Lịch sử Kinh Rạch xưa và nay ở Sàigòn-Chợ Lớn

LỊCH SỬ KINH RẠCH Ở SÀI GÒN – CHỢ LỚN

 

I. KHÁI QUÁT VỀ ĐỊA THẾ SÀI GÒN – CHỢ LỚN

Sài Gòn ban đầu là tên gọi khu đất thuộc Quận 5 hiện nay.Năm 1778, quân Tây Sơn lấy cớ người Hoa trợ giúp cho Nguyễn Ánh nên đã tàn phá cù lao Phố (nay là xã Hiệp Hòa, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai). Những người Hoa còn sống sót rút chạy về vùng này, lập phố thị Đề Ngạn (nghĩa là “bờ đê”). Theo nhiều nhà nghiên cứu thì người Hoa Quảng Đông phát âm “Đề Ngạn” thành “Thầy Ngồn”, lâu ngày đọc trại thành “Sài Gòn”[1]. Đến khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, theo nghị định ngày 3/10/1865 của Thống đốc Nam kỳ, chúng xây dựng nên hai thành phố riêng biệt, cách nhau bởi một số ruộng bưng, ao đầm ở vùng Chợ Quán. Thành phố Sài Gòn có diện tích khoảng 3km2, nằm gọn trong địa phận Quận 1 ngày nay; thành phố Chợ Lớn có diện tích không đầy 1km2, nằm gọn trong Quận 5 ngày nay[2]. Như vậy, đến đây hai tiếng “Sài Gòn” lại được đặt tên cho vùng mà trước đó có tên gọi là Bến Nghé, còn vùng đất Sài Gòn cũ được đổi tên thành Chợ Lớn. Nhưng không bao lâu sao đó thì, do sự mở rộng của hai thành phố nên Sài Gòn và Chợ Lớn đã tiếp giáp với nhau thành một địa bàn, gọi chung là Sài Gòn – Chợ Lớn.

Vùng đất Sài Gòn – Chợ Lớn là đầu mối giao thông thủy bộ giữa miền Đông và miền Tây Nam Bộ. Ưu thế đó đi kèm với điểm bất lợi, vì đó là nơi “phong hồi thủy tụ” nên địa hình trũng thấp, khó có thể chọn làm trung tâm. Bởi thế mà năm 1785, sau khi Nguyễn Huệ kéo quân vào Nam đánh tan hai vạn quân Xiêm và giao cho Nguyễn Trấn ở lại giữ đất Gia Định, thì ông liền chọn địa điểm cầu Sơn (nay là Phường 25 và 26, quận Bình Thạnh) để đóng binh. “Cầu Sơn nằm trên gò cao, giữa là đồng bằng, dưới có ruộng cạn”[3], thuận lợi cho thế phòng thủ và tiến quân.

Quả thật, Sài Gòn – Chợ Lớn lúc bấy giờ là vùng trũng thấp, sông rạch chằng chịt. Ngay tiếng “Đề” (đê) trong địa danh Đề Ngạn cũng cho biết đây là vùng đất trũng, cho nên người Hoa phải đắp đê (hiểu là dãy đất cao) ven rạch Tàu Hủ để cất phố chợ. Theo Trần Kim Thạch thì khu vực từ rạch Bến Nghé trở xuống hướng Nam , “địa hình xấp xỉ mặt nước biển, đi từ + 0,5m đến +3m, thường bị triều bao phủ gần hết”[4]. Chính vì vậy mà theo Trương Vĩnh Ký thì xung quanh gò Cây Mai hàng năm có “tổ chức các cuộc đua thuyền để tôn vinh đức Phật”[5]. Về phía Sài Gòn (hiểu là khu vực Quận 1 hiện nay) có một con đường dù đã được đắp cao để đi lại nhưng nước vẫn thấm ướt quanh năm, nên gọi là đường Nước Nhỉ[6], nghĩa là luôn có nước nhỉ giọt:

Đường Nước Nhỉ chảy tiu tiu,

Người thương khách lại qua hóng mát.

(Cổ Gia Định phong cảnh vịnh)

Về phía Chợ Lớn, có con rạch mang tên Nước Lên[7], chỉ hiện tượng triều cường dâng lên gây ngập tràn:

Quán Nước Lên dòng dờn dợn,

Khách bộ hành tắm giặt nghỉ ngơi.

(Cổ Gia Định phong cảnh vịnh)

Bởi vậy mà giao thông chủ yếu bằng thuyền, luồn lách theo hệ thống kinh rạch[8] chằng chịt. “Sự đi lại trên rạch khác nào như sợi chỉ của một con thoi qua lại trên máy dệt”[9].

Thế nhưng, khác với quân Tây Sơn, chúa Nguyễn Phúc Tần, ngay từ năm 1679, đã chọn Bến Nghé làm nơi lập đồn binh vì thấy được tính chất là đầu mối giao thông của địa điểm này. Từ đó, theo thời gian, trụ sở hành chính của Gia Định như dinh Điều Khiển[10] (1732), thành Bát Quái, tức thành Quy[11] (1790), thành Phụng[12] (1835) rồi phủ Toàn quyền Đông Dương (1869) đều được đặt ở vùng Bến Nghé, tức Sài Gòn. Tuy nhiên, Bến Nghé chỉ là trung tâm hành chính, còn trung tâm thương mại thực sự thu hút đông đảo dân cư lại là Chợ Lớn.

Như vậy, trong suốt hơn ba trăm năm, Sài Gòn và Chợ Lớn đồng thời là trung tâm của cả Nam Bộ. Chính điều đó, cộng với nền kinh tế tư bản của chế độ thuộc địa khiến cho, hơn ở đâu hết, vùng này đã có những thay đổi lớn lao không ngờ, mà chủ yếu là công cuộc khắc phục địa hình trũng thấp để xây dựng đô thị. Đặc biệt, kể từ khi Pháp xâm chiếm thì tốc độ đô thị hóa của Sài Gòn – Chợ Lớn càng thêm khẩn trương. Trong quá trình đó thì vấn đề giao thông được đặt ra sớm nhất vì đó là điều kiện tiên quyết để phát triển đô thị.

Nhìn lại xuyên suốt quá trình phát triển của Sài Gòn – Chợ Lớn từ khu đầm lầy thành phố thị nguy nga như ngày nay, thật dễ dàng nhận thấy phương thức giao thông của nó chuyển dần từ đường thủy sang đường bộ. Bởi thế mà vấn đề lịch sử kinh rạch ở đây trở thành vấn đề lịch sử phát triển chung của cả thành phố.

 

II. LỊCH SỬ KINH RẠCH Ở SÀI GÒN – CHỢ LỚN

Như đã nói, kinh rạch ở Sài Gòn – Chợ Lớn nhiều vô kể, có những con rạch không có tên hoặc có tên nhưng ít ai biết đến[13]. Do đó, bài viết này chỉ ghi chép lại những thông tin về các kinh rạch được nhiều người biết đến, mà chủ yếu là sự hình thành và tiêu vong của chúng.

 

(Sơ đồ kinh rạch ở Sài Gòn – Chợ Lớn xưa và nay: của Lê Công Lý).

 

1. Kinh rạch ở Chợ Lớn

Trước hết, phải kể đến kinh rạch ở Chợ Lớn, vì vùng này được đào kinh sớm nhất do nằm ở vị trí giao thương với miền Tây.

Năm 1772, đào kinh Ruột Ngựa. Trước đó, từ cửa sông Rạch Cát về đến rạch Lò Gốm chỉ có con rạch nhỏ nước đọng, thuyền bè đi lại không được. Mùa thu năm 1772, Đốc chiến Nguyễn Cửu Đàm (con trai của Chánh thống Nguyễn Cửu Vân) cho đào thành kinh thẳng tắp như ruột ngựa, nên gọi là kinh Ruột Ngựa (chữ Hán gọi Mã Trường Giang)[14]. Kinh Ruột Ngựa nối kinh Tàu Hủ ăn ra sông Rạch Cát, dài gần 3 km. Từ đó, có thể rẽ trái đi Cần Đước, Cần Giuộc; rẽ phải đi Chợ Đệm, Bến Lức. Kinh Ruột Ngựa tuy ngắn nhưng giữ vai trò cực kì quan trọng, là kinh đào đầu tiên nối kinh Tàu Hủ và vùng Chợ Lớn với vùng đất phía tây.

Kế đến là việc đào kinh Phố Xếp[15]. Khi vừa từ cù lao Phố  lánh nạn Tây Sơn về Chợ Lớn (năm 1778), người Hoa có nhu cầu mở thêm phố chợ nên đào thêm kinh Phố Xếp, nối rạch Tàu Hủ cắt ngang rạch Chợ Lớn, lên hướng bắc đến chợ Rẫy (nay là bệnh viện Chợ Rẫy). Chợ này nằm trên gò đất cao, xung quanh đó người Hoa trồng rau cải để bán. Lúc này hoạt động buôn bán ở Chợ Lớn còn rất yếu, chỉ có chợ Rẫy là phát triển, nên Trương Vĩnh Ký khẳng định: “Thực sự, Chợ Lớn xưa nằm trên nền đất Chợ Rẫy bây giờ”[16].

Kinh Phố Xếp giúp vận chuyển rau cải ra rạch Tàu Hủ và đi khắp nơi. Kinh này tồn tại mãi đến năm 1925 mới bị lấp, thành đại lộ Tổng Đốc Phương, nay là đường Châu Văn Liêm ở Quận 5.

Đến năm 1819, kinh Ruột Ngựa đã bị cạn lấp, ghe xuồng đi lại khó khăn nên mùa xuân năm này, Phó tổng trấn Gia Định thành là Huỳnh Công Lý vâng lệnh đốc thúc hơn 10 000 dân phu trong trấn Phiên An[17] đào kinh mới từ đầu rạch Lò Gốm đến cuối rạch Ruột Ngựa, nối kinh Tàu Hủ thông với sông Rạch Cát. Kinh đào xong rộng khoảng 40 mét, sâu khoảng 4 mét, dài khoảng 5 km, được vua Gia Long đặt tên là An Thông Hà. Nhờ đó mà ghe thuyền đi lại được nhanh chóng, dân thương hồ “bơi chèo hát xướng ngày đêm nối nhau, thực là nơi đô hội trên bến dưới thuyền, người ta đều khen là thuận lợi”[18].

Đến khi Pháp chiếm Nam Bộ, tuy làm chủ được tình thế nhưng kẻ xâm lược luôn phải đối phó với nhiều đợt tấn công của nghĩa quân ta từ phía Đồng Tháp Mười. Vì thế nên chúng cho đào kinh Vành Đai (Canal de Ceinture) hình vòng cung bao bọc phía bắc của Sài Gòn – Chợ Lớn, còn gọi là kinh Vòng Thành hay kinh Bao Ngạn (tức “bờ bao”). Kinh này “dài 7 km, rộng 10m, sâu 3m. Đào năm 1875, nối rạch Thị Nghè và rạch Hoa Kiều[19]. Nay[20], không còn tác dụng gì, bị đóng bùn. Rạch Thị Nghè mà nó chảy vào, thuyền bè không đi lại được khi triều rút quá cầu Phú Mỹ[21]. Trong vùng Phú Thọ, lòng kinh bị đắp cao hơn mực nước triều”[22].

Theo dự án, kinh được xuất phát từ ngã ba giữa rạch Chợ Lớn và rạch Lò Gốm đến gò Cây Mai (nay là đường Nguyễn Thị Nhỏ, Quận 11), vòng qua Phú Thọ, đến Hòa Hưng rồi đổ ra rạch Thị Nghè ở vị trí nay là cầu Công Lý. Bờ kinh là đường bộ cho lính canh phòng, dưới kinh là tàu chiến cỡ nhỏ di chuyển. Thế nhưng, do dân phu đấu tranh và nghĩa quân đánh phá liên miên nên công trình dang dở dù đã đào được thành đường kinh, sau đó được lấp dần.

Bước sang đầu thế kỉ XX, nhờ sự giúp đỡ của chính quyền thuộc địa, nền thương mại của Hoa kiều phát triển mạnh, mà chủ yếu là việc thu mua lúa từ miền Tây chở về Chợ Lớn xay thành gạo xuất khẩu. Do đó, kinh Tàu Hủ đã tỏ ra quá tải trước lượng ghe thuyền tấp nập, nên từ năm 1906 đến 1908, Pháp cho đào một con kinh mới từ sông Sài Gòn đi về phía tây, ăn đến sông Rạch Cát, dài khoảng 13 km. Đoạn từ sông Sài Gòn đến Chợ Quán khoảng 4 km có tên tên là kinh Tẽ (vì được xem như là một nhánh tẽ của kinh Bến Nghé), nhưng sau đó bị đọc và viết nhầm là kinh Tẻ; đoạn còn lại có tên là kinh Đôi (Pháp gọi là Canal de Doublement) vì gần như song song với kinh Tàu Hủ.[23] Tuyến kinh mới này nhờ được thi công bằng cơ giới nên vừa rộng vừa thẳng, làm tăng thêm đáng kể khả năng thông thương giữa Sài Gòn – Chợ Lớn với miền Tây.

Hoạt động thương mại ở Chợ Lớn phát triển kéo theo nhu cầu mở rộng đô thị. Chính điều này dẫn đến việc lấp rạch Chợ Lớn. Con rạch này vốn đã có từ lâu đời, đến năm1925 được lấp thành đường giao thông. Đoạn gần rạch Lò Gốm thành đường Trương Tấn Bửu (nay là đường Lê Quang Sung), đoạn giữa vốn là những ụ chuyên đóng mới và sửa chữa tàu thuyền, thành bến xe Chợ Lớn, đoạn giáp với rạch Tàu Hủ thành đường Khổng Tử (nay là đường Hải Thượng Lãn Ông). Năm 1930, trên bờ rạch Chợ Lớn cũ, chợ Bình Tây (tức Chợ Lớn mới) do Quách Đàm (một người Hoa) xây dựng khánh thành, hoạt động mua bán càng thêm sầm uất nên ít ai còn nhớ con rạch này.

 

2.      Kinh rạch ở Sài Gòn

Kinh rạch ở Sài Gòn chỉ được đào lấp kể từ khi Pháp xâm lược nước ta và chọn Sài Gòn làm trung tâm hành chính, mở mang phố chợ. Trước đó, hoạt động mua bán chỉ phát triển ở Chợ Lớn, do người Hoa khuếch trương.

Năm 1860, việc lấp kinh rạch đã gây cuộc tranh cãi lớn trong Hội đồng thành phố, giữa quan điểm đấu tranh cho vệ sinh công cộng coi kinh rạch như các ổ nhiễm khuẩn và quan điểm của nhóm thương nhân coi kinh rạch như huyết mạch để vận chuyển hàng hóa[24]. Chính vì phải điều đình giữa hai quan điểm đó mà việc đào lấp kinh rạch ở Sài Gòn diễn ra khá chậm chạp.

Năm 1862, đô đốc Bonard thực hiện phân lô vùng Bến Nghé thành nhiều khoảnh và bán với giá rẻ để thu hút  dân cư. Năm 1867, kinh Chợ Vải được đào, từ sông Sài Gòn, gần đầu rạch Cầu Sấu (nay là đường Hàm Nghi) ăn vô đến giếng nước cùng tên rồi rẽ phải ở chỗ nay là Nhà hát Thành Phố, ra rạch Thị Nghè bằng kinh Coffin. Trên bờ kinh này có ngôi chợ chuyên bán vải vóc nên có tên là chợ Vải. Năm1911, chợ này được dời về vị trí mới, chỗ vũng ao đầm vừa được lấp lại[25], tức là chợ Bến Thành hôm nay. Năm 1884, kinh được lấp phần ngọn từ vị trí nay là đường Lê Lợi đến đường Mạc Thị Bưởi, phần còn lại được cẩn đá hai bên bờ, cách khoảng có xây bậc thang để vận chuyển hàng hóa lên xuống. Đến năm 1892, đoạn còn lại cũng được lấp thành đường phố, gọi là đường Charner, dân gian gọi là đường Kinh Lấp, nay là đường Nguyễn Huệ.

Kinh Coffin nối rạch Cầu Sấu, kinh Chợ Vải và kinh Cây Cám với nhau, do đại tá Coffin chỉ huy đào, đến năm 1892 cũng bị lấp cùng với hàng loạt kinh rạch nhỏ khác. Kinh Coffin trở thành đường Bonard, nay là đường Lê Lợi. Rạch Cây Cám trở thành đường Espagne (tức Tây Ban Nha), nay là đường Lê Thánh Tôn. Rạch Cầu Sấu trở thành đại lộ De la Somme, sau đổi thành Duperré, nay là đường Hàm Nghi. Rạch Cầu Ông Lãnh trở thành đường Kitchener (1907), sau đó đổi thành Abattoir (lò sát sinh, tức xóm Lò Heo), nay là đường Nguyễn Thái Học. Rạch Cầu Kho được lấp thành đường Cầu Kho, sau đó đổi là đường Phát Diệm, nay là đường Trần Đình Xu.

Ngoài ra, còn hàng loạt kinh rạch khác cũng được lấp dần, tự phát do nhu cầu chỗ ở của người dân, như rạch Cầu Muối, rạch Bà Tiềm, rạch Bà Đô (tức rạch Xóm Chiếu), rạch Cầu Hộc, rạch Xóm Dầu, rạch Bà Tịnh, v.v. Đô thị phát triển đến đâu thì kinh rạch bị lấp đến đó.

Trong khi đó, con sông Sài Gòn lúc này là tuyến vận tải chính nhưng lại quá cong quẹo nên vận chuyển tốn kém nhiều công sức và tiền của. Vì vậy nên nhà cầm quyền Pháp quyết định cho đào kinh Thanh Đa[26], “dài 1 km, rộng 40m, sâu 6m. Đào từ 1897 đến 1898. Kinh này vừa mới được mở ra cho thuyền bè qua lại. Nó cắt vòng thắt từ Bình Lợi đến An Phú và rút ngắn được 12km theo dòng chảy của sông Sài Gòn”[27].

 

3.      Kinh rạch ở phía nam rạch Bến Nghé

Vùng phía nam rạch Bến Nghé cũng có vô số kinh rạch nhưng vì tốc độ đô thị hóa chậm hơn nên mới chỉ bị lấp gần đây. Chẳng hạn, rạch Cầu Chông ở Phường 9, Quận 4 lấp năm1997, thành đường Vĩnh Khánh. Phần ngọn rạch Ụ Cây (phía sau chợ Xóm Củi, Quận 8) được lấp dần vào khoảng cuối thập niên 1990 do những phế phẩm từ hoạt động buôn bán của ngôi chợ này. Rạch Bàng ở Quận 7, bên kia dốc cầu Tân Thuận vốn đã cạn từ lâu, đến năm 2005, khi tiến hành xây dựng cầu Tân Thuận mới, người ta lấp hẳn để làm đường mang cá cho cầu này. Ngoài ra, cùng với việc xây dựng khu đô thị mới Phú Mỹ Hưng ở Quận 7 và đường cao tốc Nam Sài Gòn, hàng loạt kinh rạch khác cũng bị lấp đi để nhường chỗ cho đường giao thông, cống hộp và nhà cao tầng.

Tuy nhiên, đáng chú ý nhất là năm 2005, người ta đã lấp đoạn đầu của rạch Bến Nghé, phần tiếp giáp với sông Sài Gòn để thi công xây dựng đường hầm Thủ Thiêm (hầm ngầm xuyên qua lòng sông Sài Gòn, sang Quạn 2) và đại lộ Đông – Tây dọc theo rạch Bến Nghé, đi về các tỉnh miền Tây. Theo dự án thì sau khi thi công xong đường hầm, sẽ khai thông rạch Bến Nghé trở lại để bảo lưu cảnh quan sông nước vốn có của vùng đất này. Do đó, toàn bộ chiều dài rạch Bến Nghé đã được giải tỏa và đang nạo vét, xây bờ kè để đảm bảo dòng chảy thông thoáng trong tương lai.

*     *     *

Điểm qua lịch sử kinh rạch ở Sài Gòn – Chợ Lớn, có thể thấy kinh rạch chủ yếu bị tác động bởi quá trình đô thị hóa (dù đào hay lấp) mà động lực của nó chính là kinh tế. Ban đầu, khi giao thông trên bộ chưa phát triển thì người ta tận dụng và đào kinh để giao thương. Đến khi phương tiện giao thông trên bộ phát triển thì kinh rạch lại được lấp đi để nhường chỗ cho đường sá và nhà cửa, công trình. Bởi vậy mà phần lớn những con đường xưa ở Sài Gòn – Chợ Lớn hiện nay trước kia chính là kinh rạch. Và đó cũng là khu vực có trình độ đô thị hóa cao, đặc biệt là luôn có chợ lớn, buôn bán tấp nập.

Tuy nhiên, quá trình lấp kinh rạch một mặt giúp cho nền đất thành phố thêm cao ráo nhất thời, một mặt lại tiềm ẩn nguy cơ ngập úng không còn xa mấy. Nguyên nhân là vì các kinh rạch xưa luôn được phân bố theo địa hình tự nhiên và thuận lợi cho dòng chảy; nay bị lấp đi, thay bằng hệ thống cống hộp vừa nhỏ vừa dễ bị tắc nghẽn, khiến nước không thoát kịp ra sông và dẫn đến ngập cục bộ. Mặt khác, do kinh rạch bị lấp quá nhiều nên mỗi khi triều cường dâng lên, dòng nước bị chặn lại nên cũng gây ngập cục bộ. Nạn ngập úng này diễn ra ở hầu hết các quận huyện, kể cả nội thành, với độ sâu từ 0,3 – 1m, nhưng nặng nề nhất là ở Quận 8 và quận Bình Thạnh. Điều này cộng với nạn khai thác nước ngầm trái phép khiến nền đất ở nội thành bị lún đều đặn mỗi năm đến vài cm. Đó chính là sự phản ứng của tự nhiên khi con người đã làm trái với nó. Và cứ theo đà này thì, nếu con người không khai thông dòng chảy, Sài Gòn – Chợ Lớn chắc chắn sẽ quay trở lại diện mạo của mấy trăm năm về trước: một khu đầm lầy.

Để khai thông hệ thống cống ngầm của thành phố thì trước hết phải giải quyết lượng rác thải khổng lồ ứ đọng trong lòng cống. Do là vùng trũng, lại nằm trong chế độ bán nhật triều nên khả năng cuốn trôi rác thải của kinh  rạch ở Sài Gòn – Chợ Lớn là rất thấp. Bởi vì khi nước triều rút đi, rác rến chưa trôi theo được bao nhiêu thì lại bị triều dâng đẩy trở lại vị trí cũ. Chính vì vậy mà ngay từ năm 1862, trong dự án “Sài Gòn – thành phố 500.000 dân”, Coffin (Đại tá Chỉ huy trưởng Công binh Pháp) đã có ý định đào một hồ lớn ở trung tâm thành phố. Từ đây chĩa đi bốn hướng bằng bốn đường cống đến sông Sài Gòn, rạch Bến Nghé, kinh Vành Đai và rạch Thị Nghè. Nhờ các cửa ngăn tự động cho phép nước chảy một chiều, hồ này có thể điều chỉnh cho nước trong mỗi đường cống chỉ chảy theo một hướng, giúp rác thải trôi ra sông[28]. Tuy đó là dự án của thành phố Sài Gòn chỉ với 500.000 dân và cách đây gần 1,5 thế kỉ nhưng chứng tỏ nhà quy hoạch đã nhìn thấy được nguyên nhân số một của hiện tượng ngập úng. Ngày nay, trong điều kiện hiện tại của thành phố thì ý tưởng trên càng nên được quan tâm nghiên cứu có cải tiến vì nó tỏ ra là biện pháp hiệu quả, ít tốn kém và rất khả thi.

Người viết : Lê Công Lý

 

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO VÀ TRÍCH DẪN

1.      Huỳnh Minh. Gia Định xưa, 1973, Nxb Thanh Niên, 2001.

2.      Huỳnh Ngọc Trảng (chủ biên). Sài Gòn Gia Định xưa, tư liệu và hình ảnh, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 1997.

3.      Lê Trung Hoa, Nguyễn Đình Tư. Từ điển địa danh Thành phố Sài Gòn  – Hồ Chí Minh, Nxb Trẻ, 2003.

4.      Nguyễn Liên Phong. Nam Kì phong tục nhơn vật diễn ca, Phát Toán, Sài Gòn, 1909.

5.      Nguyễn Thị Thanh Xuân, Nguyễn Khuê, Trần Khuê. Sài Gòn Gia Định qua thơ văn xưa, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 1987.

6.      Nhiều tác giả. Địa danh ở Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh. Nxb Trẻ, 1993.

7.      Nhiều tác giả. Sài Gòn – Thành phố Hồ Chí Minh, 300 năm địa chính, Sở Văn hoá – Thông tin Thành phố Hồ Chí Minh xb, 1998.

8.      Nhiều tác giả. Sài Gòn 1698 – 1998 kiến trúc, quy hoạch, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 1998.

9.      Nhiều tác giả. Địa chí Quận 5 – Thành phố Hồ Chí Minh, Quận ủy, UBND Quận 5, 2000.

10. Quốc sử quán triều Nguyễn. Đại Nam nhất thống chí, Lục tỉnh Nam Việt, Nha Văn hóa – Bộ Quốc gia Giáo dục xb, Sài Gòn, 1959.

11. Société des Études Indo-chinoises (Hội Nghiên cứu Đông Dương). Monographie de la province de Gia Đinh (Địa phương chí tỉnh Gia Định), Imprimerie L.Ménard, 1902.

12. Sơn Nam . Đất Gia Định xưa, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 1984.

13. Sơn Nam . Bến Nghé xưa, Nxb Văn Nghệ Thành phố Hồ Chí Minh, 1992.

14.  Thạch Phương, Lê Trung Hoa chủ biên. Từ điển Thành phố Sài Gòn – Hồ Chí Minh, Nxb Trẻ, 2001.

15. Thanh Giang. Thành phố chúng ta, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 1980.

16. Tổng lãnh sự Pháp – Viện trao đổi Văn hóa với Pháp – Công ty Air France . Regard sur le monde: Saigon 1882 (Cái nhìn về thế giới: Saigon 1882), 11/2002.

17. Trần Kim Thạch. Địa chất và môi trường Thành phố Hồ Chí Minh, Nxb Trẻ, 1998.

18. Trần Văn Giàu, Trần Bạch Đằng, Nguyễn Công Bình chủ biên, Địa chí Văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh. tập 1, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 1987. tr. 219.

19. Trịnh Hoài Đức. Gia Định thành thông chí, Bản dịch của Viện Sử học, Nxb Giáo Dục, 1998.

20. Trương Vĩnh Ký. Tiểu giáo trình địa lý Nam Kỳ, 1875, Bản dịch của Nguyễn Đình Đầu, Nxb Trẻ, 1997.

21. Trương Vĩnh Ký ghi chép, 1882. Gia Định phong cảnh vịnh, Nxb Trẻ, 1997.

22. Trương Vĩnh Ký. Ký ức lịch sử về Sài Gòn và các vùng phụ cận, 1885, Bản dịch của Nguyễn Đình Đầu, Nxb Trẻ, 1997.

23. Vương Hồng Sển. Sài Gòn năm xưa, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 1997.

(Bài nầy đã đăng trên T/c Xưa&Nay, số 282, tháng 4/2007).


[1] Ngoài ra, còn có nhiều giả thuyết khác về nguồn gốc địa danh Sài Gòn. Xem Địa chí Văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh, tr. 215 – 227.

[2] Thạch Phương, Lê Trung Hoa chủ biên, tr. 35.

[3] Trịnh Hoài Đức, tr.188.

[4] Trần Kim Thạch, tr. 16.

[5]Ký ức lịch sử về Sài Gòn và các vùng phụ cận, tr. 26.

[6] Theo Vương Hồng Sển thì nay là đường Cống Quỳnh. (Sài Gòn năm xưa, tr. 176).

[7] Con rạch này nay vẫn còn, thuộc địa bàn quận Bình Tân và Quận 8, từ phường An Lạc (quận Bình Tân) ăn ra sông Chợ Đệm.

[8] Kinh là đường thủy nhân tạo, rạch là đường thủy thiên tạo nhưng tương đối nhỏ.

[9] Ký ức lịch sử về Sài Gòn và các vùng phụ cận , tr. 21.

[10] Ở khoảng vị trí nay là ngã sáu Sài Gòn (đầu đường Nguyễn Thị Minh Khai) đến đường Cống Quỳnh.

[11] Nằm ở làng Tân Khai xưa, trung tâm ở chỗ nhà thờ Đức Bà hiện nay.

[12] Được xây lại, nhỏ hơn sau khi vua Minh Mạng ra lệnh phá thành Bát Quái. Thành Phụng  đã bị quân Pháp chiếm và san bằng vào ngày 6/3/1859 bằng 32 quả mìn. Nay ở chỗ bệnh viện Nhi Đồng 2, đường Lý Tự Trọng, Quận 1.

[13] Theo nội dung của quyết định số 873/QĐ ngày 29/3/2006 của Sở  Giao thông Công chính Thành phố Hồ Chí Minh về việc phân cấp quản lý sông rạch thì, chỉ riêng Khu Quản lý Giao thông Đô thị số 1 đã phải quản lý 93 tuyến với khoảng 142,62 km sông rạch ở vùng nội thành và vùng ven.

[14] Trịnh Hoài Đức, tr.35.

[15] Tên Phố Xếp có lẽ từ “phố xép” mà ra, chỉ phố nhỏ bên cạnh phố thị Chợ Lớn.

[16]Ký ức lịch sử về Sài Gòn và các vùng phụ cận, tr. 25.

[17] Phiên An là một trong năm trấn của vùng đất phía nam, ngày nay là Thành phố Hồ Chí Minh và một phần các tỉnh Long An, Tây Ninh, Bình Phước.

[18] Trịnh Hoài Đức, tr. 34.

[19] Tức rạch Chợ Lớn – L.C.L.

[20] 1902 – L.C.L.

[21] Chỗ Thảo Cầm Viên – L.C.L.

[22] Monographie de la province de Gia Đinh, tr. 40.

[23]Thạch Phương, Lê Trung Hoachủ biên, tr.325, 380.

[24] Theo Tổng lãnh sự Pháp – Viện trao đổi Văn hóa với Pháp – Công ty Air France . Regard sur le monde: Saigon 1882 (Cái nhìn về thế giới: Saigon 1882), 11/2002, tr.14.

[25] Gọi là ao Bồ Rệt vì nằm trên đường Boresse (viên sĩ quan đứng đầu hạt Sài Gòn, được bổ nhiệm ngày 7/1/1863), nay là đường Yersin.

[26] Nguyên tên là Thạnh Đa, sau bị đọc và viết sai thành Thanh Đa.

[27] Monographie de la province de Gia Đinh, tr. 40.

[28] Dẫn theo Sài Gòn – Thành phố Hồ Chí Minh, 300 năm địa chính, tr. 72.

 

Advertisements

Ấn tượng về Mạc tư khoa-Moscow

                                                                Ấn tượng về Mạc tư khoa-Moscow

Y Nguyên Mai Trần

Moscow-Moskva (phiên âm theo tiếng đọc của người Nga)  dần dần hiện ra qua cửa kính trên chuyến tàu điện cao tốc từ St Petersburg (mất 5 giờ),  khung trời của một thành phố lớn với những kiến trúc lẫn lộn đây đó là những ngôi thánh đướng màu sắc với nóc hình củ hành tây, lóng lánh vàng kề cận với những toà nhà nhiếu tầng của thế kỹ 21. Những tòa nhà xây dựng thời Soviet, đồ sộ nhưng không tao nhã, giống như bánh cưói nhiều tầng màu xám chen lẫn những kiến trúc đền đài thế kỹ 18.  Xe chạy vào sân ga trong cảnh nhộn nhịp nhưng khá trật tự sau đó chúng tôi được chuyển vào xe bus đi về trung tâm thành phố.

Cuối cùng rồi cũng đến một nơi mà bao lần “muốn đến rồi thôi”, có gì không yên tâm như du hành những xứ Âu Châu. Moscow đang hối hả, xe hơi chen chút mọi nẻo đường, chậm nhưng vẩn thông lưu- Cô hướng dẩn như đọc được ý nghĩ của mọi người

-Ngày nào cũng như vầy, quen rồi

Còn trẻ nhưng khá lưu loát tiếng Anh, tóm lược về Moscow  và chương trình cho đoàn ngày sau. Có điều chúng tôi vẩn thắc mắc, đêm tiệc chia tay ở St Petersburg thì bà hướng dẫn cũng cho biết  bà sẻ trở lại Đan Mạch sau khi chia tay chúng tôi ở khách sạn ở Moscow, chúng tôi  phải tự lo sau khi được vào thăm Red Square  (công trường Đỏ) và Kremlin (điện Cẩm Linh) với cô hướng dẫn viên mới . Bà nói thêm, nếu muốn đi xem những nơi khác thì nhờ cô hướng dẫn viên tổ chức giúp. Hình như ở Moscow, lối làm việc ở đây “tốt  và uyển chuyển hơn”  là để cho những công ty người Moscow “quản lý”  những việc đi xem thắng cảnh tự chọn

Khách sạn chúng tôi nằm trên đường Tverskaya  Ulitsa,  đại lộ chính của Moscow đi thẳng đến  Red Square, đi bộ khoảng 20 phút, đi xe điện ngầm 1 trạm, nên chúng tôi quyết định “tự lực cánh sinh “.

St Petersburg cũng như Moscow là hai thành phố lớn nhất ở Nga, cả hai cũng la trung tâm văn hoá lịch sữ, thương mại và tài chính. Moscow được thành lập, lâu đời hơn  1147, dân số chính thức hiện nay  khoảng 15 triệu người, còn là trung tâm chính trị, giao thông, giáo dục cả nước.  So với Moscow thành phố St Petersburg hiền hoà, ít náo nhiệt hơn có thể so sánh một cách lỏng lẻo như Hà Nội và Saigon. Nếu St Petersburg có sông Neva chảy qua thành phố, thì ở Moscow có sông Moscow, sông hoà hợp bới hai nhánh sông  Volga và Oka.

Cũng nên biết, Peter the Great I, vị Nga hoàng  nổi tiếng có công lớn xây dựng đế quốc Nga  đã di chuyển thủ đô về St Petersburg để tiện viêc phát triển kỹ nghệ nặng đóng tàu và hàng hải từ thế kỹ 18. Nơi đây chúng ta thấy những cung điện và kiến trúc tầm cở quốc gia đều nằm ở St Petersburg vì thế khi Lenin chuyển thủ đô trở lại Moscow sau cuộc cách mạng tháng 10, 1918 thì thành phố Moscow  đang ở vị thế chậm phát triển.  Thời cộng sản, những đền đài , thánh đường không đươc chăm sóc, hoặc biến thành kho chứa hàng có khi bị xoá bỏ hoàn toàn, kiến trúc xưa bị thay thế bới những khu nhà tập thể, vĩ đại gọi là kiến trúc Stalin. Sau 1990 may mắn thay, nhiếu đền đài , thánh đường  được khôi phục , trùng tu hoặc xây lại.  Moscow mang một bộ mặt tầm cở hơn, hiện đại hơn bên cạnh những tòa nhà như bánh cưới thời Stalin, cũng là nơi thu hút du khách (toà nhà Bộ Ngoại Giao,  Moscow National University…)

Moscow

Ngày đầu,  sau khi lấy phòng , giàn xếp mọi chuyện xong thì đồng hồ trên tay đã 6pm, chúng tôi quyết định “thám hiểm” và kiếm ăn, khổ nổi ra khỏi khách sạn là biết mình ở xứ lạ ngay (không phải xứ  “La” kia đâu nhá), vì nguời  Nga không xử dụng tiếng Anh nhiều, kể cả hiệu ăn , hàng quán, phương tiện và dịch vụ công cộng-Phải chăng vì kinh doanh khuyến mãi du lịch còn yếu kém, huấn luyện và kỹ năng tiếp thị khách hàng còn yếu kém, hay chính phủ có nhiều ưu tiên khác phải lo hơn  hay lương bổng không khích lệ. Theo tôi đây là ảnh hưởng tàn dư của thời Sô Viết-Stalinism, thiếu tư duy, sáng tạo.

Rời khách sạn khoảng 100 m đã có hàng cà phê Starbucks, rồi gà chiên  KFC, bên kia  đối diện với công viên Pushkin có bồn phun nước  là Mc Donalds.  Đặc biệt phải nói đến đây là cửa hàng Mc Donalds  đầu tiên ở  Moscow và cả nước Nga mở ngày 30 Giêng (January) 1990. Thời ấy là một sự kiện quan trọng, trong những ngày đầu, khách phải sắp hàng 1-2 km dưới trời Đông.  Chỉ  hai  năm sau thì chủ nghĩa Công Sản -Soviet Union  sụp đổ 25/12/1991.

Chuẩn bị khai trương Mc Donald’s , dân Nga sắp hàng dài 1-2 km để vào Mc Donald’s  ngày đầu mở cửa 30/01/1990

Red square-Công Trường Đỏ.

Điện Cẩm Linh (Kremlin) bên trong tường thành với 18 pháo đài kiến trúc khác nhau, bên ngoài là  Công trường đỏ (Red Square)

bản đồ courtesy Wikipedia.

Khi nói đến Red Square, thường người ta nghĩ đến màu đỏ liên hệ đến màu cách mạng cộng sản nhưng thực ra khởi thủy có tên là Pozhar (Poloye) chỉ một vùng đất phế thải, sau được dùng làm chợ  có tên là Torg. Sau đến thế kỷ 17 được đặt là Red Square tới nay, Red có nghĩa là đẹp trong ngôn ngữ Slavic. Red Square và điện Kremlin nói chung là một tổng thể, là trái tim của Nga. Các đường lớn đều tụ điểm về Red Square, nếu Kremlin là nơi nắm giữ quyền hành, Red Square là nơi phô trương quyền hành đó.Red Square là nơi mục kích những sự kiện quan trọng nhất của lịch sử Nga, lể hội, đón tiếp phái đoàn ngoại quốc, biến cố chính trị

 

Red Square , quảng trường đỏ  và viện bảo tàng Lịch sử quốc gia . Quảng trường có chiều dài bắc nam là 640m , đông tây 130m.

Mời xem video  Công trường Đỏ ngày và đêm

http://www.youtube.com/watch?v=yphC9tKkfTc&feature=channel&list=UL

 

32 Mộ của Lenin là một khối đá hoa cương màu nâu đậm và nhạt, nằm ngay trong red square được xây dựng xong 1934. Từ khi Lenin chết 27/1/1924 đến 8/1924 khu mộ là  một kiến trúc bằng gỗ. Phía trên lăng là  lể đài, là nơi mà các lảnh tụ cộng sản Sô Viết thường xuất hiện khi có lể hội, duyệt  binh.

Phía sau lăng là khu an táng  tro xương của một số các lảnh tụ Nga trong bức tường  Điện Cẩm Linh, phiá trước là tượng và tên họ những người quá cố như Stalin , Chernhenko, Andropov…

Khu mộ của lảnh đạo Sô Viết, phiá sau lăng mộ Lenin

 

 

43- Trung tâm thương mại GUM nằm đối diện với lăng mộ Lenin.  Kiến trúc đẹp,xưa, xây dựng vào thế kỹ 19.

Toà nhà rộng rải nơi mua sắm cấp cao của những người giàu ở Moscow, một điạ điểm mà du khách đến Red square không thể bỏ qua. Nơí đây có nhà hàng ăn, quán cà phê, hàng hiệu đủ loại cho du khách.

 

40– Nhà thờ Pokrovsky trong công trường Đỏ, còn gọi là Cathedral of the Intercession hay Cathedral  of St Basil The Blessed), biểu tượng của xứ Nga.

Thật ra là một quần thể nhà thờ-đài kỷ niệm gồm có 8 giáo đường xây quanh 1 giáo đường có mái và đài cao nhất (47.5m) the Church of Intercession tất cà đều nằm chung trên nền cao. Năm 1588, một người nghèo ăn mặc rách rưới hoặc trần truồng, chuyên ăn cắp nhà giàu giúp người nghèo tên Basil (được phong thánh năm 1580), được Ivan the Terrible (1530-1584) đem về chôn tại đây, hiên nay trong ngôi thánh đường thứ 10, đó là lý do tại sao quần thể thánh đường này có nhiều tên, mà thông dụng nhất là Cathedral of St Basil The Blessed)

13-Grand Kremlin palace, Nga hoàng (Tsar)  Nicholas I ra lệnh xây cung điện này làm cung vua và gia đình năm  1838

Phía trong điện xây cất và trang trí kiểu thời Trung cổ, tráng lệ nguy nga, tấng trên mặt đất là nơi Tsar và gia đình sinh hoạt, phần trên lầu là những phòng khánh tiết đặt theo tên thánh như St George, St Vladimar …

Bên trong đại điện Cẩm Linh

1-State Armory

Trước khi đến Đại điện Cẩm linh là viện bảo tàng cổ nhất ở Nga, Kho vũ khí cổ  của quốc gia  (State Armory)vì nơi đây trưng bày những mẩu  đã được thu thập ngay ở thế kỷ 14 va 15 , trước khi được chính thức dùng làm nơi giữ và trưng bày những vật kỹ niệm, qúy giá liên quan đến quân sự, các Nga hoàng cận đại (thế kỹ 18, 19, đầu 20)

Trứng Faberge

Hột xoàn và các loại đá quý nữ trang cũa các thời đại Nga hoàng được giữ ở Diamond Fund (quỷ Kim Cương)

Diamond fund là môt khu đặt biệt nằm trong State Armory (muốn xem phải xin phép trước)

3-Ngôi thánh đường này xây khoảng  1485-1489 dùng làm thánh đường cho gia đình Nga hoàng và hoàng tử .

Bên trong chạm trổ nguy nga với nhiều hình tượng đạo giáo

2-Giáo đường Dormiton (Assumption)  trước đây là giáo đường chính của Nga , xây năm 1475-79  Phía trong giáo đường được trang trí bằng hình vẻ cổ xưa đạo giáo, cũng là nơi an nghỉ của những vị lảnh đạo đạo Chính Thống Nga (Russian Orthodox Church).Một trong những trưng bày được nhiều người chú trọng là chiếc ghế ngồi của Nga Hoàng Ivan the Terrible.

5-Giáo đường  của 12 Tông Đồ (Church of the twelve Apostles)

4-Giáo đường Archangel Michael (Cathedral of the Archgengel Michael).

Được dùng làm khu an táng của hoàng tử và Nga hoàng (tsars) thời kỳ trước Peter Đaị  Đế (1712)

7 Tháp chuông điện Cẩm Linh (Kremlin bell tower) . Tháp xây sau thời  Ivan đại đế ,1598-90, cao 80m , coi như là đỉnh cao nhất của Moscow thời đó. Trong tháp chứa 21 quả chuông lớn nhỏ, chuông lớn nhất nặng 70 tấn

Chuông đúc bởi nữ hoàng Anna Ivanovna 1734 nặng 200 tấn, cao 6.14m, đường kính 6.60m, trước để trong tháp chuông, vì tháp cháy nên chuông bị nứt một mảnh to nặng 11,5 tấn. Chỉ được đem ra trình bày trong sân tử năm 1970.

Nặng 40 tấn, dài 5.34m, nòng đại bác 120cm, đường kính đạn 89cm, đây là loại đại bác cổ xưa , lớn nhất. Tuy thế cổ súng này chưa hề được khai hỏa lần nào.

Tượng đá công viên của lảnh tụ Sô Viết một thời.

Xuống trạm Metro ở Park Culture, qua câù Krymskiy đi về hướng Gorky Park, chúng tôi vào Gorky thăm trước và hỏi thăm đường hướng , tiết kiệm thời gian, dĩ nhiên phần đông họ không hiểu tiếng Anh, cuối cùng định bụng chỉ có cách hỏii người trẻ tuổi thì may ra. Đối diện với Gorky park là nhà triển lãm tranh ảnh của nghệ sĩ, đi qua khu này ta sẽ thấy hàng trăm tượng của những lảnh tụ thời Sô Viết.  Một số tượng bị đánh sập gẩy được thu thập bỏ về đây, hoàn cảnh có vẻ tiêu điều, không được chăm sóc.

Một số tài liệu có nói tượng của Trotsky cũng nằm ở đây, nhưng nguời viết không thể tìm được, không có dấu vết, một số nhân viên bán hàng trong công viên được hỏi thì họ cũng trả lời không thấy.

Xem video về  công viên này trên youtube

http://www.youtube.com/watch?v=48lsr4UaxZE&list=UUGaCiPrvSv7ZkdypQNO2KsQ&index=14&feature=plcp

Thăm khu yên nghĩ của Novovichy Convent

Là một trong những tu viện đẹp nhất xứ Nga,  được  Prince Vasily 3  xây cất vào năm 1524, để kỹ niệm chiến thắng 1514 của Nga đối với quân đội  Ba Lan và Lithuania.

Trong công viên có khu an táng cuả người có công, nổi tiếng của Nga trong mọi lảnh vực. Người viết chủ đích đến thăm mộ của 2 nhân vật đã đóng hai vai trò có ảnh hưởng đến tương lai  toàn cầu đó là Boris Yeltsin, người đã có công phá hủy chủ thuyết không tưởng cộng sản, tiếp theo chủ trương cởi mở và đổi mới của Gorbachev (vợ của ông cũng được chôn tại đây), để theo kịp trào lưu thế gìới, người thứ hai là Nikita Krushchev  (1894-1971) người đã quyết định tháo gở hỏa tiển  tấn công đặt trên đất Cuba, tránh được hiễm họa thật sự chiến tranh nguyên tử-hạt nhân với Hoa Kỳ năm 1962 .

Mộ của Raisa Gorbachev, famous wife of Mikhail Gorbachev

Mộ của Nikita Khruschev Bí thư  thứ nhất  Sô Viết 1953-1964

Mộ của Boris Yeltsin, First President of Russia Federation

Thăm mộ lảnh tụ Sô Viết trên youtube

http://www.youtube.com/watch?v=48lsr4UaxZE&list=UUGaCiPrvSv7ZkdypQNO2KsQ&index=14&feature=plcp

Kiến trúc độc đáo, tinh vi của trạm xe điện ngầm

Moscow còn có một hệ thống xe điện ngấm và tiện lợi cho dân chúng. Hầu hết những địa diểm thu hút du khách đều nằm gần trạm xe điện, mổi lần đi là chỉ mua một vé , nơi nào cũng được, không thấy có bán khứ hồi và giá rât rẻ. Có thể nói đây là một trong vài  điểm tích cực của xã hội chủ nghĩa còn để lại, bên cạnh sự chạm trổ , kiến trúc đẹp mắt, tinh vi của một số trạm xe điện ngầm mà có lẻ không đâu trên thế giới sánh được.

Xe điện ngầm  là phương tiên phổ thong, rẻ tiền và tiện nhất trong việc đi lại trong thành phố  15 triệu người, có những interchange stations -trạm thay đổi tuyến đường (ngả 3 ngả 4 )- nơi đây người ta có thể tìm thấy những sinh hoạt như những quán nhỏ bán hàng, đồ ăn và cả những người ca hát dạo hay làm trò vui như những người đóng vai lảnh tụ giả sau đây

Mời xem video xe điện ngầm ở Moscow.

http://www.youtube.com/watch?v=WROjShwa7Yk&feature=channel&list=UL

Mời xem những người chuyên giả các lảnh tụ Nga, bạn có thể chụp ảnh chung với họ mà chỉ phải trả vài trăm rubles (5-10 $Us)

Những người này thường xuất hiện chung, hay riêng rẻ ở các trạm xe đìện ngầm gần công trường đỏ hay trước cổng “phục Sinh”-cổng này là cổng chính vào công trường đỏ- chung quanh tượng thống chế Zhukov, người tướng lảnh tài ba, nhiều công trạng, huy chương nhất của Nga thời thế chiến Hai và giai đọan tiếp theo đó

Mời xem video youtube 

http://www.youtube.com/watch?v=6dAge2zppxI&list=UUGaCiPrvSv7ZkdypQNO2KsQ&index=15&feature=plcp

Một chúc cảm giác bất an hầu như tan biến khi người đón chở ra phi trường đến khách sạn đúng giờ. Đêm trước đó tôi không ngủ yên vì tôi đã đặt xe với cô hướng dẩn, cô hẹn với tôi là sẻ liên lạc trước khi xe đến, nhưng mãi đến đêm này vẩn không thấy tăm hơi, hỏi tiếp tân (reception) thì họ bảo không có tin nhắn. Đến sáng ngày đi ra phi trường, thì tôi nhờ khách sạn liên lạc thì cũng không được, nhưng họ khuyên chắc không sao đâu. Sự lo lắng tuy thế càng tăng theo thời gian gần kề, tôi nói với bà xã nếu họ không đến đúng gìờ thì chỉ nhờ khách sạn giàn xếp thôi.

15 phút trước giờ hẹn, sau khi làm thủ tục rời khách sạn tôi đang lanh quanh thì thấy môt người hơi đứng tuổi có vẻ như muốn tìm kiếm ai  tôi hỏi

-Ông đang tìm người để đưa ra phi trường phải không?

Tôi không nhớ ông đã nói gì chỉ biết chìa  ra môt mảnh giấy có tên vợ chồng tôi.

Chúng tôi thở phào nhẹ nhõm. Suốt đoạn đường ra phi trường ông không nói gì tôi đoán ông không biết tiếng Anh, còn tôi thì miên man không có ý kiến gì rỏ rệt về người Nga-bên ngoài có vẻ hiền lành, hơi dể dải nhưng bên trong thì sao ? Nhưng it nhất có chử tín, kiếu “tín” của người Nga chăng ?.  Đến phi trường ông phụ tôi đám hành lý  và tôi cảm ơn ông “Bol’shoe spasibo”.

Chúng tôi rời Moscow với nhiều ngạc nhiên, thích thú. Russia một đât nước to lớn trải qua bao nhiêu chiến tranh và bất hạnh, có một quá trình lịch sữ vĩ đại đang hồi sinh, đang hội nhập. Đối với du khách, Russia không phải là “Europe” nhưng Russia sẽ để lại ấn tượng khó quên, với trí óc sáng tạo nguơì Nga đã xây dựng  những kiến trúc đền đài, thánh đường nguy nghi, vĩ đại, đóng góp trong nhiều lảnh vực nghệ thuật, khoa học và công nghệ trên thế giới.

Y  Nguyên tháng 6 2012.