hệ với giống Xoài (mango).

Thanh trà Vỉnh Long

Hình 47 : Trái thanh trà Vỉnh Long

Thanh Trà

Hình 48: Thanh Trà

Nếu có dịp về miền Tây vào mùa này, khi ngang qua xã Đông Thành (thị xã Bình Minh, Vĩnh Long), du khách sẽ ngỡ ngàng khi nhìn thấy nhiều khu vườn trái thanh trà chín vàng rực rỡ dưới nắng hè.

Cây thanh trà trông giống như cây xoài, trái tương tự quả chanh, vỏ màu xanh, chín có màu vàng cam bóng láng, cơm mềm vị chua, ngọt rất hấp dẫn mọi người – nhất là trẻ con. Trái chín vào khoảng tháng giêng đến cuối tháng 3 âm lịch.

Thanh trà có 2 loại: thanh trà chua và ngọt (thanh trà chua trái tròn, vỏ mỏng, chín có màu vàng sậm, dễ giập; còn thanh trà ngọt trái dài, vỏ dày, cứng, có lớp phấn trắng phủ bên ngoài, trái chín có màu vàng nhạt).

Có nhiều cách thưởng thức hương vị của thanh trà: ăn chín, làm mứt và làm gia vị trong việc chế biến các món ăn (nấu canh chua, kho).

Cách thông thường mà giới ưa chuộng ăn thanh trà chín chấm muối ớt.  Vị chua, ngọt, thơm của thanh trà; vị mặn, cay của muối ớt và những cái “hít hà” vì cay nồng lên tận mũi, thật thú vị!

Riêng những người lớn tuổi, thư thả hơn khi về nhà, có cách thưởng thức như: thanh trà chín cho vào rổ rửa sạch. Dùng dao bén gọt bỏ vỏ, cho vào ly (khoảng 2 trái) cùng vài muỗng đường cát, một tí muối bọt (cho có hương vị đậm đà). Lấy muỗng cà phê dầm cho cơm thanh trà nhừ ra với đường. Cho thêm tí nước vào khuấy hòa tan. Cuối cùng, bỏ vài viên đá vào là ta có được món thanh trà dầm đá giải nhiệt tuyệt hảo!

Cũng còn có cách chế biến khác nữa là làm mứt tuy hơi nhọc công một chút. Chọn mua vài ký thanh trà chua, chín (nhớ lựa những trái cứng thịt, màu sáng, không giập) về nhà rửa sạch, gọt vỏ, xắt thành từng miếng như miếng xoài, bỏ hạt.

( http://dacsanmientay.vn/am-thuc-mien-tay/am-thuc-vinh-long/qua-thanh-tra/)

Chanh Dây-Passion Fruit-Passiflora Edulis

 Chanh Dây

Chanh dây là loài dây leo giàn tên khoa học là Passiflora Edulis thuộc chi họ Passiflora, họ Passifloraceae, không phải là loài chanh tuy vị có chua.

Có nguồn gốc ở Nam Mỹ, được trồng vùng nhiệt đới và bán nhiệt đới, Úc , Mỹ, Trung, Nam Mỹ, vùng West Indies, Phi Châu, Hawaii.

Trái xanh trở thành vàng hoặc tím tùy chủng loại, trong có nhiều hạt, vị chua. Ở VN gọi là chanh dây , dùng để giải khát như uống chanh đường. Trên thế giới Passionfruit được pha chế làm nước ngọt (soft drink), nước trái cây (fruit juice) hoặc trong kem hay làm bánh để làm tăng hương vị thơm.

 

Mai Trầnn-Y Nguyên- Hè 2015

 

Tham Khảo:

1-http://buoidaxanh.vn/

2-http://kimanhl.blogspot.com.au/2014/09/trai-buoi-va-dung-no-buoi-o-t-en-khoa-h.html

3- https://dokmaidogma.wordpress.com/2012/08/25/a-tasty-hardy-and-ornamental-calamondin-orange/ pure and crossed species

4- http://www.diggers.com.au/shop/product/WPLRL/RANGPUR%20LIME.aspx

5- http://dacsanmientay.vn/am-thuc-mien-tay/am-thuc-vinh-long/qua-thanh-tra/

6- http://www.dpi.nsw.gov.au/__data/assets/pdf_file/0016/320272/growing-australian-native-finger-limes.pdf

7- http://www.3tvietnam.vn/vn/tin-san-pham/nhung-tac-dung-cua-vo-cam-quyt.html

 

 

 

 


Kể chuyện kinh cầu xưa vùng Sài Gòn Chợ Lớn trước 1975 (P2)

Kể lại chuyện kinh cầu xưa vùng Sài Gòn Chợ Lớn trước 1975 (P2).

Phần 2

Y Nguyên Mai Trần

Xem Phấn I

3- Cầu trên rạch phiá Nam-rạch Bến Nghé, Kinh Bải Sậy, Kinh Đôi, Kinh Tẽ

Sông Sài Gòn (Bến Nghé) chạy qua  quận 1 thành phố Sài Gòn quẹo sang trái biến thành rạch Bến Nghé. Sau đó vì lý do kinh tế vận chuyển thương mại , kinh Tẽ lại được đào thêm năm 1905.

Rạch Bến Nghé, còn gọi là kinh Chợ Lớn, thời nhà Nguyễn còn gọi là sông Bình Dương. Thời Pháp thuộc, người Pháp gọi là Arroyo Chinois  (Kinh Người Tàu). Tưởng cũng nên biết rằng người Tàu từ miền Cù lao Phố chạy về đây lập nghiệp, xây dựng cơ nghiệp dọc hai bờ rạch, ghe thuyền tấp nập thu hút dân thương hồ miền Tây, tứ xứ, tụ hợp về đây kể cả người ngoại quốc, họ gọi vùng này là Đề Ngạn, người Việt gọi là kinh Tàu Hủ.

Rạch Bến Nghé chạy dài từ Bến Nhà Rồng-Cột cờ Thủ ngữ đến kinh Lò Gốm, đường nước thiên nhiên. Hợp lưu dọc theo rạch Bến Nghé có những hệ thống kinh tự nhiên, mà hai rạch quan trọng là rạch Ông Lớn và rạch ông Nhỏ và rạch Xóm Củi.

Rạch Bến Nghé chảy về phiá Tây thì gặp Rạch Lò Gốm hợp lưu để chảy về phía Nam ra Rạch Cát, nhưng đoạn này thường cạn nước, ứ động gây trở ngại cho việc thương thuyền. Nhận được tầm quan trọng trong việc vận chuyển thương thuyền, năm 1772  Chúa Nguyễn ra lệnh cho ông Nguyễn Cửu Đàm đào lại đoạn này từ nơi giáp nước cuả rạch Bến Nghé và rạch Lò Gốm chảy từ phiá Tây ( Phú Thọ, Phú Lâm xuống) .  Kinh được đào thẳng tắp về phía Nam nối Sa giang (rạch Cát), ông đặt tên cho kinh này là Ruột Ngựa (Mã trường Giang ). Năm 1819,  kinh Bến Nghé  từ chổ giáp nước với rạch Ông Nhỏ ( Tiểu Phong Giang)- khúc nhà thương Chợ Quán-Bịnh viện Nhiệt đới ngày nay đến kinh Ruột Ngựa vì “chảy quanh co mà nhỏ hẹp,khuất khúc, nước cạn” nên Gia Long ra lệnh cho Huỳnh Công lý , phó tổng trấn thành Gia Định , đào lại khúc này và được  Vua Gia Long đặt tên là An thông hà  ( sông An thông) (Trịnh Hoài Đức (Gia định thành Thông Chí , viết vào khoảng 1820-1822)),

Đường nước kinh rạch Bến Nghé –An Thông-rạch Lò Gốm chảy xuống kinh Ruột Ngựa rồi hợp lưu tiếp giáp  với các đường nước chảy về phiá Tây (về miền Tây) và miền Đông (Biên Hoà và miền Trung , Bắc  ) là cửa ngỏ quan trọng của thương thuyền vào Bến Nghé Sàigòn Chợ Lớn.

Kinh Ruôt Ngựa trở thành kinh trọng yếu để vào trung tâm thương mại Sài gòn (khi người Pháp vào thì họ gọi là Chợ Lớn (Sài Gòn (cũ) lúc mới khai, sau lập lại khu vực mới quanh thành Phụng lấy tên Sàigòn (mới).  Để giảm thiểu áp lực lưu lượng vận chuyển thương mại cho kinh Ruôt Ngưa cũng như rạch Bến Nghé, kinh Tẽ được đào năm 1905-1906 xuống đến cầu chử Y. Đoạn từ cầu chử Y xuống rạch Lò Gốm được đào song song với rạch với Rạch Bến Nghé (kinh Tàu Hủ) người Pháp gọi là Canal Doublement, người Việt, Kinh Đôi.

Về phiá khu trung tâm Chợ Lớn (Sài Gòn xưa) , vây quanh bởi đường Nguyễn Tri Phương về phiá Đông; rạch Bến Nghé-Tàu Hủ phía Nam; đường Hùng Vương phiá Bắc và Dương Công Trừng (Nguyễn Thị Nhỏ)  phiá Tây. Vùng này có kinh Bải Sậy, rạch Chợ Lớn (không nên nhầm với Rạch Bến Nghé (kinh Tàu Hủ, Arroyo Chinois) và Kinh Phố Xếp,ba kinh rạch này đều là phụ lưu của Rạch Bến Nghé , Kinh Bải Sậy và Rạch Chợ Lớn chảy về phía Tây, trong khi kinh  Phố Xếp về phiá Bắc.

Hình 29

Hình 29: Bản Đồ 1874 chưa có kinh Tẽ

Tham khảo bản đồ này vẫn còn thấy rạch Chợ Lớn chưa bị lấp (nằm ngay vị trí đường Hải Thượng Lãn Ông ngày nay), và kinh Phố Xếp đào  chạy thẳng hướng Bắc vê phiá Chợ Rẩy –nơi người Tàu trồng rau cải cung cấp cho thành phố-là khu vực nhà thương Chợ Rẩy ngày nay. Tên Phố Xếp do kinh chạy trước nhà ông Đốc Phủ Chợ Lớn (theo Trương Vĩnh Ký) . Đường Cây Mai (Nguyễn Trải) có một cầu bắc ngang Kinh Phố xếp gọi là Cầu Phố (theo TVK). Kinh Phố Xếp bị lấp trở thành “đường Phố Xếp, trước  1975 là  đường Tổng Đốc Phương, bây giờ là Châu Văn Liêm-Thuận Kiều.  Đường Vạn Kiếp khi này vẫn còn là một đoạn kinh đào thẳng nối vào kênh Tàu Hủ. Bản đồ 1874 này cho biết rõ vị trí đầu tiên của khu vực chợ Nhà Lồng (còn được gọi là Chợ Củ, Trung tâm – Marché Central), tức khu vực Bưu Điện quận 5 ngày nay, với những khu vực tô đậm hình tam giác. (Xem bản đồ phía trên).

Cầu bắt ngang rạch Bến Nghé (kinh Tàu Hủ-Arroyo Chinois).

Từ sông Sàigòn thuyền qua cột cờ Thủ Ngữ -do người Pháp xây dựng, rẻ phải  vào Kinh Bến Nghé , người Pháp đạt tên là Arroyo Chinois, người Việt gọi là kinh Tàu Hủ- Theo học giả Trương Vĩnh Ký (viết năm 1885) và Huỳnh Tịnh Của (viết cuối thế kỷ 19) thì đoạn phố dọc  hai bên rạch Chợ Lớn  ( Bến Nghé) được gọi là Tàu Khậu, đó là cách người Triều Châu phát âm từ “thổ khố” (khu nhà gạch), sau trại âm thành Tàu Hủ.

Người Pháp gọi là Arroyo Chinois để phản ảnh  hệ thống sông rạch nơi đây có đông đảo người Tàu buôn bán, ghe thuyền tấp nập đến từ muôn phương  trao đổi hàng hóa, người Tàu đóng một vai trò kinh tế quan trọng qua hệ thống giao dịch , tổ hợp thương mại và  tài chính trong khu vực với người Trung Hoa (từ Quảng Đông, triều Châu, Phúc Kiến…), người Âu Châu, Nhật, Thái, Ấn…Những sản phẩm thương mại chất đầy ở kho, vựa dọc hai bên kinh rạch như gạo, muối, cá khô, đường, tiêu…cũng như hàng hoá đã chế biến từ Trung Hoa, Ấn Độ , Tân Gia Ba (Singapore) …

Thuyền qua khỏi nhà Rồng và cột cờ Thủ Ngử  rẻ phải vào Kinh Bến Nghé (kinh Tàu Hủ, Arroyo Chinois, sông Bình Dương)  phải đi qua một chiếc cầu Quay, bắc ngang kinh đi qua bến Nhà Rồng và Khánh Hội.  Hình kế tiếp cho thấy cầu quay khúc giữa cho tàu buôn qua lại. Cầu được xây năm 1904 nhưng không biết hết quay nằm nào.

Hình 30

Hình 30 Hình Cầu Quay Khánh Hội

Hình 31

Hình 31: Không ảnh Cầu Khánh Hội và cầu Mống 1955 by Raymond Cauchetier

Hình 32

Hình 32:Cầu Khánh Hội khi còn đường xe lửa năm 1948 không còn khả năng quay nữa (hình Jack Birns)

Cầu Mống

Cầu Mống từ Bến Chương Dương qua Bến Vân Đồn đi Vĩnh Hội.

Hình 33

Hình 33:  Xe kiếng chạy trên cầu Mống

Hình 34

Hình 34: Ghe thuyền neo đậu bến Chương Dương cạnh cầu Mống.

Cầu Mống (Arc en Ciel) nối liền Bến Chương Dương với bến Vân Đồn. Toà nhà lớn nằm phía bến Chương Dương được dùng làm Thượng Viện của VNCH.

Cầu nầy do công ty vận chuyển hàng hải Pháp Messageries maritimes bỏ vốn mướn công ty xây dựng Levallois Perret (tức Eiffel cũ) xây cất – có thể là trong cùng một giai đoạn với việc xây cất Cầu Quay Khánh Hội – do đó người Pháp cũng gọi cầu nầy là cầu “Công ty Messageries Maritimes”    Hai khung đường xe chạy, một để đi lên cầu sang Vĩnh Hội và một để từ cầu phía Bến Vân Đồn/ Vĩnh Hội  đi qua để xuống bến Chương Dương  . Trước 30 tháng 04 năm 1975, bờ kinh Tàu Hủ ở dưới gầm cầu Mống phía bến Chương Dương là hai khuôn viên ấm cúng, thơ mộng cho những cặp tình nhân trẻ, ngày cũng như đêm.

Hình 35

Hình 35:  Công viên trước tòa nhà Hội Nghị Diên Hồng

Hình 36

Hình 36: Hội trường Diên Hồng (hình chụp lúc tổ chức Hội Nghị Colombo Plan)

Hội trường Diên Hồng sau là Thượng Viện thời VNCH nằm góc đường Công Lý và Bến Chương Dương. Đi dọc Bến Chưong Dưong về gần về hướng cầu Mống băng qua đường Pasteur thì có toà nhà đồ sộ Ngân Hàng Quốc Gia Việt Nam trước 1975.

Hinh 37

Hình 37: Banque L’Indochine sau 1954 thành Ngân Hàng Quốc Gia Việt Nam

 Trước 30 tháng 04 năm 1975, trụ sở Ngân Hàng Quốc Gia cũng là trụ sở của Viện Hối Đoái của chính phủ Việt Nam Cộng Hoà ở góc đường Pasteur và Bến Chương Dương.

Cầu Calmette

Cầu bằng bê tông cốt sắt đã được xây cất xuyên ngang kinh Tàu Hủ trong khoảng cuối thập niên 1950 hoặc đầu thập niên 1960 (có thể là cùng với một thời điểm xây cất cầu Khánh Hội bê tông cốt sắt cố định để thay thế chiếc cầu Quây Khánh Hội ngày xưa). Chân cầu phiá bến Chương Dương là nơi bán đồ củ, còn phiá bên kia Vĩnh Hội, gần cầu thì có nhà máy sản xuất thuốc lá Bastos, một trong những thương hiệu nổi tiếng trước thập niên 70.

hinh 38

Hình 38: Cầu Calmette

Cầu Ông Lãnh 
Cầu Ông Lãnh ngày xưa (1867-1893) không phải là chiếc cầu Ông Lãnh bằng xi măng ở cuối đại lộ Kitchener (Nguyễn Văn Học) bắt ngang qua kinh Tàu Hủ. Ngày xưa, một nhánh nhỏ của kinh Tàu Hủ (vẽ màu xanh trên bản đồ 1893) lấn chiếm sâu vào một phần đại lộ có tên là Boulevard de l’ Abattoir (đại lộ Lò Heo) và chạy xuyên ngang qua xóm Lò Heo (vì xóm nầy có một lò heo/Abattoir). Nhánh rạch nhỏ nầy người bản xứ Nam Kỳ ở Gia Định thuở trước gọi là Rạch Cầu Ông Lãnh vì trên rạch đó có một cái cầu gỗ do một ông Lãnh binh của triều đình An Nam bỏ tiền riêng ra và tốn công xây dựng.

Trên bản đồ Sài Gòn 1867 (Plan de la Ville de SAIGON en 1867) đã thấy có sự ghi chép rõ ràng 3 chữ Cầu Ông Lãnh (đánh dấu trong khung màu đỏ). Về sau, rạch Cầu Ông Lãnh bị lấp mất đi khi đại lộ Kitchener hình thành vào năm 1907 sau thế đại lộ Abattoir và  xóm Lò Heo trở thành một phần của xóm Cầu Muối sau nầy (gồm có chợ rau quả, rạp hát và đình Cầu Muối).

Chiếc Cầu Ông Lãnh nguyên thủy bằng cây đã biến mất từ dạo ấy. Chiếc cầu xi măng hình 2 chữ L ghép đối nghịch (giống như hìmh chữ Z ?) ở đầu đại lộ Kitchener (Nguyễn Thái Học) bắt ngang qua con kinh Tàu Hủ tồn tại cho đến những năm tháng gần đây cũng được dân Nam Kỳ Sài Gòn-Chợ Lớn gọi là Cầu Ông Lãnh nhưng bây giờ thì chiếc cầu hình chữ L nầy cũng đã bị phá hủy.

Cũng từ các chi tiết trên hai bản đồ thành phố Sài Gòn nầy mà chúng ta có thể suy định một cách khá vững chắc rằng Cầu Mống Khánh Hội là chiếc cầu lớn đầu tiên được phóng ngang qua Kinh Tàu Hủ ít ra là kể từ năm 1893. http://dactrung.net/dtphorum/m485653-print.aspx

Hinh 39

Hình 39: Vị trí sông, cầu Ông Lảnh

Hinh 40

Hình 40: Cầu ông Lãnh 1955 by Raymond Cauchetier

Hinh 41

Hình 41: Cầu ông Lảnh thập niên 50

Cầu Ông Lãnh là khu thương mại nhôn nhịp nhất vì có nhiều vựa bán sĩ, rau quả từ miền Đông đưa về (Biên Hoà, Thủ Dầu Một, Đà Lạt..) trái cây gạo, cau từ miền Tây, Hóc Môn Bà Điểm đưa lên, ghe đổ xuống kho vựa , ghe đi lấy hàng, chợ đầy khách thương buôn, người bỏ mối,  kẻ mua sỉ về bán lại ở các chợ trong khu vực Saigon Chợ Lớn Gia Định, ngay cả nơi xa như Cần Thơ (vải vóc, thuôc vấn, thuốc lá , cau, nước ngot, rượu…)

Khi xưa cầu Ông Lảnh bắt ngang rạch Ông Lảnh nối liền Bến Chương Dương vói bến Vân Đồn, gần đầu kinh Tàu Hủ (cùng phía bên bến Chương Dương). Nơi đây là vị trí cuả chợ Cầu Ông Lảnh với hoạt đông kinh doanh ở hai bên đầu cầu (tuy chợ chính nằm về đầu phía Đông xem hình 40).

Gần dọc rạch Ông Lảnh từ chợ Ông Lảnh đi về phía Cầu Quan có chợ Cầu Muối. Gần chợ Cầu Muối có cầu Muối để vận chuyễn muối từ ghe đến các vựa muối dọc theo rạch. Cầu Muối cò lẽ bị dẹp bỏ khi rạch Cầu Ông Lảnh bị lấp thành đường Kitchener (đường lò Heo, sau đó Nguyễn Thái Học) .

Cầu Kho-Cầu Muối

Dựa theo không ảnh tìm thấy được (hình 42),rạch Cầu Kho chảy ra rạch Bến Nghé (Tàu Hủ) sau bị lấp thời Pháp trở thành đường Blancsubé de Cầu Kho,  trở thành đường  Huỳnh Quang Tiên (1955) , sau 75 thành đường Hồ Hảo Hớn.

Có tài liệu cho rằng rạch Cầu kho đã bị lấp thành đường Phát Diệm, sau 1975 đổi là Trần Đình Xu. Sự nhầm lẩn có thể vì nguyên do người địa phương cứ gọi là đường Cầu Kho.

“Đường Phát-Diệm, tên cũ cũng là tên Việt, đường Nguyễn-Tấn-Nghiệm, vậy mà thiên-hạ cứ gọi là đường Cầu Kho.” Theo Bình Nguyên Lộc http://www.binhnguyenloc.de/pages/TruyenNgan/ThoiThe/DiaDanhCu/ThoiThe-DiaDanhCu.htm

hinh 42

Hình 42: Rạch Cầu Kho chảy ra kinh Tàu Hủ, cầu Kho bắc ngang rạch trên đường Bến Chương Dương 1955.

Hinh 43

Hình 43: Không ảnh Cầu Kho 1955

Cầu Muối

Cầu Muối theo Vương Hồng Sển là nơi bến neo thương thuyền đi biển từ  Trung chở muối đổi chác với Sàigòn, hiện chợ cầu Muối vẩn ở vị trí cũ góc phía Bắc đường Cô Giang và Nguyễn Thái Học, nhưng hoạt đông thương mại đã được dời đi nơi khác.

Đối diện với chợ Cầu Muối gần đấy có đình Cầu Muối Nhơn Hoà.

 

Cầu Chử Y

Cầu chữ Y được khởi công xây dựng từ cuối năm 1938, tới cuối tháng 8 năm 1941 thì hoàn thành; do công ty Công xưởng và Công trình công chính của Pháp đảm nhiệm thực hiện (Sơn Nam). http://www.nguoi-viet.com/absolutenm2/templates/viewarticlesNVO.aspx?articleid=148853&zoneid=310#.UkkXBtKGooM

  

Hinh 44

Hình 44: Cầu chử Y bắt ngang kinh Tàu Hủ và Kinh Đôi

Người Sàigòn hay nói qua cầu chử Y là qua miệt Bình Xuyên và lò heo Chánh Hưng, nói là lò heo nhưng làm cả thịt bò, thị ngựa cung cấp cho cả thành phố. Vùng Chánh Hưng nằm giữa các nhánh kinh rạch, phía bắc có cầu chữ Y đi về thành phố trên đường Nguyễn Biểu, phía nam có cầu Xóm Củi Hiệp Ân, chạy thẳng cầu Hiệp Ân dọc theo bến nguyễn Duy sẽ gặp cầu Nhị Thiên Đường thuộc vùng Chợ Lớn. Từ  Saigon đi qua cầu, dưới chân cầu chữ Y nhánh phải là đường Hưng Phú, lò Heo Chánh Hưng nằm trên đường nầy có cửa chánh nằm trên bến Ba Đình ( nay Lê Quang Kim)  và một bên hông là đường Nguyễn Duy. Đường Hưng Phú chạy dài thẳng xuống có đường Chánh Hưng cắt ngang để gặp Bến Ba Đình, từ Bến Ba Đình có những con đò nhỏ sang sông để qua chợ Hòa Bình.  Xưa là vùng đất ruộng, thời VNCH xáng thổi lấy bùn lấp đất biến thành khu nhà ở dân. Nhánh bên trái của cầu là kinh Đôi chảy dài vô Bình An, tiếp ra huyện Bình Chánh, sau đó nhập với kinh Tàu Hủ đổ vào sông Vàm Cỏ ở cầu Bình Điền.

Cầu chử Y còn là “chứng nhân” của lịch sữ thương đau cận đại.

Đối với cư dân SG-CL trước 1954 bên kia cầu chử Y là vùng Bình Xuyên -Bảy Viển-một thời được coi là lảnh chúa kiểm soát nhửng sòng bạc ở Chợ Lớn, có lực lượng trang bị vũ khí, có giai đọạn Bảy Viển được Pháp bổ nhiệm làm  Giám Đôc Công An xung phong trước 1954.

Sau khi Thủ tướng Ngô Đình Diệm về chấp chánh 1954, Thủ tướng Diệm quyết định cải tổ và thành lập quân đội Quốc gia, ông ra lệnh tiêu diệt lực lượng vũ trang của các giáo phái như Cao Đài, Hoà Hảo và lực lượng Bình Xuyên.

Năm 1955, nhiều cuộc giao tranh ác liệt giữa lực lượng Bình Xuyên đóng quân gần cầu chử Y (tổng hành dinh của quân Bình Xuyên), nhưng chỉ sau đó bốn, năm ngày, quân đội Quốc Gia đã vượt qua được cầu chữ Y, chiếm lãnh hoàn toàn tổng hành dinh của quân Bình Xuyên.

Cầu chữ Y, còn là nơi giao tranh ác liệt mùng 2 Tết Mậu thân  1968 khi Cộng quân đi từ mật khu Rừng Sát tiến chiếm cầu chử  Y để vào sâu trong nội thành….

http://www.nguoi-viet.com/absolutenm2/templates/viewarticlesNVO.aspx?articleid=148853&zoneid=310#.UkkXBtKGooM

 

Vị trí kinh rạch vùng Chợ Lớn

Hinh 45

Hình  45: Bản đồ vị trí Kinh rạch vùng Chợ Lớn.

Những kinh rạch này đã bị lấp qua nhiều thời kỳ  do tốc độ đô thị hóa và nhu cầu vận chuyển trên đường bộ tăng lên và do dó những cây cầu xưa cũng biến mất theo. Vui lòng tham khảo bản đồ trên với chú thích

Có thể chia hệ thống kinh rạch trong vùng chính:

A) Kinh Tàu Hủ đoạn từ Xóm Chỉ (đường Tản Đà đến Rạch Lò Gốm)

B) Rạch Chợ Lớn (đoạn chảy từ Xóm Chỉ (hình 19) hướng vế Bắc vào Chợ Lớn, Tây đến giáp nước Rạch Chợ Lớn-Rạch Lò Gốm và kinh Vòng Thành (đường Nguyễn Thị Nhỏ ngày nay)

C) Kinh Bải Sậy (kinh Hàng Bàng, Canal Bonard)

D) Kinh Vòng Thành (Bao Ngạn- Canal de Ceinture) được đào năm 1875

A-Rạch Chợ Lớn

Rạch Chợ Lớn  từ kinh Tàu Hủ đi lên trung tâm Chợ Lớn  nối kinh Phố Xếp, sau đó  hướng Tây đến rạch Lò Gốm gần đồn Cây Mai-cạnh kinh  Vòng Thành. Khúc gần Cầu Đường là bến Gaudot  nơi có trụ sở nhà buôn Thông Hiệp của Quách Đàm. Gaudot là tên của một trung úy hải quân Pháp, chỉ huy một nhóm thủy binh đánh đồn Kỳ Hòa ngày 25/2/1861, sau làm phó quản trị thành phố Chợ Lớn và năm 1868 chỉ huy cảng thương mại Sài Gòn. Gaudot mất ở Côn Đảo vì bệnh năm 1872 .

Năm 1955   Rạch Chợ Lớn bị lấp biến thành đường Khổng Tử, nay là đường Hải Thượng Lãn Ông và  Trương Tấn Bửu, nay là Lê Quang Sung.

Kinh Phố Xếp đào năm 1778, cũng bị lấp thành đường Tổng Đốc Phương nay là  Châu văn Liêm.

Sau khi rạch Chợ Lớn bị lấp, tương truyền Quách Đàm rất mê tín, tin phong thủy được thầy bói Tàu nói là nơi trụ sở bến Gaudot là nơi “đầu một con rồng” mà khúc đuôi nằm ở biển cả. Vì thế Quách Đàm không bao giờ đổi trụ sở dù là nhà mướn, đi nơi khác sau khi rất giàu có thành công trên đường làm ăn. Nên khi xảy ra sự việc lấp kinh thành đường thì ông tin rằng cơ sản làm ăn lụn bại vào lúc thời khủng hoảng kinh tế thế giới 1929 là do việc lấp kinh Chợ Lớn này (4). Rạch Chợ Lớn trên khúc Quai de Gaudot là Quai de Fou-kien (bến Phúc Kiến) sau khi lấp đi làm thành đường Trang Tử trước bến xe Chợ Lớn ngày nay. Khu đường Hải Thượng Lãn Ông, Trang Tử và Phùng Hưng là khu mà ngày nay vẫn còn nhiều người Hoa gốc Phúc Kiến cư ngụ. Ở đây, góc đường Hải Thượng Lãn Ông và Phùng Hưng, có miếu Nhị Phủ (chùa ông Bổn) của người Phúc Kiến và kế miếu là trường trung học Trần Bội Cơ (trước gọi là Ecole de Foukien). Trường nằm trong một phần đất của miếu, được xây từ đầu thế kỷ 20 (1907) rất đẹp với kiến trúc Pháp. Gần đấy ở góc đường Hải Thượng Lãn Ông và Đỗ Ngọc Thanh ngày nay có một kênh nhỏ (nay đã bị lấp) gọi là kinh Bến tắm ngựa vì nơi đây các ngựa xe thổ mộ làm chổ nghĩ ngơi và tắm ngựa.

http://baotangnhanhoc.org/vi/bai-nghien-cu-lch-s/979-ch-ln-lch-s-a-ly-kinh-t-va-vn-hoa-phn-1.html

Cầu Đường và cầu Minh Phụng bắc ngang Rạch Chợ Lớn không tìm được hình ảnh xưa.

B-Kinh Tàu Hủ

Vị trí các cầu bắc ngang kinh Tàu Hủ (rạch Bến Nghé)

Hinh 46

Hình 46: Vị trí các cầu vùng Chợ Lớn

Cầu Xóm Chỉ (Hình 46 Chú thích A)

Hinh 47

Hình 47:  Cầu Xóm Chỉ 1909

Hinh 48

Hình 48: Cầu Xóm Chỉ 1968

Vào năm 1859 khi quân Pháp tấn công Sàigòn, tàu chiến Jaccaréo của Pháp đã bỏ neo trên Kênh Tàu Hủ, án ngữ con kênh ngay khoảng đầu đường Tản Đà, tức là ngay vị trí cầu Xóm Chỉ này. Về sau để kỷ niệm sự kiện này, người Pháp đã đặt tên con đường này là đại lộ Jaccaréo, tức là đường Tản Đà ngày nay. Bây giờ nó chỉ còn là một con đường nhỏ, ít người biết đến. Hình trong postcard dưới là đường Jaccareo từ phía kinh Tàu Hủ nhìn vào, có thể người chụp hình đã đứng chụp từ trên đầu cầu Xóm Chỉ. Cuối con đường này là Tòa hành chánh thành phố Chợ Lớn (sau này là khu vực trường Đại học Y Khoa Sài Gòn).

Hinh 49

Hình 48a : Hình chụp đường Jaccaro (Tản Đà) từ đầu cầu Xóm Chĩ

Cầu Chà Và (hình 46 chú thích B)

Hinh 50

Hình 49: Cầu Chà Và 1955

Hinh 50a

Hình 50: Cầu Chà Và

Cầu Chà Và (B) bắc qua kinh Tàu Hủ nối đường thông thương vùng trung t âm Chợ Lớn vớiI  Xóm Củi , rồi qua cầu Nhị Thiên Đường đi Cần Giuộc Bình Chánh. Vùng này xưa có nhiều nguời Ấn sinh hoạt , lập phố bán vải vóc . Người Việt gọi là nguời Chà. Bên phiá bến Binh Đông có rạp hát Phi Long đăc biệt hay chiếu phim Ấn Độ. Rạp này nay là tiệm sách trên đường Lý Thái Tổ (bến Bình Đông).

Cũng nên biết ngườì Việt thời bấy giờ gọi nguời có nước da ngâm đen là người Chà, tuy nhiên , ngoại trừ những loại nguời Chà đến Vietnam  có chủng giống  Java ở  Nam Dưong,  loại nguời Chà mà người Việt Nam sinh hoạt chung đụng là người  Ấn Bombay chuyên về buôn bán vải vóc tơ lụa  ở vùng  thương mại Chợ lớn và loại Chà Chetty làm  nghề cho vay ở vùng Saigon, thường là dân có gốc tịch Anh, Pháp.

Hình 51:  Cầu Malabars và cầu Quới Đước (C)

cầu Quới Đước

 

Cầu lấy tên làng xưa Quới Đước, khu vực nằm dọc hai bờ sông Yunan (Vạn Tượng) ngày nay.

Hinh 51

 

Hinh 52

Hình 52:  Xe điện chạy lên dốc cầu Malabars .

Đi  từ cầu Chà Và xuống rạch Lò Gốm , dọc theo kinh Tàu Hủ hai bên là đường , đường Bến Lê Quang Liêm và đường bến Bình Đông, ghe đủ loại neo ở đây,  bên phiá Lê Quang Liêm có  nhà máy rượu Bình Tây, phiá Bến Bình Đông thì có nhà máy chế biến lông vịt ra mền (còn nhớ mấy ông “cắc chú” rao mua lông  vịt không ?)

Dọc theo hai bến có rất nhiều kho, vựa chứa luá, gạo. Nhà máy rượu nấu rượu dùng trấu thải ra từ nhà máy xây lúa cũng ở dọc theo kinh nên tiện cả đôi bề chỉ có điều ô nhiễm không tránh được – nhung ai để ý đến vấn đề ô nhiểm thời bây giờ?!

Cầu Bình Tây

Cầu đi bộ bắc ngang kinh Tàu Hủ nối qua bến Bình Đông (đường Bình Tây với đương Nguyễn Chế Nghiả) , gần vị trí cuả hảng Bột mì (bến Bình Đông) ngày xưa có tên là Sakybomi ( viết tăt Saigòn kỹ nghệ bột mì) cung cấp cho lò bánh mì và tiệm bánh vùng Saigon ChoLon, bây giờ vẩn còn với tên mới công ty Bột Mì Bình Đông.

Hinh 53

Hình 53: cầu Bình Tây

Hinh 54

Hình 54: Cầu  Bình Tây  với ghe lúa

Cầu bắc ngang  kinh Tàu Hủ  nối đường Bình Tây với bến Bình Đông (đường Nguyễn Chế Nghỉa). Cầu này không còn ở vị trí này nữa.

Từ  cầu Bình Tây đi về phía rạch Lò Gốm có câu chử U (còn gọi là cầu Bột ). Cả hai cầu này gìờ không còn nữa.

Cầu Chử U

Cách công ty Bột Mì một khoảng chừng 200m là vị trí của câu  cầu chử U, bắc ngang kinh Tàu Hủ, cầu sắt  nhưng sàn cầu bằng “ván đóng đinh, gập ghình khó qua”, dành cho người đi bộ và xe hai bánh, được xữ dụng đến sau 75 thì bị phá hủy.

Đi xuống thêm chút nữa là công ty chế biến lông vịt.

Hình 55

Hình 55: Cầu Chử U

Hinh 56

Hình  56: Cầu chử U xưa thập niên 50.

Qua khỏi cầu chử U bên phiá Lê Quang Liêm (sau 75 Trần Văn Kiểu bây giờ là Vỏ Văn Kiệt)  hướng về gần  rạch Lò Gốm có nhà máy rượu Bình Tây sản xuất rượu đế  lớn nhất nước Việt Nam. Công ty được  xây dựng năm 1900 và đưa vào sản xuất năm 1902 dưới sự quản lý độc quyền của tập đòan SFDIC  (Société Francaise des Distilleries de l’Indochine) Pháp.

Từ 09/5/2005 Công ty rượu Bình Tây đã chính thức chuyển thành Công Ty Cổ Phần Rượu Bình Tây- trực thuộc Tổng Công ty Bia – Rượu-NGK Sài Gòn (SABECO).

C- Kinh Bải Sậy-Hàng Bàng-Kinh Bonard

Đường nước nằm song song với cầu Qưới Đước là rạch Bến Nghé, và đường nước chảy qua gầm cầu là kinh Bải Sậy –Hàng Bàng, ngưới Pháp gọi kinh này là Canal  Bonard, có khi là Arroyo Chinois.

Kinh Bải Sậy ở đầu ra rạch Lò Gốm, người điạ phương gọi là Hàng Bàng vì hai bên kinh có trồng dảy cây Bàng (giống như đường Hàng Xanh (đường Bạch Đàng); đường Hàng Keo (Phạm Đăng Lưu), nên cũng gọi là kinh Hàng Bàng. Trước khi hợp lưu với rạch Lò Gốm, có một cầu sằt đi bộ bắc ngang kinh, nguời địa phương gọi là cầu Kinh ?.