Thử đọc lại Kim Dung- phần 1
Posted: 20/01/2013 Filed under: Nghiên cứu-Khảo luận | Tags: Thiên Long Bát bộ Leave a commentThử đọc lại Kim Dung- phần 1
Nguyên Nguyên
Có lẽ trong tiềm thức của người viết trong hơn 35 năm qua luôn luôn vẫn có một số thắc mắc, tức bực về tiểu thuyết kiếm hiệp của Kim Dung. Trước hết nếu so với các truyện kiếm hiệp cổ điển của Trung Quốc như Lã Mai Nương, Càn Long hạ Giang Nam, Tiết Nhơn Quí Chinh Đông, Thuyết Đường, Thủy Hử, v.v., trong các truyện chưởng của Kim Dung – ít khi nào ông cho khai tử bớt những nhân vật cực ác khi đến quá nửa truyện. Thậm chí nhiều khi cho đến hết truyện những nhân vật cực kì nham hiểm và gian ác đó vẫn chưa được cho gác kiếm về chầu Diêm Vương, nhưng lại vẫn cứ tiếp tục sống dai và ‘quậy’ dài dài cho đến một thế hệ tiếp nối trong một truyện kiếm hiệp nối tiếp khác. Thí dụ như Tây Độc Âu Dương Phong trong ‘Xạ điêu Anh hùng truyện’ đã sống luôn qua đến khoảng nửa truyện kế tiếp mang tên ‘Thần Điêu Hiệp Lữ’ rồi mới lăn đùng ra chết sau khi đấu võ nghệ với Bắc Cái Hồng Thất Công suốt mấy ngaỳ liền trên một đỉnh núi tuyết trước sự chứng kiến của cậu thanh niên Dương Quá. Hoặc giả như Tinh Tú Lão Nhân Đinh Xuân Thu trong ‘Lục Mạch Thần Kiếm và Thiên Long Bát Bộ’ – một nhân vật cực kì hung ác ai cũng ghét thế mà cứ sống dài dài – sống lâu hơn một trong những nhân vật chính là Tiêu Phong – cho đến hết truyện luôn. Cũng giống như Mộ Dung Công Tử – lúc đầu truyện mang cá tính nửa chính nửa tà nhưng đến lúc cuối truyện trở nên hoàn toàn gian ác bởi mang nhiều tham vọng khôi phục nước Yên – tác giả cũng không cho chết quách cho xong nhưng lại trở nên điên điên khùng khùng như Âu Dương Phong trong cuối truyện ‘Anh Hùng Xạ Điêu’ nói trên.
Tranh chấp để xem xem ai võ công cao nhất, ai là anh hùng vô địch thiên hạ cũng thường không được giải đáp cho thật chắc chắn như trong các truyện kiếm hiệp ngày xưa trước thời Kim Dung. Trong ‘Anh Hùng Xạ Điêu’ và ‘Võ Lâm Ngũ Bá’, có tất cả 5 người với võ nghệ tuyệt luân: Bắc Cái Hồng Thất Công, Nhất Đăng Đại Sư Đoàn Nam Đế, Tây Độc Âu Dương Phong, Đông Tà Hoàng Dược Sư và Trung Thần Thông Vương Trùng Dương. Năm người đó mỗi người có một hai ngón võ tuyệt chiêu bao trùm thiên hạ. Nhưng khổ nổi nếu họ đấu với nhau thì lại ‘bất phân thắng bại’!! Vương Trùng Dương thường được xem như ‘trên cơ’ 4 người kia một chút nhưng lại . . . chẳng may chết sớm, và trước khi chết thật Vương Trùng Dương đóng kịch chết giả để cố í thọc vào chính huyệt của Tây Độc Âu Dương Phong một ngón Nhất Dương Chỉ cho Tây Độc chừa bỏ tham vọng đi ăn cắp quyển võ công bí kiếp Cửu Âm Chân Kinh. Thành ra trong hầu hết suốt các truyện ‘Anh Hùng Xạ Điêu’ hoặc ‘Võ Lâm Ngũ Bá’ ta không thấy một ai có thể xưng anh hùng vô địch hay võ lâm minh chủ cả. Thất vọng nhất trong cái ‘lô gích’ của Kim Dung phải là anh chàng Quách Tỉnh. Anh này có nội công tự nhiên trời cho như hút được máu rắn quí của một thiền sư nào đó, học võ nghệ từ nhỏ với Giang Nam Thất Quái, học leo núi với Mã Ngọc, học các võ chính như Hàng Long Thâp Bát Chưởng của Hồng Thất Công, học thế đánh Thiên Cang Bát Đẩu của phái Toàn Chân, học Cửu Âm Chân Kinh và Song Hổ Đả Bác từ Châu Bá Thông một cao thủ tương đương hay hơn Võ Lâm Ngũ Bá một chút, vài ngón nghề Nhất Dương Chỉ từ chính Đoàn Nam Đế. Quách Tỉnh như vậy đã học các món võ chính tông của ít lắm là 3 trên 5 vị ngũ bá đó – cộng với tuổi trẻ, với ‘tư duy’ sẵn có, với nội công thâm hậu nhờ uống máu rắn. Thế mà lúc đấu với các cao thủ khác như Cừu Thiên Nhận (chính hiệu), Quách Tỉnh không bao giờ chứng tỏ được thế thượng phong đánh hạ được họ hay cho họ nằm ‘đo đất’ cả. Lô gích đó của Kim Dung hồi còn trẻ người viết xem như hơi ‘lổng chổng’ không được chặt chẽ chút nào. Thêm một thí dụ khác: Trương Vô Kị trong ‘Cô Gái Đồ Long’ đã trải qua bao nhiêu thăng trầm và học được bao nhiêu thế võ tuyệt chiêu: Cửu Dương Chân Kinh lúc sống dưới thung lủng núi tuyết qua quyển sách dấu trong bụng con khỉ, ăn được con ếch đỏ cũng ở dưới thung lủng để bổ xung dương khí, luyện được Càn Khôn Đại Nả Di tâm pháp lúc bị nhốt trên Quang Minh đỉnh, học Thái Cực Quyền và Thái Cực Kiếm rất thuần thục với Trương Tam Phong, v.v. và v.v. thế đến khi đụng độ với người yêu cũ Chu Chỉ Nhược, hình như Trương Giáo Chủ phải chịu lép mặc dù cô Chu trưởng môn Nga Mi chỉ học được có Cửu Âm Chân Kinh và một số chiêu của Nga Mi kiếm pháp mà thôi. Lô gích nằm ở đâu hay Kim Dung đã theo mốt thời đại trọng nữ khinh nam?? Tức bực cho độc giả còn phải kể đến cái ngón Lục Mạch Thần Kiếm và nhất dương chỉ của thái tử Đoàn Dự! Võ nghệ thứ gì mà khi được khi không, trong cuộc đời thật chắc làm gì có loại võ nghệ kì cục như vậy – giống như chiếc xe hơi, cái radio hay Tivi rất cũ kỉ khi chạy khi không? Rồi còn rất nhiều, nhiều nữa những cái lủng củng trong lô-gích của Kim Dung về ai giỏi võ hơn ai trong các bộ truyện chưởng của ông ta.
Những thắc mắc đó hình như cứ lởn vởn trong đầu người viết qua nhiều năm tháng, rồi trở đi trở lại trong hai thập niên qua khi xem phim tập Hongkong quay đi quay lại nhiều lần các truyện của Kim Dung. Nhiều khi người viết cũng thử đặt ra một vài giả thuyết dựa trên kiến thức rất hạn hẹp của mình về triết lí đông phương – thử giải thích các dụng í của Kim Dung khi ông ta ra công sáng tác các tác phẩm kiếm hiệp để đời đó. Người viết thử dùng những triết lí như ‘nhân vô thập toàn’ hay bắt chước các người viết khác moi Kinh Dịch, hay sưu tầm những ‘ẩn số chính trị’ để tìm giải đáp cho một thắc mắc lâu năm về Kim Dung. Nhưng rất tiếc và nói cho đúng người viết vẫn chưa được hoàn toàn thoả mãn về những ẩn í của Kim Dung khi ông cho vào các truyện của ông một lôgích có vẻ hoàn toàn bác bỏ lôgích của Tam Đoạn Luận: A giỏi hơn B, B giỏi hơn C, do đó A phải giỏi hơn C. Nói một cách khác và thông thường, nếu A có nhiều tiền và của cải hơn B, ta nói A giàu hơn B. Nếu A cùng cỡ tuổi với B và A học được và thành thục nhiều ngón võ hơn B, A chắc sẽ giỏi võ hơn B và sẽ ‘nốc ao’ B khi đấu với B. Tương tự Trương Vô Kị có vẻ học được nhiều ngón võ tuyệt chiêu hơn Chu Chỉ Nhược – đại khái Cửu Dương Chân Kinh, Càn Khôn Đại Nã Di, Thái Cực Kiếm, Thái Cực Quyền, v.v. Nội cái Càn Khôn Đại Nã Di – một môn võ tối cao của Minh giáo thời đó có mãnh lực biến đối thủ dùng gậy ông đập lưng ông – Vô Kị đã học được trong lúc bị nhốt với Tiểu Siêu ở trong mật động của Quang Minh Đỉnh – nếu theo đúng mô tả của chính tác giả – cũng đủ dùng để chế ngự được Cửu Âm Chân Kinh, nếu không kể đến các thứ võ lâm chi bảo như Thái Cực kiếm và Thái cực quyền. Càn Khôn Đại Nả Di chắc chắn – theo lôgích của mô tả trong truyện – sẽ chế ngự được thế đánh móc vào sọ người kiểu Cửu Âm Bạch Cốt Trảo trong Cửu Âm Chân Kinh bởi nó có thể khiến bàn tay bạch cốt trảo quay về tự móc sọ của người xử dụng nó để tấn công mình.! Trong khi ấy Chu Chỉ Nhược theo với ước đoán của độc giả (vì đoạn Chu Chỉ Nhược luyện Cửu Âm Chân Kinh tác giả dấu không kể ra) chỉ biết có Cửu Âm Chân Kinh và rất có thể chỉ biết qua loa về Nga Mi kiếm pháp bởi lúc Diệt Tuyệt Sư Thái nhường ngôi chưởng môn Nga Mi cho họ Chu, Diệt Tuyệt Sư Thái đang sắp sửa tự tử nên chưa có thì giờ truyền lại trọn vẹn các ngón nghề của Nga Mi kiếm pháp cho nàng. Thế mà Kim Dung tự í cho Vô Kị gần như bất lực trước Chỉ Nhược và có vẻ ‘dưới cơ’ Chu Chỉ Nhược. Thật bực mình!!
Thế nhưng, gần đây nhân lúc đọc được quyển Cờ BẠC của Huỳnh Văn Lang do Nhà Văn Nghệ Tổng Phát Hành xuất bản vào năm 1998, người viết tự nhiên thấy những ‘cái đinh’ kể ra trong quyển Cờ Bạc, nhất là những chương về nghệ thuật đá gà khả dĩ có thể dùng để giải thích những hiện tượng tréo cẳng ngỗng trong các phần đấu võ trong các truyện kiếm hiệp của Kim Dung. Theo tác giả Huỳnh Văn Lang (HVL) trong suốt ‘sự nghiệp’ đá gà ăn tiền của ông kéo dài hàng chục năm sau khi rời chiếc ghế Tổng Giám Đốc Viện Hối Đoái VNCH, ông đã kiếm tiền khá bộn trong việc nuôi gà đá và đá gà nhờ ở việc áp dụng thuyết Ngũ Hành của triết lí Trung Quốc. Tác giả kể lại một ngày nào đó năm xưa ông được một người bạn tặng cho một quyển sách cũ viết về nghệ thuật đá gà áp dụng theo thuyết Âm Dương Ngũ Hành do chính đức Tả Quân Lê Văn Duyệt viết. Xin tạm trích một đoạn quan trọng của quyển Cờ Bạc:
‘Theo Tả Quân, . . .con gà cũng như con người, cùng vạn vật đã sanh ra trong vũ trụ thì tất nhiên bị vũ trụ bao vây và chi phối, mà vũ trụ cùng vạn vật lại do định luật âm dương ngũ hành chi phối, vì tất cả đều do âm dương ngũ hành mà ra. . . Suy luận như vậy, Tả Quân đã dùng luật Ngũ Hành làm tiêu chuẩn căn bản cho môn chọi gà nòi của Ngài và còn để lại cho hậu thế những bài học nghệ thuật vừa cao siêu vừa hiệu nghiệm. Theo lời Ngài dạy:
Từ thuở khai nguyên vũ trụ thì có Hoả, Hoả tự thiêu để sanh ra Thổ, Thổ sanh ra Kim, Kim sanh ra Thủy, Thủy sanh ra Mộc, để rồi Mộc lại sinh ra Hoả, làm thành một chu kì tương sanh của Ngũ hành. Động lực để vạn vật phát triển là SANH và KHẮC. Sanh là tạo, là dưỡng. Khắc là diệt, là trừ: Hoả khắc Kim, Kim khắc Mộc. Mộc Khắc Thổ, Thổ khắc Thủy, để rồi Thủy khắc Hoả lại – thành một chu kỳ Tương Khắc của Ngũ Hành.’
Tác giả thuật tiếp cách phân biệt Ngũ Hành qua màu sắc của con gà và những phức tạp gặp phải khi con gà mang nhiều màu sắc khác nhau. Lông màu gì pha với màu gì, mồng gà màu gì và chân cẳng vảy vi mang màu gì. Sau khi đã minh định được màu sắc chính của con gà người chọi gà có thể xác nhận gà thuộc mạng nào, Kim hay Mộc, hay Thủy, hay Hoả hoặc Thổ, và đem nó đi so với gà sắp sửa phải đấu. Nếu gà mình mạng Hoả và gà đối phương thuộc mạng Kim – Hoả khắc Kim – gà bên mình rất có nhiều cơ hội để thắng. Và tác giả HVL đã xác nhận qua hằng trăm trận đấu gà từ năm 1969 cho đến đầu năm 1975 – cũng như Tả Quân Lê Văn Duyệt trước khi viết quyển sách bí truyền đó, đã trải qua kinh nghiệm cở 400 độ đấu gà – luật Ngũ Hành gần như có hiệu nghiệm gần đến 80-90 phần trăm. Theo khoa học, định luật Ngũ hành có vẻ rất có lí đó khi được áp dụng vào các vụ đấu gà được gọi định luật empirical (định luật thống kê). Định luật empirical rất nhiều khi vẫn có giá trị tương đương với những định luật thuần lí. Thí dụ về định luật thuần lí là luật vật lí về đun nước sôi. Định luật thuần lí luôn luôn đúng và đúng ở mọi chỗ, nói rằng khi ta đun nước nóng đến 100 độ, nước sẽ sôi và sôi ùng-ục. Định luật thống kê có thể được thí dụ bằng một cuộc tổng tuyển cử lựa chọn chính quyền tại một nước dân chủ. Định luật sẽ nói rằng khi chính phủ đang cầm quyền làm mất lòng dân bằng những thất bại trong các chính sách kinh tế, y tế, và giáo dục, v.v. chính phủ đó sẽ bị thất cử dễ dàng. Đó là luật thống kê, thường thường đúng nhưng không chính xác đến 100 phần trăm.
Thuyết Âm Dương – Ngũ Hành ra đời vào khoảng thời Xuân Thu Chiến Quốc, cùng một lúc với Kinh Dịch, do ở một nhà ‘thông thái’ tên Trâu Diễn đã hệ thống hoá nó cho được mạch lạc. Ngũ Hành cũng được áp dụng trong nghệ thuật Phong Thủy (Feng Shui) xem nhà xem hướng, rất phổ thông hiện nay trên toàn cầu. Tóm tắt Ngũ Hành gồm có Kim, Mộc, Thuỷ, Hoả, Thổ, năm nguyên tố căn bản của vũ trụ. (Ở điểm này một vài học giả Tây Phương cho rằng Ngũ hành chịu nhiều ảnh hưởng của phái Zoroastre của Ba Tư).
Kim tức kim loại, biểu tượng bằng màu Trắng, và theo Phong Thuỷ chỉ hướng TÂY (muốn dễ nhớ, nhớ người Âu Tây da trắng). Kim khắc Mộc, Kim có thể diệt được Mộc (nhớ cưa sắt cưa được gỗ), nhưng giúp được Thủy;
Mộc là gỗ, mang màu Xanh, đứng về hướng ĐÔNG. Mộc trị hay khắc Thổ (đóng cây vào đất – cây mọc từ đất mọc lên), nhưng giúp được Hoả (nhớ lửa cháy thường nhờ cây nhờ gỗ, giấy làm cháy lửa cũng do gỗ làm ra);
Thủy= Nước – biểu tượng màu Đen, đi về hướng BẮC. Thủy trị Hoả (tất nhiên, nước dùng để chữa lửa) và hổ tương cho Mộc (cây cần nước để sống);
Hoả= Lửa – mang màu Đỏ, biểu hiệu bằng hướng NAM. Hoả khắc Kim (nhớ lò luyện kim cần có lửa) và giúp được Thổ;
Thổ= Đất – mang màu Vàng, đại diện bằng Miền Chính Giữa – TRUNG Tâm. Thổ khắc Thủy (nước thẩm thấu vào lòng đất hay đập đất ngăn được nước chảy) và tương thân với Kim.
Tóm tắt có hai chu kì ngũ hành:
Chu kì SINH: Kim sinh Thủy, Thủy sinh ra Mộc, Mộc sinh Hoả, Hoả tự thiêu sinh ra Thổ, Thổ sinh Kim.
Chu kì KHẮC: Kim khắc Mộc, Mộc khắc Thổ, Thổ khắc Thủy, Thủy khắc Hoả, và Hoả lại khắc Kim.
Hiểu kĩ như vậy ta hãy trở lại quyển Cờ Bạc của HVL trước khi đọc lại Kim Dung. Sau khi đọc được quyển sách bí truyền của Tả Quân Lê Văn Duyệt, tác giả HVL đã cố gắng áp dụng thuyết ngũ hành theo sách Tả Quân đi đá gà ăn tiền. Sau đó không lâu ông lại được cơ hội quen biết với một ‘ông già gân’ chuyên nghề dạy võ gốc người Quảng Ngãi vào Nam sinh sống lâu năm, mang tên Tám Long. Chính ông tám Long khuyên tác giả nếu muốn thấu triệt thuyết ngũ hành hãy đọc lại các pho truyện tàu xưa như Ngũ Hổ, Tiết Nhơn Quí, Tiết Đinh San, Võ Tắc Thiên, v.v. sẽ thấy trong hầu hết các truyện tàu thuyết ngũ hành luôn luôn được ứng dụng triệt để. Các nhân vật chính trong các truyện tàu đều được mô tả qua màu sắc, điển hình trong truyện Thuyết Đường thuật chuyện các người anh hùng lo chuyện lật đổ nhà Tùy để lập nên nhà Đường với vị vua đầu tiên là Lí Thế Dân. Qua truyện đó, người đọc có thể để í các hổ tướng được mô tả rõ rệt qua màu sắc và mạng lí theo Ngũ hành. Thí dụ, như Trình Giảo Kim mặt đỏ râu vàng, mặc áo giáp, đầu đội kim khôi – đặc biệt có hai mạng: khi trên ngựa mạng Hoả (mặt đỏ) và khi xuống ngựa, mạng Thổ (râu vàng); như La Thành, mặt trắng, mình ưa mặc bạch bào đoản giáp trắng, hay dùng cây Bát cổn Ngân thương bạc, cỡi ngựa Kim Thiên Lí Cu: đúng thật mạng Kim; như Đơn Hùng Tín, mặt xanh, chuyên mặc giáp xanh, hay dùng chiếc Kim đính Đông dương sóc, cưỡi con ngựa Thanh tông mã, rõ ràng mang mạng Mộc; Tần Thúc Bảo lại khác, mặt vàng, áo giáp bằng đồng vàng, hay dùng đôi giản đồng và cưỡi ngựa có lông vàng như tơ, đích thị mạng Thổ; và Uất Trì Cung gốc thợ rèn, mặt đen, mặc thiết giáp bằng đồng đen, ra trận dùng ngựa ô tuyền, đúng là mạng Thủy. Quyển Cờ Bạc đưa một vài thí dụ chứng minh rằng các tác giả người Trung Quốc xưa và nay lúc nào cũng áp dụng thuyết ngũ hành (mạng này khắc mạng kia) trong các trận đánh với nhau. Khuôn khổ bài này có hạn nên chỉ xin trích lại một đoạn tả trận chiến giữa tướng Dương Lâm của nhà Tùy đấu với bên nhà Đường. Bên nhà Tùy ngoài tướng Dương Lâm còn có Thập Nhị Thái bảo lập ra trận Nhất tự trường xà – toàn treo cờ xanh (mạng Mộc). Bên Đường có Trình Giảo Kim và Tần Thúc Bảo – cả hai mang mạng Hoả và Thổ – đánh hoài nhưng không sao phá nổi trận. Sau nhờ có La Thành – mang mạng Kim – chỉ đấu với tướng Dương Lâm có 10 hiệp, đâm Dương Lâm một thương ngay tại mông, phá tan trận và thu được hơn hai muôn hàng binh của nhà Tùy. Kim khắc Mộc là như vậy. Tóm lại khi đọc truyện Tàu ta nên để í trước bổn mạng của các nhân vật rồi sẽ xem họ đấm đá đấu chưởng với nhau ra làm sao. Hằng trăm trận ăn thua hay sống chết với nhau thường dựa sát vào những tương sinh tương khắc của luật Ngũ hành mà thôi. Thí dụ một cao thủ võ lâm mặt đỏ, cỡi ngựa màu đỏ (xích thố), mang kiếm giáp màu đỏ (mạng Hoả) chạy ngựa hay phi thân xuống núi đánh với một nhân vật võ lâm khác, cho dù đó là một bà lão mặt đen mặc quần áo màu đen (mạng Thủy), người đọc sành điệu luật Ngũ hành có thể đoán được rằng tác giả sẽ cho cao thủ từ trên núi xuống kia thế nào cũng sẽ bị thua chạy dài, nếu không bị chém đứt đầu thì cũng bị thương nặng tàn phế võ công!!
Bây giờ xin trở lại những điểm ‘lổng chổng’ trong một vài truyện kiếm hiệp Kim Dung mà người viết còn nhớ. Tuy nhiên, trước hết xin minh định người viết không thể xác nhận người viết có tin vào luật Ngũ Hành hay không, nhưng chỉ có thể tiết lộ rằng qua mấy mươi năm đọc truyện Tàu và kiếm hiệp Kim Dung, cho mãi đến lúc đọc được quyển Cờ Bạc của Huỳnh Văn Lang người viết vẫn thường cho rằng mấy ông viết truyện Tàu có vẻ quên đầu quên đuôi không áp dụng lô-gích tây phương cặn kẽ, nhất là lô gích kiểu tam đoạn luận: A thắng B, B thắng C, vậy A chắc chắn phải thắng C. Chỉ đến lúc đọc xong đoạn đá gà trong quyển Cờ Bạc, mới thấy truyện Tàu nói chung và võ hiệp Kim Dung nói riêng hiếm khi dựa trên lô-gích tam đoạn luận của Tây Phương, nhưng lại chính yếu dựa trên lô-gích của thuyết Ngũ Hành. Nếu lôgích Tam Đoạn Luận được biểu diễn bằng một đường thẳng đứng (A hơn B, B hơn C, do đó A hơn C, vân vân cho đến A hơn E), lô gích Ngũ Hành sẽ được biểu diễn bằng một vòng tròn (Kim khắc Mộc, Mộc khắc Thổ, Thổ khắc Thủy, Thủy khắc Hoả, nhưng Hoả lại khắc Kim, kết thúc 1 vòng tròn). Đem lô gích của luật Ngũ hành vào truyện Tàu, Tam Đoạn Luận phải cuốn gói đi chỗ khác chơi. Xin trở lại với Kim Dung:
Trước hết xin xét kĩ lại ‘Cô Gái Đồ Long’ tức ‘Ỷ Thiên Đồ Long kí’. Trương Vô Kị mạng gì? Đầu tiên ta để í Vô Kị bị Huyền Minh Thần Chưởng đánh cho bị bệnh gần chết. Huyền Minh thần chưởng lại là một băng hàn chưởng thuộc thế âm chỉ có Cửu Dương chân kinh – thế dương, chất nóng – mới trị được thôi. Sau đó Vô Kị làm Giáo chủ Minh giáo biểu hiệu bằng ngọn lửa, rồi lại mang vào nhiệm vụ đi tìm lại Thánh Hoả lệnh. Hoả hoả hoả. Đích thị Vô Kị mang mạng Hoả. Còn tại sao tác giả gọi Huyền Minh thần chưởng thứ chưởng đã khiến cho VôKị bị trọng thương gần 8, 9 năm trờI mà không gọi Huyết Minh hay Hồng Minh thần chưởng cho có vẻ rùng rợn? Huyền tức Đen chỉ mạng Thuỷ, Thuỷ (nước) dập hay khắc được Hoả (lửa). Thế Chu Chỉ Nhược mang mạng gì mà Vô Kị phải chịu xếp de? Ta xem binh khí hay võ công chính của Chu Chỉ Nhược là gì? Ỷ Thiên kiếm? Không phải, Ỷ Thiên Kiếm thật sự của Diêt Tuyệt Sư Thái, nó màu xanh và Diệt Tuyệt Sư Thái mạng Mộc – dễ bị Vô Kị làm cho quê mặt vì Vô Kị mạng Hoả – Mộc chỉ sinh Hoả (gỗ chỉ bị cháy vì lửa) thôi chứ không khắc được Hoả. Ta nhớ lại Chu Chỉ Nhược nghe lời dặn dò của sư phụ Diệt Tuyệt Sư Thái lo đi ăn cắp bảo đao Đồ Long để rồi dùng Ỷ Thiên Kiếm chặt vỡ đao Đồ Long để lấy quyển bí kiếp Cửu Âm Chân Kinh được dấu trong đao Đồ Long. Mạng Chu Chỉ Nhược dính liền với đao Đồ Long (thầm phục dịch giả Từ Khánh Phụng không biết vì sao ông dịch tựa Ỷ Thiên Đồ Long Kí thành ra Cô Gái Đồ Long – và tất nhiên Chu Chỉ Nhược chính là Cô Gái Đồ Long – sự nghiệp của họ Chu đã dính liền với đao Đồ Long). Đao Đồ Long màu gì? Kim Dung đã tả Dư Đại Nham lần đầu thấy đao Đồ Long, chàng cầm lấy, lau sạch và đem đến gần ánh lửa xem cho kĩ , thấy nó màu ĐEN sì, chẳng phải sắt và cũng chẳng phải vàng. . . (Chương Thứ 3). Màu đen đích thị là màu của mạng Thủy. Mạng của Chu Chỉ Nhược là mạng Thủy. Thủy khắc Hoả (mạng của Trương Vô Kị). Nước dùng để làm tắt lửa!! Và đó cũng xảy ra cùng lúc với chu kì Âm thịnh Dương suy. Vô Kị phải dưới cơ Chu Chỉ Nhược dù giỏi võ và nội công thâm hậu hơn Chu Chỉ Nhược!!! Vô Kị mang tên với nghĩa đơn sơ ‘Không kị thứ gì hết’ thật ra lại kị Thủy và những chất âm đó chứ!
Chưa hết, nếu ta nhớ ở đoạn cuối khi Vô Kị, Chu Chỉ Nhược đấu nhau với 3 sư cụ ở chùa Thiếu Lâm trước mặt bao nhiêu quần hùng. Chu Chỉ Nhược định dùng đòn lén để hạ thủ Tạ Tốn, đột nhiên xuất hiện vài ba thiếu nữ mặc áo vàng phi thân từ đâu đến chỉ múa vài đường quyền qua cây gậy trúc đã đủ áp chế Chu Chỉ Nhược. Trước khi cáo biệt giới võ lâm các thiếu nữ áo vàng đó tiết lộ họ từ núi Chung Nam đến, tức con cháu của Thần Điêu Hiệp Lữ Dương Qua! Thế nhưng tại sao Kim Dung cho họ mặc áo vàng? Lại không mặc áo xanh lam hay áo tím cho có màu sắc đỡ chói và thơ mộng? Áo vàng dùng để ám chỉ mạng Thổ. Thổ trị Thủy. Chỉ có mấy cô áo vàng (Thổ) mới có cơ trị được Chu Chỉ Nhược (Thủy) theo đúng rơ và cơ sở của Ngũ Hành!!
Vẫn chưa hết, trong Ỷ Thiên Đồ Long kí còn có Y-Dược Sĩ Hồ Thanh Ngưu. Hồ Dược sĩ tối ngày mài miệt với cây cỏ và các vị thuốc, liên quan đến Mộc. Trong tên Hồ Thanh Ngưu có từ THANH dùng để chỉ màu xanh. Màu xanh chính là màu của mạng Mộc. Hồ Thanh Ngưu rõ ràng mang mạng Mộc. Thế Hồ Thanh Ngưu tán mạng vì ai? Vì Kim Hoa Bà Bà, đâu từ phương Tây đến. Kim Dung đã cho thấy rõ chân tướng mạng của Kim Hoa Bà Bà: Tóc bạc trắng, có tên mang chữ KIM, gốc ở phương Tây – mạng Bà Bà mạng KIM. Kim khắc Mộc, nên vợ chồng Hồ Thanh Ngưu phải mất mạng về tay Kim Hoa Bà Bà. Thật quá rõ! Còn một chi tiết nhỏ: Hồ Thanh Ngưu mạng Mộc – Mộc sinh Hỏa, Mộc giúp Hỏa, và Hồ Dược Sĩ đã giúp Vô Kị mạng Hoả một thời gian vài ba năm truyền dạy Vô Kị gần hết những y thuật bí truyền của ông ta.
Thế còn Triệu Minh mạng gì? Triệu Minh có hai đặc tính: người Mông Cổ và yêu rồi cuối cùng nên duyên vợ chồng với đối thủ phản động Trương Vô Kị. Nhìn ở bản đồ, nước Mông Cổ nằm ở hướng TâY Bắc của Trung Hoa. Hướng Tây chỉ mạng KIM, hướng Bắc chỉ mạng Thủy. Có thể Triệu Minh mang mạng Tây và chút ít mạng Thủy hay chăng? Xem kĩ thêm một chút ta thấy Triệu Minh lúc ban đầu mang sứ mệnh đi triệt hạ Minh giáo nhưng sau dần dần đâm ra phục Vô Kị rồi yêu con người hùng đi làm cách mạng này. Tức Triệu Minh (hay Triệu Mẫn trong bản hiệu đính mới của Kim Dung) đã khâm phục rồi yêu Trương giáo chủ hay nói cách khác bị Trương Vô Kị khắc phục bằng tài và . . . tình. Có vẻ Triệu Mẫn mang mạng Kim chính, mạng Thủy phụ. Muốn chắc ăn hơn ta thử liệt kê các đặc tính của một người mang mạng Kim, một người mang mạng Thủy, mạng Hoả, mạng Thổ và mạng Mộc:
Tính người mạng Kim: có đầu óc tổ chức, thích ở trong thế chủ động và lãnh đạo, cần cho rằng mình đúng, thích trật tự và sạch sẽ.
Tính người mạng Thủy: giàu tưởng tượng, trung hậu, thông minh, rất ‘cứng cựa’, độc lập, kín đáo, . . .
Tính người mạng Hoả: giàu tình người, nhiều trực giác, thích được thương yêu, thích sôi nổi, giao tế giỏi, . . .
Mạng Thổ: rất chừng mực, hài hoà, trung thành và đòi hỏi trung thành, thích chi tiết, thích bầu bạn nhưng có thể rất cứng đầu.
Mạng Mộc: vui tính, có mục đích, năng động, thích bận rộn, có thể rất hách xì xằng, thực tế, hiếu thắng, . . .
Theo đó Triệu Minh mang nhiều cá tính mạng Kim hơn mạng Thủy và Chu Chỉ Nhược chắc chắn mang mạng Thủy, Vô Kị mạng Hoả. Mối tình giữa Triệu Minh và Vô Kị thật sự là mối tình chớm nở bằng việc khâm phục mến tài. Hoả khắc phục được Kim. Mối tình này khác với mối tình giữa Quách Tỉnh và Hoàng Dung, như sẽ phân tích phiá dưới, đã chứng tỏ ngòi bút hết sức điêu luyện của Kim Dung – mặc nhiên nói lên tình yêu giữa người nam và người nữ – dù cho trong giới giang hồ kiếm hiệp đi nữa (trừ trường hợp anh chàng Pê Đê Đông Phương Bất Bại trong bộ Tiếu Ngạo Giang Hồ) – không một mối tình nào giống mối tình nào.
Bây giờ xin xem qua bộ ‘Xạ Đìêu Anh hùng truyện’ và ‘Võ Lâm Ngũ Bá’. Tổng cộng chừng một phần 5 của Xạ Điêu Anh Hùng truyện đề cập đến truyền tích và hành vi của năm ông võ sư thượng thặng của Trung Quốc trước thời nước Tàu bị Mông Cổ chiếm đóng. Đó là Bắc Cái Hồng Thất Công (Vua Ăn Xin), Tây Độc Âu Dương Phong, Đông Tà Hoàng Dược Sư, Nam Đế Nhất Đăng Đại Sư, và Trung Thần Thông Vương Trùng Dương. Rõ ràng 5 vị võ lâm ngũ bá đại diện cho năm thức Ngũ Hành. Bắc Cái Hồng Thất Công, ông vua ăn xin mặt mày đen đúa ở phiá Bắc (Bắc Cái) mạng THỦY, Tây Độc Âu Dương Phong và cháu là Âu Dương Cơ đi từ BẠCH Đà sơn đến – chuyên môn ăn mặc đồ trắng, kể cả đoàn phụ nữ tùy tùng mặc áo quần màu trắng, mạng KIM. Đông Tà Hoàng Dược Sư ở phía Đông ưa ở trong vườn đào thích mặc áo màu xanh, đích thị mạng MộC. Nam Đế Nhất Đăng đại sư ở phía Nam mặc áo cà sa màu đỏ, với ngón nghề Nhất dương chỉ, đúng mang mạng HỎA. Trung Thần Thông Vương Trùng Dương có căn cứ ở miền Trung mang mạng THỔ. Kim Dung còn nhấn mạnh ở mạng Thổ của Trùng Dương bằng cách cho ông sư tổ phái Toàn Chân này chết giả chôn vào lòng đất mấy ngày – chờ Âu Dương Phong đến cạy hòm để ăn cắp Cửu Âm chân kinh – chợt tỉnh dậy thọc vào mặt họ Âu Dương một ngón Nhất Dương chỉ đau cho gần chết (!) cho Âu Dương tởn đến già. Võ lâm ngũ bá nói nôm na dùng để chỉ sự hài hoà của 5 nguyên tố của Ngũ hành. Bởi vậy để cân bằng sự hài hoà đó Kim Dung cho vào nhân vật Lão Ngoan Đồng Châu Bá Thông sau khi Vương Trùng Dương chết đi một thời gian. Châu Bá Thông là sư đệ hay lí lắc như con nít của Vương Trùng Dương, đặt ra để thay thế họ Vương trong mạng Thổ để đối phó cân bằng với bốn tay cao thủ hạng nhất kia. Ta để ý sự hài hoà ngũ hành đó rất ngộ nghĩnh như sau:
. Đông tà mạng Mộc, có thể trị Thổ (Vương Trùng Dương) nếu đánh nhau gay gắt, nhưng Kim Dung cho Đông Tà có vẻ mến và thích Vương Trùng Dương nên ít khi chạm trán trực tiếp với họ Vương. Nhưng rõ ràng Mộc vẫn trị Thổ như thường qua việc Đông Tà khắc phục được và giam cầm Châu Bá Thông trên đảo đào hoa suốt 20 năm trời để bắt buộc họ Châu phải chép ra hay đọc ra Cửu Âm Chân Kinh cho Đông Tà!
. Nam Đế mạng Hỏa trực tiếp có thể khống chế mạng Kim của Tây Độc Âu Dương Phong. Thì đó Âu Dương Phong chỉ sợ có ngón Nhất Dương chỉ của người võ lâm ở phương Nam mà thôi.
. Mạng Kim của Âu Dương Phong chính ra có thể thắng được Hoàng Dược Sư, mạng Mộc. Nhưng hình như giữa họ Âu Dương và họ Hoàng có tình nể nang đồng nghiệp (professional courtesy) với nhau. Đó là tình mến nhau nhường nhau giữa tên ăn cướp và bà già ăn trộm, nên họ lại ít đấu nhau cho chí tử.
. Mạng Thủy của Hồng Thất Công có thể trị được Nhất Dương chỉ của Đoàn Nam Đế (mạng Hoả). Nhưng không được họ lại cùng phe thiện và thương người như nhau!
. Tương tự mạng Thổ của Vương Trùng Dương có thể chặn mạng Thủy cuả Hồng Thất Công (Bắc Cái), nhưng không họ mến tài mến đức của nhau.
. Âu Dương Phong mạng Kim và Hồng Thất Công mạng Thủy không có khắc gì với nhau – nên không ai hạ được ai hết. Rốt cuộc trong một trận đấu cuối cùng trên núi tuyết trong truyện ‘Thần Điêu Hiệp Lữ’ (nối tiếp ‘Anh Hùng Xạ Điêu) hai ông lão đấu nhau mấy ngày đêm rồi đều lăn đùng ra chết, trước chứng kiến của Dương Qua.
. Hoàng Dược Sư mang mạng Mộc nên mang tính hiếu thắng. Ông ta mất vợ cũng chỉ vì kêu vợ cố nhớ lại rồi viết ra bản Cửu Âm Chân kinh học lóm được từ Chu Bá Thông. Có lẽ ông cũng mang chút ít mạng Thổ nên ông đã đòi hỏi trung thành của mọi người, nhất là đám đệ tử. Sau khi cặp học trò Trần Huyền Phong và Mai Siêu Phong ăn cắp quyển copy của Cửu Âm Chân Kinh trốn đi, Hoàng Đông Tà nổi giận cắt hết gân của những người học trò còn lại rồi đuổi đi hết.
Kim Dung đã cấu tạo cá tính nhân vật thật hay và Ngũ hành được đại diện rất đầy đủ, vững chắc trong ‘Anh Hùng Xạ Điêu’. Sự cân bằng ngũ hành trong Võ Lâm Ngũ Bá và Anh Hùng Xạ Điêu chính là cân bằng hài hoà trong một thế động, luôn luôn động. Người này khắc chế người kia xoay vòng cho giáp, để rồi rốt cuộc không hề có một người nào thật xuất chúng trồi lên trên cao. Thế Hoàng Dung và Quách Tỉnh mang mạng gì? Hoàng Dung nhỏ lớn sống ở Đào Hoa Đảo bên phía Đông. Hoàng Dung mang mạng Mộc như thân phụ Hoàng Dược Sư. Muốn cho độc giả thấy rõ Hoàng Dung mạng Mộc tiêu biểu bằng màu xanh, Kim Dung bày ra màn Hoàng Dung được Hồng Thất Công truyền chức Bang Chủ Cái Bang và giao cho nàng cây gậy trúc màu XANH với bài quyền độc đáo Đả Cẩu Bổng Pháp (bài quyền dùng gậy đánh chó của giới ăn xin). Cây gậy trúc màu xanh và bài quyền Đả cẩu bổng được xem như ấn tín của Cái Bang. Ai có được hai thứ đó trong tay đều được bang chúng nhìn nhận là Bang Chủ. Chọn gậy trúc màu xanh thay vì màu thông thường là màu vàng Kim Dung khẳng định Hoàng Dung mang mạng Mộc. Thế nhưng tại sao Hồng Thất Công mang gậy trúc màu xanh lại có mạng Thủy? Kim Dung trốn khỏi mâu thuẫn này dễ dàng bằng cách cho ngón võ nghề chính yếu của Hồng Thất Công là Hàng Long Thập Bát Chưởng, Long tức rồng liên hệ với nước, mạng Thủy. Trong khi đó Quách Tỉnh mang mạng Hoả – người gốc Hàng Châu, cũng có thể được tạm gọi phía Nam Trung Hoa (Hoa Nam) vì nằm phía Nam sông Dương Tử. Kim Dung lại muốn cho chắc chắn nên cài Quách Tỉnh làm đồ đệ của Giang NAM Thất Quái. Liên hệ mật thiết với Giang Nam Thất Quái, Quách tỉnh có gốc gác phương Nam và mạng Hoả. Mộc sinh Hoả. Cây dễ bị bén lửa. Mộc Hoàng Dung dễ cảm mến và yêu Hoả Quách Tỉnh. Mộc sinh Hoả và giúp Hoả. Nhớ trong truyện có rất nhiều đoạn Hoàng Dung cầu cạnh các cao thủ khác, nhất là Hồng Thất Công, truyền dạy võ nghệ thêm cho chàng khờ Quách Tỉnh. Nàng lo nấu những bữa ăn ngon cho Bắc Cái Hồng Thất Công để ông vua ăn xin này truyền ngón Hàng Long Thập Bát chưởng cho Quách Tỉnh. Tình yêu giữa Hoàng Dung và Quách Tỉnh là thứ tình yêu lo và giúp chồng thành công. Nó khác với thứ tình yêu mến và khắc phục giữa Triệu Minh và Trương Vô Kị trong Cô Gái Đồ Long như đã nói ở trên. Và cũng khác hẳn mối tình giữa Tiểu Long Nữ và Dương Qua trong Thần Điêu Hiệp Lữ – cả hai đều cùng mạng Thổ, bởi sống và tập luyện võ vớI nhau dưới lòng đất nơi Cổ Mộ rất lâu năm. Ai nói Kim Dung không tuyệt chiêu trong việc tả tình yêu đôi lứa chắc phải suy nghĩ lại. Tiện ở đây cũng ghi thêm Dương Khang có lẽ cũng mạng Hoả như Quách Tỉnh (cùng gốc Hàng Châu) nên trên đường giang hồ, trong một phút ghen tương sao đó vì nàng Mục Niệm Từ, Dương Khang đã lụi vào một cao thủ võ công giỏi hơn mình là Âu Dương Cơ thuộc mạng Kim một nhát dao đến mút cán. Ngoài ra Hoàng Dung mạng Mộc rất kị những người mạng Kim như Âu Dương Cơ và Thiết Bang Chưởng Cừu Thiên Nhận. Có lần Hoàng Dung tính giỡn mặt với ông Thiết Bang Cừu Thiên Nhận thứ thiệt vì lầm tưởng ông này là ông giả, bị ông này đập cho một chưởng như buá sắt đập (Thiết tức sắt, mạng Kim) đâm ra bệnh gần chết. Sau phải nhờ Đoàn Nam Đế (mạng Hoả, Hoả trị Kim) với ngón Nhất Dương Chỉ trị mới khỏi. Kim Dung đã viết thật hay và phô bày rất cặn kẽ về luật Ngũ Hành trên ngót một ngàn trang sách cho Anh Hùng Xạ Điêu. Bố cục và sự giao động cũng như đãu chưởng tranh hùng giữa các cao thủ với nhau đều hoàn toàn nằm trong cơ sở lô-gích của thuyết Ngũ Hành.
Thế còn những Đoàn Dự, Tiêu Phong, Mộ Dung Phục, Hư Trúc, và Du Thản Chi cùng một lô các cao thủ khác trong Thiên Long Bát Bộ thì sao? Những Lệnh Hồ Xung, Nhâm Doanh Doanh, Nhâm Ngã Hành, Đông Phương Bất Bại, Nhạc Linh San, Phong Thanh Dương đạo nhân, Điền Kế Quang, Nhạc Bất Quần, v.v. trong Tiếu Ngạo Giang Hồ, họ được chiếu theo các mạng nào trong Ngũ Hành?
Người viết thú thật chỉ đọc được Thiên Long Bát Bộ và Tiếu Ngạo Giang Hồ có một lần – và xem phim tập Hongkong cũng chỉ một lần thôi. Chỉ nhớ được mơ hồ rằng Mộ Dung Phục tuy có gốc tổ tiên nước Yên (ở phía cực Bắc) nhưng giấc mơ phục quốc của Mộ Dung vẫn mãi mãi một giấc mơ hảo huyền, nên Mộ Dung Phục dính liền với đất Giang Nam, mạng Hoả. Kim Dung nhấn mạnh thêm Bắc Tiêu Phong Nam Mộ Dung, và cho Tiêu Phong thuộc người Khất Đan ở phía Bắc nước Trung Hoa. Mạng Thủy của Tiêu Phong khắc mạng Hoả của Mộ Dung Phục mặc dù rất nhiều đoạn Kim Dung mô tả võ nghệ của Mộ Dung Phục rất thần sầu quỉ khốc. Mỗi lần gặp Tiêu Phong ta để í thấy Mộ Dung Phục có vẻ hơi ngán mặc dù lúc nào anh ta cũng đầy tự tin mình giỏi võ hơn người. Có lẽ dưới cơ Tiêu Phong chỉ vì cái ‘rơ’ mà thôi. Cái rơ Ngũ hành!
Phần quan sát thế ngũ hành của các nhân vật còn lại trong Thiên Long Bát Bộ và các cao thủ của Tiếu Ngạo Giang Hồ, nhân vì bài đã khá dài, người viết xin trân trọng nhường lại cho người đọc.
NN
Hiếm nở chóng tàn-Corpse Flower (Xác hoa)-Titan Arum
Posted: 16/01/2013 Filed under: Viet Nam | Tags: Hiếm nở chóng tàn, Hoa hiếm, hoa Xác thối, Vườn Bách thảo, Vườn hoa Melbourne Leave a commentHiếm nở chóng tàn- Xác hoa (Corpse Flower) –Titan Arum
Y Nguyên-Mai Tran
Thành phố Melbourne được mệnh danh là thành phố của vườn hoa ở Úc. Vườn Bách thảo, Royal Botanical Gardens nằm ngay trong thành phố , nổi tiếng trên thế gìới, là một trong những địa điểm thu hút khách du lịch nhiều nhất khi họ đến tiểu bang Victoria, địa thế vườn bách thảo bao quanh bởi những vườn hoa nhỏ hơn tạo thành một “ốc đảo” thiên nhiên, yên tỉnh, nơi nghĩ chân lý tưởng, rộng 38 mẩu (ha) với nhiều hồ nước và sân thảm cỏ xanh với những con đường viền hoa hay các loại thực vật. Có khoảng 52 ngàn cây cỏ của khoảng 10 ngàn giống loại khắp nơi trên thế giới từ môi trường ôn đới đến sa mạc, có những cây to đến hàng trăm năm, thảo mộc quý hiếm đến những loại thảo mộc gia vị như rau râm, rau thơm, rau húng…
Hình 1. Royal botanical gardens. Melbourne, Victoria, Australia..
Được thiết lập vào năm 1846, nhưng mùa Giáng sinh năm 2012, đặc biệt vườn bách thảo đã chứng kiến lịch sữ diển ra- Hoa Titan Arum nở lần đầu tiên sau một thời kỷ chăm sóc đặc biệt trong nhà kính (glasshouse).
Hính 2 Người xem hoa, phải xếp hàng dài hơn 2km.
Đây là một cơ hội hiếm có nên người đến xem phải xếp hàng đợi hàng giờ trước khi nhà kiếng mở mà người viết cũng không thể bỏ qua. Trong bài viết Sắc màu hoa nhớ, người viết đã đến thăm nơi đây lúc TitanArum là (cây) lá. Titan Arum tên khoa học Amorphophallus titanum là một loài hoa hiếm quý có nguồn gốc ở miền Tây đảo Sumatra (Indonesia, Nam Dương). Hoa phải trồng từ 3-7 năm mới ra hoa và hoa chỉ nở trong 2-3 ngày rồi héo tàn. Trong môi trường thiên nhiên hoa nở bất thường nên rất hiếm người thấy. Năm 1878, nhà thảo mộc học người Ý Odoardo Beccari, đã khám phá hoa này trong rừng sâu nhiệt đới trên đảo Sumatra.
Hoa còn được gọi là Corpse Flower (tạm dịch là Xác hoa). Titan Arum bắt đầu tử thân củ hành (tuber,corm) sau đó chỉ phát triển thành lá hoặc hoa . Nếu là lá thì chỉ có một lá với cuống lá giống như thân cây màu xanh có đốm trắng và những nhành lá nhỏ phụ (sub-leaves). Cây lá này sống khỏang 1 năm thì tàn rụi. Cứ 3 đến 7 năm thì củ lại lên hoa-hoa hình mo (như mo cau), nếu môi trường thích hợp, hoa có thể cao đến 3m, phần bông mo ( spadix) tự phát sức nóng khi hoa nở, phía đáy của mo bao quanh spadix là những hàng hoa đực nằm trên và hoa cái nằm phía dưới , khi hoa nở có toát ra mùi hôi thúi (mùi của xác chết-vì thế hoa còn gọi là corpse flower (tạm dịch là xác hoa)). Chính hơi nóng đã giúp mùi hôi thúi xông ra xa hơn để thu hút côn trùng đến thụ phấn.
Mùi xông ra mạnh nhất khi phần mo (spathe) giương sau 8-10 tiếng đồng hồ. Sau đó khoảng 2 hoặc 3 ngày thì phần mo (spathe) sẽ héo tàn, theo sau là bông mo (spadix).
Hình 3. Hoa nở trong nhà kiếng (Glasshouse). Royal botanical garden Melbourne 27Dec2012
Hình 4. Hoa đực (màu vàng) nằm trên và hoa cái nằm dưới chung quanh mo hoa (spadix). Hoa cái nở trước hoa đực một hay hai ngày đễ tránh tự thụ phấn.
Hình 5 . Vòng đời (life cycle) của Xác Hoa (Titan Arum).
Trong ảnh, mủi tên màu hồng là chu kỳ sinh sản tức là hoa phát triển từ củ, mang hoa kết trái. Màu xanh biểu thị chu kỳ chỉ sinh ra lá (một chiếc lá mà thôi) , rồi tàn trong vòng 1 năm.
Nguồn từ http://botit.botany.wisc.edu/Titan_Arum_Archive/index.html với chú thích tiếng Việt của người viết
Hình 6. Titanum Arum lá, hoa và trái
Hình 7. Lá của Titan Arum-Xác hoa (Corpse flower)
Cây lá Titan Arum, cuống lá giống như thân cây màu xanh có đốm trắng và chiếc lá phát triển thành những chùm nhánh lá nhỏ. Cả lá (cây lá) chỉ sống đến 12 tháng rối tàn rụi, năm sau lại mọc lên. Chừng 3-7 năm lại mọc hoa thay lá, nếu điều kiện môi trường thích hợp.
Titan Arum là một loài hoa hiếm qúy, hiện nay giống này đang được tìm cách bảo tồn và phát triển tại nhiều đại học và vuờn bách thảo lớn trên thế gìới.
Xem Video trên youtube http://www.youtube.com/watch?v=t61Tym6Fc8s&feature=youtu.be
Y Nguyên Mai Trần 15Jan2013
Lịch sử Kinh Rạch xưa và nay ở Sàigòn-Chợ Lớn
Posted: 29/11/2012 Filed under: Nghiên cứu-Khảo luận, Viet Nam | Tags: Kinh rạch Sài Gòn Chợ Lớn, Kinh rạch xưa nay, Rạch Thị Nghè, Sông Cầu bông 1 CommentLỊCH SỬ KINH RẠCH Ở SÀI GÒN – CHỢ LỚN
I. KHÁI QUÁT VỀ ĐỊA THẾ SÀI GÒN – CHỢ LỚN
Sài Gòn ban đầu là tên gọi khu đất thuộc Quận 5 hiện nay.Năm 1778, quân Tây Sơn lấy cớ người Hoa trợ giúp cho Nguyễn Ánh nên đã tàn phá cù lao Phố (nay là xã Hiệp Hòa, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai). Những người Hoa còn sống sót rút chạy về vùng này, lập phố thị Đề Ngạn (nghĩa là “bờ đê”). Theo nhiều nhà nghiên cứu thì người Hoa Quảng Đông phát âm “Đề Ngạn” thành “Thầy Ngồn”, lâu ngày đọc trại thành “Sài Gòn”[1]. Đến khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, theo nghị định ngày 3/10/1865 của Thống đốc Nam kỳ, chúng xây dựng nên hai thành phố riêng biệt, cách nhau bởi một số ruộng bưng, ao đầm ở vùng Chợ Quán. Thành phố Sài Gòn có diện tích khoảng 3km2, nằm gọn trong địa phận Quận 1 ngày nay; thành phố Chợ Lớn có diện tích không đầy 1km2, nằm gọn trong Quận 5 ngày nay[2]. Như vậy, đến đây hai tiếng “Sài Gòn” lại được đặt tên cho vùng mà trước đó có tên gọi là Bến Nghé, còn vùng đất Sài Gòn cũ được đổi tên thành Chợ Lớn. Nhưng không bao lâu sao đó thì, do sự mở rộng của hai thành phố nên Sài Gòn và Chợ Lớn đã tiếp giáp với nhau thành một địa bàn, gọi chung là Sài Gòn – Chợ Lớn.
Vùng đất Sài Gòn – Chợ Lớn là đầu mối giao thông thủy bộ giữa miền Đông và miền Tây Nam Bộ. Ưu thế đó đi kèm với điểm bất lợi, vì đó là nơi “phong hồi thủy tụ” nên địa hình trũng thấp, khó có thể chọn làm trung tâm. Bởi thế mà năm 1785, sau khi Nguyễn Huệ kéo quân vào Nam đánh tan hai vạn quân Xiêm và giao cho Nguyễn Trấn ở lại giữ đất Gia Định, thì ông liền chọn địa điểm cầu Sơn (nay là Phường 25 và 26, quận Bình Thạnh) để đóng binh. “Cầu Sơn nằm trên gò cao, giữa là đồng bằng, dưới có ruộng cạn”[3], thuận lợi cho thế phòng thủ và tiến quân.
Quả thật, Sài Gòn – Chợ Lớn lúc bấy giờ là vùng trũng thấp, sông rạch chằng chịt. Ngay tiếng “Đề” (đê) trong địa danh Đề Ngạn cũng cho biết đây là vùng đất trũng, cho nên người Hoa phải đắp đê (hiểu là dãy đất cao) ven rạch Tàu Hủ để cất phố chợ. Theo Trần Kim Thạch thì khu vực từ rạch Bến Nghé trở xuống hướng Nam , “địa hình xấp xỉ mặt nước biển, đi từ + 0,5m đến +3m, thường bị triều bao phủ gần hết”[4]. Chính vì vậy mà theo Trương Vĩnh Ký thì xung quanh gò Cây Mai hàng năm có “tổ chức các cuộc đua thuyền để tôn vinh đức Phật”[5]. Về phía Sài Gòn (hiểu là khu vực Quận 1 hiện nay) có một con đường dù đã được đắp cao để đi lại nhưng nước vẫn thấm ướt quanh năm, nên gọi là đường Nước Nhỉ[6], nghĩa là luôn có nước nhỉ giọt:
Đường Nước Nhỉ chảy tiu tiu,
Người thương khách lại qua hóng mát.
(Cổ Gia Định phong cảnh vịnh)
Về phía Chợ Lớn, có con rạch mang tên Nước Lên[7], chỉ hiện tượng triều cường dâng lên gây ngập tràn:
Quán Nước Lên dòng dờn dợn,
Khách bộ hành tắm giặt nghỉ ngơi.
(Cổ Gia Định phong cảnh vịnh)
Bởi vậy mà giao thông chủ yếu bằng thuyền, luồn lách theo hệ thống kinh rạch[8] chằng chịt. “Sự đi lại trên rạch khác nào như sợi chỉ của một con thoi qua lại trên máy dệt”[9].
Thế nhưng, khác với quân Tây Sơn, chúa Nguyễn Phúc Tần, ngay từ năm 1679, đã chọn Bến Nghé làm nơi lập đồn binh vì thấy được tính chất là đầu mối giao thông của địa điểm này. Từ đó, theo thời gian, trụ sở hành chính của Gia Định như dinh Điều Khiển[10] (1732), thành Bát Quái, tức thành Quy[11] (1790), thành Phụng[12] (1835) rồi phủ Toàn quyền Đông Dương (1869) đều được đặt ở vùng Bến Nghé, tức Sài Gòn. Tuy nhiên, Bến Nghé chỉ là trung tâm hành chính, còn trung tâm thương mại thực sự thu hút đông đảo dân cư lại là Chợ Lớn.
Như vậy, trong suốt hơn ba trăm năm, Sài Gòn và Chợ Lớn đồng thời là trung tâm của cả Nam Bộ. Chính điều đó, cộng với nền kinh tế tư bản của chế độ thuộc địa khiến cho, hơn ở đâu hết, vùng này đã có những thay đổi lớn lao không ngờ, mà chủ yếu là công cuộc khắc phục địa hình trũng thấp để xây dựng đô thị. Đặc biệt, kể từ khi Pháp xâm chiếm thì tốc độ đô thị hóa của Sài Gòn – Chợ Lớn càng thêm khẩn trương. Trong quá trình đó thì vấn đề giao thông được đặt ra sớm nhất vì đó là điều kiện tiên quyết để phát triển đô thị.
Nhìn lại xuyên suốt quá trình phát triển của Sài Gòn – Chợ Lớn từ khu đầm lầy thành phố thị nguy nga như ngày nay, thật dễ dàng nhận thấy phương thức giao thông của nó chuyển dần từ đường thủy sang đường bộ. Bởi thế mà vấn đề lịch sử kinh rạch ở đây trở thành vấn đề lịch sử phát triển chung của cả thành phố.
II. LỊCH SỬ KINH RẠCH Ở SÀI GÒN – CHỢ LỚN
Như đã nói, kinh rạch ở Sài Gòn – Chợ Lớn nhiều vô kể, có những con rạch không có tên hoặc có tên nhưng ít ai biết đến[13]. Do đó, bài viết này chỉ ghi chép lại những thông tin về các kinh rạch được nhiều người biết đến, mà chủ yếu là sự hình thành và tiêu vong của chúng.
(Sơ đồ kinh rạch ở Sài Gòn – Chợ Lớn xưa và nay: của Lê Công Lý).
1. Kinh rạch ở Chợ Lớn
Trước hết, phải kể đến kinh rạch ở Chợ Lớn, vì vùng này được đào kinh sớm nhất do nằm ở vị trí giao thương với miền Tây.
Năm 1772, đào kinh Ruột Ngựa. Trước đó, từ cửa sông Rạch Cát về đến rạch Lò Gốm chỉ có con rạch nhỏ nước đọng, thuyền bè đi lại không được. Mùa thu năm 1772, Đốc chiến Nguyễn Cửu Đàm (con trai của Chánh thống Nguyễn Cửu Vân) cho đào thành kinh thẳng tắp như ruột ngựa, nên gọi là kinh Ruột Ngựa (chữ Hán gọi Mã Trường Giang)[14]. Kinh Ruột Ngựa nối kinh Tàu Hủ ăn ra sông Rạch Cát, dài gần 3 km. Từ đó, có thể rẽ trái đi Cần Đước, Cần Giuộc; rẽ phải đi Chợ Đệm, Bến Lức. Kinh Ruột Ngựa tuy ngắn nhưng giữ vai trò cực kì quan trọng, là kinh đào đầu tiên nối kinh Tàu Hủ và vùng Chợ Lớn với vùng đất phía tây.
Kế đến là việc đào kinh Phố Xếp[15]. Khi vừa từ cù lao Phố lánh nạn Tây Sơn về Chợ Lớn (năm 1778), người Hoa có nhu cầu mở thêm phố chợ nên đào thêm kinh Phố Xếp, nối rạch Tàu Hủ cắt ngang rạch Chợ Lớn, lên hướng bắc đến chợ Rẫy (nay là bệnh viện Chợ Rẫy). Chợ này nằm trên gò đất cao, xung quanh đó người Hoa trồng rau cải để bán. Lúc này hoạt động buôn bán ở Chợ Lớn còn rất yếu, chỉ có chợ Rẫy là phát triển, nên Trương Vĩnh Ký khẳng định: “Thực sự, Chợ Lớn xưa nằm trên nền đất Chợ Rẫy bây giờ”[16].
Kinh Phố Xếp giúp vận chuyển rau cải ra rạch Tàu Hủ và đi khắp nơi. Kinh này tồn tại mãi đến năm 1925 mới bị lấp, thành đại lộ Tổng Đốc Phương, nay là đường Châu Văn Liêm ở Quận 5.
Đến năm 1819, kinh Ruột Ngựa đã bị cạn lấp, ghe xuồng đi lại khó khăn nên mùa xuân năm này, Phó tổng trấn Gia Định thành là Huỳnh Công Lý vâng lệnh đốc thúc hơn 10 000 dân phu trong trấn Phiên An[17] đào kinh mới từ đầu rạch Lò Gốm đến cuối rạch Ruột Ngựa, nối kinh Tàu Hủ thông với sông Rạch Cát. Kinh đào xong rộng khoảng 40 mét, sâu khoảng 4 mét, dài khoảng 5 km, được vua Gia Long đặt tên là An Thông Hà. Nhờ đó mà ghe thuyền đi lại được nhanh chóng, dân thương hồ “bơi chèo hát xướng ngày đêm nối nhau, thực là nơi đô hội trên bến dưới thuyền, người ta đều khen là thuận lợi”[18].
Đến khi Pháp chiếm Nam Bộ, tuy làm chủ được tình thế nhưng kẻ xâm lược luôn phải đối phó với nhiều đợt tấn công của nghĩa quân ta từ phía Đồng Tháp Mười. Vì thế nên chúng cho đào kinh Vành Đai (Canal de Ceinture) hình vòng cung bao bọc phía bắc của Sài Gòn – Chợ Lớn, còn gọi là kinh Vòng Thành hay kinh Bao Ngạn (tức “bờ bao”). Kinh này “dài 7 km, rộng 10m, sâu 3m. Đào năm 1875, nối rạch Thị Nghè và rạch Hoa Kiều[19]. Nay[20], không còn tác dụng gì, bị đóng bùn. Rạch Thị Nghè mà nó chảy vào, thuyền bè không đi lại được khi triều rút quá cầu Phú Mỹ[21]. Trong vùng Phú Thọ, lòng kinh bị đắp cao hơn mực nước triều”[22].
Theo dự án, kinh được xuất phát từ ngã ba giữa rạch Chợ Lớn và rạch Lò Gốm đến gò Cây Mai (nay là đường Nguyễn Thị Nhỏ, Quận 11), vòng qua Phú Thọ, đến Hòa Hưng rồi đổ ra rạch Thị Nghè ở vị trí nay là cầu Công Lý. Bờ kinh là đường bộ cho lính canh phòng, dưới kinh là tàu chiến cỡ nhỏ di chuyển. Thế nhưng, do dân phu đấu tranh và nghĩa quân đánh phá liên miên nên công trình dang dở dù đã đào được thành đường kinh, sau đó được lấp dần.
Bước sang đầu thế kỉ XX, nhờ sự giúp đỡ của chính quyền thuộc địa, nền thương mại của Hoa kiều phát triển mạnh, mà chủ yếu là việc thu mua lúa từ miền Tây chở về Chợ Lớn xay thành gạo xuất khẩu. Do đó, kinh Tàu Hủ đã tỏ ra quá tải trước lượng ghe thuyền tấp nập, nên từ năm 1906 đến 1908, Pháp cho đào một con kinh mới từ sông Sài Gòn đi về phía tây, ăn đến sông Rạch Cát, dài khoảng 13 km. Đoạn từ sông Sài Gòn đến Chợ Quán khoảng 4 km có tên tên là kinh Tẽ (vì được xem như là một nhánh tẽ của kinh Bến Nghé), nhưng sau đó bị đọc và viết nhầm là kinh Tẻ; đoạn còn lại có tên là kinh Đôi (Pháp gọi là Canal de Doublement) vì gần như song song với kinh Tàu Hủ.[23] Tuyến kinh mới này nhờ được thi công bằng cơ giới nên vừa rộng vừa thẳng, làm tăng thêm đáng kể khả năng thông thương giữa Sài Gòn – Chợ Lớn với miền Tây.
Hoạt động thương mại ở Chợ Lớn phát triển kéo theo nhu cầu mở rộng đô thị. Chính điều này dẫn đến việc lấp rạch Chợ Lớn. Con rạch này vốn đã có từ lâu đời, đến năm1925 được lấp thành đường giao thông. Đoạn gần rạch Lò Gốm thành đường Trương Tấn Bửu (nay là đường Lê Quang Sung), đoạn giữa vốn là những ụ chuyên đóng mới và sửa chữa tàu thuyền, thành bến xe Chợ Lớn, đoạn giáp với rạch Tàu Hủ thành đường Khổng Tử (nay là đường Hải Thượng Lãn Ông). Năm 1930, trên bờ rạch Chợ Lớn cũ, chợ Bình Tây (tức Chợ Lớn mới) do Quách Đàm (một người Hoa) xây dựng khánh thành, hoạt động mua bán càng thêm sầm uất nên ít ai còn nhớ con rạch này.
2. Kinh rạch ở Sài Gòn
Kinh rạch ở Sài Gòn chỉ được đào lấp kể từ khi Pháp xâm lược nước ta và chọn Sài Gòn làm trung tâm hành chính, mở mang phố chợ. Trước đó, hoạt động mua bán chỉ phát triển ở Chợ Lớn, do người Hoa khuếch trương.
Năm 1860, việc lấp kinh rạch đã gây cuộc tranh cãi lớn trong Hội đồng thành phố, giữa quan điểm đấu tranh cho vệ sinh công cộng coi kinh rạch như các ổ nhiễm khuẩn và quan điểm của nhóm thương nhân coi kinh rạch như huyết mạch để vận chuyển hàng hóa[24]. Chính vì phải điều đình giữa hai quan điểm đó mà việc đào lấp kinh rạch ở Sài Gòn diễn ra khá chậm chạp.
Năm 1862, đô đốc Bonard thực hiện phân lô vùng Bến Nghé thành nhiều khoảnh và bán với giá rẻ để thu hút dân cư. Năm 1867, kinh Chợ Vải được đào, từ sông Sài Gòn, gần đầu rạch Cầu Sấu (nay là đường Hàm Nghi) ăn vô đến giếng nước cùng tên rồi rẽ phải ở chỗ nay là Nhà hát Thành Phố, ra rạch Thị Nghè bằng kinh Coffin. Trên bờ kinh này có ngôi chợ chuyên bán vải vóc nên có tên là chợ Vải. Năm1911, chợ này được dời về vị trí mới, chỗ vũng ao đầm vừa được lấp lại[25], tức là chợ Bến Thành hôm nay. Năm 1884, kinh được lấp phần ngọn từ vị trí nay là đường Lê Lợi đến đường Mạc Thị Bưởi, phần còn lại được cẩn đá hai bên bờ, cách khoảng có xây bậc thang để vận chuyển hàng hóa lên xuống. Đến năm 1892, đoạn còn lại cũng được lấp thành đường phố, gọi là đường Charner, dân gian gọi là đường Kinh Lấp, nay là đường Nguyễn Huệ.
Kinh Coffin nối rạch Cầu Sấu, kinh Chợ Vải và kinh Cây Cám với nhau, do đại tá Coffin chỉ huy đào, đến năm 1892 cũng bị lấp cùng với hàng loạt kinh rạch nhỏ khác. Kinh Coffin trở thành đường Bonard, nay là đường Lê Lợi. Rạch Cây Cám trở thành đường Espagne (tức Tây Ban Nha), nay là đường Lê Thánh Tôn. Rạch Cầu Sấu trở thành đại lộ De la Somme, sau đổi thành Duperré, nay là đường Hàm Nghi. Rạch Cầu Ông Lãnh trở thành đường Kitchener (1907), sau đó đổi thành Abattoir (lò sát sinh, tức xóm Lò Heo), nay là đường Nguyễn Thái Học. Rạch Cầu Kho được lấp thành đường Cầu Kho, sau đó đổi là đường Phát Diệm, nay là đường Trần Đình Xu.
Ngoài ra, còn hàng loạt kinh rạch khác cũng được lấp dần, tự phát do nhu cầu chỗ ở của người dân, như rạch Cầu Muối, rạch Bà Tiềm, rạch Bà Đô (tức rạch Xóm Chiếu), rạch Cầu Hộc, rạch Xóm Dầu, rạch Bà Tịnh, v.v. Đô thị phát triển đến đâu thì kinh rạch bị lấp đến đó.
Trong khi đó, con sông Sài Gòn lúc này là tuyến vận tải chính nhưng lại quá cong quẹo nên vận chuyển tốn kém nhiều công sức và tiền của. Vì vậy nên nhà cầm quyền Pháp quyết định cho đào kinh Thanh Đa[26], “dài 1 km, rộng 40m, sâu 6m. Đào từ 1897 đến 1898. Kinh này vừa mới được mở ra cho thuyền bè qua lại. Nó cắt vòng thắt từ Bình Lợi đến An Phú và rút ngắn được 12km theo dòng chảy của sông Sài Gòn”[27].
3. Kinh rạch ở phía nam rạch Bến Nghé
Vùng phía nam rạch Bến Nghé cũng có vô số kinh rạch nhưng vì tốc độ đô thị hóa chậm hơn nên mới chỉ bị lấp gần đây. Chẳng hạn, rạch Cầu Chông ở Phường 9, Quận 4 lấp năm1997, thành đường Vĩnh Khánh. Phần ngọn rạch Ụ Cây (phía sau chợ Xóm Củi, Quận 8) được lấp dần vào khoảng cuối thập niên 1990 do những phế phẩm từ hoạt động buôn bán của ngôi chợ này. Rạch Bàng ở Quận 7, bên kia dốc cầu Tân Thuận vốn đã cạn từ lâu, đến năm 2005, khi tiến hành xây dựng cầu Tân Thuận mới, người ta lấp hẳn để làm đường mang cá cho cầu này. Ngoài ra, cùng với việc xây dựng khu đô thị mới Phú Mỹ Hưng ở Quận 7 và đường cao tốc Nam Sài Gòn, hàng loạt kinh rạch khác cũng bị lấp đi để nhường chỗ cho đường giao thông, cống hộp và nhà cao tầng.
Tuy nhiên, đáng chú ý nhất là năm 2005, người ta đã lấp đoạn đầu của rạch Bến Nghé, phần tiếp giáp với sông Sài Gòn để thi công xây dựng đường hầm Thủ Thiêm (hầm ngầm xuyên qua lòng sông Sài Gòn, sang Quạn 2) và đại lộ Đông – Tây dọc theo rạch Bến Nghé, đi về các tỉnh miền Tây. Theo dự án thì sau khi thi công xong đường hầm, sẽ khai thông rạch Bến Nghé trở lại để bảo lưu cảnh quan sông nước vốn có của vùng đất này. Do đó, toàn bộ chiều dài rạch Bến Nghé đã được giải tỏa và đang nạo vét, xây bờ kè để đảm bảo dòng chảy thông thoáng trong tương lai.
* * *
Điểm qua lịch sử kinh rạch ở Sài Gòn – Chợ Lớn, có thể thấy kinh rạch chủ yếu bị tác động bởi quá trình đô thị hóa (dù đào hay lấp) mà động lực của nó chính là kinh tế. Ban đầu, khi giao thông trên bộ chưa phát triển thì người ta tận dụng và đào kinh để giao thương. Đến khi phương tiện giao thông trên bộ phát triển thì kinh rạch lại được lấp đi để nhường chỗ cho đường sá và nhà cửa, công trình. Bởi vậy mà phần lớn những con đường xưa ở Sài Gòn – Chợ Lớn hiện nay trước kia chính là kinh rạch. Và đó cũng là khu vực có trình độ đô thị hóa cao, đặc biệt là luôn có chợ lớn, buôn bán tấp nập.
Tuy nhiên, quá trình lấp kinh rạch một mặt giúp cho nền đất thành phố thêm cao ráo nhất thời, một mặt lại tiềm ẩn nguy cơ ngập úng không còn xa mấy. Nguyên nhân là vì các kinh rạch xưa luôn được phân bố theo địa hình tự nhiên và thuận lợi cho dòng chảy; nay bị lấp đi, thay bằng hệ thống cống hộp vừa nhỏ vừa dễ bị tắc nghẽn, khiến nước không thoát kịp ra sông và dẫn đến ngập cục bộ. Mặt khác, do kinh rạch bị lấp quá nhiều nên mỗi khi triều cường dâng lên, dòng nước bị chặn lại nên cũng gây ngập cục bộ. Nạn ngập úng này diễn ra ở hầu hết các quận huyện, kể cả nội thành, với độ sâu từ 0,3 – 1m, nhưng nặng nề nhất là ở Quận 8 và quận Bình Thạnh. Điều này cộng với nạn khai thác nước ngầm trái phép khiến nền đất ở nội thành bị lún đều đặn mỗi năm đến vài cm. Đó chính là sự phản ứng của tự nhiên khi con người đã làm trái với nó. Và cứ theo đà này thì, nếu con người không khai thông dòng chảy, Sài Gòn – Chợ Lớn chắc chắn sẽ quay trở lại diện mạo của mấy trăm năm về trước: một khu đầm lầy.
Để khai thông hệ thống cống ngầm của thành phố thì trước hết phải giải quyết lượng rác thải khổng lồ ứ đọng trong lòng cống. Do là vùng trũng, lại nằm trong chế độ bán nhật triều nên khả năng cuốn trôi rác thải của kinh rạch ở Sài Gòn – Chợ Lớn là rất thấp. Bởi vì khi nước triều rút đi, rác rến chưa trôi theo được bao nhiêu thì lại bị triều dâng đẩy trở lại vị trí cũ. Chính vì vậy mà ngay từ năm 1862, trong dự án “Sài Gòn – thành phố 500.000 dân”, Coffin (Đại tá Chỉ huy trưởng Công binh Pháp) đã có ý định đào một hồ lớn ở trung tâm thành phố. Từ đây chĩa đi bốn hướng bằng bốn đường cống đến sông Sài Gòn, rạch Bến Nghé, kinh Vành Đai và rạch Thị Nghè. Nhờ các cửa ngăn tự động cho phép nước chảy một chiều, hồ này có thể điều chỉnh cho nước trong mỗi đường cống chỉ chảy theo một hướng, giúp rác thải trôi ra sông[28]. Tuy đó là dự án của thành phố Sài Gòn chỉ với 500.000 dân và cách đây gần 1,5 thế kỉ nhưng chứng tỏ nhà quy hoạch đã nhìn thấy được nguyên nhân số một của hiện tượng ngập úng. Ngày nay, trong điều kiện hiện tại của thành phố thì ý tưởng trên càng nên được quan tâm nghiên cứu có cải tiến vì nó tỏ ra là biện pháp hiệu quả, ít tốn kém và rất khả thi.
Người viết : Lê Công Lý
TÀI LIỆU THAM KHẢO VÀ TRÍCH DẪN
1. Huỳnh Minh. Gia Định xưa, 1973, Nxb Thanh Niên, 2001.
2. Huỳnh Ngọc Trảng (chủ biên). Sài Gòn Gia Định xưa, tư liệu và hình ảnh, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 1997.
3. Lê Trung Hoa, Nguyễn Đình Tư. Từ điển địa danh Thành phố Sài Gòn – Hồ Chí Minh, Nxb Trẻ, 2003.
4. Nguyễn Liên Phong. Nam Kì phong tục nhơn vật diễn ca, Phát Toán, Sài Gòn, 1909.
5. Nguyễn Thị Thanh Xuân, Nguyễn Khuê, Trần Khuê. Sài Gòn Gia Định qua thơ văn xưa, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 1987.
6. Nhiều tác giả. Địa danh ở Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh. Nxb Trẻ, 1993.
7. Nhiều tác giả. Sài Gòn – Thành phố Hồ Chí Minh, 300 năm địa chính, Sở Văn hoá – Thông tin Thành phố Hồ Chí Minh xb, 1998.
8. Nhiều tác giả. Sài Gòn 1698 – 1998 kiến trúc, quy hoạch, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 1998.
9. Nhiều tác giả. Địa chí Quận 5 – Thành phố Hồ Chí Minh, Quận ủy, UBND Quận 5, 2000.
10. Quốc sử quán triều Nguyễn. Đại Nam nhất thống chí, Lục tỉnh Nam Việt, Nha Văn hóa – Bộ Quốc gia Giáo dục xb, Sài Gòn, 1959.
11. Société des Études Indo-chinoises (Hội Nghiên cứu Đông Dương). Monographie de la province de Gia Đinh (Địa phương chí tỉnh Gia Định), Imprimerie L.Ménard, 1902.
12. Sơn Nam . Đất Gia Định xưa, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 1984.
13. Sơn Nam . Bến Nghé xưa, Nxb Văn Nghệ Thành phố Hồ Chí Minh, 1992.
14. Thạch Phương, Lê Trung Hoa chủ biên. Từ điển Thành phố Sài Gòn – Hồ Chí Minh, Nxb Trẻ, 2001.
15. Thanh Giang. Thành phố chúng ta, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 1980.
16. Tổng lãnh sự Pháp – Viện trao đổi Văn hóa với Pháp – Công ty Air France . Regard sur le monde: Saigon 1882 (Cái nhìn về thế giới: Saigon 1882), 11/2002.
17. Trần Kim Thạch. Địa chất và môi trường Thành phố Hồ Chí Minh, Nxb Trẻ, 1998.
18. Trần Văn Giàu, Trần Bạch Đằng, Nguyễn Công Bình chủ biên, Địa chí Văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh. tập 1, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 1987. tr. 219.
19. Trịnh Hoài Đức. Gia Định thành thông chí, Bản dịch của Viện Sử học, Nxb Giáo Dục, 1998.
20. Trương Vĩnh Ký. Tiểu giáo trình địa lý Nam Kỳ, 1875, Bản dịch của Nguyễn Đình Đầu, Nxb Trẻ, 1997.
21. Trương Vĩnh Ký ghi chép, 1882. Gia Định phong cảnh vịnh, Nxb Trẻ, 1997.
22. Trương Vĩnh Ký. Ký ức lịch sử về Sài Gòn và các vùng phụ cận, 1885, Bản dịch của Nguyễn Đình Đầu, Nxb Trẻ, 1997.
23. Vương Hồng Sển. Sài Gòn năm xưa, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 1997.
(Bài nầy đã đăng trên T/c Xưa&Nay, số 282, tháng 4/2007).
[1] Ngoài ra, còn có nhiều giả thuyết khác về nguồn gốc địa danh Sài Gòn. Xem Địa chí Văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh, tr. 215 – 227.
[2] Thạch Phương, Lê Trung Hoa chủ biên, tr. 35.
[3] Trịnh Hoài Đức, tr.188.
[4] Trần Kim Thạch, tr. 16.
[5]Ký ức lịch sử về Sài Gòn và các vùng phụ cận, tr. 26.
[6] Theo Vương Hồng Sển thì nay là đường Cống Quỳnh. (Sài Gòn năm xưa, tr. 176).
[7] Con rạch này nay vẫn còn, thuộc địa bàn quận Bình Tân và Quận 8, từ phường An Lạc (quận Bình Tân) ăn ra sông Chợ Đệm.
[8] Kinh là đường thủy nhân tạo, rạch là đường thủy thiên tạo nhưng tương đối nhỏ.
[9] Ký ức lịch sử về Sài Gòn và các vùng phụ cận , tr. 21.
[10] Ở khoảng vị trí nay là ngã sáu Sài Gòn (đầu đường Nguyễn Thị Minh Khai) đến đường Cống Quỳnh.
[11] Nằm ở làng Tân Khai xưa, trung tâm ở chỗ nhà thờ Đức Bà hiện nay.
[12] Được xây lại, nhỏ hơn sau khi vua Minh Mạng ra lệnh phá thành Bát Quái. Thành Phụng đã bị quân Pháp chiếm và san bằng vào ngày 6/3/1859 bằng 32 quả mìn. Nay ở chỗ bệnh viện Nhi Đồng 2, đường Lý Tự Trọng, Quận 1.
[13] Theo nội dung của quyết định số 873/QĐ ngày 29/3/2006 của Sở Giao thông Công chính Thành phố Hồ Chí Minh về việc phân cấp quản lý sông rạch thì, chỉ riêng Khu Quản lý Giao thông Đô thị số 1 đã phải quản lý 93 tuyến với khoảng 142,62 km sông rạch ở vùng nội thành và vùng ven.
[14] Trịnh Hoài Đức, tr.35.
[15] Tên Phố Xếp có lẽ từ “phố xép” mà ra, chỉ phố nhỏ bên cạnh phố thị Chợ Lớn.
[16]Ký ức lịch sử về Sài Gòn và các vùng phụ cận, tr. 25.
[17] Phiên An là một trong năm trấn của vùng đất phía nam, ngày nay là Thành phố Hồ Chí Minh và một phần các tỉnh Long An, Tây Ninh, Bình Phước.
[18] Trịnh Hoài Đức, tr. 34.
[19] Tức rạch Chợ Lớn – L.C.L.
[20] 1902 – L.C.L.
[21] Chỗ Thảo Cầm Viên – L.C.L.
[22] Monographie de la province de Gia Đinh, tr. 40.
[23]Thạch Phương, Lê Trung Hoachủ biên, tr.325, 380.
[24] Theo Tổng lãnh sự Pháp – Viện trao đổi Văn hóa với Pháp – Công ty Air France . Regard sur le monde: Saigon 1882 (Cái nhìn về thế giới: Saigon 1882), 11/2002, tr.14.
[25] Gọi là ao Bồ Rệt vì nằm trên đường Boresse (viên sĩ quan đứng đầu hạt Sài Gòn, được bổ nhiệm ngày 7/1/1863), nay là đường Yersin.
[26] Nguyên tên là Thạnh Đa, sau bị đọc và viết sai thành Thanh Đa.
[27] Monographie de la province de Gia Đinh, tr. 40.
[28] Dẫn theo Sài Gòn – Thành phố Hồ Chí Minh, 300 năm địa chính, tr. 72.
Ấn tượng về Mạc tư khoa-Moscow
Posted: 15/11/2012 Filed under: Viet Nam | Tags: Ấn tượng Kremlin, Lảnh tụ Sô Viết, Mạc tư khoa, Quảng trường đỏ, tượng Lenin, điện cẩm linh 1 CommentẤn tượng về Mạc tư khoa-Moscow
Y Nguyên Mai Trần
Moscow-Moskva (phiên âm theo tiếng đọc của người Nga) dần dần hiện ra qua cửa kính trên chuyến tàu điện cao tốc từ St Petersburg (mất 5 giờ), khung trời của một thành phố lớn với những kiến trúc lẫn lộn đây đó là những ngôi thánh đướng màu sắc với nóc hình củ hành tây, lóng lánh vàng kề cận với những toà nhà nhiếu tầng của thế kỹ 21. Những tòa nhà xây dựng thời Soviet, đồ sộ nhưng không tao nhã, giống như bánh cưói nhiều tầng màu xám chen lẫn những kiến trúc đền đài thế kỹ 18. Xe chạy vào sân ga trong cảnh nhộn nhịp nhưng khá trật tự sau đó chúng tôi được chuyển vào xe bus đi về trung tâm thành phố.
Cuối cùng rồi cũng đến một nơi mà bao lần “muốn đến rồi thôi”, có gì không yên tâm như du hành những xứ Âu Châu. Moscow đang hối hả, xe hơi chen chút mọi nẻo đường, chậm nhưng vẩn thông lưu- Cô hướng dẩn như đọc được ý nghĩ của mọi người
-Ngày nào cũng như vầy, quen rồi
Còn trẻ nhưng khá lưu loát tiếng Anh, tóm lược về Moscow và chương trình cho đoàn ngày sau. Có điều chúng tôi vẩn thắc mắc, đêm tiệc chia tay ở St Petersburg thì bà hướng dẫn cũng cho biết bà sẻ trở lại Đan Mạch sau khi chia tay chúng tôi ở khách sạn ở Moscow, chúng tôi phải tự lo sau khi được vào thăm Red Square (công trường Đỏ) và Kremlin (điện Cẩm Linh) với cô hướng dẫn viên mới . Bà nói thêm, nếu muốn đi xem những nơi khác thì nhờ cô hướng dẫn viên tổ chức giúp. Hình như ở Moscow, lối làm việc ở đây “tốt và uyển chuyển hơn” là để cho những công ty người Moscow “quản lý” những việc đi xem thắng cảnh tự chọn
Khách sạn chúng tôi nằm trên đường Tverskaya Ulitsa, đại lộ chính của Moscow đi thẳng đến Red Square, đi bộ khoảng 20 phút, đi xe điện ngầm 1 trạm, nên chúng tôi quyết định “tự lực cánh sinh “.
St Petersburg cũng như Moscow là hai thành phố lớn nhất ở Nga, cả hai cũng la trung tâm văn hoá lịch sữ, thương mại và tài chính. Moscow được thành lập, lâu đời hơn 1147, dân số chính thức hiện nay khoảng 15 triệu người, còn là trung tâm chính trị, giao thông, giáo dục cả nước. So với Moscow thành phố St Petersburg hiền hoà, ít náo nhiệt hơn có thể so sánh một cách lỏng lẻo như Hà Nội và Saigon. Nếu St Petersburg có sông Neva chảy qua thành phố, thì ở Moscow có sông Moscow, sông hoà hợp bới hai nhánh sông Volga và Oka.
Cũng nên biết, Peter the Great I, vị Nga hoàng nổi tiếng có công lớn xây dựng đế quốc Nga đã di chuyển thủ đô về St Petersburg để tiện viêc phát triển kỹ nghệ nặng đóng tàu và hàng hải từ thế kỹ 18. Nơi đây chúng ta thấy những cung điện và kiến trúc tầm cở quốc gia đều nằm ở St Petersburg vì thế khi Lenin chuyển thủ đô trở lại Moscow sau cuộc cách mạng tháng 10, 1918 thì thành phố Moscow đang ở vị thế chậm phát triển. Thời cộng sản, những đền đài , thánh đường không đươc chăm sóc, hoặc biến thành kho chứa hàng có khi bị xoá bỏ hoàn toàn, kiến trúc xưa bị thay thế bới những khu nhà tập thể, vĩ đại gọi là kiến trúc Stalin. Sau 1990 may mắn thay, nhiếu đền đài , thánh đường được khôi phục , trùng tu hoặc xây lại. Moscow mang một bộ mặt tầm cở hơn, hiện đại hơn bên cạnh những tòa nhà như bánh cưới thời Stalin, cũng là nơi thu hút du khách (toà nhà Bộ Ngoại Giao, Moscow National University…)
Moscow
Ngày đầu, sau khi lấy phòng , giàn xếp mọi chuyện xong thì đồng hồ trên tay đã 6pm, chúng tôi quyết định “thám hiểm” và kiếm ăn, khổ nổi ra khỏi khách sạn là biết mình ở xứ lạ ngay (không phải xứ “La” kia đâu nhá), vì nguời Nga không xử dụng tiếng Anh nhiều, kể cả hiệu ăn , hàng quán, phương tiện và dịch vụ công cộng-Phải chăng vì kinh doanh khuyến mãi du lịch còn yếu kém, huấn luyện và kỹ năng tiếp thị khách hàng còn yếu kém, hay chính phủ có nhiều ưu tiên khác phải lo hơn hay lương bổng không khích lệ. Theo tôi đây là ảnh hưởng tàn dư của thời Sô Viết-Stalinism, thiếu tư duy, sáng tạo.
Rời khách sạn khoảng 100 m đã có hàng cà phê Starbucks, rồi gà chiên KFC, bên kia đối diện với công viên Pushkin có bồn phun nước là Mc Donalds. Đặc biệt phải nói đến đây là cửa hàng Mc Donalds đầu tiên ở Moscow và cả nước Nga mở ngày 30 Giêng (January) 1990. Thời ấy là một sự kiện quan trọng, trong những ngày đầu, khách phải sắp hàng 1-2 km dưới trời Đông. Chỉ hai năm sau thì chủ nghĩa Công Sản -Soviet Union sụp đổ 25/12/1991.
Chuẩn bị khai trương Mc Donald’s , dân Nga sắp hàng dài 1-2 km để vào Mc Donald’s ngày đầu mở cửa 30/01/1990
Red square-Công Trường Đỏ.
Điện Cẩm Linh (Kremlin) bên trong tường thành với 18 pháo đài kiến trúc khác nhau, bên ngoài là Công trường đỏ (Red Square)
bản đồ courtesy Wikipedia.
Khi nói đến Red Square, thường người ta nghĩ đến màu đỏ liên hệ đến màu cách mạng cộng sản nhưng thực ra khởi thủy có tên là Pozhar (Poloye) chỉ một vùng đất phế thải, sau được dùng làm chợ có tên là Torg. Sau đến thế kỷ 17 được đặt là Red Square tới nay, Red có nghĩa là đẹp trong ngôn ngữ Slavic. Red Square và điện Kremlin nói chung là một tổng thể, là trái tim của Nga. Các đường lớn đều tụ điểm về Red Square, nếu Kremlin là nơi nắm giữ quyền hành, Red Square là nơi phô trương quyền hành đó.Red Square là nơi mục kích những sự kiện quan trọng nhất của lịch sử Nga, lể hội, đón tiếp phái đoàn ngoại quốc, biến cố chính trị
Red Square , quảng trường đỏ và viện bảo tàng Lịch sử quốc gia . Quảng trường có chiều dài bắc nam là 640m , đông tây 130m.
Mời xem video Công trường Đỏ ngày và đêm
http://www.youtube.com/watch?v=yphC9tKkfTc&feature=channel&list=UL
32– Mộ của Lenin là một khối đá hoa cương màu nâu đậm và nhạt, nằm ngay trong red square được xây dựng xong 1934. Từ khi Lenin chết 27/1/1924 đến 8/1924 khu mộ là một kiến trúc bằng gỗ. Phía trên lăng là lể đài, là nơi mà các lảnh tụ cộng sản Sô Viết thường xuất hiện khi có lể hội, duyệt binh.
Phía sau lăng là khu an táng tro xương của một số các lảnh tụ Nga trong bức tường Điện Cẩm Linh, phiá trước là tượng và tên họ những người quá cố như Stalin , Chernhenko, Andropov…
Khu mộ của lảnh đạo Sô Viết, phiá sau lăng mộ Lenin
43- Trung tâm thương mại GUM nằm đối diện với lăng mộ Lenin. Kiến trúc đẹp,xưa, xây dựng vào thế kỹ 19.
Toà nhà rộng rải nơi mua sắm cấp cao của những người giàu ở Moscow, một điạ điểm mà du khách đến Red square không thể bỏ qua. Nơí đây có nhà hàng ăn, quán cà phê, hàng hiệu đủ loại cho du khách.
40– Nhà thờ Pokrovsky trong công trường Đỏ, còn gọi là Cathedral of the Intercession hay Cathedral of St Basil The Blessed), biểu tượng của xứ Nga.
Thật ra là một quần thể nhà thờ-đài kỷ niệm gồm có 8 giáo đường xây quanh 1 giáo đường có mái và đài cao nhất (47.5m) the Church of Intercession tất cà đều nằm chung trên nền cao. Năm 1588, một người nghèo ăn mặc rách rưới hoặc trần truồng, chuyên ăn cắp nhà giàu giúp người nghèo tên Basil (được phong thánh năm 1580), được Ivan the Terrible (1530-1584) đem về chôn tại đây, hiên nay trong ngôi thánh đường thứ 10, đó là lý do tại sao quần thể thánh đường này có nhiều tên, mà thông dụng nhất là Cathedral of St Basil The Blessed)
13-Grand Kremlin palace, Nga hoàng (Tsar) Nicholas I ra lệnh xây cung điện này làm cung vua và gia đình năm 1838
Phía trong điện xây cất và trang trí kiểu thời Trung cổ, tráng lệ nguy nga, tấng trên mặt đất là nơi Tsar và gia đình sinh hoạt, phần trên lầu là những phòng khánh tiết đặt theo tên thánh như St George, St Vladimar …
Bên trong đại điện Cẩm Linh
1-State Armory
Trước khi đến Đại điện Cẩm linh là viện bảo tàng cổ nhất ở Nga, Kho vũ khí cổ của quốc gia (State Armory)vì nơi đây trưng bày những mẩu đã được thu thập ngay ở thế kỷ 14 va 15 , trước khi được chính thức dùng làm nơi giữ và trưng bày những vật kỹ niệm, qúy giá liên quan đến quân sự, các Nga hoàng cận đại (thế kỹ 18, 19, đầu 20)
Trứng Faberge
Hột xoàn và các loại đá quý nữ trang cũa các thời đại Nga hoàng được giữ ở Diamond Fund (quỷ Kim Cương)
Diamond fund là môt khu đặt biệt nằm trong State Armory (muốn xem phải xin phép trước)
3-Ngôi thánh đường này xây khoảng 1485-1489 dùng làm thánh đường cho gia đình Nga hoàng và hoàng tử .
Bên trong chạm trổ nguy nga với nhiều hình tượng đạo giáo
2-Giáo đường Dormiton (Assumption) trước đây là giáo đường chính của Nga , xây năm 1475-79 Phía trong giáo đường được trang trí bằng hình vẻ cổ xưa đạo giáo, cũng là nơi an nghỉ của những vị lảnh đạo đạo Chính Thống Nga (Russian Orthodox Church).Một trong những trưng bày được nhiều người chú trọng là chiếc ghế ngồi của Nga Hoàng Ivan the Terrible.
5-Giáo đường của 12 Tông Đồ (Church of the twelve Apostles)
4-Giáo đường Archangel Michael (Cathedral of the Archgengel Michael).
Được dùng làm khu an táng của hoàng tử và Nga hoàng (tsars) thời kỳ trước Peter Đaị Đế (1712)
7 Tháp chuông điện Cẩm Linh (Kremlin bell tower) . Tháp xây sau thời Ivan đại đế ,1598-90, cao 80m , coi như là đỉnh cao nhất của Moscow thời đó. Trong tháp chứa 21 quả chuông lớn nhỏ, chuông lớn nhất nặng 70 tấn
Chuông đúc bởi nữ hoàng Anna Ivanovna 1734 nặng 200 tấn, cao 6.14m, đường kính 6.60m, trước để trong tháp chuông, vì tháp cháy nên chuông bị nứt một mảnh to nặng 11,5 tấn. Chỉ được đem ra trình bày trong sân tử năm 1970.
Nặng 40 tấn, dài 5.34m, nòng đại bác 120cm, đường kính đạn 89cm, đây là loại đại bác cổ xưa , lớn nhất. Tuy thế cổ súng này chưa hề được khai hỏa lần nào.
Tượng đá công viên của lảnh tụ Sô Viết một thời.
Xuống trạm Metro ở Park Culture, qua câù Krymskiy đi về hướng Gorky Park, chúng tôi vào Gorky thăm trước và hỏi thăm đường hướng , tiết kiệm thời gian, dĩ nhiên phần đông họ không hiểu tiếng Anh, cuối cùng định bụng chỉ có cách hỏii người trẻ tuổi thì may ra. Đối diện với Gorky park là nhà triển lãm tranh ảnh của nghệ sĩ, đi qua khu này ta sẽ thấy hàng trăm tượng của những lảnh tụ thời Sô Viết. Một số tượng bị đánh sập gẩy được thu thập bỏ về đây, hoàn cảnh có vẻ tiêu điều, không được chăm sóc.
Một số tài liệu có nói tượng của Trotsky cũng nằm ở đây, nhưng nguời viết không thể tìm được, không có dấu vết, một số nhân viên bán hàng trong công viên được hỏi thì họ cũng trả lời không thấy.
Xem video về công viên này trên youtube
http://www.youtube.com/watch?v=48lsr4UaxZE&list=UUGaCiPrvSv7ZkdypQNO2KsQ&index=14&feature=plcp
Thăm khu yên nghĩ của Novovichy Convent
Là một trong những tu viện đẹp nhất xứ Nga, được Prince Vasily 3 xây cất vào năm 1524, để kỹ niệm chiến thắng 1514 của Nga đối với quân đội Ba Lan và Lithuania.
Trong công viên có khu an táng cuả người có công, nổi tiếng của Nga trong mọi lảnh vực. Người viết chủ đích đến thăm mộ của 2 nhân vật đã đóng hai vai trò có ảnh hưởng đến tương lai toàn cầu đó là Boris Yeltsin, người đã có công phá hủy chủ thuyết không tưởng cộng sản, tiếp theo chủ trương cởi mở và đổi mới của Gorbachev (vợ của ông cũng được chôn tại đây), để theo kịp trào lưu thế gìới, người thứ hai là Nikita Krushchev (1894-1971) người đã quyết định tháo gở hỏa tiển tấn công đặt trên đất Cuba, tránh được hiễm họa thật sự chiến tranh nguyên tử-hạt nhân với Hoa Kỳ năm 1962 .
Mộ của Raisa Gorbachev, famous wife of Mikhail Gorbachev
Mộ của Nikita Khruschev Bí thư thứ nhất Sô Viết 1953-1964
Mộ của Boris Yeltsin, First President of Russia Federation
Thăm mộ lảnh tụ Sô Viết trên youtube
http://www.youtube.com/watch?v=48lsr4UaxZE&list=UUGaCiPrvSv7ZkdypQNO2KsQ&index=14&feature=plcp
Kiến trúc độc đáo, tinh vi của trạm xe điện ngầm
Moscow còn có một hệ thống xe điện ngấm và tiện lợi cho dân chúng. Hầu hết những địa diểm thu hút du khách đều nằm gần trạm xe điện, mổi lần đi là chỉ mua một vé , nơi nào cũng được, không thấy có bán khứ hồi và giá rât rẻ. Có thể nói đây là một trong vài điểm tích cực của xã hội chủ nghĩa còn để lại, bên cạnh sự chạm trổ , kiến trúc đẹp mắt, tinh vi của một số trạm xe điện ngầm mà có lẻ không đâu trên thế giới sánh được.
Xe điện ngầm là phương tiên phổ thong, rẻ tiền và tiện nhất trong việc đi lại trong thành phố 15 triệu người, có những interchange stations -trạm thay đổi tuyến đường (ngả 3 ngả 4 )- nơi đây người ta có thể tìm thấy những sinh hoạt như những quán nhỏ bán hàng, đồ ăn và cả những người ca hát dạo hay làm trò vui như những người đóng vai lảnh tụ giả sau đây
Mời xem video xe điện ngầm ở Moscow.
http://www.youtube.com/watch?v=WROjShwa7Yk&feature=channel&list=UL
Mời xem những người chuyên giả các lảnh tụ Nga, bạn có thể chụp ảnh chung với họ mà chỉ phải trả vài trăm rubles (5-10 $Us)
Những người này thường xuất hiện chung, hay riêng rẻ ở các trạm xe đìện ngầm gần công trường đỏ hay trước cổng “phục Sinh”-cổng này là cổng chính vào công trường đỏ- chung quanh tượng thống chế Zhukov, người tướng lảnh tài ba, nhiều công trạng, huy chương nhất của Nga thời thế chiến Hai và giai đọan tiếp theo đó
http://www.youtube.com/watch?v=6dAge2zppxI&list=UUGaCiPrvSv7ZkdypQNO2KsQ&index=15&feature=plcp
Một chúc cảm giác bất an hầu như tan biến khi người đón chở ra phi trường đến khách sạn đúng giờ. Đêm trước đó tôi không ngủ yên vì tôi đã đặt xe với cô hướng dẩn, cô hẹn với tôi là sẻ liên lạc trước khi xe đến, nhưng mãi đến đêm này vẩn không thấy tăm hơi, hỏi tiếp tân (reception) thì họ bảo không có tin nhắn. Đến sáng ngày đi ra phi trường, thì tôi nhờ khách sạn liên lạc thì cũng không được, nhưng họ khuyên chắc không sao đâu. Sự lo lắng tuy thế càng tăng theo thời gian gần kề, tôi nói với bà xã nếu họ không đến đúng gìờ thì chỉ nhờ khách sạn giàn xếp thôi.
15 phút trước giờ hẹn, sau khi làm thủ tục rời khách sạn tôi đang lanh quanh thì thấy môt người hơi đứng tuổi có vẻ như muốn tìm kiếm ai tôi hỏi
-Ông đang tìm người để đưa ra phi trường phải không?
Tôi không nhớ ông đã nói gì chỉ biết chìa ra môt mảnh giấy có tên vợ chồng tôi.
Chúng tôi thở phào nhẹ nhõm. Suốt đoạn đường ra phi trường ông không nói gì tôi đoán ông không biết tiếng Anh, còn tôi thì miên man không có ý kiến gì rỏ rệt về người Nga-bên ngoài có vẻ hiền lành, hơi dể dải nhưng bên trong thì sao ? Nhưng it nhất có chử tín, kiếu “tín” của người Nga chăng ?. Đến phi trường ông phụ tôi đám hành lý và tôi cảm ơn ông “Bol’shoe spasibo”.
Chúng tôi rời Moscow với nhiều ngạc nhiên, thích thú. Russia một đât nước to lớn trải qua bao nhiêu chiến tranh và bất hạnh, có một quá trình lịch sữ vĩ đại đang hồi sinh, đang hội nhập. Đối với du khách, Russia không phải là “Europe” nhưng Russia sẽ để lại ấn tượng khó quên, với trí óc sáng tạo nguơì Nga đã xây dựng những kiến trúc đền đài, thánh đường nguy nghi, vĩ đại, đóng góp trong nhiều lảnh vực nghệ thuật, khoa học và công nghệ trên thế giới.
Y Nguyên tháng 6 2012.
ổ
Vang tiếng một thời.
Posted: 31/10/2012 Filed under: Hồi Ký, Nghiên cứu-Khảo luận | Tags: Từ ngữ dân gian, Tiêng xưa Nam kỳ Lục Tỉnh, Tiếng dân Nam xưa, Tiếng Xưa Tiếng Lóng 5 CommentsVang tiếng một thời: Tiếng Lóng Tiếng Xưa miền Nam Lục Tỉnh
Y Nguyên Mai Trần
Kỷ niệm du hành xuyên suốt miền Tây thời tuổi trẻ, hình ảnh sông nước bao la , ẩn hiện xóm nhỏ dọc bờ kinh, mái lá, phiá trước nhà có bàn Thiên, một bình cấm nhang, chung nước, những bờ đê phân biệt những cánh đồng lúa xanh, vàng theo hai mùa mưa nắng. Chằng chịt những con rạch, đi luồn vào những vườn cây ăn trái. Những con kinh xuôi ngược với thuyền rộng đò ngang, tắc ráng, ghe chở hàng hoá từ vùng sâu ra phố chợ, thỉnh thoảng có những chiếc ghe dừng “chân” thả vịt, loáng thoáng có câu hò, câu vọng cổ văng vẳng đó đây. Miền Tây của tấm lòng hào sảng, chân thật có gì ăn đó, có gì nói đó, của những câu nói mộc mạc, tả chân. Miền Nam sau 1954, với cuộc di cư đổi đời lần thứ nhất, văn hóa phía Bắc vĩ tuyến 17, loan tỏa, ảnh hưởng, tác động mạnh vào văn hóa miền Nam, Bắc 45, Bắc 54 rồi Bắc 75, mổi thời gian không gian nào đó, trong đời sống ngôn ngữ thường ngày biến đổi thích ứng với hoàn cảnh chính trị và xã hội lúc bấy gìờ.
Một số “tiếng xưa” “tiếng lóng” trước 75, ngôn từ dân giả thường dùng thời Pháp thuộc có nguồn gốc tiếng Pháp, tiếng Miên, tiếng Hán pha trộn tiếng Việt-Nam Trung Bắc (trước 75) đã một thời thịnh hành, phương tiện chuyên chở cái hay, cái đẹp, mỉa mai châm biếm, dặn dò, răn đe, của những khung trời, hoài niệm thân thương. Xin gởi đến người đọc, bài viết thuộc loại nhớ gì viêt đó với một số ít tham khảo trên mạng, không mang tính cách khảo cứu tiếng Việt nhưng như là một lưu niệm, thỉnh thoảng “giở gương xưa tìm bóng “, một nụ cười nho nhỏ, “tay anh đây xin xem đường quá khứ, khúc nào buồn em bỏ bớt cho vui.
“Bàn toán” cái dụng cụ người Tàu dùng tính tiền khi xưa
“bài kía” giấy chứng nhận sở hửu chủ (thường là gia cầm, heo, bò, trâu…) thời Pháp thuộc.
“ăn kết” điều tra, mả tà ăn kết vụ ăn cắp gà ở Xóm Gà .
“phú lít” cảnh sát từ chử police mà ra.
“mả tà” cảnh sát, phát âm trại từ tiếng Pháp matraque (dùi cui, một loại vủ khí cảnh sát đeo lủng lẳng bên hông).
“sơn đầm, sen đầm” cảnh sát đặc biệt (hiến binh) thời Pháp thuộc, phát âm trại gendarme.
“ông Cò” tiếng người dân trong Nam gọi ông cảnh sát trưởng thời Pháp thuộc. Có một bài thơ nổi tiếng nói về ông cò của Tú Xương (Trần tế Xương), không biết cái ông cò này có giống như ông Cò quận Chín trong tuồng cải lương Tuyệt Tình Ca không ? Tưởng cũng nên biết quận 9, không có thật khi Hoa Phượng và Ngọc Điệp viết tuồng cải lương này (1965). Sau đó vài năm mới có quận Chín nằm bên vùng Thủ Thiêm.
Hà Nam danh giá nhất ông cò
Trông thấy ai ai chẳng dám ho.
Hai mái trống toang đành chịu giột
Tám giờ chuông đánh phải nằm co
Người quên mất thẻ âu trời cãi
Chó chạy ra đường có chủ lo
Ngớ ngẩn đi xia may vớ được
Chuyến này ắt hẳn kiếm ăn to
“tem cò” tem thư, có lẽ là cò bay mang thư khắp nơi chăng? .
“cò mồi” người dụ dẩn người khác vào chuyện lừa đảo, bịp bượm.
“thầy cò” người sửa bản in ở toà báo, người làm đơn thuê hành chánh hay kiện cáo.
“tiền cò” tiền hoa hồng , tiền môi gìới, có lẽ có nguồn gốc tiếng Pháp commission.
“ốm như cò ma” gầy óm nhom.
“nhảy cò cò” trò chơi trẻ em nhảy theo hình vẻ ra trên đất.
“sức mấy” không thể xảy ra, còn lâu, sức mấy mà dám làm, sức mấy mà buồn.
“xưa rồi Dìễm” cụm chử này, có lẽ bắt nguồn từ bài hát Diễm Xưa của TCS, có nghĩa biết rồi, không cần nhắc đi nhắc lại nữa.
“thôi đi tám, bỏ đi tám” đừng dốc láo nữa, láo vừa phải thôi.
“bà tám” nhiều chuyện.
“đi bum” đi party , đi nhảy đầm.
“đi xế hộp” đi xe hơi.
“chim gái” tán gái, cua gái.
“nghể gái, ghế” ngắm gái trên đường phố.
“bắt bò lạc” cũng đi cua gái, thường ban đêm nhưng có ý tưởng xấu hơn.
“hết sẩy” ngon lành, không chê được.
“chiến” bảnh bao, ngon lành, ngon cơm.
”bắt địa” tìm cách, dụ dổ làm tiền.
“chôm chỉa” ăn cắp bất chấp là cái gì.
“Xù” không giữ hẹn, từ bỏ, bị ghế (con gái) xù rồi (có nguồn gốc từ tiếng Anh chăng shoo?).
“chầu bà” Sợ vợ.
“khứa” thằng đó.
“nhật trình” báo hằng ngày.
“tin xe cán chó” chuyện không quan trọng.
“tiểu thuyết ba xu” truyện dở.
“tịch, hui nhị tì, ngũm cù đèo, đi mua muối” chết.
“Ok Salem” Salem (Sao em làm anh mệt) là loại thuốc lá Mỹ rất thông dụng, ý nói đồng ý, được rồi.
“Anh hùng xa lộ” có lẻ bắt đầu từ lúc có xa lộ Sàigòn Biên Hòa, lái xe bạt mạng, nghỉa bóng không nể nang pháp luật.
“xộ khám, vô chí hoà nha con” ở tù, bị bắt giam.
“cúp cua” nghĩ học lén, không xin phép ai.
“ đi ăn chè” ngoại tình lén lút xuất xứ từ chuyện nhạc sỉ P.D dẩn tài tử K.Ng (em dâu) ra nhà Bè ăn chè, bị bắt gặp đang du dương trong túp lều tranh. Rồi sau một thời gian đó “Nữa hồn thương đau” ra đời.
“cưa đôi” chia hai đồng đều.
“đàn(g) thổ “ người Miên.
“bộ đồ vía, diện kẻng” ăn mặc sang trọng, khác ngày thường.
“đầu gà đít vịt” người Tàu lai.
“bán nới” bán rẻ một chút.
“chó lửa” súng lục, một loại súng nhỏ cầm tay, như rouleau (trục lăn chứa 6 viên đạn).
“thịt bệu” thịt hư.
“bú thép” bú nhờ.
“ dốt dốt” chưa được khô lắm.
“quần xà lỏn” quần đùi.
“qua” tiếng xưng hô tôi, tao.
“bậu” bạn.
“lấy le” làm dáng, khoe khoan.
“thua me, gở bài cào” đừng lo thua keo này gầy keo khác.
“xếp re” im lặng chịu thua
“ám đọc” bài học thuộc lòng.
“hớt cua” hớt tóc ngắn cao, âm trại court
“xăng xái” muốn bắt tay vào việc ngay.
“bác vật” khoa học gia
“nhờ piston” nhờ quyền thế chạy chọt.
“đánh phép” gian lận thi cử.
“đì” bị trù yếm không cho thăng tiến.
“chạy mánh” tìm cách giải quyết bằng phương tiện thường là bất hợp pháp.
“cà ròn” bao đan bằng đệm, giống như bao bố.
“hỏng chừng hỏng đổi bất thường” thay đổi không đoán được.
“măng đa” giấy nhà băng (ngân hàng) báo (uỷ quyền) đi lảnh tiền , trại âm pháp ngữ mandat.
“phi dê” uốn tóc, âm trại tiếng Pháp frisé.
“ông chánh” ông tỉnh trưởng.
Có câu ca dao ‘Mười giờ ông Chánh về Tây.
Cô Ba ở lại chịu đời đắng cay’.
“quất ngựa truy phong” bỏ chạy vì tình, vì nợ.
“cái quần chin núm”
Ca dao rất xưa nói về một nguời làm ruộng, quần rách có lỗ thì buộc chổ rách lại thành một núm. Mẹ chồng thấy con dâu phơi quần có chin núm bèn vá lại và đem phơi trên sào, người dâu về , tìm quần không thấy bèn hát lên
(Từ bi ba lá từ bi
Cái quần chin núm nó đi đằng nào ?)
Người mẹ chồng thấy thế trả lời
(Cái quần mẹ giắt trên sào
Con hãy bước tới lấy vào mà thay
Người dâu thấy quần vá lành lặn, bèn cảm khái
(Người hiền lại gặp người hiền
Cái quần chin núm nó liền như xưa)
“u ấp” trò chơi trẻ em hai phe cùng số người cách nhau bởi một đường thẳng vẻ trên đất, từng nguời thay phiên nhau chạy sang phần đất nghịch cố gắng chạm vào hoặc đánh trúng người nào rồi trở vế phía bên đất mình mà không đứt khoảng hơi thở, mà không bị bắt lại, thì nguời đã bị chạm phải/đánh trúng phải rời cuộc chơi. Bên nào không còn người nào nữa là phe thua. Tiếng U là âm phát ra liên tục từ khi chạy sang đất địch cho đến khi hết thở kể cả khi không chạm /đụng được đối thủ và phải chạy về, nếu không bị địch bắt, địch đè xuống (ấp) hơi thở bị ngắt quảng, là bị thua cuộc phải rời cuộc chơi.
“ thẩy lổ lạc, đánh đáo” trò chơi ném bạc cắc, xu vào lổ khoét nhỏ trên đất, phần lọt vào lổ thì người thẩy được giữ, phần lọt bên ngòai thì người thẩy phải chọi trúng một đồng xu cắc nào đó đã đựợc chỉ định bởi những người cùng chơi đang đợi tới phiên mình. Số tiền nhiều ít tùy sự đóng góp đồng đều của những người cùng chơi.
“đánh gồng, đánh chỗng” trò chơi nơi vùng quê đất rộng, gồm 1 cây que ngắn (khoảng gan tay) và một cây que dài hơn (khoảng 3 gan tay) dùng để đánh. Trên đất đào 1 lổ dài nhỏ, sâu đủ để một phần que ngắn “ngẩn” đủ một đầu cao hơn mặt đất, lúc chơi lấy cây que dài đập vào đầu nhẩn lên cuả cây que ngắn cho nó nhảy tung lên, nguời chơi phải đánh trúng cây que nhỏ thật mạnh để cây văng càng xa càng tốt và nhất là không ai chụp được (nếu bị chụp, thì phải thua). Khi rơi xuống đất, người đánh gồng dùng cây que dài để đo khoảng cách chiều dài từ nơi que ngắn rớt xuống đến miêng lổ. Người nào sau cùng đánh xa nhất, dài nhất thắng cuộc.
“cái rộng” cái lu thấp đựng cá hay lươn.
“thằng cốt đột” thằng khỉ.
“chơi lật hình” người nào lật sách, có nhiều trang có hình là kẻ thắng cuộc.
“công nho” tiền quỹ của làng xã.
“nhảy bao” cho hai chân vào bao bố, ai nhảy đến đích trước là kẻ thắng cuộc.
“bông dụ” hột xí ngầu, trò chơi cờ bạc, có 6 mặt từ 1 nút tròn đến 6 nút tròn.
“đề pô” đại lý hoặc kho chứa hang.
“cây thông/song hồng” cây bằng sắt hay gổ xỏ vào hai khoen dùng gài cửa.
“xây kim tỉnh” xây mộ chuẩn bị trước cho người còn sống.
“gà mái biết gái” người đàn bà cầm quyền.
“ly nguyên tử” ly nội hóa thủy tinh pha nhựa plastic, khó bể.
“viết nguyên tử” viết/bút viết bằng mực dầu, xài xong mua cây khác, còn được gọi duới cái loại viết thông dụng có nhản hiệu Bic.
“cái trả” nồi lớn để nấu bánh tét.
“cà ràng ông táo” lò nấu ăn bằng đất sét, phần đầu có ba chấu để nồi, phần đuôi dài để than , gổ chụm không bị đổ ra ngoài .
“bù ngót” loại cây nhỏ , lá xanh thường dùng nấu canh với rau dền (với tôm khô) hay với măng chung với cá, nước canh vị ngọt, rất ngon.
“có đường tương chao” ý nói có hy vọng, có tương lai khá hơn.
“mò tôm” thủ tiêu bằng cách bỏ vào bao liệng xuống nước.
“cù bơ cù bất” đơn côi, bơ vơ, không nơi nương tựa.
“xuống song lang” ca vọng cổ xuống chổ mùi (âm chử có dấu huyền), khán giả vổ tay.
“vầy duyên can lệ “ nên nghĩa vợ chồng.
“lộng giả thành chân” lấy giả làm thiệt.
“lát xưa” người chỉ chổ ngồi cho khán giả trong rạp hát, tiếng Pháp placeur, tiếng Anh usher.
“tuối quá bán” tuổi trên 40 .
“đồng tịch đồng sàng” chung chiếu chung giường.
“bán tháo” bán gấp bằng mọi giá rẻ kể cả thua lổ.
“mở hàng” mua hay bán lần đầu buổi sang.
“dân thương hồ” nguời mua hay bán trên ghe.
“ăn dộng, dộng” ăn, tiếng thô lổ.
“xấp xỉ “ vào khỏang.
“tuổi cập kê” tuổi bắt đầu biết chuyện trai gái yêu đương.
“tam sên” ba người hợp nhau, nghỉa đen dỉa đồ cúng gồm một miếng thịt luộc, một con tôm và một trứng luộc.
“tổng khậu” đầu bếp chuyên nghiệp.
“đúng trân” đúng một trăm phần trăm.
“liếc dao” dùng cái khu chén/tô mài dao sơ qua vài lần trước khi cắt cái gì .
“nhà dây thép “ bưu điện.
“bù trớt” không đâu vào đâu, không liên hệ gì .
“vòng do Tam quốc” ăn nói dài dòng, lăng nhăng.
“liên tu bất tận” không kịp nghỉ, nói không ngừng.
“đắt mèo” được nhiều đàn bà con gái yêu thích.
“o mèo” cua gái.
“trà nước” hối lộ, đưa tiền để “bôi trơn” việc gì.
“hầm bà lằng” Trộn lẩn đủ thứ không cần phân biệt.
“xáp lá cà” gần sát-đánh xáp là cà= cận chiến.
“thỏ đế” nhút nhác sợ hải.
“phần phật” động tác nhanh, phát ra nhanh như gió
“sít sát” rất gần nhau
“trần ai khoai củ” phải cực nhọc lắm mới đạt được
“con khỉ” thứ tiền bạc cắt thời Tây mới đến
“chầm bầm” vẻ mặt không bằng long, giận dổi
“sở trường tiền” sở công chánh
“cô hãng, bà hãng” vợ chủ nhà buôn (nhà doanh nghiệp)
“thớ lợ” hay xớ lợ không quen thuộc nhiều
“áng, ná” tiếng miền Nam xưa gọi cha,mẹ
“nong nả” nóng ruột , không yên muốn làm việc gì
“trân trân” yên, không lay chuyển
“lân lí” chòm xóm, xưa năm nhà là một lân, năm lân là một lí
“dể duôi” coi không ra gì, khinh khi
“con hát” ca kịch sĩ
“bác vật” kỷ sư
“nước” mưu kế, tính hết nước rồi.
“dần lân” được mòi cứ quen thói làm tiếp đến chuyện khác.
“hạ bạc” nghề hạ bạc = nghề chài lưới, đánh cá, kẻ hạ bạc = kẻ thấp hèn (cung cách khiêm nhường).
“tam bành, lục tặc” nổi nóng làm chuyện không nên (ba tà thần Bành Sư, Bành Chất , Bành Khiển có sẳn trong người, đợi dịp xúi dục làm chuyện sai trái; lục tặc hay lục nhập là 6 thứ giặc làm hại nguời tu hành: sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp ).
“xa lắc xa lơ” xa lắm
“xây cá nại ” tách cà phê sửa nhỏ.
“ba xí ba tú “ nói quàng xiêng không biết rỏ
“cắc ké” không ra gì, không đáng quân tâm
“đi lô ca chưn” Đi bộ
“dế” chỉ người như con dế, nhỏ con, đẹt
“đi mua muối; chầu Diêm Vương” đã chết rồi.
“hết xẩy” Không chê được
“mút mùa” dài , dài đăng đẳng
Tưởng nhớ Phong-Hưng Lưu Nhơn Nghĩa.
10/2012
Y Nguyên Mai Tran
St Petersburg hè 2012-Thành phố khó quên
Posted: 27/08/2012 Filed under: Viet Nam | Tags: Memoriable St Petersburg, Thanh phố St, Thành Phố Nga, Thành Phố St Petersburg, Viếng Thăm Petersburg Leave a commentSt Petersburg-thành phố Lịch sử- Kiến trúc Nghệ thuật phong phú- hoa mỹ
Y Nguyên-Mai Trần
Thành phố lịch sử St Petersburg: Khôi phục lại niềm hãnh diện, tự hào từ sự thất bại của chủ nghĩa Cộng Sản Sô Viết. Các kiến trúc nguy nga đồ sộ, nhà thờ, lăng tẩm đã được khôi phục lại nét xưa, bức màn sắt, màn tre đã vén lên và thế giới có cơ hội ngưỡng mộ nền văn minh khoa học nghệ thuật sâu sắc với truyền thống lâu đời.
St Petersburg nằm cạnh dòng sông Neva chảy ra vịnh Phần Lan biển Baltic, được thành lập bởi Tsar Peter the Great một vì vua nổi tiếng nhất của Nga vào năm 1703, một thành phố bao gồm hơn 100 đảo lớn nhỏ, nối liền bởi hàng trăm chiếc cầu. Cho đến năm 1918 là thủ đô của Nga, nhưng sau cuộc cách mạng Bolsheviks, Lenin chọn thành phố Moscow làm thủ đô của Nga đến ngày nay. Năm 1914, St Petersburg có tên là Petrograd rồi đổi là Leningrad năm 1924 , cuối cùng trở lại tên St Petersburg sau khi Sô Viết bị giải thể năm 1991. Thành phố này lớn thứ hai sau Moscow với 5 triệu dân.
Con đường từ Helsinki đến St Petersburg dài 430km, qua những cánh đồng xanh yên bình trời trong không lạnh, người hướng dẩn đoàn lược qua lịch sử địa phương, thỉnh thoảng có tiếng cười rộ lên hoặc im phăng phắc từ những câu chuyện thời xã hội chủ nghĩa. Người hướng dẫn là một người gốc Hòa (Hà) Lan, rất am tường khu vực này vì đã ở trong nghề du lịch hơn 20 năm. Bà đã kể kinh nghiệm của bà với những chuyến đi mang theo đồ phân phát cho trẻ em, người nghèo. Bà cứ nhắc đi nhắc lại quí vị sắp đến Nga-nhớ ở Nga không phải như Europe (hàm ý sau khi rời Phần Lan, một xứ thuộc Liên Hiệp Âu châu) nên phải chú ý đến hoàn cảnh chung quanh mình nhiều hơn. Thủ tục vào nước Nga rườm rà hơn và nên nghe bà dặn kỹ để tránh mọi phiền phức. Lúc nào được chụp ảnh, và tuyệt đối không dùng máy ảnh, video trong khu vực làm thủ tục di trú vào lảnh thổ Nga. Phải nhẩn nại trong việc giao dịch, mua sắm, cần tiền Nga rubble thì dùng ATM, vì đổi Rubble trở lại Euro không dể. Nếu dùng ATM thì phải cẩn thận, chỉ dùng nó ở các ngân hàng lớn.
Gần đến trạm kiểm soát chúng tôi xuống xe theo người hướng dẫn, tất cả đồ đạc để lại trên xe, trừ vật tùy thân. Chúng tôi bước vào khu trạm, tuyệt đối yên lặng dưới ánh mắt cú vọ của nhân viên an ninh/ di trú Nga mà cũng chả muốn biết ai là ai. Một thứ im lặng không thân thiện, lạnh lẽo, một vài âm thanh cần thiết phát ra từ khu đổi tiền thế thôi. Có một điều ai cũng để ý nhân viên di trú của những xứ cộng sản hoặc gốc cộng sản hiếm có những nụ cười hay những câu chào hỏi-tôi lại nhớ đến những câu chào của nhân viên di trú ở phi trường Melbourne- Đi chơi có vui không? Welcome back. Welcome to Melbourne.
Sau khi ra khỏi toà nhà di trú, trước khi vào xe bus chúng tôi lại phải trình giấy tờ cho công an đứng ở cửa xe. Chưa xong, trước khi xe lăn bánh và mọi người đã an vị thì một nguời công an khác lên xe kiểm soát giấy tờ lần nữa, chúng tôi đưa mắt nhìn nhau mà không nói nên lời.. .Tội nghiệp cho cô công an không vui vì bắt buộc phải theo thủ tục rườm rà như thế này.
Mọi người như đã trút đi một “bầu tâm sự” , thấy mình nhẹ nhõm khi xe lăn bánh-người hướng dẫn nói thêm “ xe cộ hành lý cũng bị “kiểm tra” nhưng bác tài xế đầy kinh nghiệm đã “lo”, chuyện như thế Nga “không phải là Europe” nhưng bù lại các bạn sẽ đến thăm một trong những thành phố lịch sử, đẹp nhất trên thế gìới”. Thật vậy St Petersburg , được mệnh danh thành phố Âu châu nhất của Nga, một chút Paris dọc theo bờ sông Neva, một chút Amsterdam với mạng kinh đào loanh quanh trong thành phố, bao nhiêu chiếc cầu vượt kinh, qua sông Neva chảy ra biển thoáng thấy Venice đâu đây, hay những buổi sáng sớm tinh sương se lạnh bước chân trong công viên xanh màu đây đó vài bức tượng mà có cảm tưởng đâu đó ở London. St Petersburg quả thật cũng giống như những thành phố củ, lịch sử xưa kia, mặc dù chỉ có hơn 300 tuổi nhưng cũng độc đáo và khó quên.
Cái cảm giác lạ như mình đi tìm chứng nhân lịch sử, mở mắt nhìn to, tai nghe cho rõ, một câu chuyện một hành động, một vài chữ viết trên tường vôi loang lổ …Lịch sử cận đại Nga là lịch sử St Petersburg, nơi đây bao nhiêu triều đại Nga Hoàng (Tsars) Rurik rồi Romanovs vì phong kiến, xa hoa nên bị thay thế bằng cách mạng vô sản Bolsheviks 1917, rồi chính nó tự hủy năm 1991. Sức tàn phá do từ chiến tranh với Napoleon, với Đức (thành phố bị phong toả kinh hoàng nhất trong lịch sử nhân loại, 872 ngày từ 8 tháng 9 1941 đến 27 tháng giêng 1944) cùng với sự tàn phá của hồng thủy 3 lần trong biển nước 1724, 1824, 1924 cộng với những cơn lụt thường xuyên của sông Neva, của những con kinh đào trong thành phố vẫn không làm nản lòng dân St Petersburg. Nghiệm lại lịch sử phức tạp của Nga với lảnh thổ trải dài Âu Á , từ phong kiến xa hoa thay bởi chuyên chính vô sản bắt đẩu từ tiếng súng khai pháo từ tàu Aurora trên bờ sông Neva. Cuộc thí nghiệm xã hội “giai cấp đấu tranh” tắm máu này tự kết liểu năm 1991 nhưng đã ảnh hưởng, tác dụng mạnh vào đời sống chính trị xã hội kinh tế của Nga và một số quốc gia trên thế gìới trong đó có Việt Nam. Miên man trong ý nghĩ, chúng tôi đã được xe bus đưa đến địa điểm tham quan đầu tiên – Nơi khai sinh thành phố St Petersburg, pháo đài (fortress )Peter và Paul , cũng là nơi có mộ phần của dòng vua (Tsars) Romanovs kéo dài từ 1613 đến 1917
Pháo đài (Fortress) Peter và Paul
Kiến trúc chính trong khuôn viên pháo đài là nhà thờ thánh Peter và Paul, thiết kế bởi kiến trúc sư Ý khoảng 1712-1733 phối hợp giữa kiến trúc truyền thống nhà thờ Tây phương và kiến trúc chinh thống Nga (Orthodox)
Pháo đài Peter and Paul trên sông Neva cùng với mộ phần Nga hoàng trong thánh đường
Phiá trước của ngôi thánh đường Peter and Paul nằm trong khuôn viên pháo đài
Trang trí nội thất của thánh đường Peter and Paul.
Mộ phần của hoàng đế Peter, cha đẻ thành phố St Petersburg và hoàng hậu Catherine đệ nhất.
Mộ phần của hoàng đế cuối cùng của Nga Nicholas II và gia đình.
Nga hoàng cuối cùng Nicolas II của triều đại Romanov và gia đình cùng gia nhân bị ám sát ở Ekaterinburg tháng 8 năm 1918. Nhằm chôn dấu thân xác, những người cộng sản Bolsheviks đã dùng acid để phi tang thân xác trong rừng, trước khi quăng vào mỏ hoang ngập nước. Khi Cộng sản Nga sụp đổ 1991, Boris Yelsin ra lệnh cải táng về St Petersburg, sau khi được giám định DNA để xác nhận những bộ xương là của gia đình Nicolas II. Hoàng đế cuối cùng của Nga và gia đình sau đó được an táng trong thánh đường Peter và Paul năm 1998.
Xem youtube video gia đình Tsar Nicholas II năm 1916.
Pháo đài Peter và Paul chưa bao giờ dùng vào mục đích quân sự, tuy nhiên đại pháo vẫn cho nổ theo truyền thống từ trước nay vào lúc giữa trưa.
Không xa thánh đường có dinh thự của nguời chỉ huy pháo đài, cùng Toà Án tối cao để xử những nguời chính trị đối lập. Những người này cũng bị giam cầm, đầy đọa, chịu cực hình ở đây, trong đó có con của Peter, Alexei bị xử tử hình vì âm mưu lật đổ ông, cùng với tên tuổi như Maxim Gorsky (được đặt tên cho công viên Gorsky ở Mạc Tư Khoa) và Leon Trotsky (thủ lảnh đệ tứ Cộng Sản, bị Lenin sát hại trong khi lưu vong ở Mexico)
Tù giam gìữ những tội phạm của Nga hoàng trong số có Gorsky và Trotsky
The Hermitage.
Sau khi ăn sáng, chúng tôi rời khách sạn đi thăm viện bảo tàng the Hermitage. Đây là một trong những bảo tang nổi tiếng nhất trên thế giới như The Louvre (Paris) hay Prado (Madrid, Tây ban Nha)). Nằm trên bờ sông Neva và gần như đối diện với pháo đài Peter and Paul.
Viện bảo tàng Hermitage ngày nay bao gồm cung điện mùa Đông (Winter Palace) và 4 công trình kiến trúc khác. Cung điện mùa Đông là nơi cư ngụ của các Nga hoàng từ 1763 đến 1917.
Hoàng hậu Catherine II cho xây dựng toà nhà gắn liền với cung điện muà Đông để chứa 255 tác phẩm nghệ thuật bà mua ở các xứ Tây Âu. Từ năm 1864 viện bảo tàng Mỹ thuật quốc gia được thành lập. Mặc dù nội thất bị cháy thiêu hủy nhiều lần nhưng đã được trùng tu sát với chi tiết. Có thể nói viện bảo tàng này có một không hai trên thế giới vì nội thất được trang hoàng tinh vi, sắc sảo, tốn bao nhiêu tiền của và nhân lực cùng giá trị của những món triển lãm vô giá. Viện bảo tàng “khoe” có đến 2.7 triệu vật trưng bày, và nếu chỉ cần dừng lại một phút để xem từng vật, thì phải mất đến 11 năm, xem mới hết. Những bức họa tuyệt tác từ phái ấn tượng Pháp như Renoir, Cezanne, Manet, Monet and Pissario, hoặc của Van Gogh, Matisse, Gaugin , Leonardo da Vinci, Michelangelo, Raphael, Titian, Rembrandts, Rubens…và một số tượng điêu khắc của Rodin
Kiến trúc , trang trí bên trong viện bảo tàng
Các tuyệt phẩm nghệ thuật được trình bày bên trong viện bảo tàng
Rapheal (Italian, 1483-1520) -Madona Conestabile 1502-1504
Cezanne (French, 1839-1906) post-impressionist- Houses along the Road-Dảy nhà dọc đường
Xem video clip viện bảo tàng Hermitage
Công trường St Issac và ngôi thánh đường St Isaac.
Công trường St Isaac, có đài kỷ niệm Nicholas I với hình kỵ sĩ trên lưng ngựa là một công trình điêu khắc tuyệt vời chỉ 2 chân ngựa đứng trên đài.
Ngôi thánh đường được xây như ngôi thánh đường lớn nhất của đế quốc Nga, hoàn thành sau 40 năm (1818-1858) với bao nhiêu tiền của công sức, có kiến trúc hình vòm (dome) -một vòm lớn nhất và 4 vòm nhỏ ở bốn góc. Chiều cao đến 101.5m và chiếm cả 10 ngàn thước vuông. Đây là một kiến trúc tương tự như thánh đường St Peter ở La mã (Rome) hay ở thánh đường St Paul ở Luân Đôn hay Santa Maria del Fiori ở Florence
Bên trong thánh đường rộng 4 ngàn thước vuông, kiến trúc bằng đá hoa nhiều màu sắc, malachite, nhiều tường khảm mạ vàng. Một công trình tuyệt tác bởi những tay nghề hoạ sỉ và điêu khắc gia, kiến trúc sư nổi tiếng thời bấy gìờ theo thiết kế của kiến trúc sư người Pháp Auguste Montferrand
Đi theo đường dọc hai bên dòng kinh Moyka chúng tôi tản bộ xuống con đường chính của St Petersburg, Nevsky Prospekt. Điểm đáng chú ý hàng quán ở đây không mở sớm và địa chỉ khó tìm vì chỉ toàn là tiếng Nga, hơn nữa hàng hóa không được trình bày trước cửa tiệm. Cửa tiệm nào cũng có 2 ba cửa trước khi vào trong , có lẽ phần vì khí hậu lạnh, phần thì chuyện khuyến mãi vẫn chưa quen. Người bán không vồn vã, khôn khéo, thiếu kỹ năng tiếp xúc khách hàng. Phần đông chỉ đưa mắt nhìn cho tới khi khách hàng hỏi thì mới trả lời. Nhiều khi không nói được tiếng Nga cũng không được tiếp đải thân thiện, nhân viên không có vẽ nhiệt tâm với chuyện mình làm. Hẳn đây không thể nào là thiên đường mua sắm như các thành phố của kinh tế thị trường tự do. Người ta không khỏi nghỉ thầm, thói quen hơi hướng của thời cộng sản vẫn còn mặc dù chế độ đã được khai tử hơn 20 năm về trước.
Con đường chính nhộn nhịp khác thường phần vì du khách đỗ về , hai bên đường hàng quán, cơ sở thương mại nôi địa, ngoại quốc, các ngân hàng Âu Mỹ có chi nhánh ở đây. Cách trình bày hàng hóa, nhà hàng có vẻ “tây phương “ hơn. Đặc biệt trên đường này có môt tòa nhà mặt ngoài “art nouveau” với tháp, trang trí đẹp mắt là một tiệm bán sách lớn nhất ở St Petersburg Dom Knigi, phần đông bán sách Nga, nhưng cũng có một số sách với ngôn ngữ khác, trước đây nơi này là hãng làm máy may Singer.
Đối diện với tiệm sách là nhà thờ Kazan, nơi đây chứa một trong những di vật qúy báu nhất của Giáo hội Chính thống Nga –thánh tượng Kazan icon of the Mother of the God. Ngôi thánh đường này được cây cất giữa 1801-1811 theo kiểu vương cung thánh đường thánh Peter ở Rome (St Peter’s Basilica). Khi Napoleon xâm chiếm Nga 1812, thống chế Mikhail Kutuzov cầu nguyện đức mẹ Kazan (Virgin Mary), sau khi đánh bại Napoleon, ngôi thánh đường trở thành đài tưởng niệm chiến thắng Napoleon. Năm 1813, thống chế Kutozov được an táng trong nhà thờ.
Đi dọc theo kinh bên hông tiệm sách Dom Knigi sẻ đến một trong những thánh đường nổi tiềng nhất ở Nga : tạm dịch là Ngôi thánh đường máu đổ (Church on the Spilled Blood, Church of the Resurrection). Thánh đường này vừa là một đài kỷ niệm lịch sử vừa là một công trình nghệ thuật đặc sắc. Nơi đây hoàng đế Alexander II bị ám sát vì bom năm 1881.
Thánh đường Phục sinh (Church of the Resurrection) hay thánh đường đổ máu (Church on the spilled blood)
Ngôi thánh đường tuyệt tác này may mắn không bị phá hủy bởi cách mạng tháng 10 Bolsheviks-nhưng bị đóng cửa bởi Stalin, dùng làm nhà chứa- cũng như không bị tàn phá bởi cuộc phong toả 872 ngày của Đức quốc xã.
Xem Video clips St Isaac và thánh đường Kazan và Máu Đổ
Tsarskoye Selo- Làng của Nga Hoàng triều đại Romanov-Catherine Palace
Rời trung tâm thành phố St Petersburg khoảng 30 km về phiá Đông Nam, chúng tôi đến xem cung điện, hoa viên miền quê của hoàng tộc Nga. Một địa điểm du lịch không thể thiếu, một kiến trúc huy hoàng tráng lệ, xa hoa dính liền tên tuổi của nữ hoàng Catherine đệ Nhất- cũng là vợ của Tsar Peter the Great và con gái Elizabeth Petrovna. Hai nữ hoàng này khởi công xây dựng, nhưng nữ hoàng Elizabeth cùng với kiến trúc sư Fransco Bartolomeo Rastrelli đã thật sự biến khu đất thành “thiên đường công cộng” của đế quốc Nga, xứng đáng là nơi cư ngụ, giải trí của Nga hoàng. Dù thế, phải đợi đến thời Catherine đệ nhị (Catherine the Great) là nguời thật sự có công thiết kế trang trí phần lớn bên trong cung điện.
Đại sảnh Amber
Đại sảnh Amber tuyệt tác này là điểm thu hút du khách, không thể bỏ qua. Luôn luôn có người canh gác, kiểm soát và hạn chế thời gian du khách thưởng ngoạn. Một kiến trúc độc đáo dùng toàn loại nhựa hóa thạch nhiều màu vàng ( từ vàng pha xanh tới vàng nâu đậm). Loại nhựa hoá đá này từ những loài cây họ Sciadopityaceae trước đây sống ở vùng Bắc Âu, Baltic (tham khảo Wikipedia). Tường của đại sảnh là những pa nô (panels) quà tặng của vua nước Phổ (Prussia) Friderick Wilhem I cho Peter the Great là đồng minh năm 1716.
Mải đến năm 1755, mới được thiết kế xây dựng, công trình 10 năm mới hoàn tất dùng 8 tấn amber. Trong thời gian Đức quốc xã phong tỏa Leningrade, những tấm panô khởi đầu bị chở đi tới Kronigsburg rồi biến mất cho tới ngày nay, vẫn không biết rõ chuyện gì đã xảy ra với nhũng tấm pa nô này, nhiều nguồn tin cho biết những panô này đã bị phá hủy khi Đồng Minh dội bom Kronigsburg. Riêng bức tranh khảm ” Smell and Touch”, nguyên thủy đã tìm lại được trong nhà tư ở Bremen , Đức năm 1997. Cung điện này bị phá hủy nhiều chổ khi Đức rút quân. Đại sảnh Amber hiện nay là một công trình tái tạo bắt đầu từ năm 1979 với sự hổ trợ tài chính từ Đức, được hoàn thành và mở ra cho công chúng năm 2003.
Cũng nên biết Phổ là đế quốc Đức với lảnh thổ bao gồm nhiều nước hiện nay như Đức, Đan Mạch, Nga, Ba Lan, Lithuani, Bỉ, Tiệp và Thụy Sỉ- Đế quốc phổ kéo dài từ 1807-1871.
From Wikepedia
Chi tiết trang trí bức tường trong phòng Amber
Xem Video Lâu Đài Cung Điện Nga Hoàng Tsarskoye Selo
Lâu đài Catherine, hay còn gọi làng của Hoàng Đế Nga (Tsarskoye Village) có 30 đại sảnh lớn nhỏ, được xây cất qua nhiều thời kỳ, các đại sảnh đều được trang trí xa hoa lộng lẩy với bao nhiêu nhân lực và tài lực (sự giàu sang tột đỉnh với nếp sống xa hoa, phong kiến, xa rời đại đa số dân chúng đả phải là môi trường xúc tác và cội nguốn cho cuộc cách mạng vô sản tháng 10 năm 1917 của Bolsheviks với tiếng súng thần công nố từ tàu Aurora, phát súng tín hiệu cho sự nổi dậy và báo chung cho triều đại phong kiến Romanov.
Thành phố chỉ hơn 300 tuối, nhưng có dấu ấn như ngàn đời, mang nhiều ảnh hưởng Tây Âu cổ và tân, bị xoá tên biến thành Leningrad năm 1924 và nay được trả về tên củ St Petersburg (từ Leningrad) theo sau sự sụp đổ của Sô Viết năm 1991 – St Peterburg, ngày nay, như một bằng chứng lịch sữ trường tốn, trải qua bao nhiêu hy sinh xương máu, một thành phố khi đã đến sẽ để lại ấn tượng rỏ rệt, khó quên trong lòng người đi.
Y Nguyên, tháng Tám 2012
Nhân chuyến du hành Bắc Âu hè 2012.
Posted: 10/08/2012 Filed under: Viet Nam | Tags: Bắc Âu, Du hành Bắc Âu, Du lịch Estonia, Estonia, Giãi thưởng Nobel, Na Uy, Nobel, Phần Lan, Thụy Điển, Đan Mạch Leave a commentNhân chuyến du hành Bắc Âu
Y Nguyên Mai Trần
Mọi người đã yên vị, chiếc máy bay Qantas đã nổ máy đều, phi hành đoàn chuẩn bị ra phi đạo, 20 phút sau phi cơ vẫn bất động cho đến khi cô trưởng tiếp viên cáo lổi cho biết có trục trặc nhỏ nhưng chuyến bay sẽ cất cánh chẳng bao lâu. Mười phút sau lại một lần xin lổi, anh phi công nối tiếp cáo lỗi cho biết có trục trặc kỹ thuật trong hệ thống toilet và họ đang cố gắng sửa chửa, khoảng 15 phút sau, anh lại xin lỗi thông báo phải thay thế một bộ phận và phải đợi chuyển từ Sydney. Thế là mọi người nhốn nháo, kẻ gọi điện thoại cầm tay, riêng tôi thì chắc chắn phải trể mấy chuyến bay nối tiếp (connecting flights). Chuyện bất ngờ đã sẩy ra, gây xáo trộn cho hành trình của biết bao người, riêng chúng tôi chuyến từ Melbourne đến Copenhagen (Đan Mạch) phải tạm dừng đổi chuyến bay tại phi trường Hong Kong và phi trường Paris phải trể rồi. Cũng may tôi đã dự tính hành trình có trể một ngày cũng không “đến nổi”, còn đủ thì giờ gia nhập đoàn du lịch.
Khoảng hơn 1 tiếng đồng hồ ngồi trong phi cơ, thì họ lại giàn xếp cho mọi người xuống phi cơ, trở lại phòng đợi và phát cho mổi nguời một phiếu ăn tối. Một số người nhanh nhẹn lấy phiếu rồi chạy đi nhanh, phiếu phát chưa xong thì cô tiếp viên được lệnh ngưng và thông báo phi cơ đã an toàn và mọi người hảy chuẩn bị thủ tục vào lại máy bay.
Có nhiều người cũng cùng hoàn cảnh, hy vọng Qantas sẻ giàn xếp ổn thỏa. Đến phi trường Hong Kong, mọi người được nhân viên đại diện Qantas đến tiếp xúc để tùy nghi giải quyết, kẻ đi Đông, người đi Tây mổi người một câu chuyện, giản dị có mà phức tạp như một cặp trắng đen về dự đám cưới tỉnh nào đó ở Kenya. Cuối cùng một số người được giàn xếp qua đêm ở khách sạn Regal trong phi trường Hong Kong, môt số người lại bị chuyển vào Hotel khác trong thành phố vì không đủ chỗ, bấy giờ là 1:30am.
Cả đêm chập chờn đến 6 giờ sáng, thức dậy đi ăn sáng và đợi người đưa trở lại quày vé, không hiểu cô tiếp viên làm thế nào nhưng rồi cuối cùng chỉ được chờ đợi Standby, phải chờ đến cổng lên máy bay (boarding gate) mở mới được số ghế. Loay hoay để hành lý vào cabin cho nhanh cũng không tránh được chàng Tây ngồi ghế phía ngoài cùng hàng bằng tiếng Anh bảo tôi với giọng nói không thân thiện “tao không muốn phải di chuyển cho mày ra vào nhiều lần”. Tôi nhìn chàng hơi lâu một chút nhưng không nói một lời. Thường thì tôi chọn ngồi ghế cạnh lối đi giữa (aisle) cho tiện ra vào, nhưng lần này không có chọn lựa, thôi thì chuyện quan trọng là được an vị và máy bay lăn bánh. Nhìn vào vé mới (thế đám vé củ) thì vẩn không yên vì đến Charles de Gaulle (phi trường ở Paris) phải đợi chờ số ghế (stand by) nữa, mặc dù được cô tiếp viên bảo đảm sẽ có ghế, nhưng lấy gì làm tin, nhưng thôi cứ nghỉ đã, 12 tiếng đồng hồ nữa mới đến Paris !
Nhắm mắt để đó nhưng chưa bao giờ tôi ngủ được trên máy bay, thoáng nhìn sang chàng Tây cấm cuối xem phim. Nhìn cử chỉ thì như là dân bay nhiều kinh nghiệm. Một trong những cảm giác không thoải mái khi đi Economy là phải chia nhau mà sử dụng tay dựa, tôi để ý chàng ta cũng biết điều biết nhường nhịn, lúc đầu tôi cứ nghĩ chàng này thuộc loại kỳ thị vì thái độ của chàng lúc mới vào. Nhưng vì “đường xa”, nên tôi thả bóng
-Đến Paris nhiều lần? Từ đâu đến?
Anh ta trả lời bằng tiếng Anh, anh là người Pháp về thăm gia đình ở ngoại ô Paris, đại điện thương mại của một công ty Pháp ở HONG KONG và hỏi lại tôi.
Phá tan được sự ngăn cách, tôi và chàng trao đổi kinh nghiệm đi du hành trên những hảng hàng không khác nhau, về Paris, pha lẩn chuyện thời sự gần đây. Chàng cho tôi biết hàng năm chàng phải bay hơn 100.000 Km. Chàng tiếp
-Hàng tháng là về thăm gia đình cộng thêm công việc phải bao trùm nhiều nước ở Á Châu.
-Đi Việt Nam chưa?
-Có, nhưng chưa phải là trọng tâm.
-Có đi Úc chưa?
– Tôi thích Úc, đã nhiều lần qua nhiều thành phố, năm ngoái tôi có đi cả Tân Tây Lan và Melbourne, tôi thích loại rugby của Úc, có xem đội Bulldogs chơi ở MCG (Vận động trường lớn nhất Melbourne). Trận ấy có đến mấy chục ngàn khán giả, thích thú lắm. Ở bên Pháp chỗ nào có 40, 50 chục khán giả là hiếm lắm, còn Úc mổi tuấn có bao nhiêu trận đấu mà khán giả đâu mà nhiếu đến thế. Tôi nói chung chung là dân Úc thích thể thao ngoài trời, hơn nữa đó là loại thể thao “đẻ” ra ở Melbourne, có truyền thống lâu đời.
-Anh có thích Hong Kong không?
-Tôi thích hợp với Hong Kong và gần China, Nhật Bản, Đại hàn… thế kỹ của Á châu mà!.
-Anh nghĩ sao về Europe với những biến chuyển kinh tế những năm gần đây?
-Đối với tôi, Âu Châu không có tương lai nhiều! Ở Pháp tôi không thích thằng Hollande (Tổng Thống thuộc phe xã hội) lại mượn tiền, in tiền để kích thích kinh tế, nhưng cán cân thương mại càng ngày càng tệ, phải thay đổi cách làm việc, cách sống, phải cân bằng ngân sách, phải trả nợ công…
Thật sự chàng củng không đưa ra điều gì mới lạ, nhưng cuối cùng chàng quyết liệt.
-Kỳ này tôi về thu xếp bán nhà, dọn cả gia đình sang Hong Kong!
Tôi hơi ngạc nhiên.
Thật sao? Còn vợ con anh nghĩ sao?
-Lúc đầu vợ không chịu, nhưng bây giờ OK, viêc ở đâu là người ở đó, trọng tâm kinh tế thế giới đã chuyển về Á Châu! Anh có thấy đồ Tàu tràn lan ở khắp nơi không?
Trong suốt chuyến bay thỉnh thoảng lại lăng nhăng sự đời với chàng nào là chính phủ Tàu khuyến khích thương gia Tàu sang Phi Châu, ảnh hưởng Tàu ở Phi châu, người Tàu bắt chước hàng hiệu… Trước khi chia tay anh ta đưa cho tôi coi giấy tờ làm ăn và chương trình bay sắp tới của anh ta như thể để chứng minh điều anh nói.
Tôi định trao đổi email với anh ta, nhưng thấy chắc cũng không có cơ hội gặp lại. Chúng tôi chỉ chúc may mắn và sức khoẻ.
Như câu nói “thấy vậy mà không phải vậy” ngẫm lại cũng hay, chàng “Tây” này thế mà “Ta” quá.
Đến Paris lại tất tả đi tìm cổng chuyến bay đi Đan Mạch để được xác nhận ghế ngồi, thế là một lần nữa thấp thỏm tuy không lo lắm vì Paris-Copenhagen có nhiều chuyến bay trong ngày. Cuối cùng mọi chuyện cũng ổn thoả, chúng tôi đến Copenhagen buổi chiều- coi như mất một ngày-nhưng cũng còn một ngày một đêm làm quen với Copenhagen trước khi gặp những người trong đoàn du lịch.
Trên chuyến bay hơn 3 tiếng từ Paris được cho ăn bửa chánh, sao lần này thấy ngon, thức ăn Air France hay tại không còn “stress” nữa. Ông bạn “Tây” ngồi kế bên tôi lại rất hoà nhã, hỏi ra thì cũng là dân kinh doanh trở lại Copenhagen. Chàng này cũng thường đi Pháp.
Bằng tiếng Anh, chàng cho biết là người Đan Mạch, cũng có đi vài nước Á Châu, chàng hỏi tôi đây là lần đầu sang Đan Mạch?
-Tôi được biết Đan Mạch một xứ nhỏ, mực sống cao, thích làm từ thiện và (tôi cười) LEGO, muốn đến thăm. ( LEGO là loại đồ chơi cho trẻ em bằng cách lấp ráp các mảnh bằng nhựa ra hình thù khác nhau)
-Công chúa của chúng tôi Mary là người nước Úc, nơi anh ở!
Anh nghĩ thế nào về cô ấy?
-Chúng tôi rất hài lòng, sung sướng.
Chàng vui chuyện, trao đổi với tôi về lịch sử Vikings, sự nối liền và hình thành độc lập của Đan Mạch, Na Uy và Thụy Điển.
Anh nghĩ vì sao xứ các anh nhỏ nhưng được xem là tiến bộ văn minh bậc nhất trên thế gìới, dân tộc anh có những đặc điểm nào đưa đến kết quả hôm nay?
Sắc mặt anh có vẻ vui hơn, nhưng trong cung cách khiêm tốn, chậm rải.
-Tinh thần tôn trọng luật pháp (Rule of Law), Nhân quyền (Human Rights), Bình đẳng (Egalitarian), Thực tế (Practical), Cầu tiến (Progressive), Khoan dung (Tolerance)? Cũng như các dân tộc khác phải không?
Câu trả lời của anh không làm tôi ngạc nhiên nhưng không khỏi miên man đến người châu Á và đặc biệt là người Việt Nam.
Người Bắc Âu, tôi dùng danh từ này trong bài cho người Scandinavians, nói chung họ có cùng nguồn gốc Vikings (dân sinh sống đi biển, đi tìm sống, tìm đất dụng vỏ khắp nơi có khí hậu lạnh), Thụy Điển, Na Uy và Đan Mạch có thời cùng dưới vì vua Eric of Pomerania nên có những đức tính văn hoá, nghi thức xã giao giống nhau như anh chàng vừa nói. Trong kinh nghiệm giao thiệp với họ, riêng tôi thấy họ dùng lời nói súc tích, thẳng vào vấn đề, không thích rào trước đón sau, hoa hòe hoa sói!
Anh thích trao đối ý kiến, giúp tôi cơ hội tìm chứng cớ để xác định điều tôi suy nghỉ.
-Anh có biết Đan Mạch giúp đỡ Việt Nam? Chuyện gì đã xảy ra gần đây?
-Dấu hiệu tham nhũng trong viện trợ. Tôi không theo sát chuyện này, nhưng nghe đâu họ tạm dừng khoản tiền này.
Anh hỏi tôi lần này ở Đan Mạch bao lâu và đề nghị tôi đi xem một số địa điểm.
-Anh có cơ hội đi dự lể phát thưởng giải Nobel không?
Anh hơi ngạc nhiên trả lời không biết có chuyện đó. Anh nói không phải tổ chức ở Stockholm (Sweden) sao?
Tôi lại tiếp
-Nhưng giải Nobel Hoà Bình được trao tặng ở đây chứ?
-Tôi không rõ, như vậy sao, tôi không biết, ghi nhận lời anh nói vậy.
Trước khi chia tay anh cho tôi email, số phone và nói nếu anh giúp được gì xin đừng ngần ngại. Tôi đáp lể và hứa sẻ đưa anh đi uống coffee ở Melbourne nếu anh có dịp sang Úc.
Về khách sạn đêm đó tôi tự hỏi sao anh này là người hiểu biết mà không biết chuyện giải Nobel Hoà Bình, chắc mình sai, đúng vậy óc tôi thỉnh thoảng lại chơi trò “trên bảo dưới không nghe” đầu nghỉ đúng giải Nobel hòa bình tổ chức ở Oslo (Na uy) nhưng lúc nói chuyện với chàng Đan Mạch thì có ý nói là ở Copenhagen, Đan Mạch. Sáng hôm sau tôi gởi anh email xin lỗi và đính chính, cả hai ngày sau vẫn chưa thấy hồi âm, mãi vài ngày sau anh mới email cám ơn, nói vì bận, chúc chúng tôi đi chơi vui.
Đan Mạch
Thành phố Copenhagen, thủ đô Đan Mạch từ đầu thế kỷ 15, với những tòa nhà kiến trúc xưa đẹp mắt, là một trong những thành phố có đời sống cao và được coi như thành phố hài hòa với môi sinh nhất thế giới, có nhiều cây xanh đi đâu cũng thấy người đi xe đạp (36% dân thành phố đi xe đạp theo Wikipedia). Hầu như những dinh thự lớn đều có bải đậu xe đạp, nhất là các cơ quan công quyền. Nhiều nhân viên cao cấp và bộ trưởng đi làm bằng xe đạp mặc dù có xe chính phủ cung cấp. Trong thành phố hầu như không có nhà trọc trời nhưng có những đường phố xưa, xe điện, nhiều trạm cho mượn xe đạp, chỉ cần lấy chiếc xe, bỏ 20 krones ($3 Au) vào khóa, khi đi xong trả về trạm, lấy lại tiền không phải trả phí tổn nào khác.
Một loại xe đạp mượn không ở Stroget
Giữa thành phố có con đường buôn bán dành cho người đi bộ, Stroget, dài nhất Âu Châu, nơi đây có đủ các mặt hàng các tiệm ăn, cà phê, đủ loại giá. Khu ở đầu đường gần nhà thành phố Rådhuspladsen, giá cả đồ đạc không đắt đỏ so với khu đầu đường Kongens Nytorv có nhiều hàng hiệu như Louis Vuitton, Boss, Gucci, Chanel vân vân .
Dọc suốt đường khu này có nhiều nghệ sĩ hát dạo (buskers) chơi nhạc hoặc trình diển tài nghệ đặc biệt của mình.
Cuối đường “stroget” băng qua công trường Kongena Nytorv là khu Nyhavn (New Haven), là bến cảng sông ngày xưa nổi tiến nơi sinh hoạt của văn nghệ sĩ, nhà cửa kiến trúc xưa, màu mè đẹp mắt, Hans Christian Andersen, tá túc ở nhiều địa chỉ khu này. Hans là một nhà viết truyện, viết kịch, kể chuyện, nhất là chuyện thần tiên cho trẻ em, nổi tiếng trên thể gìới, tác phẩm của ông được dịch hơn 150 ngôn ngữ trên thế giới (the Little Mermaid, Ugly Duckling, Thumberlina-the Snow Queen…). Ngày nay khu dọc cảng sông này nổi tiếng có nhiều quán ăn (alfresco dining), quán nhậu.
Không cách xa nhà thành phố và Stroget là Viện bảo tàng quốc gia Đan Mạch vào xem miển phí. Là viện bảo tàng lớn nhất trưng bày lịch sử văn hoá của Đan Mạch từ thời IceAge, Vikings, Middle Ages đến nay cũng như các di vật (exhibits) từ Greenland đến Nam Mỹ.
Báu vật vòng đeo cổ bằng vàng lớn nhất của Đan Mạch tìm thấy thời Vikings nặng 1.8 Kg
Người đàn bà khoảng 40 và đứa nhỏ khoảng 3 được chôn chung cách đây 7000 (7 ngàn) năm.
Chử viết của nguời Vikings trên bia mộ bằng đá. Có khoảng 16 runes (có thể xem như 16 mẫu tự Vikings).
Cùng viếng thăm Copenhagen on youtube
Ban nhạc trong khu Stroget
Na Uy.
Rời Copenhagen sang Oslo, thủ phủ của Na Uy, phải xuyên qua thành phố lớn thứ hai của Thụy Điển Goteburg, dọc đường mùa Hè, cây cỏ xanh tươi qua rất nhiều sông rạch, vịnh nhỏ (fiords) chảy ra biển Bắc (North Sea). Na Uy có nền kinh tế giàu nhất vùng này nhờ dầu ở North Sea. Oslo là một trung tâm mậu dịch quan trọng thành phố thành lập bởi người Vikings năm 1050. Sau trận cháy 1624 Hoàng đế Đan Mạch Christian IV xây lại thành phố và đặt tên là Chritiana. Sau khi Na Uy dành lại độc lập từ Đan Mạch năm 1905, thành phố đỗi tên là Oslo năm 1925. Oslo có dân số hơn 600 ngàn người với hệ thống giao thông công cộng tiện lợi đủ loại, bus,phà, xe điện ngầm, xe điện trên mặt đường và trạm xe đạp. Thiết kế ngăn nấp, một con đường chính, một đầu là cung điện của vua, đầu kia là nhà ga chính của Oslo. Hai bên đường là dinh thự, công thự, hàng quán đủ loại, kiểu cở. Bình quân đầu người cao nhất trong các quốc gia vùng biển Baltic nên nhiều giống dân khác đến làm việc, lập nghiệp, thành phố có nhiều kiến trúc mới, đổi thay trong những thập niên gần đây.
Một trong những địa điểm thu hút khách đến là viện bảo tàng thuyền bè thời Vikings
Chiếc thuyền được khai quật cách đây hơn 100 năm ở vùng OSEBERG và GOKSTAD. Người Vikings giàu có thường chôn nguời trong chiếc thuyền cùng với đồ đạc cá nhân của nguời chết.
Oslo cũng là nơi theo lời di huấn của Alfred Nobel, giải Nobel Hoà Bình được trao tặng mổi năm vào ngày 10 tháng 12,
Một ủy ban chọn lựa giải Nobel Hoà bình gồm có 5 người được đề cử bởi quốc hội Na Uy.
Trung tâm Nobel Hoà Bình-Nhà triển lảm.
Bên trong hội trường thành phố (City hall) nơi trao tặng giải Nobel Hòa Bình
Một trong những điạ điểm thu hút nhiều nhất là Frogner Park, còn gọi là Vigeland Park. Đây là một công viên có đến hơn 200 tác phẩm điêu khắc do một nguời điêu khắc nổi tiếng của Na Uy tên Gutav Vigeland.
Đây là những tượng tạc từ đá kim cương (granite) pha lẩn với đồng (bronze) và sắt uốn (wrought iron). Vigeland cũng là nhà người chịu trách nhiệm về thiết kế và kiến trúc tổng thể của Frogner Park. Hầu hết các tượng đá được đặt dọc theo trục dài 850m, tại những địa điểm như cổng chánh, dọc theo thành cầu dẩn đến vườn chơi cho trẻ em, đài phun nước (fountain)…
Na Uy còn được gọi là quốc gia của Mặt trời nữa đêm vì mặt trời vùng Bắc Na Uy không lặn mà ở cuối chân trời, đặc biệt vùng Svalbard, mặt trời không lặn liên tiếp từ 19 tháng 4 đến 23 tháng 8 mổi năm. Hơn nữa Na Uy còn nổi tiếng về hiện tượng Northern Lights (Aurora Borealis, hình từ visitnorway.com ) thường xuầt hiện ở Tromso, Finnmark, Senja giữa 21 tháng 9 (cuối Thu) đến 21 tháng 3 (cuối Đông, đầu Xuân).
Cùng viếng thăm Oslo youtube
Sweden
Từ Oslo sang Stockholm Thụy Điển đường dài 530km qua vùng quê xanh mát của Na Uy rồi đến Karlstad, mọt thành phố nằm trong lảnh thổ Thụy Điển. Karlstad nổi tiếng là thành phố (62 ngàn người) có nhiều ánh nắng nhất Thụy Điển và cũng nơi đây 1905 hiệp ước Thỏa Thuận tách rời hai xứ Na Uy và Thụy Điển được ký kết.
Thụy Điển qua nhiều thời kỳ, dưới quyền cai trị khống chế của người Đan Mạch, cho đến khoảng 1520-1521, Gustav Vasa giải phóng Thụy Điển, người lãnh đạo phong trào nổi dậy chống vua Đan Mạch King Christian II, trở thành Vua Gustav I.
Hiện nay Thụy Điển theo chế độ Quân chủ đại nghị (hành pháp, lập pháp và tư pháp độc lập riêng rẻ) với vua chỉ là biểu tượng. Thành phố Stockholm bao gồm nhiều 30,000 đảo lớn, nhỏ (www.thelocal.se/34460/20110620/), nối liền bởi hàng trăm cầu. Thành phố củ- Old Town-nằm trên đảo nhỏ Gamla Stan là nơi du khách đến đông nhất vì nơi đây có những con đường hẽm nhỏ quanh co, lót đá, có từ trung cổ bao quanh cung điện hoàng gia, di tích lịch sử, kiến trúc thế kỹ 17, 18, hội trường thành phố nơi hoàng gia Thụy Điền tổ chức tiệc thết đải những người được trao giải Nobel.
Thế kỹ 20 thì người ta biết đến Nobel Prizes, xe Volvo, Saab, Ikea (trang trí nhà cửa), kiểu ăn Smorgasbord, ban nhạc ABBA,..Người tóc vàng (nhưng theo người viết, Stockholm là một thành phố có nhiều sắc dân, nhiều màu sắc, tóc vàng cũng nhiều mà tóc không vàng cũng không thiếu). Một thành phố yên bình, văn hóa, tiến bộ văn minh nhưng hài hòa môi sinh, một đặc điểm chung của các quốc gia Nordic-Bắc Âu (Phần Lan và Iceland và Scandinavians (như Đan Mạch, Na Uy, Thụy Điển).
Viện bảo tàng VASA có di tích lịch sử củaả một thuyền chiến lớn nhất, trang trí đẹp nhất, tốn tiền nhiều nhất cúa Thụy Điển hạ thủy ngày 10 tháng 8 1628, nhưng bị chìm trong vịnh cách bờ khoảng hơn 100m vì gió lớn ngay sau đó. Mãi đến năm 1961 thuyền mới vớt lên được, sau 333 năm dưới đáy vịnh Stockholm. Sau khi được trùng tu, thuyền được đặt trong viện bảo tàng và đây cũng là địa điểm du khách viếng thăm nhiều nhất.
Picture from Internet
ABBA, ban nhạc Thụy Điển nổi tiếng nhất trên thế gíới với cách trình diễn, loại nhạc dể hát, hợp thời trang thập niên 70. Năm 1982 ABBA giải tán giữa lúc đang thịnh, để lại nhiều hối tiếc cho giới hâm mộ. Bản nhạc Dancing Queen được xem bài hát pop hay nhất, thịnh hành nhất xưa nay !
Học sinh trung học “hốt rác” giữ sạch thành phố. Stockholm was awarded the title “the first European green capital” in 2010
Nobel Prizes
Giảỉ thưởng cao quý Nobel được tổ chức Nhà Hát Stockholm, sau đó được thết đải tại Hội Trường Thành Phố.
Alfred Nobel (1833-1896) người Thụy Điển nổi tiếng nhất trên thế giới, cũng nên biết ông xuất thân từ một gia đình nổi tiếng, tổ tiên có công xây dựng Thụy Điển. Ông từng học ở St Petersburg và Paris, là một nhà hoá học, kinh doanh, sáng chế dầu nổ “blasting oil”, sau trở thành thuốc nổ (dynamite). Người theo dỏi Nobel cho rằng có lẻ ngòi nổ “Nobel ignitor” là sáng chế quan trọng hơn dynamite. Cho đến khi ông qua đời 10 tháng 12 năm 1896 ông có 355 bằng sáng chế, đã xây dựng 90 cơ xưởng trên 20 quốc gia.
Nobel một nhà kinh doanh khi ông chết để lại di thư nói rõ, sau khi chia phần cho người nhà và người thân, tiền lời trên phần di sản còn lại phải được tặng thưởng cho những người đem đến lợi ích cho nhân loại trong các lảnh vực Vật lý, Hóa học, Sinh học hay Y khoa và Văn chương, cũng như công cuộc thúc đẩy Hòa bình trên thế giới. Giải thưởng đầu tiên được trao tặng năm 1901, nhưng đến năm 1969, giải Nobel về Kinh tế dưới sự bảo trợ của Sveriges Riksbank do Tổ chức Nobel (Nobel Foundation) quản lý, quyết định trao giải Nobel đầu tiên. Tất cả giải Nobel được thẩm định và trao tặng tại Stockholm, ngoại trừ giải Nobel về Hoà Bình được trao tặng tại Oslo, Na Uy.
Giải thưởng Nobel ngoài Huy Chương (medal) còn có một văn bằng và một số tiền thay đổi mỗi năm. Năm nay 2012 số tiền đã được công bố vào khoảng 8 triệu SEK (tiền Thụy Điển Krona) khoảng 1.12 triệu đô la Úc.
Cùng viếng thăm Stockholm city highlights and Icebar on youtube
Cùng viếng thăm Stockholm museums-VASA-Nordika-Nobel
Cùng xem Swedish and Russian folk dancing
Phần Lan
Rời Stockholm bằng ferry qua đêm, đến Helsinki vào buổi sáng. Phần Lan là quốc gia cấp tiến, phát triển cao. Phần Lan một quốc gia nhỏ trong lịch sử cận đại thường bị nuớc Nga trấn áp nhưng không bị thu phục vào Soviet Union. Mặc dù có liên hệ gần gũi với Nga, sau 1991, kinh tế Phần Lan chuyển sang đường hướng tư bản Tây Phương, cũng như tự do báo chí. Phần Lan trở thành thành viên Cộng Đồng Âu Châu (European Union) năm 1995.
Công ty lớn nhất của Phần Lan là Nokia có một giai đoạn làm “bá chủ” trên thị trường điện thoại cầm tay trên thế giới. Phần Lan có Linus Torvalds, cha đẻ của hệ điều hành (oprating system) điện toán Linux, và Jean Sibelius (1865 – 1957) một trong những nhà soạn nhạc cổ điển lừng danh trên thế giới.
Nền giáo dục Phần Lan được coi như tiến bộ và hiệu quả nhất trên thế gìới, chú trọng đến khả năng làm việc và sáng tạo của dân chúng. Giáo dục tiểu, trung học và đại học miễn phí (trừ một vài ngành thạc sĩ đặc biệt). Ngưòi Phần Lan rầt thành thật, chú trọng đến nhân quyền-quyền bình đẳng (egalitarian), khoan dung.
Về địa chất, Phần Lan có hơn 55 ngàn hồ cạn , trong đó có khoảng 200 hồ với chiều rộng hơn 200m , hệ quả của thời kỳ băng hà trong quá khứ. Mùa Đông khắc nghiệt, vùng Bắc Phần Lan (Lapland) không thấy bóng mặt trời gần 2 tháng, vùng Nam, ngày rất ngắn và mặt trời chỉ nằm ở chân trời giữa trưa. Mùa Hè thì ngược lại, ngay cả vùng cực Nam, đêm không bao giờ tối hẳn. Vùng Bắc ánh nắng kéo dài đến 16 tiếng đồng hồ, miền Nam khoảng 14 tiếng. Cũng nên biết khí hậu này cũng tương tự như vùng Lapland của Thụy Điển. Phấn Lan cũng là xứ sở phát minh Sauna
Nhà thờ Tempeliaukio đục trong đá ở Helsinki Công viên Sibelius và đài kỷ niệm Sibelius, nhà soạn nhạc nổi tiếng trên thế giới
http://www.youtube.com/watch?v=q8VxZyGsm6k&feature=related (Sibelius symphony number 2)
Mặc dù dân số thành phố Helsinki có khoảng hơn 380 ngàn người (trên tổng dân số cả nước hơn 4 triệu) Phần Lan tổ chức Thế Vận Hội 1952, 4 năm trước Thế Vận Hội Melbourne. Đây là lần đầu tiên trong lịch sữ, Việt Nam gởi một phái đoàn đi Thế Vận Hội với cờ vàng ba sọc đỏ trong tổng số 69 quốc gia tham dự. Phái đoàn Vietnam có 8 nam lực sĩ-4 đua xe đạp, một bơi lội, một đánh kiếm (fencing), một quyền Anh (boxing) và một chạy xa (distance runner). Sau 1975 Việt Nam (VNDCCH) cờ đỏ sao vàng, gởi phái đoàn đầu tiên đến Thế Vận Hội Moscow 1980. Tuy nhiên Thế Vận hội này bị 60 nước tẩy chay vỉ Nga chiếm A Phú Hản 1979 (Afganishtan), phần đông các quốc gia này thuộc khối tự do và Trung Quốc, Trung Hoa quốc gia Đài Loan. Có 81 xứ tham dự thế vận hội Moscow.
Cùng viếng thăm Helsinki
Tallinn
Từ Helsinki chúng tôì viếng thăm Tallinn, thủ đô của Estonia, được độc lập sau khi Soviet Union bị tan rã. Tôi miên man đến hình ảnh của Tiệp Khắc, dù thành phố Praha đẹp nhưng là hình ảnh của một xã hội hậu Sô Viết, thủ tục di trú rườm rà dưới cặp mắt không thân thiện gì mấy, nguời dân không mấy người vui, thỉnh thoảng vẩn thấy cảnh sát/công an. Ngồi cạnh một cặp người lớn tuổi, chúng tôi cùng chào nhau, ông bà giới thiệu là người Đức đi du lịch lần đầu tiên.
-Ông có đi Scandinavia chưa ?
-Có, chúng tôi đi Scandinavia và Phần Lan.
-Ông bà thấy thế nào ?
-Thích lắm, rất yên bình và đẹp.
Khi trao đổi những câu chuyện du lịch, biết ông cũng không phải là người kiến thức rộng lắm vì ông hỏi tôi nhiều điều làm tôi hơi ngạc nhiên, nhất là kiến thức tổng quát. Tôi hỏi ông về Phillip Rosler, phó Thủ Tướng Đức gốc Viêt, Ông nói biết nhưng không rành, ông cũng không biết rỏ về Việt Nam, mặc dù ông cho tôi biết ông ở Đông Đức trước khi tường Bá Linh sụp đổ, một vùng xa của thành Phố Dresden. Ông có dáng người trầm lặng hơi ưu tư.
-Chắc ông chứng kiến nhiều sự thay đổi chứ? Ông gật đầu nhưng cũng không thêm.
-Nhưng dù thế nào thế gìới cũng thán phục nước ông vì đã hoà giải dân tộc một cách hoà bình không đổ máu.
Ông gật đầu nói thêm.
-Có nhiều giá phải trả một cách thầm lặng, cuộc sống ngày nay khác với xưa.
-Phải làm việc nhiều hơn, phải làm ra tiền.
Có lẻ ông có nhiều kỹ niệm về quá khứ mà không muốn nói.
-Vâng, tôi là đảng viên đảng Cộng Sản Đức lâu năm.
-Ông có hoài niệm gì không?
Ông trầm ngâm.
-Tôi cũng lớn tuổi rồi, phải chấp nhận thay đổi chứ.
-Cuộc đời ông đã ổn định và an bình chứ.
-Vâng, nhưng chúng tôi (trước kia dân Đông Đức) thỉnh thoảng cảm thấy bị nguời Tây Đức khinh rẻ.
-Vì sao ? bà Chancellor Merkel là người Đông Đức mà! Ông không trả lời thẳng
-Có lẻ họ nghĩ họ đã phải cưu mang chúng tôi ?
Phải chăng ngày xưa ông là một đảng viên cao cấp chăng ?
Rồi ông hỏi chuyện an sinh xã hội bên Úc. Tôi trả lời ông về hệ thống an sinh (Welfare và y tế (Medicare), bà ngồi nghe thỉnh thoảng gật gù.
Sau đó bà xin phép đi window shopping-xem hàng hoá trình bán trên tàu một tí. Khoảng it lâu sau thấy bà trở lại và thuyết phục kéo ông đi … xem món hàng nào đó tôi đoán. Tôi chúc hai ông bà may mắn, sức khoẻ.
Đi khoảng chừng hơn ba bước, ngoãnh lại nhìn tôi.
-Cám ơn đã nói chuyện và sẻ gặp lại anh.
Có lẽ ông nghĩ sẻ gặp lại đâu đó lúc đi thăm Tallinn, thủ phủ của Estonia. Cũng trong chuyến đi này, trên tàu trở về lại Helsinki để đi St Peterburg, chúng tôi lại gặp một cặp vợ chồng người Anh. Ông bà này cũng trạc tuồi cặp người Đức trước đây, nhưng kiến thức rộng rải, đọc nhiều và đi cũng nhiều, phong thái tự nhiên, cởi mở rất khác cặp người Đức (gốc Đông Đức) kia . Trong khi ông nói chuyện với tôi về Olympics, Eurozone, thì bà tập hát nho nhỏ, bà nói bà sắp phải hát chung trong ca đoàn hợp xướng (choir) nơi địa phương bà ở, đâu gần Manchester.
Estonia là một xứ nhỏ dân số khoảng 1.3 triệu, nằm giáp giới với biển Baltic. Tallinn là thủ phủ và hải cảng chính có tàu qua lại Helsinki, Phần Lan. Cùng với Latvia và Lithuana, ba xứ này trước 20 tháng 8 năm 1991 bị chiếm cứ, lệ thuộc Nga Sô, ngày nay cả ba đều là thành viên của Liên Hiệp Âu Châu (European Union), và Minh ước Bắc Đại Tây Dương (North Alantic Treaty Organisation-NATO). Estonia cũng là thành viên của khối tiền tệ Âu Châu (Eurozone). Được xem là xứ phát triển và ít cư dân nên cuộc sống rất nhàn nhả, gần thiên nhiên, không bao gìờ có cảnh kẹt xe. Chợ búa đường xá không ồn ào tấp nập. Đồ đạc, thực phẩm đắt đỏ hơn ở Helsinki. Trên tàu thường thấy người buôn bán mua đồ bên Helsinki đem về Tallinn, đặc biệt là bia rượu, đồ điện, điện tử. Sự di chuyển của người dân giữa Phần Lan và Estonia không cần thủ tục quá cảnh.
Người Tallinn không thích nói về thời bị chiếm đóng bởi người Nga, cũng không thích người Nga. Du khách đến Tallinn sẽ được đưa đến thăm thành phố cổ với thành trì xây từ thời trung cổ, với những con đường hẽm nhỏ, lót gạch, quanh co, những ngôi giáo đường (dưới thời Sô Viết bị biến thành nhà kho chứa đồ đạc) nhiều kiến trúc của thế kỷ 14, 15 xưa đẹp mắt. Khu thành phố cồ bây giờ được xếp hạng khu Du lịch Bảo Tồn của thế giới.
Estonia cũng được biết là nơi sinh ra Skype-một nhu liệu cho phép truyền tiếng nói, viết và video qua máy điện toán- tử hai nhà sáng chế nổi tiếng Niklas Zennstrom (người Thụy Điển) và Janus Friis (Đan Mạch). Estonia có thể dùng WiFi khắp cùng Estonia mà không phải trả chi phí nào. Môt phát minh từ Estonia cũng quan trong không kém là nhà tắm hơi (sauna). Mùa Đông rất lạnh và có nhiều tuyết và hầu hết nhà nào cũng có sauna.
Thành phố Tallinn nhìn từ Castle Hills, một địa điểm cao trong khu phố củ
Đường nhỏ, lót đá, quanh co trong thành phố cồ.
Rời Estonia, nhưng không thề nào quên thái độ không thích Nga của cô hướng dẫn viên với câu chuyện truyền khẩu. “ Dưới thời Brezhnev, Tổng Bí Thư đảng cộng sản Nga, ông này không bao giờ phát biểu trước công chúng mà không có diễn văn trước mặt. Lúc tới Tallinn, đọc diễn văn mở màn Olympics 1980, ông thấy dấu biểu hiện Olympics, ông đọc luôn O O O O O.”
Cùng dạo quanh phố cổ Tallinn
Mai Tran
1 Aug 2012
Sắc màu hoa nhớ
Posted: 18/05/2012 Filed under: Nghiên cứu-Khảo luận, Viet Nam | Tags: Bông Gòn, Cây hoa hiếm, Giàn Hoa Ti Gôn, Hoa Hoè, Hoa Nắng, Hoa Nhớ, hoa soan, Hoa tên gì, Hoa thiên Lý, Hoa Việt Nam, Hoa Xuân, kim đồng ngọc nữ, pansê, Sen Súng, Tên các loài hoa, Tơ Hồng 3 CommentsSắc Màu Hoa Nhớ
Y Nguyên Mai Trần
Trong văn chương, âm nhạc có nhiều mỹ từ về bông hoa cây cảnh mà mãi lúc lớn lên chúng ta mới nhận thức được, tuổi thơ là khu vườn xung quanh nhà có trồng hoa có cây ăn trái, có nắng trải thềm nhà, có mưa bong bóng phập phồng. Hoa toả hương, phô sắc làm đẹp cho cuộc đời, gần cạnh, xung quanh ta, xuất hiện trong hoài niệm, trong cuộc sống mà không bao giờ réo gọi. Cây bông gòn, cây sầu đông, cây lucuma, cây hồng quân, dây thanh long, hàng rào trà với dây tơ hồng quấn quit, đám hoa mười giờ, bông trang, bông lồng đèn, dâm bụt, dạ lý hương, ti gôn…
Hoài niệm hàng cây điệp, phượng vỉ nỡ đỏ mùa hè ve kêu, thu của những tháng ngày xe lạnh gần Tết, rồi Xuân đến khi hoa Mai vàng lá và những vườn hoa cúc, vạn thọ, mồng gà…bắt đầu nở hoa, năm nào cũng vậy khoảng rằm tháng chạp là phải lặt lá mai cho Mai nở kịp Tết, kỹ niêm xưa nhớ mấy cho vừa…
Bài sưu khảo này ghi nhớ lại loài hoa nằm trong ký ức, thường được nhắc nhở nhưng không rỏ “dung nhan”, “tính tình” mang tên họ gì. Nào là chuyện hoa sim, hai sắc hoa ti gôn , hoa pensée, chuyện giàn thiên lý, hoa soan bên thềm củ, hoa hoè hoa sói, kim đồng, ngọc nữ, forget-me-not, bông gòn, tơ hồng, hoa mơ hoa mận nở … Tiện thể, thỉnh thoảng dừng chân trên bước đường xuôi ngược để cùng chiêm ngưỡng các loài hoa gần gủi chúng ta- một chút ân tình đong đầy bao nhiêu kỷ niệm êm đềm của một thời hoa mộng-luôn tiện ngắm nhìn một số kỳ hoa dị thảo.
Nguời viết cũng xin ghi nhận, một số hình ảnh và dử kiện được tham khảo hoặc trích từ “từ điển Wikipedia commons, Wikipedia” và một số thông tin từ Bloggers ở Việt Nam cũng như một số bài hát về hoa từ youtube. Tính chất dược thảo lợi ích của một số loài hoa trong bài chỉ là thông tin tổng quát, muốn áp dụng xin bạn đọc hảy điều tra và tham khảo với chuyên gia.
Tơ hồng ( Úc) Mồng Gà Dây thanh long Tơ hồng miền Tây
Dây tơ hồng, tên khoa học Cuscuta, không phải là hoa, là một chi của khoảng 100-145 loài thực vật sống ký sinh có màu vàng, da cam hay đỏ (ít khi thấy loài có màu xanh lục). Trước đây người ta coi nó như là chi duy nhất của họ tơ hồng (Cuscutaceae), nhưng các nghiên cứu sau này cho biết Tơ hồng phải đặt chính xác vào họ Bìm bìm (Convolvulaceae). Thường được tìm thấy khắp ở vùng nhiệt đới và cũng có vài loài sống ở vùng ôn đới. Ở Miền Nam vùng sông rạch miền Tây, thường thấy mọc dại trên những hàng rào trà, hay mọc ven sông.
Mồng gà thường thấy vào dịp Tết ở miền Nam, tên khoa học là Celosia Cristata thuổc họ Amaranthaceae, trồng như loại cây thực phẩm (lá và hoa) ở Ấn độ, Nam Mỹ và miền tây Phi Châu.
Thanh Long là trái của vài loài xương rồng, quan trọng nhất là loài trái ngọt (sweet Pitayas) tên khoa học là Hylecereus Undatus (vỏ đỏ, thịt trắng) được trồng nhiều nơi ở Đông Nam Á, và đặt biệt trồng xuất cảng ở Việt Nam.
Hoa nắng.
Một mỹ từ văn chương nói đến nhửng loài hoa khoe sắc thấm vào mùa hè ngày có ve kêu, đêm có đom đóm bay quanh vườn, điển hình là hoa phượng, hoa điệp- hoa nắng- len lén chui qua giàn bầu, bí, giàn mướp, giàn hoa ti gôn, giàn bông giấy xen qua cây lá trong vườn để lại những vết nắng đủ hình trạng lấm tấm trên tường vôi hay trên thềm nhà.
Phượng Vĩ
Tên khoa học Delonix regia thuộc họ Caesalpiniaceae. Cây thân mộc mềm, đường kính thân cây 60-80cm,tán lá rậm hình dù cành nằm ngang dể bị sâu đục rổng có thể cao hơn 10m nhưng sống không quá 50, 60 năm. Lá kép lông chim hai lần. Tuy lá nhiều nhưng tầng trên không che khuất nắng của tầng dưới nên tàng cây mát dịu và trong sáng. Hoa màu đỏ, cam, mộc thành chùm, mỗi đóa hoa có 5 cánh – 4 cánh xòe và một cánh mọc chỉ thiên. Hoa nở rộ từ tháng 4 đến tháng 6 ở Việt Nam
Cây dễ trồng, thích ứng với nhiều đới khí hậu nên người ta trồng Phượng Vĩ ở nhiều nơi để làm cảnh và lấy bóng mát.
Điệp
Điệp là tiếng gọi trong Nam cho một loại Phượng có tên khoa học là Poinciana Pulcherrima cùng họ với Phượng Vĩ nhưng khác vì thân lùn, hoa màu đỏ hoặc vàng. Trái Điệp dẹp dài 10-15cm, tách bên trong có hột mềm ăn được, có vị ngọt.
Phượng Tím –Jacaranda
Hoa Phượng tím gốc Nam Mỹ là một loài cây thân gỗ, lá kép hai lần, hoa màu tím, tên khoa học là Jacaranda Acutifolia thuộc họ Bignoniaceae, có tên khác là J.mimosifolia, hay J.ovalifolia. Gọi là Phượng, nhưng Phượng Tím (họ Bignoniaceae) và Phượng Vĩ đỏ (họ Caesalpiniaceae) là hai họ khác nhau. !
Tùy theo môi trường sống, Phượng tím có thể cao từ 3 đến 10 mét, đường kính tán lá có thể đến 10m. Mổi cành lá dài từ 40 đến 50 cm, có lông tơ và mọc thành từng chùm. Thời gian từ khi hoa ươm nụ đến khi tàn rụng thường kéo dài từ 3 đến 5 ngày. Các chùm hoa ở đầu cành lại tiếp tục nở ra một đợt hoa mới. Vì vậy mà Phượng tím có hoa nở thường xuyên trong vòng 2-3 tháng. Ở Úc, thời gian hoa nở từ tháng 11 đến giữa tháng 2. Phượng Tím được trồng nhiếu nơi trến thế giới làm cây cảnh trong vườn nhà, ven đường hay trong công viên. Ở Đà Lạt có trồng nhiều Phượng tím.
Bông Giấy-Bougainvilleas- là loại cây trang trí rất thông dụng vùng có khí hậu ấm khắp nơi trên thế giới như Ethiopia, Nam Dương, Phi, Thái, Hồi, Ấn Độ, Đài Loan, Việt Nam, Mã Lai, Úc, Hy Lạp,Tây Ban Nha, Thổ, Singapore, vùng Địa Trung Hải, Trung Mỹ, Kuwait, United Arab Emirates, nam Hoa Kỳ, Hawaii, vùng Lucarno ở Thụy Sĩ nổi tiếng về bông giấy ở Châu Âu.
Những loại bông giấy thường thấy hiện nay là kết quả của lai giống 3 loại trong số 18 loại giống từ Nam Mỹ. Hiện có đến 300 loại khác nhau trên toàn thế giới do lai giống (hybrid) và đột biến (mutation) ,
Mức độ phát triển của bông giấy nhanh hay chậm tùy loại giống, có nơi trổ hoa cả năm như vùng nhiệt đới gần xích đạo, có nơi trổ theo mùa. Bông giấy cần ánh nắng, khí hậu không ẫm ướt, đất tốt. Hoa trổ từ 4 đến 6 tuần là tàn. Càng có phân bón hoa càng đep rực rở, không cần phải tưới nước nhiều. Tưới nước nhiếu cây không ra hoa và trút nhiều lá, có khi chết vì rể bị thối rửa. Bông giấy trồng dể dàng bằng cách chiếc cắt khúc đầu nhánh và gâm xuống đất với chút phân bón.
Hoa Xuân
Cũng là một mỹ từ văn chương nói đến những loài hoa thường thấy trong dịp Xuân về Tết đến mà điển hình phải kể đến hoa Mai trong Nam, hoa Đào (Anh đào) ngoài Bắc, hoa Cúc và Vạn thọ.
Trước tiên cần phân biệt loại hoa Anh đào ở Việt Nam và hoa Anh đào của Nhât (Sakura) và loại Đào ăn trái có nguồn gốc ở Trung quốc thuộc giống Prunus Persica, loại Anh đào là loại được chọn lựa và lai giống thường chì cho hoa đẹp rực rở (flowering cherry) Prunus Jamasakura hoặc cho trái vị chua (Prunus Cerasus) . Loại Đào ra hoa có dạng thân nhỏ, như bình đựng hoa, phần duới gốc nhỏ, phần trên cành xoè ra, cò thể mọc cao đến 7-8 m, Anh đào thích hợp khí hậu lạnh. Anh đào ở cao nguyên miền Bắc Việt Nam hay ở Đà lạt không phải giống đào China cho trái để ăn, tiếng khoa học là giống Prunus Persica, mà là chủng loại hoa Anh đào Nhật .
Giống Anh đào trồng trong vườn thường là loại đào lùn 2 to 4 m thường được gép trên gốc cây lùn, chỉ trồng cho ra hoa đẹp để trang trí chứ không ăn trái. Loại hoa đào nở vào dịp Tết ở miền Bắc trong dịp Tết Việt Nam- tháng giêng đến tháng ba
Tiện đây chúng ta nên biết tuy cùng chung họ Rosaceae, cùng chi Prunus Đào (Peach) , Mận (Plum) và Mơ (Apricot) là những giống hoàn toàn khác nhau, tuy phân biệt các loài hoa cần sự chú ý và hiểu biết đặc biệt. Gần đây ở Bắc Việt Nam có trồng loại đào Tàu ở vùng Mẩu Sơn, thuộc huyện Lôc Bình, tỉnh Lạng Sơn.
Hoa Anh đào ở Việt Nam nở vào mùa xuân biểu tượng cho sự may mắn, hạnh phúc, tình bạn khắng khít, thân thiết trường tồn.
Ý Nghĩa : May Mắn, Hạnh Phúc
Hoa Mai vàng đua nở vào dịp Tết, nhà nào củng ráng chưng mai, biễu tượng cho sự may mắn, giàu thì cả cây, nghèo thì một nhánh. Mai khắp mọi nơi cũng như hoa Đào ở Bắc rất đẹp, cũng có loài Mai rừng (như trong bài hát Mùa Xuân Trên Cao của Trầm Tử Thiêng) , mọc hoang dại ở ven rừng vùng nhiệt đới. Ngày nay có nhiều loại mai nhiều hơn năm cánh do sự tiến triển của thực vật học và sinh học, nhưng phần lớn chưa có tên khoa học.
Hao Mai vàng có tên khoa học là Ochna integerrima thuộc gia đình Ochnaceae, có ít nhất khoảng 50 loài hoa Mai vàng khắp nơi trên thế giới. Ngoài Mai vàng ra còn có giống hoa Mai trắng-bạch mai, tuy nhiên giống Mai này khác hẳn với giống Mai vàng và không cùng chung một họ, Mai trắng có tên khoa học là Prunus mume sieb họ Rosacea. Hoa Mai trắng thường có 5 cánh thường thấy ở miền Trung hoa mới nở có màu đỏ hồng, sau chuyển sang màu trắng, thoảng mùi hương. Mai trắng thuộc dạng loại cây mơ (apricot) không ăn trái chỉ cho hoa đẹp mà thôi.
Nhìn chung, ở Việt Nam người ta chỉ xác định được tên khoa học của vài loài Mai là Ochna integerrima (Mai vàng năm cánh); Ochna integerrima (Mai núi) và Ochna atropurpurea (mai tứ quý). Riêng về Mai tứ quý, ngoài tên khoa học Ochna atropurpurea, chúng còn những tên khác là Ochna atropurpurea DC, Ochna serrulata hay Ochna integerrima.
Hoa Mai có màu vàng tượng trưng cho sự sang trọng, quý phái nhưng lại mang vẻ đẹp dịu dàng, đáng yêu, gần gũi với đời thường. Ai cũng có thể trồng Mai và thưởng thức Mai. Nguời miền Nam cứ sau rằm tháng Chạp (tháng 12 lịch ta) là người ta lặt mai hy vọng Mai trổ vàng rực rở sáng mồng một Tết. Người xưa quan niệm: ” Mai nở vào ngày Tết sẽ đem lại sự may mắn cho gia đình vào năm tới.”Người ta thường đem cả cây Mai vào nhà để đón xuân. Vừa uống trà vừa ngắm hoa là điều vô cùng thú vị. Hoa Mai trước đây thường gắn liền với các nhà nho. Nó được đưa vào bộ tứ mộc cao quý:”Tùng,Cúc,Trúc,Mai”.
Ý nghĩa: Xuân ước mơ hy vọng may mắn hạnh phúc, tình yêu trung thành.
Mai tứ quý
Là một loại hoa Mai vàng nhưng sau khi rụng cánh hoa còn lại đài hoa đỏ và hạt xanh (khi chín hột chuyển thành màu đen), chính vì vậy loài Mai này còn có tên là “Nhị độ mai” tức “Mai nở hai lần”.
Hoa Mai Chiếu Thủy
Mai chiếu thủy được trồng làm kiểng, trong chậu nhờ dáng cây đẹp. Hoa màu trắng, có năm cánh có hương thơm. Mai chiếu thủy có tên khoa học là Wrightia religiosa (Teijsm. et Binn.) Hook.f., thuộc họ Trúc đào (Apocynaceae).Hoa có thể ra quanh năm, nhiều nhất về mùa khô, nếu nắng hạn thì cây trụi lá nhưng khi mưa thì lại trẩy lộc non. Có thể chăm sóc uốn nắn Mai chiếu thủy để hoa mọc theo ý muốn.
Hoa Cát Tường (Lisianthus)
Hoa cát tường Eustoma (Lisianthus) có tên khoa học Eustoma grandiflorum (Raf.) Shinn, thuộc họ Gentianaceae , được tìm thấy ở khu vực có khí hậu ấm àp ở miền Nam Hoa kỳ, Mexico, Caribbean và khu vực phía bắc của South America. Chúng thuộc loại cây sống một năm thân thảo, cao 15 – 60 cm, với lá xanh biếc, mảnh dẻ, mọng nước, có hoa lớn, hình phễu, dáng hoa thanh lịch, đẹp như hoa hồng mà còn có bộ lá xinh xắn, đa dạng về màu sắc và chủng loại có nguồn gốc từ miền tây nước Mỹ, có khả năng chịu lạnh tốt, nhiều chủng loại được du nhập vào Đà Lạt với màu sắc đa dạng như: trắng viền tím, tím đậm, kem, vàng, hồng, hồng phai., Cát tường không rực rỡ như hoa cúc và không lộng lẫy như hoa hồng nhưng lại thu hút khách bởi vẻ đẹp đơn sơ, e ấp.
Ý Nghĩa: May Mắn
Hoa Cúc-Hướng Dương
Bộ hoa Cúc hoặc bộ Hướng Dương danh pháp khoa học Asterales là một bộ thực vật có hoa trong họ Cúc Asteraceae .
Bộ này phân bổ rộng khắp thế giới và chủ yếu là các loài cây thân thảo, mặc dù có một lượng nhỏ là cây thân gỗ (chi Lobelia) và cây bụi.
Bộ Asterales bao gồm khoảng 11 họ, 1649 chi gồm khoảng 26.480 loài, trong đó các họ lớn nhất là họ Asteraceae với khoảng 23.600 loài và họ Hoa chuôngvới khoảng 2.380 loài, các họ còn lại có tổng cộng không quá 500 loài. Hai họ lớn nhất có phân bố rộng khắp thế giới với trung tâm nằm ở Bắc bán cầu, còn những họ nhỏ hơn thông thường phân bố ở Úc và các vùng xung quanh, hoặc đôi khi ở Nam Mỹ.
Cúc có khoảng 13.000 loài, là một họ lớn của thực vật học trong đó nhóm Gia cúc có khoảng 100 loại được dùng phổ biến; nhóm Dược cúc dùng làm thuốc với hai vị thường dùng nhất là Bạch cúc (Cúc trắng) và Kim cúc (Cúc vàng). Tên khoa học Cúc trắng: Chrysanthemum sinense Sabine. Cúc vàng: Chrysanthemum Indicum Lour . Nhiều loại Cúc được dùng trong dược phẩm, loại Cúc trắng Chamomile có mùi hương của trái cây được biến chế thành một loại trà Cúc (trà Chamomile).
Ý Nghĩa : Cúc vàng –Lòng kính yêu quý mến, hân hoan; Hướng Dương : Bạn là hy vọng và niềm tin
Quốc Hoa : Cúc trắng Chamomile là quốc hoa của Nga
Hoa Anh đào-Mai Anh đ ào
Chi Mận mơ hay chi Anh đào danh pháp khoa học Prunus là một chi của một số loài (khoảng 200) cây thân gỗ và cây bụi, bao gồm mận (plum), anh đào (cherry), đào (peach) ,mơ (apricot) và hạnh (almond). Thuộc họ hoa Hồng Rosaceae, phân họ Prunoideae (hay Amygdaloideae), nhưng đôi khi được đặt thành một họ riêng của chính nó là Prunaceae (hay Amygdalaceae). Chi Prunus tìm thấy trồng nhiều vùng ôn đới của Bắc bán cầu, Úc, Tân Tây Lan. Điều nên biết là hoa Anh đào chỉ một giống cây trổng cho hoa đẹp trang trí, tên khoa học là Prunus mume. Đây là loại hoa Anh Đào Nhật (Cherry blossom) và hoa anh đào ở Đà Lạt và ngoài Bắc.
Anh Đào (Cherry, tiếng Pháp Cerisier) không phải là loại Sơ ri (tên khoa học là Malpighia glabra thuộc Malpighiaceae) ở Việt Nam, chua lúc xanh, vị ngọt lúc chin đỏ.
Hoa Sơ Ri Trái Sơ Ri
Quốc Hoa: Hoa Anh Đào (Cherry blossom) là quốc hoa của Nhật
Ý nghĩa: Hạnh phúc, tâm hồn thanh cao, tình bạn thân thiết trường tồn
Hoa Anh Thảo Cyclamen
Cylamen còn gọi là hoa Anh Thảo – một loài hoa dài ngày, thích hợp ở xứ lạnh và đất có độ pH 6. 2 – 6. 5. Đây là loại hoa cao cấp sử dụng cho mục đích trưng chậu. Thân cây thẳng đứng và khỏe, cao 30 – 36cm khi trưởng thành. Trồng hoa Anh Thảo bằng củ. Anh Thảo cần được gieo và trồng trong nhà kính, trong điều kiện hoàn toàn kiểm soát được ánh sáng nhiệt độ và ẩm.
Cyclamen –Anh Thảo có khoảng 23 giống thuộc họ Myrsinaceae, có nguồn gốc Âu châu, Địa Trung Hải, Ba Tư (Iran) và một giống ở Somalia. Củ của giống Cyclamen persicum có chất độc Alkaloids gây khó tiêu, tiêu chảy, ói mửa nếu ăn phải.
Quốc hoa: Ý (Italy), San Marino. Do Thái (Israel), Cyprus
Ý Nghĩa: Sự cam chịu, chia ly
Hoa Bằng Lăng( Tử Vi)
Bằng lăng,danh pháp khoa học Lagerstroemia speciosa là một loài thực vật thuộc chi Tử Vi (Lagerstroemia – một tông chi lớn thảo mộc nước) thuộc họ Lythraceae. Tên tiếng Anh thông dụng là: Giant Crape-myrtle, Queen ‘s Crape-myrtle, Banabá Plant for Philippines, Pride of India, Queen ‘s flower.
Banabá (Bằng lăng nước) là tên gọi theo tiếng Tagalog (dân tộc lớn nhất ở Philippines) của loài cây đặc thù của Ấn Độ. Loài này có nguồn gốc từ vùng nhiệt đới Nam Á, hiện có nhiều ở Đông Nam Á, Ấn Độ và các vùng nhiệt đới khác. Thân cây thẳng và khá nhẵn nhụi. Lá màu xanh lục, dài từ 8 đến 15 cm, rộng từ 3 đến 7 cm, hình oval hoặc elip, rụng theo mùa. Hoa màu tím hoặc tím nhạt, mọc thành chùm dài từ 20 đến 40 cm, thường thấy vào giữa mùa hè. Mỗi bông hoa có 6 cánh, mỗi cánh dài chừng 2 đến 3,5 cm. Quả lúc tươi màu tím nhạt pha xanh lục, mềm. Quả già có đường kính 1. 5 đến 2 cm, khô trên cây.
Loài bằng lăng cho bóng mát và cho hoa đẹp nên được trồng làm hoa cảnh. Thật ra ngoài hoa tím còn có màu đậm, lợt trắng, hồng, đỏ … và cuối thu nhiều giống cũng rụng lá vàng, lá đỏ như cây phong xứ lạnh. Vài giống lùn, lùm bụi, cũng được chọn làm cây kiểng, mùa hoa nở đầy chậu. Cây gỗ lớn cao đến 20m, phân cành cao, thẳng, tán dày, lá hình bầu dục hay hình giáo dài, cụm hoa hình tháp ở ngọn các cành, mọc thẳng, nụ hoa hình cầu, hoa lớn có 6 cánh, có móng ngắn, răng reo màu tím hồng. Cây mọc mạnh, cây trồng chủ yếu bằng hạt, ươm gieo.
Ở Việt Nam cây này được gọi là Bằng lăng nước, mọc nhiều nhất ở các rừng vùng Đông Nam Bộ, đặc biệt là rừng cây gỗ toàn là bằng lăng gần thị xã Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông. Ở Cố đô Huế dọc một số đường trong thành phố Lê Lợi, Đống Đa, Lê Hồng Phong hay trong công viên cạnh dòng sông Hương, hè về bằng lăng thay cho phượng tím, thỉnh thoảng đâu đây tà áo tím mang lại cho Huế một vẻ buồn man mát, trầm lắng, suy tư.
Ý Nghĩa: Chung thủy, tình đầu ngây thơ cùa tuổi học trò, e ấp kín đáo
Hoa Bò Cạp Vàng-Muồng Hoàng Yến
Muồng Hoàng yến còn có tên là Bò cạp vàng, Bò cạp nước , Muồng hoàng hậu, Mai dây, Cây xuân muộn, Mai nở muộn, tên khoa học Cassia fistula L, họ Đậu(Fabaceae). Loài muồng này có nguồn gốc từ miền nam châu Á, từ miền nam Pakistankéo dài về phía đông qua nẤn Độ tới Đông Nam Á và về phía nam tới Sri Lanka.
Loại Muồng Hoàng yến lớn, nở rộ và sai, rực rở, dạng cành hoa rủ xuống dài 20–40 cm; cuống chung nhẵn, dài 15–35 cm hoặc có thể hơn. Cánh hình bầu dục mặt ngoài phủ lông mượt. Mỗi hoa đường kính 4–7 cm với 5 cánh hoa màu vàng tươi có hình bầu dục rộng, gần bằng nhau có móng ngắn; nhị 10, bao phấn phủ lông tơ ngắn. Bầu và vòi nhụy phủ lông tơ mượt. Quả dạng quả đậuhình trụ, hơi có đốt, dài 20–60 cm hoặc hơn, đường kính quả 15–25 mm, mang nhiều hạt trái xoan rộng, khi khô có vỏ cứng, có thể dùng làm thuốc xổ; thịt quả có mùi hôi khó chịu. Mùa hoa tháng 5-7 (Bắc bán cầu) hay tháng 11 (Nam bán cầu) Bò Cạp nước phát triển tốt nơi có nhiều nắng và thoát nước , không thích hợp với điều kiện khí hậu khô cằn hay giá lạnh; mặc dù nó chịu được hạn và mặn.
Ở Việt Nam, muồng Hoàng yến (có nơi gọi là cây Bọ cạp nước) mọc hoang dại trong các rừng thưaở các tỉnh Tây Nguyên, cũng còn được trồng như cây cảnh ở đô thị như Nha Trang, Đà Lạt, Sài Gòn.
Quốc Hoa: Bò Cạp nước là quốc hoa của Thái Lan
Hoa Dâm Bụt , Bông Bụp
Chi Dâm bụt, hay chi Phù dung (danh pháp khoa học Hibiscus) là một chi lớn chứa khoảng 200-220 loài thực vật có hoa trong họ Cẩm quỳ (Malvaceae), có nguồn gốc ở khu vực ôn đới ấm, cận nhiệt đới và nhiệt đới trên khắp thế giới. Chi này bao gồm các loại cây thân thảo một năm hay lâu năm cũng như các loại cây bụi và cây thân gỗ nhỏ. Lá mọc so le, loại lá đơn hình trứng hay hình mũi mác, thông thường với mép lá dạng răng cưa hay dạng thùy. Hoa lớn, dễ thấy, hình kèn, với 5 cánh hoa, có màu từ trắng tới hồng, đỏ, tía hay vàng và rộng từ 4-15 cm. Quả là loại quả nang năm thùy khô, chứa vài hạt trong mỗi thùy, được tung ra lúc quả nang tách ra khi chín.
Quốc Hoa :Dâm Bụt Hibiscus Syriacus, còn gọi là Rose Of Sharon là quốc hoa của Đại Hàn (South Korea) Biểu tượng Trường Cửu (Immortality) và Hibiscus-Rosa Sinesis màu đỏ là quốc hoa của Mả Lai (Malaysia) Biểu tượng Sự sống (Life) và Can đảm (Courage).
Hoa Cẩm chướng-Carnation
Cẩm chướng tên khoa học Dianthus caryophyllus (Clove Pink) là một loài Dianthus thuộc họ Caryophyllaceae. Có thể nguồn gốc Địa Trung Hải nhưng không rỏ vì loài hoa đã được trồng trên 2000 năm nay. Là giống hoang nhưng là ông tổ của các giống Cẩm chướng trồng trong vườn.
Thuộc dạng cây cỏ, sống lâu năm, có thể mọc cao đến 80m, lá xanh xám có phấn, mềm mại dài đến 15cm. Hoa mọc đơn hoặc chùm, đường kính từ 3-5cm thiên nhiên có màu tím hồng rực rở, những loại hoa lai giống sau có thể có màu đỏ, vàng, xanh lá cây hoặc trắng. Cẩm chướng thích đất khô ráo, không thích đất acid và cần nhiều ánh nắng. Colombia là sứ sản xuất Cẩm chướng lớn nhất thế giới
Quốc hoa: quốc hoa của Spain, Monaco, South Korea và Slovenia and Czech
Ý nghĩa: Cự tuyệt, từ chối tình cảm cũng tượng trưng cho tình bè bạn, lòng quí mến, tình yêu trong trắng, thanh cao
Hoa Cẩm Tú Cầu
Hydrangea
Có khoảng 100 loài giống Cẩm Tú Cầu thuộc họ Hydrangeaceae, có loài rụng lá có giống cây nhỏ, leo và bụi cây xanh quanh năm, tìm thấy ở vùng khí hậu lạnh ở châu Á, một vài loài ở châu Mỹ. Cành Cẩm tú cầu dể gãy, ruột rổng , lá xanh đậm có răng cưa . Hoa nở tuyệt, màu sắc hoa biểu hiện tùy thuộc vào ảnh hưởng của đất trồng, nói chung đất acid cho màu xanh, đất kiềm Alkaline thì cho hoa đỏ hoặc hồng. Hoa nở mùa hè hay xuân. Các loại cây giống được chia làm 2 nhóm: Hotensias khoảng 500 loài và Lacecaps khoảng 20 loài. Lá Cẩm tú cấu khô có vị ngọt có thể dung làm trà.
Lá và củ cây loài Hydrangea macrophylla có chất Hydragin-cyanogenic glycoside gây tiêu chảy, ói mửa.
Hoa Dạ Lan (Hương)-Hyacinth
Dạ lan hay Lan dạ hương có tên khoa học là Hyacinth orientalis thuộc họ Asparagaceae, có khỏang 770 đến 1000 loài . Củ Dạ Lan có độc tố Alkaloid gây vọp bẻ, đầy bụng, buồn nôn, tiêu chảy nếu ăn phải.
Lan dạ hương có xuất xứ từ Địa Trung Hải, dáng vẻ tao nhã với những bông hoa hình chuông mọc tiếp nhau, cai này trên cái kia tạo thành 1 hình tháp duyên dáng trên những cuốn hoa thanh thoát. Một nhóm các bông hoa dễ thương này, có gần như đầy đủ màu của 7 sắc cầu vồng, là một biểu tượng huy hoàng và rực rỡ. Hyacinthus orientalis (Common Hyacinth, Garden Hyacinth or Dutch Hyacinth), là một loài than thảo cho hoa nhiều năm, nguồn gốc Tây Nam Á Châu, Thổ Nhỉ Kỳ, Trung Đông. Dạ Lan còn gọi là Lan Dạ Hương cây thân thảo sống lâu năm được phát triển từ củ (bulb) thân hành sống lâu năm, đường kính khoảng 3-7cm, bao gồm một số loại cây trồng phổ biến trong vườn như Lan dạ hương (chi Hyacinthus), chuông tím (chi Hyacinthoides) và hành biển (chi Scilla).
Hoa Dạ lý hương
Tên khoa học là cestrum noeturnum murray thuộc họ cà (solanaeeae), gốc miền Tây Ấn Độ
Cây hoa dạ hương tức là cây hoa thơm về đêm. hoa có dạng bụi. Cành lá tuy mềm mại nhưng thô thiển. Hoa vàng nhạt. Thường được trồng ở góc vườn, góc sân, lá đơn, mọc cách, màu xanhnhạt, nhẵn bóng, gốc thuôn dài có cuống ngắn. Hoa nhiều, tập hợp thành chùy ở đầu cành hay nách lá. Hoa màu vànglục nhạt, hay lục nhạt, thơm ngát về đêm. Cánh tràng hợp thành ống dài, trên loe thành phễu chia thành năm thùy trái xoan nhọn. Quả mọngmàu lam hay đen nhạt, hạt dẹt. Cây rất dễ trồng bằng giâm cành, mọc khỏe đâm ra nhiều chốivà mùa hoa gần như quanh năm.
Cây hoa dạ hương rất dễ trồng chịu được mọi điều kiện bất thuận, cho hoa về mùa hè, toả hương thơm về đêm.
Ý nghĩa: Vui sướng nhận được tình bạn
Dã yến thảo (petunia)
Petunia là chi có khỏang 35 giống thân cỏ cho hoa có nguồn gốc Nam Mỹ, có liên hệ gần với thuốc lá và cà tô mát (tomato), khoai tây vì cùng thuộc họ Solanceae.
Dã yên thảo là cây thân cỏ, thường được trồng trong chậu để trang trí cho các khu vườn và là cây hàng năm. Phần lớn Dã Yến thảo chúng ta trồng ngày nay là Dã Yến thảo đã được lai giống từ Petunia Aillaris, P. Violacea và P. Inflata. Dã Yến thảo được chia thành 2 kiểu cây:
– Dã Yến thảo kép: cây thân leo, hoa lớn với nhiều cánh (grandiflora), đường kính của hoa có thể lên tới 13 cm.
– Dã Yến thảo đơn: cây bụi, có rất nhiều hoa nhưng hoa chỉ có một lớp cánh (mulitflora), đường kính của hoa khoảng 5 – 7.5 cm, dễ trồng và ít bị ảnh hưởng bởi sâu bọ.
Hoa Dã Yến thảo gốc có hình phễu, nhưng các loại Dã Yến thảo lai tạo có hình dáng đa dạng và phong phú hơn nhiều. Cánh có thể đơn lớp hoặc đa lớp, dạng gợn sóng. Hoa có thể có sọc, đốm hoặc viền quanh cánh với nhiều màu sắc khác nhau như đỏ tía, màu hoa cà, màu oải hương, hồng, đỏ, trắng, vàng. Khi chạm vào lá và cuống hoa thấy hơi dính và có mùi thơm rất khác biệt.
Hoa Dành Dành-Gardinia
Chi Dành dành danh phá khoa học Gardenia là một chi của khoảng 250 loài thực vật có hoa trong họ Thiên thảo (Rubiaceae), có nguồn gốc ở các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới ở châu Phi, miền nam châu Á và Úc.
Chúng là các loại cây xanh dạng bụi có loài thân gỗ nhỏ cao từ 1–15 m. Lá của chúng mọc đối hay thành vòng của 3 đến 4 lá, dài từ 5–50 cm và rộng từ 3–25 cm, có màu lục thẫm và bóng mặt với kết cấu giống như da thuộc. Các hoa mọc đơn hay thành cụm nhỏ, có màu trắng hay vàng nhạt, với tràng hoa hình ống có 5-12 cánh hoa đường kính 5–12 cm. Loại cây này ra hoa từ khoảng giữa mùa xuân đến giữa mùa hè và nhiều loài có mùi thơm rất mạnh.
Việc trồng cây dành dành cần có độ ẩm cao để phát triển. Chúng sinh trưởng tốt trên các loại đất chua, không úng nước .
Hoa Diên Vĩ –IRIS, Lay Ơn
Diên Vĩ tên khoa hoc là Iris thưộc chi Iris trong khi Lay ơn thuộc chi Gladiolus cùng họ Iradaceae
Iris có khoảng 300 loài, nhưng tên Iris cũng được dùng gọi cho những giống có dạng như Iris như loài Junos . Diên vĩ được trồng thương mại và rất được ưa chuộng.
Chi Diên Vĩ hay chi Lay ơn có cùng họ Iridaceae. Tên gọi Diên vĩ là lấy theo chi Diên vĩ (Iris), còn tên gọi lay ơn (lay dơn) là lấy theo chi Lay ơn (Gladiolus). Nó bao gồm một số loài cây trồng được nhiều người biết đến như Diên vĩ (Iris spp.), nghệ tây (Crocus spp.), sâm đại hành (Eleutherine spp.), rẻ quạt (Belamcanda spp.).
Quốc Hoa : Diên vĩ đen là quốc hoa của Jordan
Để phân biệt Diên Vĩ với Lay Ơn , Diên Vĩ có 3 cánh hoa mọc hướng lên và 3 hướng xuống, mỗi cuống hoa Diên Vĩ có tứ một đến 6 hoa nở một lúc trong khi hoa Lay ơn có dáng hoa kèn nở đầy, bao trùm hết đến đầu cọng hoa. Cả hai loại hoa đều có nhiều màu sắc , tuy nhiên hoa Lay ơn không có màu xanh da trời (true Blue).
Loài Diên Vĩ trồng bằng củ hoặc khúc rể (Rhizomes.) Củ ngù vùi trong đất có cấu trúc như củ hành tây, còn khúc rể thường thì sống trong đất nhưng cũng có loài ngủ cuối Hè, đầu Thu.
loại Diên vĩ củ thườg thấy là loại Diên vĩ Hòa Lan
Ý nghĩa: Lòng trung thành, sự khôn ngoan, lòng dũng cảm, niềm hy vọng, lời hứa
Hoa Đào (Peach Blossom)
Cây đào có nguồn gốc từ China, danh pháp khoa học là Prunus persica thuộc họ Rosaaceae, là một loài cây được trồng thường để lấy quả. Nó là một loài thay lá mổi năm, thân gỗ nhỏ, có thể cao tới 5–10 m. Lá hình mũi mác, dài 7–16 cm và rộng 2–3 cm. Hoa đơn hay kép nở vào đầu mùa xuân, đường kính 2,5–3 cm, màu hồng với 5 cánh hoa. Quả đào cùng với quả của anh đào(cherry) ,mận(plum) ,mơ(apricot) là các loại trái cây quả hạch (stone fruits). Trái đào có một hạt to được bao bọc trong một lớp vỏ gỗ cứng, cùi thịt màu vàng hay ánh trắng, có mùi thơm nhẹ và lớp vỏ có lông tơ mềm như nhung.
Phần đông các giống Đào thích khí hậu lành lạnh, nếu lạnh quá cũng không thích hợp, nếu quá lạnh -26 to -30c , mầm hoa bị chết và như vậy không cho trái.
Đào cần nắng để nuôi trái trưởng thành, nhiêt độ thời gian này khoảng 20 đến 30C.
Vùng sản xuất đào từ lâu gồm China,Iran, France, Italy, Spain, Greece . More recently, the United States tiểu bang trồng nhiều nhất là California and Georgia , Georgia được biết là tiểu bang Đào, Canada(British Columbia) và Australia (vùng Riverland) cũng là nơì sản xuất đào quan trọng .
Anh Đào (cherry, tiếng Pháp cerisier) không phải là loại Sơ ri (tên khoa học là Malpighia glabra thuộc Malpighiaceae ở Việt Nam)
Hoa Đổ Quyên (Azalea, Rhododendrons)
Đổ Quyên loài thân bụi trổ hoa thuộc chi Rhododendron thuôc họ Ericaceae. (Azalea là một nhánh cũng thuộc trong họ cây đỗ quyên này). Đổ quyên trổ hoa vào mùa Xuân, hoa nở kéo dài nhiều tuần. Chịu đựng bóng mát và thích sống gần hoặc dưới cây to.
Cây hoa Đổ Quyên thường lớn chậm, phát triển khá hơn trong đất hơi acid (4.5 đến 5 ph). Không cần phân bón nhiều nhưng cần nước và một vài loại phải thỉnh thoảng chăm sóc tỉa cành
Đổ Quyên mọc thiên nhiên ở Á châu, Âu châu, Bắc Mỹ châu. Được trồng nhiều như cây cảnh trang trí ở Úc và vùng đông nam nước Mỹ.
Tuy nổi tiếng vì đẹp , Đổ Quyên có độc chất cao vì chứa đụng chất andromedotoxins trong lá và cả mật hoa. Chi giống Đổ Quyên, có một thời nổi tiếng xấu vì hoa có chất độc nên nếu cho ai bó hoa để trong bình đựng hoa màu đen có ý là hăm dọa bị giết.
Quốc Hoa : Azealea là quốc hoa của Bỉ (Belgium) và Rhododendrons là quốc hoa của Nepal.
Hoa Gạo Bombax ceiba
Bombax ceiba cũng giống như các cây khác giống Bombax thường được biết là loại cây bông gòn. Bombax thuộc họ Malvaceae. Cây sống miền nhiệt đới có thân thẳng và lá rụng mùa Đông. Hoa đỏ có 5 cánh hoa trổ vào mùa Xuân trước khi mọc lá mới. Trái có hình dáng quả nang, khi chin chứa sợi trắng như bông. Thân gỗ mềm nhưng có gai để cản trở thú vật đến tấn công.
Cây bông gạo đưọc trồng nhiều ở Mã Lai, Nam Dương, Nam Trung quốc, Hong Kong, Đài Loan và Ấn Độ. Cây được trồng trong công viên và dọc đường phố vì màu hoa đỏ đẹp nở rộ khoảng tháng ba, tháng tư. Cây bông gạo khá thông thường ở New Delhi, thủ đô của Ấn Độ nhưng cây không bao giờ cao đền 60m vì đất nửa khô cằn. Những sợi bông bay trong gió vào khoảng đầu tháng năm. Cây Bông gạo được goi là cây anh hùng (hero) ở Hong kong vì bông nở đỏ lúc học sinh chuẩn bị đi thi .
Sử Tàu nói đến Chui To, vua nước Nam Viêt ( Nam Yuet) tặng hoàng đế triều đại Hán (Han dynasty) cây này khoảng thế kỹ thứ hai trước công nguyên (2nd century BC).
Bông Gòn Ceiba pentandra
Ceiba là một trong những giống cây thân to thuộc họ Malvaceae, có khoảng 10-20 loài, tìm thấy trong vùng nhiệt đới gồm cả Mexico , South America, The Bahamas, Belize and the Caribbean, West Africa, và Đông Nam Á, một vài loại có thể mọc cao đên từ 70m, thân thẳng đường kính có thể đến 3m, có gai, ít lá, ít cành. Tiêu biểu và thường được trồng là cây Bông Gòn Kapok, tên khoa học là Ceiba pentandra. Cây trưởng thành cho vài trăm seed pods, trong mổi seed pod có chứa hạt bao phủ bởi lông tơ màu hơi vàng vàng mịn mượt là một hổn hợp trộn lẩn giữa lignin và cellulose
Hoa Hải Đường
Họ Thu Hải Đường (begoniaceae)
Hải đường trong tiếng Việt không phải là tên gọi để chỉ một loài cây cụ thể. Về mặt phân loại thực vật, nó có thể là các nhóm thực vật sau:
- Trong tên gọi của chi Hải đường (Malus), bao gồm tây phủ hải đường, thùy ti hải đường.
- Tên gọi khác của một số loài trong chi Mộc qua (Chaenomeles) họ Hoa hồng (Rosaceae), bao gồm thiếp ngạnh hải đường, mộc qua hải đường, hải đường Nhật Bản.
- Thiếp ngạnh hải đường (Chaenmoeles lagenaria, Chaenomeles speciosa): còn gọi là mộc qua vỏ nhăn, mộc qua hoa, thiết cước hải đường.
- Hải đường Nhật Bản (Chaenomeles japonica).
- Mộc qua hải đường (Pseudocydonia sinensis, đồng nghĩa: Chaenomeles sinensis): còn gọi là minh trà.
- Trong tên gọi của các loài thuộc họ Thu hải đường (Begoniaceae), bộ Bầu bí (Cucurbitales), bao gồm tứ quý hải đường
- Tên gọi khác của chi Hoa vân anh (hay hoa đèn lồng-Fuchsia) họ Anh thảo chiều (Onagraceae): đăng lung hải đường, điếu chung hải đường.
- chi Tiên khách lai (Cyclamen) của họ Xay (Myrsinaceae) còn gọi là la bặc hải đường.
- Tên gọi của một loại trà có danh pháp khoa học: Camellia amplexicaulis
Ý Nghĩa : Thờ ơ
Hải Đường Việt Nam
Hải đường Việt Nam
Hải Đường Việt Nam có tên khoa học là Camellia Amplexicaulis, chi Camellia thuộc họ trà Theaceae. Cây có nguồn gốc Việt Nam, thân gỗ nhỏ có thể cao đến 2-3m, lá to xanh bóng láng, cuống lá mọc bao quanh cọng lá, cũng là nơi hoa trổ hoa màu đỏ tím có nhụy vàng nở vào dịp Tết. Giống Hải đường này chỉ mới khám phá được ở Việt Nam khoảng đầu thế kỹ 20, được đặt tên khoa học năm 1916, giống này thường thấy trồng từ vùng Thừa Thiên Huế ra đến Lạng Sơn.
Hoa hoè
Tên khoa học Styphnolobium japonicum thuộc họ Fabaceae, có nguồn gốc Nhật , mặc dù trồng nhiều ở Trung Quốc, là một loại cây trang trí , hoa màu trắng , nở cuối hè, được trồng ở Âu Châu, Bắc Mỹ và Nam Phi. Cây có thể cao đến 10-20m .
Hoa Hồng Môn-Athurium Spp
Anthurium thuộc chi Arum, họ Araceae, giống phát xuất từ vùng nhiệt đới Mỹ Châu gồm khoảng 900 loài, thực vật thân thảo và dây leo lưu niên xanh. Rất thông thường được xem là loại cây trồng trong nhà, nhưng cũng rât quen thuộc trong vườn cây nhiệt đới. Hoa này được trồng thương mại và là một kỹ nghệ quan trọng cuả Hawaii, xuất cảng khắp chợ hoa trên thế giới. Mặc dù có những bộ phận của Anthurium được dùng làm thuốc nhưng không đươc khuyến cáo, tốt hơn nên tránh vì tất cả các bộ phận của cây đều có độc tố.
Huệ Ta ở Việt Nam
Huệ ta còn gọi là dạ lai hương (thơm ban đêm) hoặc vũ lai hương (thơm lúc mưa), tên khoa học Polianthes tuberose, là một loài hoađặc biệt, nở về đêm, có khả năng tỏa hương về ban đêm với mùi hương ngào ngạt. Ở Việt Nam, hoa huệ dùng để cắm trong các dịp cúng, lễ, còn gọi là Hoa huệ thuộc Agavaceae, hình giáng giống cây tỏi. Cần phân biệt với hoa huệ Tây Lilium longiflorumm hay còn gọi là hoa Loa kèn thuộc họ Liliaceae.
Ý Nghĩa: Khao khát vật chất,
Hoa Huệ tây, hoa Loa kèn- Lilies
Lilium là loại hoa trồng bằng củ (bulbs), hoa to và rực rở. Huệ Tây –hay Loa kèn có khoảng 110 giống thuộc họ Liliaceae, có nguồn gốc ôn-hàn đới Bắc bán cầu, nhưng có loài cũng thích hợp với vùng ấm ôn đới. Huệ Tây là một loài hoa thường thấy trồng trong các vườn hoa, thường đề cập trong văn chương văn hoá nhiều nơi trên thế giới, nhất là phương Tây. Các giống trong chũng loại Lilium mới đúng Huệ Tây, trong khi có nhiều loại hoa cũng có chữ lily trong tên thường gọi, nhưng thật ra là hoàn toàn giống khác không phải là Lilies -Huệ Tây.
Lily of the valley là quốc hoa của Phần Lan (Finland) và Serbia
Ý Nghĩa: Trong trắng, tinh khiết, tình bạn thật lòng
Hoa Kim Đồng Tristellateia australasiae
Tên khoa học Tristellateia australasiae , thuộc họ Malpighiaceae
Nguồn gốc Châu Á nhiệt đới, tìm thấy ở Miền Nam Việt Nam, cây leo thân gỗ, phân cành nhánh nhiều. Lá đơn mọc đối dạng trái xoan, dày, nhẵn, màu xanh bóng có hai tuyến ở gốc. Cụm hoa màu vàng ở đầu cành, tràng 5 tỏa rộng, nhị màu vàng khi chín chuyển nâu đỏ.
Tốc độ sinh trưởng nhanh thích ánh sáng, không cần nhiều nước. Nhân giống từ hạt.
Hoa Kim Ngân-honeysuckle
Kim Ngân – honeysuckles -dạng bụi cây hoặc dây quấn tên khoa học là Lonicera Caprifolium thuộc họ Caprifoliaceae, nguồn gốc Bắc bán cầu. Có khoảng 180 loài , mà 100 loài tìm thấy ở China, Europe, India và Bắc Mỹ . Chim Hummingbirds thích hoa Kim Ngân nhất là loại Kim Ngân màu vàng Lonicera ciliosa.
Lá Kim Ngân đối nghịch, bầu dục dài khỏang 1-10cm. phần đông lá rụng, một ít xanh quanh năm, phần đông hoa hình chuông có mùi vị ngọt, mật hoa ăn được , nhánh bị bẻ cũng thoát ra mùi vị ngọt. Trái nhỏ máu đỏ, xanh hay đen phần đông có độc tố chỉ có trái của loài Lonicera caerulea ở Nhật , Nga là ăn được.
Ý nghĩa : Người bạn trung thành
Hoa Lạc Tiên-Chùm bao-Passion Flower
Chi Passifloraceae thuộc họ Malpighiales có khoảng 530 loài cây có hoa hình dáng cây, bụi, dây, tìm thấy nhiều nơi trên thế giới nhất là vùng nhiệt đới ngoại trừ Âu Châu, Nam Cực và Phi Châu.
Chi Passifloraceae như các loại dây có trái ăn được và có hoa màu tím- trắng hay màu xanh- trắng giống như mặt đồng hồ rất đẹp. Người Anh gọi những trái đó là Passion fruit Passiflora Edullis
Thân thuộc của dòng Passiflora là dây chùm bao Passiflora Foetida L có ở Việt Nam.
Dược tính độc đáo của loài Maypop:
• Lá Maypop xanh hay khô có thể làm trà uống trị bịnh mất ngủ, đau, động kinh, cuồng loạn (hysteria).
• Một vài loài Maypop được tìm thấy có chứa chất chống trầm cảm beta-carboline harmala alkaloids
Hoa Lồng Đèn-Vân Anh-Hoa Đăng (Fuchsia)
Hoa đăng hay hoa Lồng đèn hay hoa Vân anh, gọi là Fuchsia, tên khoa học là Fuchsia x hybrida, ở còn có tên là hoa bông tai (lady eardrops) hoặc , giọt nước mắt (teardrops) vì hoa rực rỡ và vì hoa hướng thòng xuống đất. Màu sắc thay đổi từ trắng, đỏ hồng, tím hay pha lẫn lộn giữa các màu này.
Hoa đăng Fuchsia gồm khoảng 110 loài, mọc như lùm bụi cao từ .2m đến 4m và thuộc họ thực vật Onagraceae. Đa số hoa có nguồn gốc Nam Mỹ nhưng phát triển tốt vùng nhiệt đới (tropical and sub-tropical climates). Đặc biệt ở Tân Tây Lan có loài thân cây hoa đăng cao từ 12m đến 15m
New Zealand Kotukutuku (Fuchsia excorticata),
Hoa Lưu Ly –Forget-Me-Not
Myosotis là loài thực vật trổ hoa thuộc họ Boraginaceae mọc nhiều ở vùng ôn đới, được gọi là Forget-me-nots -Đừng quên tôi, có nguồn gốc tiếng Pháp ne m’oubliez pas và dịch sang tiếng thời khoảng 1532. Những tên này thường tìm thấy trong nhiều ngôn ngữ trên thế giới. Forget me not sống 1, 2 năm thân thẳng mọc, hoa mọc sai nhỏ màu xanh da trời, giữa có mắt màu vàng kéo dài cuối Đông đến đầu Hạ. Tán lá mềm có lông, lá dài 1 dến 5cm dọc theo cọng cây. Cây có thể sống lâu trong vườn vì hạt rớt rồi nẩy mầm trở lại trên đất. Loại Lưu Ly có tên khoa học là Myosotis Scorpioides có hương thơm mát.
Quốc hoa: Denmark
Ý Nghĩa : Xin đừng quên tôi
Hoa Lục Bình- Eichhornia crassipes
Tên khoa học là Eichhornia crassipes thuộc họ Pontederiaceae. Tất cả các bộ phận của cây đều có độc gây chứng ăn không tiêu, ói mửa trên chó, mèo và một số vật nuôi khác khi ăn phải.
Water hyacinth, Lan dạ hương nước là loại thực vật có hoa nổi trên nước, thích hợp với ao hồ. Kích thước lớn nhỏ tùy trong nước có chất bổ và mực độ ánh sang trên mặt ao hồ. Ở Việt Nam , lục bình mọc tự nnhiên ở sông rạch miền Nam, nhất là miền Tây, trổ hoa màu tím. Lục bình mọc hoang không kiểm soát là một hiểm họa vì nó phủ cả mặt nước tai hại cho những sinh vật khác.
Hoa Lục bình trôi dạt trên sông, màu tím rất đẹp nhưng cánh hoa rất mong manh, đem ra khỏi nước đôi ba phút thì héo rủ vì thế không được dung trang trí cắm hoa. Hoa Lục bình có thể ăn được như dùng nấu canh chua.
Hoa Mai Địa thảo- Bóng Nước Impatiens
Mai dạ thảo hoặc Mai địa thảo, Impatiens, Busy Lizzie, tên khoa học Impatiens walleriana thuộc họ Balsaminaceae, phân bố rộng rải ở Bắc bán cầu và vùng Nhiệt đới, có khoảng 850 đến 1000 loại.
Mai dạ thảo thuộc giống cây bóng nước với đặc điểm hình thái rất đa dạng. Tuy nhiên khi nói đến Mai dạ thảo với tên khoa học là Impatiens walleriana thì đấy là loài có xuất xứ từ vùng Đông Phi; thân cỏ mọng nước cao từ 15-60cm; lá hình mác có răng cưa dài từ 3-12cm, rộng từ 2-5cm. Hoa có 5 cánh với cánh hoa xòe rộng, phẳng. Màu sắc hoa có khi đơn sắc như đỏ tía, cam, hồng, tím nhưng có khi pha thêm một màu khác như trắng hồng, hồng tía… Hạt cây hình trái xoan rất dễ bung nếu chạm phải. Đây là hình thức phát tán hạt giống độc đáo của các loài cây thuộc họ Balsaminaceae.
Cây rất thích hợp để trồng trong luống và trong chậu. Cây ưa sáng nhưng có thể bị héo nếu bị phơi dưới ánh nắng trực tiếp. Nhu cầu nước tưới và phân bón ở mức độ trung bình. Nếu mật độ trồng thưa, thân cây sẽ phát triển thêm nhiều nhánh và cho nhánh to, nhiều bông.
Cây cho hoa màu sắc rực rỡ. Hoa nở hầu như quanh năm, nhưng chóng tàn và dể bị dập, ít bị sâu bệnh. Thích hợp để trang trí ở các khu vực ban công, vĩa hè, lối đi. Cây dễ nhân giống bằng hạt hoặc cắm cành. Thường được trồng để buôn bán vào dịp Tết ở các xứ Tây phương.
Hoa Mận (Plum)
Trống vùng Đà lạt Lâm đồng và cao nguyên Bắc hà
Prunus salicina (còn gọi là Prunus triflora hay Prunus thibetica), thường được gọi là mận Trung quốc hay mận Nhật Bản là loại cât trút lá có nguồn gốc ở Tàu. Bây gìờ được trồng trong vườn cây ăn trái ở Đại Hàn, Nhật, Mỹ và Úc
Không nên lẩn lộn giữa Prunus salicina với Prunus mume, vì loại này cốt chỉ cần cho trổ hoa đẹp trang trí, cũng được trồng ở China, Japan, Việt Nam, Lào, Đài Loan and Korea. Prunus mume, cũng như gọi là mận Trung quốc hay mận Nhật Bản có nguồn gốc Á Châu thuộc chi Prunus họ Rosaceae cho hoa rất đẹp, thường được thông dịch là hoa mận Plum blossom. Giống này liên hệ đến hai giống Mận và Mơ. Loại hoa này tìm thấy ở vùng rừng thưa, hai bên dòng suối , triền núi hoặc nơi có độ cao từ 1700 đến 3100m.
Hoa mận nở trong khoảng thời gian không dài, chỉ kéo dài từ 2 đến 3 tuần lễ.
Ở Việt Nam, vùng Lào Cai , Lai Châu , Mộc Châu có trồng loại mận gọi là Mận Tam Hoa
Quốc Hoa: Hoa Mận ( Plum blossom) là quốc hoa của China
Trong Nam, Mận là loại cây trái khác có nguồn gốc miền Nam Việt Nam , Mã Lai và Nam Dương, còn gọi là táo Mả Lai hay Pommerac, tên khoa học là Syzygium malaccense, thuộc họ Myrtaceae , Bắc gọi là quả Roi
Mận là cây thường xanh nhiệt đới, cao đến 15m , lá dài 10–25 cm và rộng 5–10 cm . Hoa màu trắng, đỏ hoa mọc thành ngù 5-30 hoa ở ngọn hay nách lá đã rụng đường kính 3-4cm . Trái mọng, hình chuông, ăn được, màu xanh, trắng đến đỏ đậm, màu tía. Hoa và trái không chỉ mọc từ nách lá mà có thể mọc ở gần như bất kỳ điểm nào trên thân cây và nhánh cây. Thịt mận trắng chin thì ngọt và dòn trong chứa 1-4 hột màu nâu. Mận có thể làm mức .
Cây Mận hoa trắng được trồng nhiều ở Việt Nam, Đài Loan, Thái, Â Độ, Hồi, Bangladesh và Tích Lan. Giống Mận đỏ (gốc Nam Dương) cũng được trồng nhiều ở Viêt Nam, Nam Dương và Thái Lan. Ờ miến Tây, có Mận Trung Lương nổi tiếng ngon ngọt nhất miền Nam. Trái mận lớn, da ửng hồng và có sọc, ăn dòn và ngọt lịm hoặc màu xanh, trái to, vừa ngọt vừa dòn.
Hoa Mẫu đơn
Loại hoa thuộc chi Thược dược, danh pháp khoa học Paeonia là chi duy nhất trong họ Mẫu đơn (Paeoniaceae). Các loài trong chi này có nguồn gốc ở châu Á, miền nam châu Âu và miền tây Bắc Mỹ.
Phần lớn các loài là cây thân thảo thường xanh, cao khoảng 0,5–1,5 m, nhưng một số loài là cây bụi thân gỗ cao tới 1,5–3 m. Chúng có các lá phức, xẻ thùy sâu và hoa lớn, thường có mùi thơm, có màu từ đỏ tới trắng hay vàng, hoa nở vào cuối mùa xuân hay đầu mùa hè. Trong quá khứ, các loài mẫu đơn/thược dược này đã được phân loại trong họ Ranunculaceae, cùng với các loài cỏ chân ngỗng Animone
Hoa Mộc Lan magnolia sprengeri họ Magnoliaceae
Mộc lan có khoảng 210 giống có hoa thuộc họ Magnoliaceae. Được đạt tên theo nhà thực vật học ngưới Pháp Pierre Magnol.
Môc Lan là một chi giồng cổ xưa, tiến hóa trước loài ong xuất hiện, hoa phát triển để khuyến khích bọ cánh cứng ( beetles) thụ phấn. Tránh hoa bị hủy hoại bởi bọ, lá noãn carpels của hoa rất dai cứng. Người ta đã tìm thấy những mẩu hoá đá của giống Magnolia acuminate khoảng 20 triệu năm trước đây và nhửng loại cây thực vật thuôc họ Magnoliaceae cách đây khoảng 95 triệu năm. Diện mạo sơ khai là hoa không có đài hoa (sepals) hơặc cánh hoa (petals) .
loại giống thiên nhiên của Mộc lan được phân bô tách rời, với trung tâm chính ở Đông và Đông Nam Á và trung tâm phụ ở vùng đông Bắc Mỹ châu, Trung Mỹ châu, vùng West Indies và vài chủng loại ở Nam Mỹ Châu. Mộc lan được trồng làm cây cảnh trong vườn và trong công viên.
Hoa mơ-Apricot Prunus armeniaca Linn
Mơ tiếng Anh là Apricot (Hán Việt: hạnh) danh pháp khoa học Prunus armeniaca) là một loài thực vật thuộc chi Prunus, họ Rosaceae
Cây mơ có gốc gác ở miền Trung Á hay Đông Á (Miền Hoa Bắc, Mông Cổ. Nay ở Trung Đông, vùng Địa Trung Hải có trồng rất nhiều cây mơ. Ở Thổ Nhĩ Kỳ ,Úc và ở Hoa Kỳ, nhất là ở tiểu bang California có trồng nhiều mơ.
Hoa Mua
Melastoma malabathricum, cũng gọi là Malabar Melastone, Indian Rhododendron and Singapore Rhododendron là loài thực vật ra hoa thuộc họ Melastomataceae.
Được tìm thấy ở Trung Quốc, Nhật, Miến Điện, Miên, Lào, Ấn Độ, Mã Lai, Thái , Phi, Úc, Việt Nam và Nepal . Thuộc loại thân gỗ bụi, không cao 2-5m, hoa rực màu tím đậm hay mọc ở đồng cỏ cao nguyên hay rừng thưa. Ở Mỹ đây là cỏ độc hại. Cây mua ở Việt Nam thường sống ở những nơi ẩm như ven sông hoặc bờ ruộng ở khắp Việt Nam. Hoa mua có nhiều loại như mua bà, mua ông, mua đa hùng, mua thường, mua lông … và có nhiều màu khác nhau nhưng chủ yếu là màu tím. Màu tím của mua cũng có nhiều loại: tím thẫm, tím pha hồng, và nhiều khi chúng bị lầm tưởng là hoa sim. Dù hoa rất đẹp nhưng cây mua không được chuộng làm cây cảnh vì cành rất giòn và khó đâm tược. Theo thống kê trong sách Cây cỏ Việt Nam, họ hoa mua ở Việt Nam có hơn 135 loài, kể cả những loài nhập nội.
Hoa Mười Giờ
Hoa mười giờ hay rau sam hoa lớn tên khoa học Portulaca grandiflora một loài cây thân mọng nước, nhỏ, nhiều nhánh và lớn nhanh trong họ Rau sam (Portulacaceae). Tên gọi mười giờ là do hoa thường chỉ nở từ khoảng 8/9 giờ đến 10 giờ sáng rồi lại khép lại vào buổi chiều trong ngày. Là loại cây thân thảo, mọc bò trên đất hay chậu, cao khoảng 10–15 cm. Lá hình dải hơi dẹt, dài 1,5–2 cm, mép nguyên, thân có màu hồng nhạt, lá có màu xanh nhạt, trái hình cầu đường kính 3-4 mm.
Loài thực vật này có nguồn gốc Nam Mỹ, nhưng được trồng rộng rãi trong các khu vực ôn đới. Hoa sặc sỡ, với màu sắc đỏ, cam, hồng, trắng hay vàng.
Theo tạp chí Birds & Blooms, tháng 6 năm 2006 thì “Hoa mười giờ được đưa vào các khu vườn của châu Âu khoảng 300 năm trước…nhanh chóng thu được sự phổ biến vì các tính chất y học của nó, bao gồm làm mất đi tiếng nghiến răng, co thắt cơ và làm dịu vết bỏng do thuốc súng”.
Loài cây thích hợp với chỗ đất ráo nước và nhiều nắng.
Tại Việt Nam, hoa được trồng làm một loại cây cảnh. Trong Đông y người ta cũng dùng hoa trong điều trị một số bệnh như viêm họng, eczema, ghẻ, mụn nhọt…
Hoa Ngọc Nữ -Clerodendrum thomsoniae
Ngọc nữ (hay Rồng nhã ngọc) là một loài của 400 loài Clerodendrum thuộc họ: Verbenaceae có nguồn gốc nhiệt đới ở phía tây châu Phi, từ tây Cameroon sang Senegal, được trồng nhiều nơi trên thế giới làm cảnh trang trí. Cây Ngọc nữ là dây leo xanh, cao tới 4 m, với lá hình trứng thuôn dài 8-17 tới cm. Các hoa được sản xuất từng cụm 8-20 hoa, phần hoa màu trắng- chính ra là đài hoa đường kính khoảng 5 cm – bao bọc lấy đóa hoa năm cánh nhỏ xíu màu đỏ máu, đường kính khoảng 2 cm
Hoa còn tượng trưng cho vẽ đẹp tinh khiết như ngọc của thiếu nữ
Ngọc Nữ có các tên Anh như Glory-bower, Bagflower, Bleeding Glory-bower, hay Bleeding Heart Vine
Hoa Ngải tiên-White Ginger Lily
Ngải tiên tên khoa học Hedychium coronarium Koenig, thuộc họ Zingiberaceae (Gừng)
Thân giống cây Gừng cao khoảng 1-2m, lá không cuống, hình mũi mác, nhọn cả hai đầu, nhẵn ở mặt trên, có lông mặt dưới, dài tới 60cm, rộng 12cm, thon. Cụm hoa nở màu trắng, rất thơm từ tháng 6 đến tháng 10 ở Việt Nam.
Tìm thấy ở Nam Trung Quốc, Việt Nam (Ngải tiên phân bố tự nhiên ở một số vùng núi có độ cao 1400 – 1800m tại một số tỉnh Lào Cai, Lai Châu, Hà Giang), Mã Lai, Úc. Cây mọc vùng có khí hậu lạnh, ẩm ươt, thân rể và quả có mùi thơm, vị cay, ấm được dùng làm dược thảo chửa nóng lạnh, phong thấp, đau bụng, trừ giun
Ở Hawaii và các hải đảo Thái Bình dương, ngải tiên được dùng làm lẳng hoa, hoa được đeo trên tóc phụ nữ ở phía sau lổ tai.
Quốc Hoa: Cuba
Hoa Ngọc Trâm –Primula
Primula là một trong 400-500 loài cỏ thảo (herb) trong họ Primulaceae, gồm các loài primrose, auricula, cowslip and oxlip. Thường được trồng làm hoa cảnh, mọc ở vùng có khí hậu lạnh hay lành lạnh như Đà Lạt. Có nguồn gốc ôn đới Bắc bán cầu, vùng lạnhNam Phi Châu. Ngọc Trâm sống lâu, lưu niên, trổ hoa suốt mùa Xuân, có đủ sắc màu tím, đỏ, vàng, hồng, trắng và không thích ánh nắng chiếu thẳng. Có nhiều loại Ngọc Trâm thích ứng với khí hậu vùng núi cao.
Hoa Oải Hương –Lavender
The lavenders tên khoa học Lavandula) là một chi giống có 39 loại thực vật ra hoa thuộc họ Bạc Hà (mint) Lamiaceae. Được tìm thấy từ Cape Verde và Canary Islands, southern Europe qua phía Bắc và Đông Bắc Phi Châu , Địa trung hải, tây nam Á Châu đến đông nam Ấn độ. Nhiều loại Lavender được canh tác qui mô ở vùng Ôn đới như hoa cảnh trang hoàng và trích dầu thương mại ( the extraction of essential oils).
Ý nghĩa: Sự ngờ vực
Quốc hoa : Bồ đào nha (Portugal)
Hoa Ô Môi
Cây gỗ trung bình, cao 10 – 20 m, phân cành lớn, mọc ngang thẳng, vỏ thân nhẵn, những cành non có lông màu rỉ sắt, cành già màu nâu đen. Lá kép lông chim với 8 – 20 đôi lá phụ dạng thuôn dài tròn cả hai đầu, dài 7–12 cm, rộng 4–8 cm, có phủ lông mịn, màu xanh bóng, gân rõ. Cụm hoa nở rộ khi lá rụng, dạng chùm dài mang hoa lớn, xếp thưa, màu hồng đậm, thõng xuống. Hoa màu hồng tươi mọc thành chùm ở những kẽ lá đã rụng. Quả hình trụ dẹt dài 40–60 cm, cong như lưỡi liềm, đường kính 3–4 cm, có 50-60 ô, mỗi ô chứa một hạt dẹt màu vàng cứng, quanh hạt có cơm màu nâu đen, vị ngọt, mùi hắc.
Hoa Ô Môi rất đẹp, thường trồng làm cây cảnh vì hoa đẹp.
Cơm quả dùng ăn chơi hoặc ngâm rượu làm thuốc có tác dụng giúp ăn ngon miệng, tiêu hóa tốt, chữa đau lưng, đau xương, nhức mỏi.
Hạt ô môi ngâm nước nóng tới khi lớp vỏ cứng bong mềm ra, lấy nhân bên trong, đem nấu với nước đường cho mềm, dùng trong chè giải khát, tương tự như các loại hạt trong sâm bổ lương.
Lá ô môi dùng tươi đem giã nát, xát vào những vết hắc lào, lở ngứa, có thể chữa khỏi. Lá ô môi sắc nước làm thuốc cũng có công dụng chữa đau lưng, nhức mỏi.
Với nhiều công dụng làm thuốc, cây ô môi còn được ví như là Canh ki na (Cinchona succirubra Pavon) của Việt Nam, khiến nhiều người lầm tưởng cây ô môi là cây Canh ki na. Nguồn gốc Nam Mỹ được trồng lấy bóng mát, hoa đẹp trồng nhiều nước trên thế giới. Ở Việt Nam, Ô môi trồng ở miền Nam. Vỏ cây Canh kina có chất kí ninh dùng làm thuốc trị sốt rét
Hoa Ông Lảo (Clematis)
Tên khoa học là Clematis uncinata, thuộc họ Ranunculaceae, có nguồn gốc Trung Quốc. Dây leo, nhánh tròn, có khía, không lông, cao từ 7 – 15 cm. Cụm hoa có cuống dài, ở nách lá, cánh hoa dẹt, trắng, đỏ sẫm hay tím , ra hoa tháng 5 tháng 6. Đặt biệt loài Ông Lảo miền lạnh thì trúc lá, nhưng ở miền nóng thì vẩn xanh quanh năm
Phần lớn các chủng là loại cây lưu niên cần có nắng, thích khí hậu mát lạnh. Ở Việt Nam loại này thường gặp tại Lào Cai, Lạng Sơn, Quảng Ninh và Ninh Bình mọc ở bìa rừng , trong lùm bụi
Rễ, thân được dùng làm thuốc trị phong thấp đau xương, đau răng, thân dùng trị tiểu tiện bất lợi.
Ý Nghĩa : Tài khéo léo, mưu mẹo
Hoa Pensée (Viola tricolor)
Tên tiếng Việt là Hoa Bướm, Păng-xê, Tử La Lan. Tên tiếng Anh: Pansy Tên tiếng Pháp: Pensée, Tên khoa học là Viola Tricolor, thuộc họ Violaceae. Loại hoa lai giống (hybridized), thường trồng làm cảnh trong vườn, có nhiều màu sắc, đường kính khoảng 5cm-8cm, có thể sống đến 2 năm nhưng chỉ cho hoa vào năm thứ hai, nên người mua hoa chỉ trưng được có một mùa .
Hoa không thích hợp với khí hậu nóng, trong điều kiện thích hợp cây hoa có thể cao đến 25cm.
Ý nghĩa : Tương tư, nghỉ về em (thinking of You); Người đã chiếm giữ mọi ý nghĩ của tôi.
Hoa Phong Lan (Orchids)
1-Bulbophyllum hay chi Lan lọng, chi Lan
2- Chi Cát lan hay chi Lan hoàng hậu Cattleya. Cũng là quốc hoa của Ba Tây (Brazil)
3- Lan hoàng thảo-Dendrobium
4-Epidendrum
5-Oncidum
6- Chi Lan hồ điệp (danh pháp: Phalaenopsis ),
7-Pleurothallis
8-Vanda
9-Vanilla
Họ Phong Lan, hay họ Lan, danh pháp khoa học Orchidaceae là một họ thực vật có hoa , thuộc bộ Măng tây (Asparagales), lớp thực vật một lá mầm. Họ Orchideceae là một trong những họ lớn nhất của thực vật và có các thành viên mọc trên toàn thế giới, ngoại trừ Nam Cực; có cây hoa lan sống dưới mặt đất và chỉ nở hoa trên mặt đất cũng như có cây hoa lan sống tại vùng cao nguyên của dãy núi Himalaya hoa lan có thể tìm thấy tại các vùng có khí hậu nhiệt đới như trong rừng già của Brasil đến các vùng có tuyết phủ trong mùa đông như tại bình nguyên của Manitoba, Canada Các loài lan chủ yếu mọc trên cây cao, sống biểu sinh lâu năm. Chúng được gọi chung là phong lan. Bên cạnh đó cũng có các loài mọc trong đất, tức là địa lan và có một số loài mọc trên đá tức thạch lan.
Vườn thực vật hoàng gia Kew liệt kê 880 chi và gần 22.000 loài được chấp nhận, nhưng số lượng chính xác vẫn không rõ (có thể nhiều tới 25.000 loài) do các tranh chấp phân loại học. Số lượng loài lan cao gấp 4 lần số lượng loài động vật có vú hay hơn 2 lần số lượng loài chim. Nó chiếm khoảng 6–11% số lượng loài thực vật có hoa. Khoảng 800 loài lan mới được bổ sung thêm mỗi năm. Các chi lớn nhất là Bulbophyllum (khoảng 2.000 loài), Epidendrum (khoảng 1.500 loài), Dendrobium (khoảng 1.400 loài) và Pleurothallis (khoảng 1.000 loài). Họ này cũng bao gồm chi Vanilla (chi chứa loài cây vani), Orchis (chi điển hình) và nhiều loài được trồng phổ biến như Phalaenopsis hay Cattleya.
Ngoài ra, kể từ khi du nhập các loài từ khu vực nhiệt đới vào trong thế kỷ 19 thì các nhà làm vườn châu Âu và Bắc Mỹ đã bổ sung thêm khoảng 100.000 loại cây lai ghép và giống cây trồng.
Hoa lan được người tiêu dùng ưa chuộng vì vẻ đẹp đặc sắc và các hình thức đa dạng của chúng. Cũng giống như cây lan, hoa lan hầu như có tất cả các màu trong cầu vòngvà những kết hợp của các màu đó. Hoa lan nhỏ nhất chỉ bằng hạt gạotrong khi hoa lan lớn nhất có đường kính khoảng 1m.
Đa số các loại hoa lan được bán rộng rãi trên thị trường thường không có hương thơm nhưng trong tự nhiên có rất nhiều loại hoa lan có mùi thơm đặc trưng. Vanilla là một loại hoa lan mà hương thơm được dùng trong các loại ẩm thực của thế giới và có nguồn gốc từ Mexico; trong khi đó có các loại hoa lan tỏa ra mùi như thịt bị hỏng để hấp dẫn các côn trùng.
Quốc Hoa : Phong Lan là quốc hoa của Mexico, Venezuela; giong Vanda Miss Joaquim là quốc hoa của Singapore; Cát Lan (Cattleya) của Argentina và Brazil
Ý Nghĩa: Giàu sang, tình yêu và vẻ đẹp hiếm có
Hoa Phù Dung
Phù dung có tên khoa học Hibiscus mutabilis, hay còn gọi là phù dung thân mộc, mộc phù dung, địa phù dung, phù dung núi, hoa phù dung, mộc liên, là một loài thực vật có hoa thân nhỏ hoặc bụi thuộc Malvaceae.
Cành phù dung mang lông ngắn hình sao. Lá có năm cánh, cuống lá hình tim, mép có răng cưa, đường kính có thể tới 15 cm, mặt dưới nhiều lông hơn, 5 thùy hình 3 cạnh ngắn có 7 gân chính. Hoa lớn, có 2 loại: hoa đơn (có 5 cánh), hoa kép (có nhiều cánh); hoa nở xoè to bằng cái bát, chất cánh xốp, trông như hoa giấy; hoa thay đổi màu sắc từ sáng đến chiều (sáng trắng, trưa hồng, chiều đỏ) vì trong cánh hoa có chất anthoxyan bị oxi hoá dần khi tiếp xúc với không khí, kích thước hoa 10–15 cm. Giống ‘Rubra’ có hoa màu đỏ. Quả hình cầu, có lông vàng nhạt. Hạt hình trứng, có nếp nhăn nhỏ mang lông dài.
Cây được trồng ở Trung Quốc, Ấn Độ, Phi Luật Tân, Nhật Bản, Hoa Kỳ. Cây mọc tốt trong điều kiện có nắng và thích hợp với loại đất giàu chất dinh dưỡng.
Ý nghĩa : Hồng Nhan bạc phận
Hoa Quỳnh (Night Blooming Cereus-Epiphyllum grandilobum)
Hoa quỳnh tên khoa học là Epiphyllum grandilobum thuộc chi Epiphyllum họ Cactaceae có nguồn gốc Trung Mỹ (Panama, Costa Rica). Thực tế hoa Quỳnh được nhận định có 19 loại chính thiên nhiên và hàng ngàn loại lai giống cho nhiều màu sắc khác nhau. Hoa Quỳnh cũng được gọi là “nữ hoàng của bóng đêm, Queen of the Night ”
Trước đây trong các tác phẩm văn chương hoa Quỳnh đã được đề cập đến như một huyền thoại dành cho giới thượng lưu và tao nhân mặc khách thưởng lãm vì sự quý hiếm và chăm sóc rất công phu. Bởi thứ hoa nầy mỗi năm chỉ nở một lần vào dịp cuối năm và đúng nửa đêm. Do đó nhiều người cho là hoa hiếm quý nhất trong các loại hoa nở về đêm, có duyên mới được ngắm nhì hoa nở.
Sấu trắng (Dracontomelon duprreanum)
Tên khoa học là Dracontomelon duprreanum thuộc chi Dracontomelon thuộc họ Anacardiaceae.
Cây thuộc loại đại mộc sống lâu năm, lớn, xanh lưu niên, có thể cao 30-40m. Vỏ thân màu nâu. Cành nhỏ có cạnh và có lông nhung màu tro ; cành non mập màu hơi xám, có lông. Tán lá tròn và rậm. Lá kép hình lông chim, mọc so le, gồm 19 đến 23 lá chét hình trái xoan mọc đối, có gốc lệch, đầu nhọn. Lá ở gần gốc dài 5-6 cm, rộng 1-2 cm; lá ở ngọn lớn hơn : 10-14 cm x 3-4 cm. Hai mặt nhẵn. Lá vò ra có mùi thơm.
Cụm hoa mọc thành chùm ở ngọn hay gần ngọn, có lông mềm. Lá bắc to và thuôn hình mác. Hoa nhỏ, lưỡng tính, màu xanh lục-trắng nhạt.
Quả hạch, hình cầu đường kính khoảng 2cm, khi chín màu vàng hay vàng-cam. cùi màu trắng đục giòn có vị chua, quả chứa một hạt to, vi đắng.
Cây trổ hoa trong các tháng 5-7, ra quả các tháng 8-10. Việc ra quả tùy thuộc vào thời tiết lúc trổ hoa , nếu lúc trổ hoa trời mưa nhiều, cây sẽ cho it quả. Cây trồng có thể cho quả sau 7-8 năm, sản lượng quả tăng dần đến khi đạt 50 tuổi..
Cây sâu trắng phân bố trong vùng nhiệt đới Đông Nam Á, tại vùng Nam Trung Hoa, Thái Lan, Lào, Việt Nam mọc tự nhiên và được trồng tại những vùng cao độ đến 600m.
Tại Việt Nam, cây mọc tự nhiên và được trồng nhiều từ Lạng Sơn xuống đến vùng Quảng Nam, Cao nguyên như Ban Mê thuột Tại Hà Nội, đường Phan đình Phùng (gọi là Phố Sấu) có rất nhiều cây sấu hai bên đường.Vườn Cúc Phương có những cây sấu đại thụ, cao đến 45m.
Hoa Sen (Lotus) Hoa Súng (Water Lilies).
Hoa sen có tên khoa học là Nelumbo nucifera, thuộc họ Nelumbonaceae. Hoa sen là loại thực vật sống trong nước lâu năm. Hột sen có thể sống được rất lâu hàng trăm năm. Sen có rất nhiều công dụng, hạt sen thường để nấu chè, tâm sen nhị sen để ướp trà, làm thuốc an thần, ngó sen dùng làm gỏi, lá sen dung để gói bánh, làm thuốc an thần và thuốc trị bệnh về máu. Sen (Lotus) thường bị lầm lẩn với Súng (Waterlily). Nhìn từ tâm của hoa, sẽ nhận ra sự khác biệt vì sự hình thành của đài sen trong tâm của hoa sen
Quốc Hoa: Hoa Sen là quốc hoa của Ấn Độ, Ai Cập. Loài hoa sen đỏ là quốc hoa của Việt Nam
Ý Nghĩa: Độ lượng, từ bi, cung kính, hân hoan
Hoa SÚNG
Họ Súng (Waterlily) có tên khoa học là Nymphaeaceae) là một họ trong thực vật có hoa. Đối với một số nền văn hóa phương Tây thì nó là loài hoa biểu tượng của những người sinh vào tháng 7.
Các loài súng sinh sống ở các khu vực ao, hồ và đầm lầy, với lá và hoa nổi lên trên mặt nước. Lá súng hình tròn, các chi Nymphaea (có 35 loài ở Bắc Bán cầu) và Nuphar có lá bị khía chữ V nối từ mép lá tới phần cuống lá, nhưng chi Victoria (có hai loài) lại có lá rất to, ,hoàn toàn tròn và không bị khía. Lá đơn, mọc cách. Hoa xếp xoắn vòng: lá đài 4 – 12 (thường 5 – 6) đôi khi có màu và lớn hơn cánh hoa như ở chi Nuphar. Cánh hoa nhiều, xếp lợp (ở chi Nuphar cánh hoa rất nhỏ và có dạng vảy). Nhị nhiều, xếp xoắn. Bộ nhụy gồm 5 – 35 lá noãn, hợp nguyên lá noãn với bầu thượng, trung hoặc hạ. Tổng cộng 4-6 chi và khoảng 60-80 loài (tùy theo hệ thống phân loại), phân bố rộng khắp thế giới. Ở Việt Nam có 3 chi là Nymphaea, Euryale và Barclaya với khoảng 5 loài.
Theo phân loại của nghề làm vườn thì các loài súng bao gồm 2 thể loại chính là: súng chịu rét và súng nhiệt đới. Các loài súng chịu rét chỉ nở hoa vào ban ngày còn các loài súng nhiệt đới có thể nở hoa vào ban ngày hoặc ban đêm cũng như là nhóm duy nhất có chứa các loài súng với hoa có màu xanh lam.
Khả năng tồn tại của hạt súng cũng như hạt sen rất lâu có đến 2000 năm (nguồn nghiên cứu ở China).
Hoa súng có thể có mùi thơm (chẳng hạn loài súng thơm Nymphaea odorata). Hiện nay tồn tại khoảng vài trăm giống hoa súng khác nhau.
Họa sĩ người Pháp Claude Monet đã có một loạt các tranh vẽ về cây và hoa súng.
Quốc Hoa: Hoa Súng xanh tím là quốc hoa của Tích Lan (Sri Lanka), hoa Súng trắng là quốc hoa của Bangladesh
Hoa Sim
Tên khoa học Rhodomyrtus tomentosa, họ Myrtaceae. Thuộc loại cây hoang dã mọc ở vùng gò đồi khô cằn châu Âu, châu Á, châu Úc, nhiều nhất là vùng Đông Nam Á. Ở Philippine, người ta trồng sim để hái trái. Ở Việt Nam sim mọc ở nhiều tỉnh miền Bắc, miền Trung, Đông Nam Bộ và Tây Nguyên. Sim hoang dã chỉ cao chừng 2m. Sim trồng làm cảnh lâu năm có thể cao hơn 5m.
Hoa sim mọc thành chùm. Trong một chùm có thể có hoa màu tím thẩm, tím hồng và màu trắng. Trái sim chín mọng có mầu tím than, vị thơm và ngọt. Trái chưa chín có mầu nâu tươi, vị chát. Trái và lá có dược tính, trị bệnh tiêu chảy và viêm nhiễm. Ở vùng gò đồi tỉnh Quảng Trị có 3 giống sim cho trái lớn nhỏ, vị ngọt nhạt khác nhau. Đặc biệt giống sim ngân ba, cho trái lớn nhất. Cây sim tính lành, có sức thu hút các loài chim bướm và những đàn ve rừng. Qua đầu mùa mưa, dưới gốc thường có nấm mối là loại nấm ngon nhất. Ở huyện đảo Phú Quốc, trái sim được chế biến thành rượu ngọt màu tím – là một đặc sản quí hiếm, rất được du khách ưa thích)
Hoa Soan (Xoan, Sầu đông, Thầu đâu)
Sầu Đông còn có nhiều tên gọi khác, Bắc gọi là cây X(S) oan, ở miền Nam gọi là Thầu Đâu. Cây Sầu Đông thân thẳng, cao lại mau lớn (15-20m hay hơn nữa) được trồng để lấy gỗ hoặc làm vị thuốc, được trồng khắp nơi trong vùng nhiệt đới và bán nhiệt đới, lá cây thường xanh nhưng rụng lá vào mùa Đông hoặc gặp khi hạn hán. Nở hoa mùa nắng, màu tim tím, trăng trắng.
Hoa Soan có tên khoa học Azadirachta indica, thuộc chi Azadirachta thuộc họ Meliaceae, nguồn gốc ở Ấn, Miến Điện và Hồi.
Hoa Sói
Họ hoa Sói tên khoa học Chloranthaceae, tên đồng nghĩa: Hedyosmaceae Caruel thuộc họ Chloranthaceae, là một họ trong thưc vật có hoa. Họ này chứa 4 chi, với khoảng 75 loài cây thân thảo hay thân gỗ chủ yếu sinh sống trong khu vực nhiệt đới và cận nhiệt đới nhưng không có ở Phi châu đại lục. Tại Madagascar chỉ có chi Ascarina. Các thành viên của họ này có hương thơm và các lá thường xanh, mọc đối với mép lá khía răng cưa đặc biệt và các lá kèm bao quanh cuống lá (tương tự như các lá kèm ở các loài trong họ Rubiaceae) cùng các đốt phồng to. Hoa nhỏ, không dễ thấy, mọc thành các cụm hoa. Hoa không có cánh hoa và đôi khi các lá đài cũng không có. Hoa có thể lưỡng tính hay đơn tính, tùy theo loài. Quả là dạng quả hạch, bao gồm một lá noãn. Gỗ mềm. Hoa sói pha trộn với trà có mùi thơm đặc biệt (nhất là trà Bảo Lộc)
Hoa Sống Đời
Sống đời còn gọi là cây thuốc bỏng, lạc địa sinh căn, thổ tam thất, trường sinh, tên khoa học là Kalanchoe thuộc họ Crassulaceae có khoảng 125 loài khác nhau. Sống đời rất dể trồng và không cần nhiều nước, nhiều màu sắc khác nhau nên hay dùng như loại hoa cảnh trang trí , hoa mọc thành chùm trên đầu lá. Hoa sống đời với 2 loại hoa cánh kép và hoa cánh đơn. Hoa sống đời ở Việt Nam cũng được dùng làm thuốc Nam.
Hoa sửa
Hoa sữa, hay còn gọi là mò cua, mù cua (danh pháp khoa học: Alstonia scholaris L. R. Br.; đồng nghĩa: Echites scholaris L. Mant., Pala scholaris L. Roberty) là một loài thực vật nhiệt đới thường xanh thuộc chi Hoa sữa, họ La bố ma (Apocynaceae).
Hoa sữa có mùi thơm nếu trồng với mật độ vừa phải và nồng nặc khi trồng với mật độ cao. Ở Việt Nam, một số tỉnh như Quảng Bình, Quảng Trị , Quảng Nam và thành phố Đà Nẵng , vào năm 1994, người dân đã gửi đơn “kiện” hoa sữa do nó được trồng dày đặc trên các đường phố, gây ảnh hưởng đến sức khỏe hoặc xem bài Lạng sơn khốn khổ vì hoa sữa
Cây hoa sữa không có mùa trút lá, chỉ lác đác rụng lá vàng, nên suốt năm cây luôn xanh tốt. Hoa sữa nở vào độ cuối thu đầu đông, những cụm hoa nhỏ xíu chen chúc từng đám mầu trắng phớt. Ðộ hoa nở, những ngày lặng gió, không gian xung quanh như được ướp bằng mùi hương hắc thơm ngào ngạt, một mùi hương như mơ như thực, bởi hoa nở trên cao không nhìn thấy, còn cái mùi hương nồng nàn quyến rũ ấy cứ lan xa, dưới gốc cây rơi rắc những chấm hoa nho nhỏ, như tấm voan mỏng mịn màng còn phảng phất mùi hương.
Thạch Thảo (Bắc) Cúc cánh mối (Nam)
Hoa Thạch thảo (Aster amellus L) thuộc họ Cúc (Asteraceae). Tại Việt Nam, người miền Nam hay gọi là Cúc Sao, Cúc Cánh mối, người Bắc gọi là Thạch thảo. Thạch thảo hay mọc thành bụi, nhiều bông với cánh đơn xoè rộng ra. Hoa Thạch thảo có ba màu chính: tím, hồng, trắng. Thạch thảo ngày nay được lai tạo thêm thành loại hoa cánh kép. Hoa Thạch thảo cánh mối cũng như các loại hoa cúc thường nở vào mùaThu, khi mà đa số các loại hoa khác đã tàn.
Như vậy, hoa Thạch Thảo (hay cúc Sao, cúc Nhật, cúc Cánh Mối) là 1 tên Việt của loài Aster amellus L. thuộc họ Cúc (Asteraceae), tên Anh ngữ là Aster và Pháp là Astère. Nhóm Cúc (cả trồng làm hoa hay mọc hoang) thường được gọi chung là Chrysanthemum/Aster, trong đó các loài mọc hoang thường có 1 chùm lông ở cuối mỗi hột (khi trái chín) và phát tán nhờ gió (nên mọc hoang, rải rác vào mùa xuân khi có nắng ấm ở Âu châu, hoa chỉ sống trong vài tháng!). Các loài cúc trồng thì không phát tán tự nhiên được vì hột không có lông như Vạn Thọ (marigold), cúc Giấy (zinnia). Có loại được trồng từ hột, có loại trồng bằng củ, cúc Thạch Thảo (cúc sao/Aster), và nói chung loại nhiều loại cúc thường trồng từ cây con nhảy chồi (do mọc thành bụi, hoa thường bất thụ).
Hoa Thạch Thảo ở Ấu Châu-(calluna vulgaris )
Hoa Thạch thảo Ấu châu là thuộc cây Bruyère (tiếng Pháp) hay Heather (tiếng Anh) còn gọi là Common Ling hay Briar.
Từ điển Sinh Học Anh Việt và Việt Anh, nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật dịch heather là cây Thạch nam. Erica. Trung hoa gọi là Hồng phương bách hay thạch nam. Từ điển phổ thông Pháp Việt gọi là cây thạch thảo.
Tất cả các loại thạch thảo đều trong gia đình Ericaceae có khoảng 4000 giống , có một loại hoa thạch thảo duy nhất thuộc giống Calluna, ngoài ra là loại Erica.
Loại Calluna vulgaris là loại thạch thảo thật sự (true heather), loại cây nhỏ, có hoa nhỏ hình chuông màu tím, hay hồng nhạt.
Loại Erica thuộc họ Ericaceae gồm nhiều giống khác nhau từ giống cây nhỏ mọc từng bụi nhỏ hoặc có thể là cây lớn, không thích đất có vôi (calcufuge) màu sắc có đỏ , hồng , tím , trắng, cam. Có nhiều loài rất thông dụng và có giá trị kinh tế quan trọng mà nguời ta thường biết đến như các giống việt quất (như blueberry, cranberry, huckleberry) hay đổ quyên (như azalea, rhododendron).
Hoa Thiên Điểu Strelitzia reginae
Hoa thiên điểu hay hoa chim thiên đường tê khoa học Strelitzia reginae là một loại cây thân thảo sống nhiều năm, thuộc họ Strelitziaceae Chuối rẻ quạt. Cây này có nguồn gốc từ các nước miền nam châu Phi và Châu Mỹ nhiệt đới. Tên khoa học của nó là để tưởng nhớ tới Charlotte của Mecklenburg-Strelitz, hoàng hậu của vua George III của Anh.
Thân cây cao khoảng 2 m (6,5 ft), rễ chùm, thân lá to hình bầu dục, hình kim hoặc hình trứng, có cuống dài, mọc đối xếp thành 2 hàng, dài khoảng 25–70 cm (10-28 inch), phiến lá rộng 10–30 cm (4-12 inch), cuống lá dài tới 1 m (40 inch). Các lá thường xanh này tạo thành một tán lá hình quạt. Hoa mọc phía trên tán lá, trên đỉnh của một cuống dài. Bao hoa gần như vuông góc với thân cây, làm cho bề ngoài của nó giống như đầu và mỏ chim, tạo thành chỗ đậu vững vàng cho các loài chim hút mật thụ phấn cho hoa. Hoa bao gồm ba lá đài màu da cam rực rỡ, ba cánh hoa màu lam ánh tía. Tràng hoa màu lam sẫm, nhụy màu trắng. Hai trong số ba cánh hoa hợp cùng nhau tạo thành tuyến mật hình mũi tên.
Hoa thiên Lý
Thiên lý là loại cây dây leo, ra hoa thành từng chùm tên khoa học Telosma cordata (Burn F.) Merr, thuộc họ Asclepiadacaceae. Hoa thiên lý có thể dùng để nấu canh cua, ăn với lẩu hoặc xào với các loại thịt. Thiên lý còn có tác dụng làm cảnh và cho bóng mát.
“Tóc em dài, em cài bông hoa lý,
Thấy em cười, anh để ý… anh thương!”
Hoa Thiết Mộc Lan
Thiết mộc lan hay phát lộc, phát tài hoặc phất dụ thơm (danh pháp khoa học: Dracaena fragrans, đồng nghĩa: Dracaena deremensis) là một loài thực vật có hoa trong họ Tóc tiên (Ruscaceae). Nó là loài bản địa của Tây Phi, Tanzania và Zambia nhưng hiện nay được trồng làm cây cảnh ở nhiều nơi. Dracaena fragrans có các lá mọc thành hình nơ (hoa thị), bóng và sẫm màu, phiến lá có sọc rộng nhạt màu hơn và ngả vàng ở phần trung tâm. Nó là loại cây bụi phát triển chậm với các lá có thể dài tới 1 m (3 ft) và rộng 10 cm (4 inch). Khi trồng trong đất nó có thể cao tới 6 m (20 ft) nhưng sự phát triển bị hạn chế khi trồng trong chậu. Thiết mộc lan có hoa trắng-nâu tím với hương thơm, vì thế mà trong tên gọi khoa học có từ fragrans (nghĩa là hương thơm).
Ý nghĩa : Quý phái
Hoa thủy Tiên(Daffodil)
Chi Thủy tiên Narcissus, họ Amaryllidaceae, là tên gọi để chỉ một nhóm cây dạng thân hành cứng, chủ yếu ra hoa về mùa xuân, trong tiếng Việt có tên gọi chung là thủy tiên. Có một vài loài thủy tiên ra hoa vào mùa thu. Các loài cây này chủ yếu có nguồn gốc ở khu vực Địa Trung Hải, nhưng một số loài được tìm thấy tại Trung Á và Trung Quốc. Các giống cây thủy tiên khá nhiều và nói chung chúng đã được biến đổi và mở rộng rất nhiều, với các giống mới được đưa ra từ các vườn ươm mỗi năm.
Tất cả các loài thủy tiên có bao hoa hình loa kèn trompet ở trung tâm được bao quanh bằng một vòng các cánh hoa. Các loài hoa thủy tiên truyền thống có màu vàng kim, nhưng bao hoa thường có màu tương phản. Các nhà nhân giống đã tạo ra một số loại thủy tiên với 2 hoặc 3 hàng cánh hoa, làm cho chúng trông giống như một quả cầu nhỏ màu vàng. Các giống khác có các cánh hoa xếp nếp hoặc bao hoa trung tâm được kéo dài hay nén nhỏ.
Củ và thân thủy tiên chứa chất độc Alkaloids có thể gây chóng mặt, buồn nôn, tiêu chảy, run rẩy toàn thân, hôn mê, có thể dẫn đến tử vong khi ăn phải.
Hoa của thủy tiên là loại hoa trang trí phổ biến trong ngày Tết cổ truyền Trung Hoa.
Quốc Hoa : Hoa thủy tiên là quốc hoa của Wales. Một loài , “Narcissus obvallaris“, chỉ được trồng tại một khu vực nhỏ xung quanh Tenby. Tại Wales, theo truyền thống người ta đeo hoa thủy tiên vào ngày lễ Thánh David (1 tháng 3).
Ý Nghĩa: Tính khí kiêu căng, hợm hỉnh, kiêu hảnh
Hoa thược dược DAHLIA
Thược dược còn là tên gọi của một vài loài mẫu đơn (chi Paeonia).
Thược dược có danh pháp khoa học Dahlia, họ là Asteraceae có đến 30 loài, 20,000 giống sếp vào những chi tùy hình dáng của hoa đơn, trang trí, hình cầu, chân ngỗng (anemone) , viền đăng ten (collerette), như bông súng, xương rồng…Hoa nở mùa Hè và mùa thu, có nguồn gốc ở Mexico và là quốc hoa của Mexico.
Năm 1872một hộp cây thược dược non đã được gửi từ Mexico tới Hà Lan. Chỉ có một cây sống sót sau chuyến đi, nhưng nó đã tạo ra các bông hoa đỏ ngoạn mục với các cánh hoa nhọn. Các vườn ươm đã nhân giống (hybridise) loài cây này tên khoa học là Dahlia juarezii với các loài thược dược được phát hiện sớm hơn và những giống này là tổ tiên của tất cả các loại thược dược lai ngày nay. Kể từ đó, các nhà nhân giống thực vật đã tích cực trong việc nhân giống thược dược để tạo ra hàng ngàn giống mới, cho ra các bông hoa có màu sắc lộng lẫy
Tên gọi Dahlia được đặt theo tên của một nhà thực vật học người Thụy Điển thế kỷ 18 là Anders Dahl.
Hoa thược dược cũng là loài hoa chính thức của thành phố Seattle, bang Washington.
Quốc Hoa : Mexico
Hoa Thược Dược -Mẩu Đơn Tàu
Danh pháp khoa học Paeonia là chi duy nhất trong họ Mẫu đơn Paeoniace. Các loài trong chi này có nguồn gốc ở châu Á, miền nam châu Âu và miền tây Bắc Mỹ.
Phần lớn các loài là cây thân thảo thường xanh, cao khoảng 0,5–1,5 m, nhưng một số loài là cây bụi thân gỗ cao tới 1,5–3 m. Chúng có các lá phức, xẻ thùy sâu và hoa lớn, thường có mùi thơm, có màu từ đỏ tới trắng hay vàng, hoa nở vào cuối mùa xuân hay đầu mùa hè. Trong quá khứ, các loài mẫu đơn/thược dược này đã được phân loại trong họ Mao lương (Ranunculaceae), cùng với các loài cỏ chân ngỗng và lê lư.
Hoa Mẩu Đơn (peony) là quốc hoa của Mông Cổ (Mongolia)
Hoa Ti Gôn
Hai sắc hoa Ti Gôn
Ti-gôn hay Ăng-ti-gôn là tên gọi chung để chỉ các loài dây leo thuộc chi có danh pháp khoa học: Antigonon, một chi thực vật thuộc họ Rau răm (Polygonaceae), có nguồn gốc từ Trung Mỹ.
Ti-gôn có thể bám vào giàn hoặc bất cứ vật gì ở gần để leo lên độ cao 9-12 m, là loại cây thường xanh tại các vùng khí hậu không có băng giá, lá hình trái tim kích thước khoảng 4 cm, mùa hè ra hoa thành chùm với các sắc độ từ trắng đến hồng và đỏ san hô.
Ti-gôn dễ trồng, cần nhiều ánh nắng để ra được nhiều hoa, ưa đất ẩm nhưng cũng chịu được đất khô hạn.
Tại Việt Nam loài du nhập là A. leptopus, thường được trồng leo tường rào hoặc giàn cho đẹp và lấy bóng mát.
Hoa tóc tiên
Tên phổ thông: Tóc tiên, móng lan, lan đất, hoa vũ , tên tiếng Anh: Rain lily
Tên khoa học: Zephyranthes carinata Herb Họ: Amaryllidaceae (Thủy tiên)
Tóc tiên có màu tím, hồng diễm lệ, tóc tiên vàng, trăg rực rỡ , sáng trong.
Tóc tiên được trồng từ củ. Cây dễ sống, nhảy nhiều cây con. Trồng lâu lâu rồi lại tách bớt củ ra để nhân thêm cây mới. Nếu trồng tóc tiên viền quanh bồn hoa hay men theo các lối đi, khi hoa nở hàng loạt trông rất đẹp.
Hoa Trang
Bông Trang có tên khoa học là Ixora coccinea, thuộc họ Rubiaceae (Cà Phê) là loại cây bụi rậm , có nhiều nhánh, lá xanh quanh năm hình bầu dục hơi nhọn đầu, mọc đối cao khoảng 1 đến 2m , có khi đến 3-4m, dáng bụi gọn tròn có thể xòe ra hơn chiều cao. . Hoa hợp thành cụm khá lớn ở ngọn cành, đài 4, tràng 4, ống tràng hẹp , hoa có thể ra suốt cả năm, nhưng thường là mùa hè. Bông có mật ngọt, ở Miền Nam , trước đây hay trồng gần bàn Thiên.
Miền Bắc còn gọi là hoa Mẫu đơn hay hoa Đơn. Trang có nhiều màu : Trang đỏ, Trang trắng, Trang cam, Trang thái, Trang son, Trang lùn, Trang hường, Trang đen. Giống cho hoa màu đỏ thấp cây, hoa nhỏ gọi là đơn Thái Lan, giống hoa to gọi là giống Nhật Bản. Hoa Trang có nguồn gốc nhiệt đới, đều thuộc họ cà phê (Rubiaceae). Giống hoa đỏ thường mọc dại ở vùng đồi núi trung du.
Hoa Trà (Camellia)
Chi Trà tên khoa học là Camellia là chi thực vật có hoa trong họ Trà/chè Theaceae, có nguồn gốc ở khu vực miền Nam và Đông Á, chạy dài từ Nepal đến Nhật và Indonesia. Hiện vẫn còn mâu thuẫn liên quan tới số lượng loài đang tồn tại, với khoảng 100–250 loài được chấp nhận tùy theo hệ thống phân loại.
Các loài trong chi này là các cây bụi hay cây thân gỗ nhỏ và thường xanh, cao khoảng 2–20 m. Lá sắp xếp theo kiểu so le, lá đơn, dày, mép lá có khía, thông thường có mặt ngoài bóng láng, dài 3–17 cm. Hoa lớn và dễ thấy, đường kính 1–12 cm, với 5–9 cánh hoa; có màu từ trắng tới hồng hay đỏ, còn màu vàng có ở một số loài. Quả là loại quả nang khô được chia thành 1–5 ngăn, mỗi ngăn chứa 1–8 hạt.
Các loài trong chi này nói chung thích nghi với các loại đất chua, và không thích hợp với các loại đất giàu vôi. Phần lớn các loài đòi hỏi có lượng mưa lớn và không chịu được khô hạn. Có nhiều giống được trồng làm cây cảnh vì có hoa đẹp; khoảng 3.000 giống và thứ lai ghép đã được chọn lọc, nhiều giống có hoa kép, như trong thư viện ảnh dưới đây. Camellia japonica (tên thông thường trà mi, trà Nhật Bản) là loài nổi tiếng nhất trong nuôi trồng cây cảnh, với trên 2.000 giống có tên gọi; kế tiếp là C. reticulata với trên 400 giống có tên gọi, và C. sasanqua với trên 300 giống có tên gọi.
Giống trà/chè (Camellia sinensis) là loài cây có giá trị thương mại chính do trà được sản xuất từ lá của nó. Dầu trà, một loại gia vị ngọt và dầu ăn được sản xuất bằng cách ép hạt của cây chè Camellia sinensis hay trà dầu (Camellia oleifera).
Các loại cây lai ghép có C. × hiemalis (C. japonica × C. sasanqua) và C. × williamsii (C. japonica × C. salouenensis). Chúng được giới chơi cây cảnh đánh giá cao vì ra hoa sớm, thông thường trong số các loại hoa đầu tiên xuất hiện vào cuối mùa đông. Các trận băng giá muộn có thể làm tổn thương hoa. Các loài cây này có tốc độ tăng trưởng chậm. Thông thường chúng chỉ cao thêm khoảng 30 cm mỗi năm cho đến khi trưởng thành mặc dù điều này phụ thuộc vào từng loài và từng khu vực.
Camellia japonica là loài hoa biểu tượng của bang Alabama, Hoa Kỳ cũng như của thành phố Trùng Khánh, Trung Quốc.
Ý nghĩa : Đề Phòng, dè dặt
Hoa Trâm Ổi, Ổi, Ngủ Sắc
Cây bông ổi tên khoa học Lantana camara, còn gọi là Trâm ổi, cây hoa ngũ sắc, trâm hôi, cây hoa cứt lợn, tứ thời, tứ quý là một loài thực vật thuộc họ Verbenaceae . Bông ổi là loài cây nhỏ, nhiều cành ngang, có lông và gai nhỏ. Lá hình bầu dục, nhọn, mặt lá xù xì, mép lá có răng cưa; mặt trên có lông ngắn cứng, mặt dưới lông mềm hơn; phiến lá dài 3–9 cm, rộng 3–6 cm; cuống lá ngắn, phía trên cuống có dìa. Hoa không cuống, nhiều giống màu trắng, vàng, vàng cam, tím hay đỏ mọc thành bông dạng hình cầu; hoa có lá bắc hình mũi giáo. Đài hình chuông, có hai môi. Tràng hình ống có bốn thùy không đều. Quả hình cầu, màu đỏ nằm trong lá đài, chứa hai hạch cứng, xù xì.
Hoa trâm ổi , có mùi thơm như trái ổi chín, có người không thích cái mùi nồng nầy nên còn gọi là hoa cứt lợn. Đây là loại hoa có nhiều màu sắc, nở quanh năm góp phần làm đẹp sân nhà đường phố, còn được gọi là hoa ngũ sắc hoặc hoa tứ quý. Hoa xuất thân từ những xứ Trung Mỹ rồi phát triển nhanh chóng qua các xứ nhiệt đới, dễ sống trong nhiệt độ nóng, khô hoặc ẩm, và có lẽ do điều kiện sống quá dễ dàng mà ở VN hầu như nó không được để ý tới. Ở Mỹ, Úc loại hoa nầy cũng được bày bán vào đầu Xuân ở chợ.
Hoa Trinh Nữ-Mimosa
Mimosalis, một trong 400 giống cây thuôc loại bụi cây hay cây gia vị, thuôc họ Fabaceae. Có hai loài chinh thức, một là loài Mimosa pudica, loái này lá khép lại khi bị đụng đến hoặc bị nắng gắt , có nguồn gốc ở Trung, Nam Mỹ nhưng được trồng nhiều nơi vì đặc điểm của nó. Nhiều nơi nhất là ở vùng nhiệt đới mọc tràn lan biến thành cỏ dại, nhất là loại bò trên mặt đất. Loài khác là Mimosa tenuiflora, được biết có chứa chất thuốc phiện Dimethyltryptamine (DMT) tìm thấy trong vỏ của rể loại cây này. Hoa màu trắng có hương thơm, cụm hoa hình trụ, lá tựa như lá dương sỉ, mọc dài đến 5 cm. Cây có thể cao đến 4m.
Một loại hoa Mimosa đặc biệt, tên khoa học là Acacia pycnantha, cũng thuộc họ Fabaceae, lá xanh, bông vàng, hình cầu, kết thành chùm ( là loại hoa mimosa ở Việt Nam), gọi là Golden Wattle và là quốc hoa của Úc Đại Lợi (Australia)
Quốc Hoa: hoa Mimosa chùm vàng (Golden Wattle) là quốc hoa của Úc Đại Lợi (Australia)
Ý nghĩa : tình yêu vừa chớm nở, e ấp, kín đáo
Hoa Trúc Đào- Nerium Indicum
Trúc đào tên khoa học là Nerium Indicum Mill, giống Nerium, còn gọi là Nerium Oleander thuộc họ Apocynaceae, loại thân cây hoa nhỏ, cao từ 2 đến 6m , lá xanh đậm, dày và dài từ 5-21cm, mọc chùm đôi, ba, hoa nhiều màu sắc rực rở đỏ, hồng, vàng , trắng , có nguồn gốc ở Mauritania, Morocco, và Portugal và đươc phát hiện nhiều nơi trên thế giới.
Trúc Đào là loại cây độc từ rễ, thân, lá cho đến hoa, và đặc biệt là mủ trúc đào (chất độc Oleandrin, Nerin) Người ta có thể bị ngộ độc do chạm vào cây hoặc nuốt phải. Nhẹ thì gây buồn nôn, ói mửa, tiêu chảy, rối loạn nhịp tim, nặng thì có thể mất kiểm soát cơ thể, hôn mê. Nếu không xử lý kịp thời sẽ dẫn đến tử vong. Trúc Đào thường được trồng trang trí dọc lề đường, trong công viên và phát triển tốt nơi có khí hậu ấm, nhiều nước trên thế giới cấm trồng nơi công cộng và khuyến cáo dân chúng về tính cách độc hại của Trúc Đào.
Ờ Việt Nam , Trúc đào được thấy trồng nhiều nơi ở Hà Nội.
Ý Nghĩa: cảnh cáo điều tai hại
Hoa tuyết cầu (Snow Ball)
Hoa này có tên khoa học là Viburnum opulus Roseum, chi Viburnum thuộc họ Adoxaceae, có nguồn gốc Á Châu v à Âu Châu. Hình dạng thân cây gỗ bụi, nhỏ, dáng tròn, tàn khoảng 2.5 m, cao 3m, mùa thu lá rụng, hoa là một quả cầu biến từ xanh sang trắng muốt, trước khi tàn đổi sang hồng nhạt , hoa phủ toàn cây rất đẹp, thích vùng có ánh nắng, đất không úng nước, thoáng không cần nước nhiều, trổ hoa đầu Xuân đến giữa Xuân.
Hoa Tử Đằng-Wisteria
Chi Tử Đằng Wisteria l à chi th ực v ật c ó hoa thu ộc h ọ Đ ậu Fabaceae, gồm 10 loài dây leo cây có nguồn gốc phía Đông Mỹ (giống Wisteria frutescens), Trung Quốc giống (Wisteria sinensis), Hàn Quốc, and Nhật (Wisteria floribunda). Tử Đằng Nhật nở vào dịp giữa tháng 4 đến giữa tháng 5, chỉ nở trong 1 đến 2 tuần rồi tàn. Các giống hoa Wisteria có đủ màu, từ tím, hồng, xanh, vàng cho đến trắng. Dây Tử Đằng có thể leo cao đến 20m và trải ngang ra đến 10m, thích hợp với đất ẩm, nhưng thông thoáng.
Ý Nghĩa : Hoa Tử đằng Fuji, theo quan điểm của người Nhật có nghĩa là tình yêu bất diệt. Nếu đem tặng ai đó hoa tử đằng màu tím thì có nghĩa là “Tôi chờ đợi sự đáp ứng của em!”
Hoa Tường Vi-Hoa Hồng Leo
Hoa hồng leo
Tên khoa học: Rosa spp, Họ Rosaceae có hơn 100 giống được trồng khắp nơi trên thế giới. Thân thực vật ra hoa , có nhiều gai nhọn. Có một số loại hoa hồng có khả năng leo như hồng tường vi, hồng dây hoa trắng nhỏ thường thấy ở Việt Nam.
Hoa hồng thích ứng với khí hậu nhưng phát triển tốt ở vùng không có ẩm độ và nhiệt độ cao. Hoa hồng là loài hoa được ưa chuộng khắp nơi và được lai giống để tìm ra màu sắc đặc biệt
Hoa tường vi, tên khoa học là “Rosa multiflora thunb”, là một giống hoa hồng leo (climbing rose) của họ Rosaceae.
Quốc hoa : Hoa hồng là quốc hoa của Anh quốc, Mỹ, Ý, Turkey ; hoa Hồng đỏ có tên khoa học là “Rosa Gallica L” cũng là quốc hoa của Iraq và Bulgaria.
Ý nghĩa : Tương kính, yêu thương, ngưỡng mộ
Hoa Uất Kim Hương (Tulip)
Đây là loài hoa sống lâu năm trồng bằng củ, giống Tulipa gồm có 109 loại thuộc họ Liliaceae. giống Tulip phát hiện thiên nhiên khắp nơi từ miền Nam Âu Châu, Bắc Phi Châu, Iran đến Tây Bắc Trung Quốc. Có nhiều giống, lai giống được trồng trong vườn, trong chậu, trồng để bán.
Tùy loại hoa tulip có thể cao từ 10cm đến 70cm. Chỉ có một hoa trổ trên đầu một cọng cây hoa, nhưng cũng có một vài loại đặc biệt có hơn một hoa như loài Tulipa turkestanica
Hoa Tulip có nhiều màu, ngoại trừ màu xanh (blue) thực sự, có một vài loại có màu tím xanh. Khi nói đến Tulip người ta hay nghỉ đến xứ Hoà Lan-Hà Lan- vì người Hoà Lan rất thích và nổi tiếng về cách trồng Tulip) nhưng thật sự Tulip đưọc trồng kỹ nghệ bắt đầu thời đế quốc Ottoman (area includes now Iran và Turkey). Sau đó được truyền bá trồng khắp nơi Ngày nay hàng năm, ngày hội Tulip được tổ chức nhiều nơi trên thế giới, đặt biệt nơi có người Hoà Lan lập nghiệp như Albany (New York); Ottawa (Ontario); Gatineau (Quebec); Montreal (Quebec); Holland (Michigan); Lehi (Utah); Orange City (Iowa); Pella (Iowa); Mount Vernon (Washington); and Woodburn (Oregon), and in other countries such as Australia (Melbourne), India và Anh Quốc.
Củ cây có chất Tulipene, ăn phải sẽ gây chóng mặt, buồn nôn.
Quốc Hoa: Hoa Uất Kim hương là quốc hoa của Ba Tư (Iran), A Phú Hản (Afghanistan) và Hung Gia Lợi (Hungary), Thổ ( Turkey) và Hòa Lan.
Ý Nghĩa: Tỏ bày tình yêu
Hoa Ý Lan Zantedeschia aethiopica
Zantedeschia aethiopica còn có tên là Lily of the Nile, Easter lily, Arum lily, Varkoor ( tiếng gọi của người Nam Phi có nghỉa là lổ tai heo-an Afrikaans name meaning pig’s ear), là một giống thuộc họ Araceae có nguồn gốc ở vùng Nam Phi Châu. Loài này đã được tự nhiên hóa (naturalised) ở Úc, đặc biệt Tây Úc ở những vùng mà mực nước ngầm theo chu kỳ lên cao, đất có cát. Ý Lan được xem như loài cỏ có chất độc và gây hại.
Là loại thuộc dạng thân cỏ sống lâu năm, xanh nếu có mưa và nhiệt độ ấm, lá rụng nếu bị khô hạn. Thích hợp nơi gần ao, hồ, bờ sông rạch, có thể mọc cao đến 0.6-1m, chùm lá rộng xanh đậm có thể dài đến 45cm. Hoa to nở suốt năm trừ mùa đông, với mo hoa trắng tinh cao đến 25cm và bông mo vàng có thể dài đến 90 mm
Zantedeschia có chứa đựng chất calcium oxalate, nếu ăn sống có thể gây ra cảm giác đốt cháy nặng và sưng môi, lưởi, cuống họng, đau bụng và ỉa chảy.
Loại hoa quý hiếm
Lunaria annua (Cây Đồng Tiền)
Lunaria Annua –Cây Đồng Tiền thuộc họ Brassicacease gồm có hai giống mà thôi, Lunaria Annua and Lunaria Rediviva. Tiếng Anh có nhiều tên gọi như Honesty, Silver dollar, Penny flower, Money plant, Moneywort, Moonwort
Loại hoa này có nguồn gốc miền Trung và Nam Châu Âu, thích ứng với nhiếu vùng khí hậu, loại hoa trang trí trong vườn.
Đây là loại cây chỉ sống từng năm có khi hai năm, hoa màu tím, nhánh có thể cao đến 1m, vỏ có đựng hạt bên trong , lúc nhỏ màu xanh, khi chin và khô thì có màu bạc rất đẹp, được dùng để trưng với các loài hoa khô trang trí.
Ở Việt Nam còn có một loại hoa cũng gọi là Đồng tiến Gerbera – hoa này là một loài hoa Cúc thuộc họ Asteraceae (được đặt theo tên nhà tự nhiên học người Đức Traugott Gerber). Còn gọi là cúc Phi Châu (African Daisy) Một loài hoa rất phổ biến, được dùng để trang trí trong những khu vườn do màu sắc rực rỡ đỏ, hồng, trắng,cam.
Ý nghĩa : Hoa Đồng tiền Việt Nam may mắn, sôi nổi nhiệt tình, tin tưởng.
Rafflesia arnoldii
Rafflesia arnoldii là một thành viên thuộc họ Rafflesia, nổi tiếng với khả năng tạo ra những bông hoa đơn lớn nhất thế giới. Loài hoa này chỉ xuất hiện ở những khu rừng nhiệt đới Sumatra và Borneo ở Nam Dương (Indonesia).
Theo Guiness book of records, sách ghi những kỹ lục trên thế giới, đây là loại hoa lớn nhất thế giới với đường kính khoảng .7m, dày 1.9cm và cân nặng . Đặc biệt Raflesia arnoldii là loài cây hoa ký sinh không có lá, rể hay cuống hoa.
Cây hoa không có diệp lục tố, sống bằng cách hút chất dinh dưởng của dây bị kí sinh như Tetrastigma thường bò trên mặt đất trong rừng nhiệt đới. Sauk hi hoa nở một tuần thì tàn, cây lại nằm ẩn trong than dây bị ký sinh. Hoa có mùi thối kỳ lạ.
Quốc Hoa : Hoa Rafflesia là một trong ba quốc hoa của Indonesia, bên cạnh Moon Orchids và Dạ lý hương Ả Rập
Drosera capensis-Gọng Vó
Cây Gọng Vó, tên khoa học là Drosera capensis, thuộc họ Droseraceae có nguồn gốc ở vùng Mủi (Cape) ở Nam Phi (South Africa). Họ Droseraceae có hơn 170 loài cây ăn thịt phổ biến trên thế giới, được tìm thấy ở khắp nơi, trên hầu hết các châu lục (ngoại trừ nam cực).
Cây Gọng Vó sống trong các đầm lầy hay các bãi than bùn. Lá có rất nhiều lông tuyến (tentacles) có thể mọc dài đến 15cm, ngang 1cm , ở đầu lông tuyến này có một chất dính lỏng giống như một giọt nước giúp thu hút các loài côn trùng. Nếu như một con côn trùng bị thu hút bởi giọt nước sáng lấp lánh dưới ánh nắng, đậu lên chiếc lá và chạm vào các lông tuyến, các lông tuyến này lập tức co lại, bao phủ và làm cho con mồi bất động.
Con mồi không ngừng kháng cự và sẽ chết trong vòng 15 phút do kiệt sức và do các chất nhầy bao quanh khiến chúng bị ngạt thở. Những chiếc lông tuyến này bắt đầu tiết ra chất tiêu hoá và con mồi sẽ bị ăn hoàn toàn trong vòng 1 đến 2 ngày. Trong thời gian đó, những chiếc lông tuyến sẽ không thực hiện bất kỳ kích thích hoá học nào khác và trở lại vị trí ban đầu của chúng. Sau khi nhấm nháp con mồi, những phần còn lại không được tiêu hoá của con mồi sẽ bị những luồng gió thổi bay.
Venus Flytrap- Hoa bẩy ruồi
Venus Flytrap tên khoa học Dionaea muscipula thuộc họ Droseraceae, loài thực vật ăn thịt , hoa bắt và tiêu hóa mồi phần đông là côn trùng và loài nhện. Trên mặt bẩy lá có lông và khi lông này bị đụng đến thì bẩy sập trong vòng 20 giây, nhưng đặc điểm là có thể phân biệt con mồi sống và những gì không phải là mồi như giọt nước rơi. Tốc độ mở đóng bẩy tùy thuộc ánh sang, ẩm độ, kích thước con mồi, điều kiện được trồng và là dấu hiệu biểu lộ sức lành mạnh của cây. Hoa Venus Flytrap không tùy thuộc nhiều về ẩm độ như những cây ăn thịt khác như các loài Nepenthes, Cephalotus, Heliamphora, và vài loại Drosera.
Amorphophallus titanum
Amorphophallus titanum chỉ có một bông hoa khổng lồ duy nhất nổi lên trên mặt đất, hoa có thể cao đến 3m, lá hoa đến 6m. Cùng với đặc điểm hình dạng kì dị này là một mùi hôi thối không thể tả nổi được tỏa ra khiến nó trở thành một trong những loài hoa quý hiếm và kì lạ bậc nhất trên hành tinh này, hoa tỏa nhiệt (có thể lên đến 37 độ) lúc trổ hoa. Có nguồn gốc ở rừng nhiệt đới ở đảo Borneo, Indonesia. Đặc biệt hoa chỉ trổ vài lần trong suốt khoảng thời gian 40 năm!
Hoa nở trong khu bảo tồn rừng nhiệt đới Princess of Wales Conservatory, England , cây được trưng bày tại nhà kiếng nhiệt đới (tropical glasshouse) trong Vườn Thảo Mộc (botanical garden) in Melbourne, Australia
Dracuunculus vulgaris
Dracuunculus vulgaris, cây chân bê thuộc họ Araceae, thân cây thảo có ít lá (2 đến 4) có khi cao đến 2m , l á to có cụm bông hoa màu tím mọc thẳng ở giữa hoa có một nhụy thanh mảnh màu sẫm tím nhô ra có khi đến 1m và bao quanh là những lá xanh sọc trắng rẩt ngoạn mục..
Hoa rồng (Dracunculus vulgaris) có màu đỏ tía hay màu tím. Lá th ường ch ết khi hoa trổ . Loài hoa này toả mùi hương thối rất khó chịu, thiên nhiên tạo ra để hấp dẩn ruồi tới để thụ phấn. Loài này thích đất ẩm và phì nhiêu có nguồn gốc ở vùng Balkans, dàn ra đến Hy Lap, Crete và Aegean Islands .Dracuunculus vulgaris được đưa vào Mỹ và phát hiện ở nhiều tiểu bang như Oregon, California, Camano Island, Washington và Tennessee cũng như ở Puerto Rico.
Nepenthes Tanax
Nepenthes, là loài thực vật ăn thịt tìm thấy ở Á Châu, thuộc họ Nepenthaceae. Động vật bò trong hoa bị rớt vào bẩy có nước bị chết chìm. Ở Ấn Độ có loài ăn cả chuột con. Nepenthes Tenax đặc biệt có thể cao đến 1m, chiều dài (cao) của bầu hoa (bẩy) có đến 15cm so với những loài khác trong họ.
Nepenthes được gọi là loài cây Nấp Ấm , tiếng Anh là Tropical Pitcher Plants.
Tacca chantrieri
Loại hoa dơi , loài thực vật có hoa , tên khoa học Tacca chantrieri thuộc họ Dioscoreaceae , khác thường vì hoa màu đen hay nâu đậm giống hình dạng của dơi, bề ngang có thể đến 30cm và có râu mọc dài đến 70cm cũng màu xám đen. Loài này mọc hoang vùng rừng nhiệt đới ở tỉnh Hồ Nam (Yunnan China), được phát hiện Mã Lai, Ân Độ, Đông Á thích hợp đẩt thoát nước và ẩm độ cao nơi có bóng mát, không chịu được khí hậu lạnh. Người Trung Quốc dùng rể cây này trị chứng cao máu, phỏng (bỏng), viêm gan và lở loét dạ dày.
Y Nguyên Mai Tran Mùa Xuân-Thu 2012.
Một chúc lịch sữ : Sài Gòn và những tên đường xưa
Posted: 20/03/2012 Filed under: Viet Nam | Tags: Sài gòn đường xưa lối củ 1 CommentSài Gòn và những tên đường xưa
Các bạn có thể xem một số hình ảnh xưa có nói đến trong bài này.
Du hành trên tuyến tàu xưa Gò Vấp-Sài Gòn (maivantran.com)
Từ hơn một thế kỷ nay, nước Việt Nam đã chịu rất nhiều thay đổi về chánh trị, hành chánh, văn hóa, xã hội…. luôn cả tên đường của Sài Gòn. Nhiều đường đã thay đổi tên hai, ba lần và vài đường mang tên các vị anh hùng hồi đời nhà Nguyễn đều biến mất. Vài người Việt ở nước ngoài khi trở về nước gặp nhiều khó khăn mới tìm lại được nhà mình đã ở lúc trước. Những bạn sanh ra sau 1975 lại không thể hình dung các tên đường thuở trước, nói chi đến lịch sử và tiểu sử của các vị đó. Riêng tôi, nhờ những kỷ niệm in sâu vào óc từ thuở niên thiếu và lại có tánh tò mò muốn biết thêm lịch sử nên tôi cố gắng nhắc lại đây vài tên đường để công hiến các bạn đọc giả và xin ngọn gió bốn phương cho biết thêm ý kiến để tu bổ về sau.
Tôi sanh ra tại nhà bảo sanh của Bác Sĩ Lâm Văn Bổn số 205 đường Frère Louis, gần chợ Thái Bình thuộc Quận 3 thuở đó của Đô Thành Sài Gòn, vào thời Đông Dương sắp vào chiến lửa binh đao, chín tháng trước khi Trân Châu Cảng chìm trong khói lửa, lúc đó Việt Nam còn là một thuộc địa của Pháp Quốc và nhiều đường Sài Gòn mang tên Pháp.
Tôi lớn lên tại Sài Gòn, tại số 148 đường Colonel Boudonnet dọc theo đường rầy xe lửa, sau nầy đổi tên là Lê Lai tới nay, đường lấy tên của Đại Tá Théodore Boudonnet thuộc Sư Đoàn 2 Bộ Binh Thuộc-Địa và Tư lệnh Sư Đoàn Bộ Binh An Nam, tử trận bên Pháp hồi 1914. Mặt đất đường nầy thấp hơn các đường Frère Louis, Phan Thanh Giản và Frères Guillerault nên mỗi khi mưa lớn là đường bị ngập : “nhờ vậy” mà sau khi tạnh mưa, dọc theo bức tường ngăn đường rầy và đường lộ những con dế từ đất chui ra hang để khỏi bị ngộp, nên tôi đi bắt đến khuya mới về ít lắm là ba bốn con và thường bị mẹ tôi quở trách.
Sau khi “chạy giặc” hồi 1945 vì máy bay đồng minh oanh tạc nhà ga và đường rầy xe lửa để chận tiếp tế cho quân Nhựt, gia đình tôi trở về sống tạm trước Nhà thờ “Huyện Sỹ” đường Frères Guillerault và năm sau rồi dọn trở về lại hẻm 176/11 đường Colonel Boudonnet.
Nhà thờ Huyện Sỹ xây cất năm 1905, ông là người giàu có vùng Gò Công, tên thật là Lê Phát Đạt và là Ông ngoại của Nam Phương Hoàng Hậu, vợ của Hoàng Đế Bảo Đại. 2
Gần nhà thờ Huyện Sỹ có hai đường mang tên Frère nhưng nếu Frère Louis là để tưởng nhớ đến Thầy Louis Gaubert lập ra trường Tabert, đường Frères Guillerault (có chữ “S” sau Frères) là để tưởng nhớ đến hai anh em Roland và Léon Guillerault sinh trưởng tại Sài Gòn và tử trận trong Đệ Nhứt Thế Chiến bên Pháp.
Trong lúc “tản cư” tôi đi học lớp chót trường làng tại quận Hóc Môn và vì một sự tình cờ mà Ba tôi ghi cho tôi học tiếp miển phí lớp “Douzième” trường Chasseloup-Laubat, thay vì Petrus Ký như Ba tôi.”Trường Chasseloup” xây cất trong ba năm nơi rạp hát bội của Tả Quân Lê Văn Duyệt, lúc đầu mang tên Collège Indigène de Saigon, nhưng khi khánh thành năm 1877 thì đổi lại là Collège Chasseloup-Laubat và từ 1928 trở thành Lycée có nghĩa là luyện thi đến lớp Tú Tài, mang tên của Hầu Tước Justin De Chasseloup Laubat, Bộ Trưởng Bộ Hải Quân và Thuộc Địa dưới thời Napoléon III, người quyết tâm chiếm và giữ Nam Kỳ. Hồi 1946 quân đội Pháp mới trở lại Việt Nam nên ít có gia đình và trẻ con Pháp sống tại Sài Gòn nên dư giáo viên mà thiếu học trò ! Lớp 12è niên khoá 1946-1947 trai và gái học chung tại Collège Calmette gần đó, sau đó vài năm trường nầy đổi tên là Lycée Marie Curie cho đến ngày nay. Tôi còn nhớ lúc ra về tôi chạy nhanh ra cổng, không phải để tìm Ba tôi, thường người ra sở trễ và đi xe đạp từ “Toà Tân Đáo” (Sở Ngoại Kiều) ở đường Georges Guynemer dưới Chợ Cũ lên rước tôi, mà là để tranh thủ thời gian để cạo mủ cao su !
Thật vậy, giữa trung tâm thành phố Sài Gòn không hiểu ông Tây nào có ý kiến trồng cây cao su theo hai bên đường Jauréguiberry cho có bóng mát ? Bernard Jauréguiberry là một Đề Đốc Pháp đã đánh vào Đà Nẳng và chiếm thành Gia Định, về sau giữ chức Thượng Nghị Sĩ và Bộ Trưởng Bộ Hải Quân, mà tại sao lại đặt tên cho một đường nhỏ bên hông trường Calmette ? Nhưng dù sao đi nữa những cây cao su đó, sau khi lấy đá đập vào vỏ thì chảy ra mủ trắng rất nhiều. Tôi trét mủ ấy trên cập táp da của tôi rồi khi mủ khô thì cuốn tròn quanh một cục sỏi và ngày qua ngày trở thành một trái banh nhỏ.
Như vậy tôi thuộc vào thành phần “Nam Kỳ chánh cống” và “dân Sài Gòn một trăm phần trăm”, lớp tuổi gần 70 và và sống tại Saigon trong 34 năm. Những bạn lớn hơn tôi vài tuổi và những bạn gốc “Bắc trước năm mươi tư” mới biết tên đường cũ như tôi, các bạn khác ráng mà tìm các tên trong trang sau cùng ! Không phải tôi bị “tây hóa” nên không chịu dùng tên Việt Nam, nhưng các tên đường cũ đả khắc sâu vào trí nhớ tuổi thơ của tôi, hơn nửa lúc trẻ tôi hay tìm tòi trong tự điển Larousse coi ông nầy là ai mà họ đặt 3
tên đường, sau thế hệ của chúng tôi, ít còn ai nhớ đến tên những con đường Sài Gòn năm xưa…
Mẹ tôi có thuê một cyclo để đi làm và đưa tôi đi học tại trường Chasseloup, “Chú Ba Xích Lô” mỗi ngày chạy ra phía nhà ga Sài Gòn theo đường Colonel Boudonnet, sau khi qua rạp hát Aristo, nay là New World Hotel, quẹo trái qua đường Chemin des Dames và băng qua đường Lacote (chớ không phải Lacotte, Moïse Lacote là cựu Trưởng Ban Hành Chánh vùng Gia Định và Giám Đốc Thuế Vụ Nam Kỳ vào năm 1896) hoặc theo đưòng Amiral Roze (người đã từng tấn công Nam Hàn) để đi thẳng tới đường Gia Long, tên của đường La Grandière vào khoảng ấy (Đề Đốc Pierre De La Grandière thay thế Đề Đốc Bonard là một trong những Thống Đốc đầu tiên của Nam Kỳ, Ông tự động đi chiếm xứ Cambodge năm 1863 mà không có lệnh của Hoàng Đế Napoléon III và cũng chính Ông đã chiếm ba tỉnh miền Tây năm 1867 làm cho Cụ Thống Tướng Phan Thanh Giản phải đầu hàng và sau đó tự vận, dưới thời Đề Đốc De La Grandière Sài Gòn phát triển mạnh mẻ).
Chú Ba Xích Lô xuyên qua vườn “Bờ Rô” để có bóng mát rồi ra đường Larégnère, sau nầy là đường Đoàn Thị Điểm. Tôi không biết tại sao người ta kêu công viên đó bằng tên ấy, có thể là phiên âm của chữ “préau (sân lót gạch) nhưng theo học giả Trần Văn Xướng thì do Ông “Moreau”, tên của người quản thủ Pháp đầu tiên chăm nom vườn nầy; thuở trước các người lớn tuổi còn gọi là “vườn Ông Thượng”, có thể là vì trước kia Tả Quân Lê Văn Duyệt là người tạo ra vườn nầy. Dưới thời Pháp thuộc vườn “Bờ Rô” nằm trong khu đất của dinh Thống Đốc nhưng vào năm 1869 Phó Đề Đốc Hector Ohier, người thay thế Đề Đốc De La Grandière, cắt chia đất và tặng thành phố vườn nầy mang tên Parc Maurice Long. Mười năm sau đường Miss Cavell được tạo ra, lúc đó mang tên rue de la Pépinière, để biệt lập với dinh Thống Đốc mà sau nầy là Palais Norodom và sau 1954 trở thành Dinh Độc Lập rồi Dinh Thống Nhứt sau 1975. Cũng có thể tên “Ông Thượng” là Ông Ohier, có tên đường dưới chợ cũ, nhưng tới đời tôi chỉ gọi vườn đó là “vườn Bờ Rổ”, sau nầy mang tên vườn Tao Đàn.
Ra vườn Bờ Rô gặp đường Chasseloup-Laubat rồi đi thẳng trên đường Larégnère, sau đó tới đường Testard : hai tên nầy ở gần nhau cũng đúng vì Trung Tá Bộ Binh Jules Testard và Thiếu Úy Hải Quân Etienne Larégnère, 31 tuổi (chớ không phải Lareynière hay Laraignère) tử vong cùng một trận đánh ác liệt tại Đồn Kỳ Hòa, ở vùng trường đua Phú Thọ, giữa lực lượng của Thống Tướng Nguyễn Tri Phương và Đô Đôc Victor Charner năm 1861. Ai cũng biết đường Chasseloup-Laubat, một đường chiến lược rất dài đi từ Chợ Lớn, 4
từ đường 11è R.I.C (Régiment d’Infanterie Coloniale) đến Thị Nghè, sau 1955 đường nầy đổi tên là Hồng Thập Tự.
Đi thẳng đến đường Testard, chú Ba quẹo mặt và bỏ tôi xuống ở góc đường Barbé vì học sinh vào trường Chasseloup bằng cửa sau. Góc đường nầy sẽ liên hệ nhiều với tôi sau nầy khi tôi trở thành sinh viên y-khoa. Đường Barbé (chớ không phải Barbet ) có từ lâu và mang tên của Đại Úy Nicolas Barbé thuộc Sư Đoàn 3 Thủy Quân Lục Chiến Pháp bị Ông Trương Định cho tên Nguyễn Văn Sất ám sát vào năm 1860 gần chùa Khải Tường, nơi vua Minh Mạng sanh ra năm 1791 lúc Nguyễn Ánh chạy lọan vào miền nam để tránh anh em Tây Sơn. Chùa nầy do Nguyễn Ánh sau khi trở thành vua Gia Long ra lệnh xây cất để tạ ơn Phật Trời đã che chở cho con trai là Nguyễn Phúc Đàm (vua Minh Mạng sau nầy), sau đó chùa được lập làm đồn chống Pháp nên bị lính Pháp phá dẹp hồi 1880, pho tượng Phật hiện còn lưu niệm trong Viện Bảo Tàng Sài Gòn, trong Sở Thú. Trên nền chùa bỏ hoang nầy về sau có cất lên một biệt thự lầu lớn kiểu âu-châu tại số 28 đường Testard mà Bà Bác Sĩ Henriette Bùi (con gái thứ ba của Ông Bùi Quang Chiêu) mướn lại của người chủ là một luật sư người Pháp làm dưỡng đường sản-phụ khoa vào thập niên 1940. Ông Bùi Quang Chiêu (1872-1945) là kỹ sư canh nông Việt Nam đầu tiên tốt nghiệp bên Pháp năm 1897 và bị Trần Văn Giàu (phong trào Việt Minh) ám sát cùng ba người con trai vào tháng 9 năm 1945. Còn Bà Henriette Bùi Quang Chiêu sanh năm 1906 là người đàn bà Việt Nam đầu tiên tốt nghiệp y-khoa bác sĩ tại Paris năm 1929, nay Bà đã 103 tuổi và hiện còn minh mẩn và sống tại ngoại ô Paris: Bà kể lại rằng vào năm 1943 nhà nầy được bán lại cho một người Do Thái tên là David chủ của nhiều biệt thự tại Sài Gòn; vào đầu năm 1945 chánh phủ Pháp trưng dụng nhà nầy và cho Bà thuê một biệt thự khác ở đưởng Blancsubé để dời dưỡng đường đến đấy. Tháng 3 năm 1945 Nhựt đảo chánh Pháp và tịch thu căn villa nầy, và khi Pháp trở lại thì trao cho Viện Đại Học Sài Gòn để rồi năm 1947 nơi nầy trở thành chi nhánh của Đại Học Y-Dược Khoa Hà Nội rồi năm 1954 thành Đại Học Y-Dược Khoa Saigon, nơi tôi được đào tạo trong sáu năm với GS Phạm Biểu Tâm làm Khoa Trưởng. Nơi đầy kỷ niệm nầy nay là Bảo Tàng chứng tích chiến tranh.
Lớn lên tôi đi xe đạp về một mình nhưng thích đi theo đường Testard hơn vì có bóng mát dưới hàng cây me, song song với đường Richaud (sau đổi lại đường Phan Đình Phùng) và thường ghé biệt thự số 6 đường Eyriaud des Vergnes (sau là Trương Minh Giảng) chơi với một bạn học cùng lớp, nhứt là vào mùa các cây trứng cá có trái. Ông Etienne Richaud là một Toàn Quyền Đông Dương hồi cuối thế kỷ XIX, còn Ông Alfred Eyriaud Des Vergnes 5
người gốc Châteauroux là Kỹ Sư Trưởng Nha Công Chánh Nam kỳ (Cochinchine), Ông là một thần đồng tốt nghiệp trường Polytechnique tại Paris lúc 17 tuổi sau đó học trường Ponts et Chaussées, ra lệnh lấp kinh Charner, tạo hệ thống cống dài 7 km, cất 12 cầu theo “Kinh Tàu” (Arroyo chinois nối liền với rạch Bến Nghé chảy ra sông Sài Gòn). Ông Eyriaud Des Vergnes là người đầu tiên có ý lập ra đường sắt tại Việt Nam chạy lên Cambodge nhưng kế hoạch không thành, về sau nhờ Kỹ Sư Thévenet Giám Đốc Nha Công Chánh Nam Kỳ và sự hỗ trợ của Cố Vấn chánh phủ Paul Blanchy mà Việt Nam có đường sắt đầu tiên đi từ Sài Gòn đến Mỹ Tho năm 1885. Hai người nầy cũng có tên đường và sau 1955 đổi lại là Tú Xưong (Thévenet) và Hai Bà Trưng (Paul Blanchy).
Sau khi qua đường Pierre Flandin (tên của một “đứa con” của Sài Gòn tuy sanh tại vùng Vaucluse và tử trận tại Noyon, tỉnh Oise, miền bắc nước Pháp vào năm 1917), đến cuối đường gặp rạp hát Nam Quang (nay vẫn còn), tôi quẹo trái ra đường Verdun (khoảng đó tên là đường Thái Lập Thành), đến ngã sáu Sài Gòn thì tôi lại đi qua đường Frère Louis để về nhà bằng đường d’Ypres cho vắng xe. Đường nhỏ nầy ở sau “Mả Lá Gẫm”, đúng hơn là của Ông Mathieu Lê Văn Gẫm, có bức tượng trong nhà thờ Huyện Sỹ, tử đạo thời vua Thiệu Trị vì bị hành hình lối năm 1847, mả đó nay vẫn còn nguyên tuy bị che khuất, và Ypres là tên một thành phố nhỏ bên vương quốc Bỉ, như thành phố Dixmude, nơi đã xẩy ra những trận đánh lớn hồi Đệ Nhứt Thế Chiến.
Đi xích lô mỗi ngày như vậy hoài cũng chán nên tôi thường đề nghị với Chú Ba đi về bằng ngả khác, thuở ấy đường phố ít xe hơn bây giờ vì Sài Gòn và Chợ Lớn không hơn một triệu dân cư. Tôi thích nhứt đi về nhà qua chợ Sài Gòn : Chú Ba tránh đường Mac Mahon (sau 1952 đoạn nầy lấy tên De Lattre de Tassigny và sau đó là Công Lý), đi đường Barbé và một đoạn đường Chasseloup-Laubat, rồi quẹo trái qua đường Miss Cavell với hàng cây cao bên hông Cercle Sportif Saigonnais (tên không phải viết Cawell hay Cavel : Edith Cavell là một nữ y-tá người Anh bị quân Đức xử bắn tại Bỉ vào năm 1915 lúc 50 tuổi vì giúp tù binh Anh, Bỉ và Pháp trốn qua Hòa Lan) để trổ ra đường Aviateur Garros rồi xuống chợ Sài Gòn, nơi bán nhiều trái cây (Roland Garros là phi công Pháp đầu tiên bay xuyên biển Méditerranée hồi 1913 và tử trận năm 1918).
Rồi cứ đi theo mãi đường d’Espagne (sau là Lê Thánh Tôn) vì vào 1859 quân lính Tây-Ban-Nha dưới quyền chỉ huy của các Đề Đốc Pháp đóng tại đó) để về Ngã Sáu (Phù Đổng) rồi về Colonel Boudonnet bằng ngã Amiral Roze. Đặc biệt Sài Gòn có rất nhiều tên đường mang tên các trận đánh thời Đệ Nhứt Thế Chiến (Boulevard de la Somme, Chemin 6
des Dames, đường Verdun, đường Arras, đường Champagne, đường Dixmude, đường Douaumont, Quai de la Marne….) và tên các đề đốc Pháp vì dưới thời các vua Minh Mạng và Tự Đức tất cả quân Pháp đến Việt Nam bằng tàu thủy mà hai vị có tiếng nhứt là Charner và Bonard. Đô Đốc Léopold Victor Charner người vùng Bretagne, gốc Thụy Sĩ là Tổng Tư Lệnh Lực Lượng Hải Quân Pháp tại Đông Nam Á, ngưòi đã chiếm Nam Kỳ, còn Đề Đốc Adolphe Bonard (chớ không phải Bonnard ) là Thống Đốc đầu tiên của Nam Kỳ do hoàng đế Napoléon III bổ nhiệm vào năm 1861 dưói thời vua Tự Đức.
Vào cuối thế kỷ XIX kinh rộng nhứt của Sài Gòn là “Kinh Lớn” hay “Kinh Charner” đi từ sông Sài Gòn đến Tòa Thị Sảnh, có hai đường dọc hai bên : đường chạy xuống bờ sông là đường Rigault de Genouilly, đường chạy lên là đường Charner. Vì mùi hôi thúi người Pháp lấp kinh lại sau nhiều năm bàn cãi và khi “đường Kinh Lấp” thành lập thì đương nhiên lấy tên Boulevard Charner vào năm 1861 nhưng Ba tôi vẫn gọi là đường Kinh Lấp vào những năm 1930. Trước đó, có một kinh dẫn nước sình lầy chảy ra Kinh Tàu từ chợ Bến Thành (người Pháp gọi là Les Halles Centrales), theo Học Giả Vương Hồng Sển vì gần rạch Bến Nghé và gần Thành Gia Định, kinh đó mang tên kinh Gallimard. Thiếu Tá công binh Léon Gallimart có dự trận đánh Kỳ Hòa, và đào kinh nầy vào năm 1861 theo lệnh của Đô Đốc Charner. Kinh nầy sau khi lấp lại theo ý kiến của kỹ sư Thiếu Tá Bovet năm 1867 lấy tên là Đại Lộ Bonard, vì thế đường nầy mới rộng lớn như ngày nay. Lúc lấp kinh và bến đò họ thành lập một công trường lớn, đó là “Bùng Binh” trước chợ Bến Thành mà người Pháp gọi là Place Eugène Cuniac, tên của một Thị Trưởng Sài Gòn, nay vẫn còn tên Công Trường Quách Thị Trang, một nữ sinh thiệt mạng lúc biểu tình dưới thời Ngô Đình Diệm năm 1963. Trước Tòa Thị Xã Sảnh, ở góc đường Charner và Bonard cũng có một bùng binh nhỏ với nước phun lên tên là Place Francis Garnier, nay là công trường Lam Sơn, để tưởng nhớ đến một sĩ quan hải quân trẻ tuổi phiêu lưu trên đất bắc và tử thương tại Hà Nội hồi 1873. Nhiều đường khác củng do lấp kinh mà ra như Boulevard de La Somme (rạch Cầu Sấu, sau nầy là đại lộ Hàm Nghi), đường Tổng Đốc Phương (hay Đỗ Hữu Phương), đường Pellerin (tên của một Giám Mục đã bênh vực công giáo Việt Nam nhưng khuyên lầm Đề Đốc Rigault De Genouilly lúc tấn công Đà Nẳng vào 1858) sau nầy đường Pellerin lấy tên là Pasteur.
Đường mà tôi thích nhứt, sang trọng nhứt và có tiếng nhứt Sài Gòn là đường Catinat, có trước khi người Pháp đến và mang tên một thuyền lớn đã bắn đại bác vào Đà Nẳng (chớ không phải tên của một Đề Đốc như nhiều người tưởng, thuyền “Le Catinat” lấy 7
tên của Thống Chế Nicolas de Catinat, sống hồi thế kỷ XVII dưới thời Louis XIV). Nơi đó có rất nhiều tiệm sang trọng, đường phố sạch sẽ và có nhiều “Ông Tây” ngồi uống cà phê tại khách sạn Continental, lúc đó chưa có tiệm Givral và nơi đó là Nhà Thuốc Tây Solirène, thay thế Pharmacie Centrale. Sau nầy có thêm tiệm Brodard ở gốc đường Catinat và Carabelli, tên của một Nghị Viên thành phố. Tôi cũng có dịp vô nhà sách Albert Portail (nay vẫn còn dưới tên Xuân Thu từ 1955) và đi dạo trong Passage Eden vì trong cùng có rạp hát Eden, rạp nầy và rạp Majestic ở cuối đường Catinat là hai rạp chiếu bóng sang nhứt Sài Gòn vào thuở đó; đi chơi vậy chớ có tiền đâu mà mua đồ, nhiều lắm thì lấy vài tấm hình mà các ông phó nhòm chụp dạo lúc đi trước “Nhà Hát Tây”, cất theo kiểu Opéra bên Paris. Đường Catinat là đường tráng nhựa đầu tiên của Sài Gòn, khi mới tráng nguời ta kêu là đường “Keo Su” dài tới Nhà Thờ Đức Bà ; qua công trường Pigneau de Béhaine trước Bưu Điện có bức tượng Ông “Cha Cả” hay Evêque d’Adran dẫn Hoàng Tử Cảnh ra trình diện Louis XVI tại Versailles. Sau khi qua khỏi đường Norodom thì đường Catinat lấy tên của Cố Vấn chánh phủ và Nghị Viên Thị Xã Sài Gòn Blancsubé và tiếp theo công trường Maréchal Joffre với tượng đài chiến si tử vong trong Đệ Nhứt Thế Chiến là đưòng Garcerie với những hàng cây cao, sau nầy mang tên Duy Tân và công trường Quốc Tế hay “Hồ Con Rùa”.
Ba tôi có nhiều bạn người Tàu và thừờng vô Chợ Lớn chơi bằng xe lửa điện (tramway) mà người ta thường gọi là “xe lửa giữa” vì chạy giửa đường Gallieni, tới trạm gare de Nancy thì bạn của Ba tôi lên xe lửa đi cùng vì ở gần thành Ô Ma (Camp des Mares, sau nầy là Bộ Tư Lệnh Cảnh Sát Quốc Gia). Tôi còn nhớ xe lửa giữa đó, với ghế cây theo kiểu của Métro xưa bên Paris, chạy thẳng theo đường Gallieni nối liền Sài Gòn với Chợ Lớn. Ba tôi nói lúc trứớc nơi đây toàn là đất hoang và sình lầy, sau khi lấp bưng thành đường đất gồ ghề rồi khi Ba tôi xuống Sài Gòn học vào năm 1928 thì đường mới được tráng nhựa và năm sau điện giăng giữa chia con đường làm hai chiều, một bên chạy lên một bên chạy xuống, đường rầy xe điện đặt trung tâm đại lộ, đến năm 1953 mãn hạn giao kèo khai thác mới dẹp. Đường nầy mang tên của Thống Chế lừng danh Joseph Gallieni chết năm 1916 nhưng phục vụ ngoài Bắc lúc còn Đại Tá Tư Lệnh Sư Đoàn 2 Bộ Binh và sách vở ghi công Ông về tổ chức hành chánh tại Đông Dương. Tên của Ông viết với chữ “e” chớ không phải với chữ “é” vì là người gốc Ý Đại Lợi.
Xe điện chạy thẳng vô đường rue des Marins, qua khu Đại Thế Giới nay là khu Cát Tường và đường Jaccario (vì lúc trước pháo hạm “Le Jaccario” đậu gần đó trên “Kinh Tàu” hay Arroyo chinois trong Chợ Lớn, và chắc lính thủy lên bờ nhiều nên mới gọi là rue des 8
Marins), ở góc đường có vũ trường Arc-En-Ciel, sau 1975 đổi tên là nhà hàng và khách sạn Arc-En Ciel Thiên Hồng, đến đường Tổng Đốc Phương thì quẹo qua trái mới đến Bưu Điện Chợ Lớn, nhà ga cuối cùng là Gare Rodier, tại Kinh Tàu.
Lúc còn ở đường Colonel Boudonnet tôi có nhiều bạn ở khu nhà thờ Huyện Sỹ và thường vô phía sau nhà thờ bắn “giàn thun” trên mấy cây soài nên bị “Ông Từ” rượt nhiều lần ! Ngoài đường Frères Guillerault trước nhà thờ, còn có đường Duranton và đường Léon Combes mà sau nầy đổi tên là Sương Nguyệt “Ánh”. Trung Sĩ Léon Combes là một đứa con của Sài Gòn ở Giồng Ông Tố bên Cát Lái tử trận năm 1917 tại Craonne, thuộc tỉnh Aisne vùng Picardie phía Bắc Paris. Tôi nhớ, vì học “trường tây” nên tôi thắc mắc và tự hỏi Bà nào mà mang họ Sương mà tôi tìm hoài trong sách vở không thấy ? Sau nầy tham khảo mới biết đó là tên bút hiệu của Bà Nguyễn Thị Ngọc Khuê (có sách nói là Nguyễn Xuân Khuê), con gái thứ tư của cụ Nguyễn Đình Chiểu, người đàn bà đầu tiên làm Chủ Bút báo “Nữ Giới Chung” cho phụ nữ hồi 1918. Tuần báo nầy còn tên là Fémina Annamite và tòa soạn ở 13 đường Taberd, trong sách kể là Sương Nguyệt ANH (=Góa phụ Nguyệt Anh), nhưng tại sao hồi 1955 họ đổi tên đường Léon Combes thành Sương Nguyệt ÁNH ?
Về sau, gia đình tôi dọn về Chợ Lớn ở đường Lacaze, nay là đường Nguyễn Tri Phương, nổi tiếng vì “Mì La Cai”, đường mang tên của Đô Đốc Lucien Lacaze, Bộ Trưởng Bộ Hải Quân từ 1915 đến 1917 hồi Đệ Nhứt Thế Chiến, nhưng chúng tôi ở khúc trên, gần gốc đường Pavie (nay là Lý Thái Tổ chớ không phải đường 3 tháng 2 vì dường nầy mới có vào lối 1957, lúc trước là trại lính) dẫn lên trường đua Phú Thọ. Khúc dưới đường mang tên ông Auguste Pavie (lừng danh trên đất Lào) dặc biệt rộng lớn và rất dài, có nhiều cây và bên trong có đường dành cho xích lô và xe đạp. Nếu đi từ Ngã Bảy xuống công trường Khải Định, từ giữa đường nầy đến đường Frédéric Drouhet sẻ thấy những biệt thự mà “Chú Hoả” cất cho con cháu ở (tên thường gọi của Jean-Baptiste Hui Bôn Hoả một triệu phú người Tàu tham gia với chánh quyền tặng thành phố Sài Gòn Policlinique Déjean De La Bâtie, tên của một bác sĩ tận tụy lo cho người Việt Nam, ngoài đường Bonard, sau nầy trở thành Bệnh Viện Đô-Thành), sau 1954 các nhà nầy dành cho Ủy Hội Kiểm Soát Quốc Tế Đình Chiến ở và khúc đường nầy gọi là đường Hui Bôn Hoả.
Lúc đó đường Pavie có xe nhà binh pháp chạy nhiều vì có thành lính gần đó và tại khu đường Cây Mai, trước khi tới Phú Lâm. Khu đất từ đường Lacaze đến đường Ducos (sau đổi là đường Triệu Đà) là đồng mả, đường hẻm tôi ở trước một mả đá lớn, mới phá hồi tháng 11 năm 2004 : đó là mả có từ thế kỷ thứ XVIII của một người đàn bà lối 50 tuổi 9
và quan tài thứ nhì chắc là của một người đàn ông, chỉ có vài nữ trang chớ không có vàng bạc chôn theo như người ta tưởng.
Từ đường Lacaze đi ra trường Chasseloup Laubat xa hơn, tôi phải đạp xe xuống Ngã Bảy, quẹo trái qua đường Général Lizé, rồi đạp thẳng hoài, qua khỏi đường Verdun đường nấy lấy tên Legrand De La Liraye. Qua khỏi trường nữ sinh Gia Long (hồi xưa gọi là Collège des Jeunes Filles Annamites, sau là Trường Aó Tím) và đến tận trường Marie Curie mới quẹo xuống đường Barbé. Đường Général Lizé là một đường chiến lược rất dài lúc trước gọi là đường Hai Mươi, đi từ Ngã Bảy Chợ Lớn, nối dài đường Pierre Pasquier, đến đường Albert Premier trên Dakao, lấy tên của Trung Tướng Lucien Lizé, xuất thân từ trường Polytechnique, Paris, Tư Lệnh Pháo Binh chiến trường Ý tử trận hồi 1918, có phục vụ bên Việt Nam lúc còn Đại Tá, còn Legrand De La Liraye là một trong những linh mục thông ngôn cho Đề Đốc Rigaud De Genouilly và trở thành Thanh Tra phụ trách về các hồ sơ giưã người Việt và chánh quyền bảo hộ. Sau 1954 đường nầy đổi thành đường Phan Thanh Giản, một vị anh hùng sáng suốt và can đảm của Việt Nam. Tiếc thay sau 1975 không còn đường nào trên mảnh đất Việt Nam mang tên anh hùng dân tộc nầy, cũng như không còn đường vào mang tên Lê Văn Duyệt và cũng không còn trường học nào mang tên Petrus Ký ! Cho tới nay tôi chưa thấy một học giả Việt Nam nào giỏi hơn Petrus Trương Vĩnh Ký, tuy vài “Sử Gia” buộc tội vị nầy nhiều điều vô lý, họ quên rằng công lao lớn nhứt của Ông Petrus Ký là truyền bá cho dân chúng sử dụng chữ quốc ngữ có từ Alexandre de Rhodes vào thế kỷ XVII thay thế chữ Nôm khó học và khó viết. Tôi nghe nói ở Vĩnh Long hiện nay có một trường học mang tên Phan Thanh Giản và vào tháng 11 năm 2008 rạp chiếu bóng Nguyễn Văn Hảo đường Trần Hưng Đạo tại Sài Gòn đang hát tuồng “Tả Quân Lê Văn Duyệt”, đó là điều đáng mừng vì những vị anh hùng các triều nhà Nguyễn phải được hồi phục.
Hồi thời Pháp thuộc cũng có những tên đường mang tên những anh hùng hay nhân tài Việt Nam như đường Paulus Của (Đốc Phủ Sứ Hùynh Tịnh Của) trên Dakao, đường Tổng Đốc Phương (Đổ Hữu Phương) trong Chợ Lớn, đường Phủ Kiệt (Đốc Phủ Sứ Trần Văn Kiệt là Nghị Viên thành phố trên 25 năm), Hùynh Quan Tiên, Nguyễn Văn Đưởm trên Tân Định (cà hai là Nghị Viên Thuộc Địa và Nghị Viên Thành Phố), Nguyễn Tấn Nghiệm (Nghị Viên), và Trương Minh Ký, một trong những Nghị Viên đầu tiên của thành phố, ông nầy tên thật là Trương Minh Ngôn cháu bốn đời của Trương Minh Giảng, được ông Trương Vỉnh Ký đem về nuôi và đổi tên, cho đi Pháp học và là một trong 7 10
người sáng lập viên ra Trường Thông Ngôn (Ecole des Interprètes) nằm trong Tòa Án, nhờ làm thông dịch viên lúc Traité de Patenôtre năm 1884 nên được vô quốc tịch Pháp, người mất lúc 55 tuổi vì bệnh lao phổi.
Vị anh hùng Đại Úy phi công của quân đội Pháp, xuất thân từ trường Võ Bị Saint-Cyr và là cựu sĩ quan Lê Dương mang tên Đỗ Hữu Vị có tên trên một đường từ bùng binh chợ Bến Thành đến đường Charner, trước đó đường nầy mang tên Hamelin sau nầy đổi lại là Huỳnh Thúc Kháng. Đại Úy Vị là con thứ năm của Tổng Đốc Đỗ Hữu Phương, sau khi học trung học tại trường nổi danh Janson De Sailly tại Paris, nhập học vô trường Saint-Cyr vào năm 1904. Trung Úy bên Bắc Phi, ông gia nhập vào binh chủng Không Quân vừa thành lập ; bị thương nặng Đại Úy Vị từ chối giải ngũ và trở về đơn vị Lê Dương và tử thưong tại mặt trận tỉnh Somme năm 1916. Hài cốt được người anh cả là Đại Tá Đỗ Hữu Chấn đem về chôn cất trong nghĩa trang gia đình tại Chợ Lớn.
Nay Sài Gòn mất nhiều di tích ngày xưa, vì chiến tranh và vì sự thay đổi thời cuộc, tôi tiếc nhứt là hồi tháng ba năm 1983 đã sang bằng “Lăng Cha Cả”, có từ 1799 để lập một công trường mà chả thấy ai ngồi …. Hai người ngọai quốc đã ảnh hưởng Việt Nam nhiều nhứt là Alexandre de Rhodes va Pierre Joseph Pigneau de Béhaine, được dân Việt Nam biết dưới tên Bá Đa Lộc hay Evèque d’Adran, người đã giúp Nguyễn Ánh lên ngôi, đi với Hoàng Tử Nguyễn Phúc Cảnh qua triều đình vua Louis XVI để ký Hiệp Ước Versailles năm 1787. Tên thật là Pigneau, sau đó thêm vô sau tên ấp Béhaine của làng Origny-en-Thiérache mà gia đình có phần đất, thuộc tỉnh Aisne, trong vùng Picardie ở miền bắc nước Pháp. Vua Gia Long cất một ngôi nhà ở số 180 đường Richaud cho Bá Đa Lộc (nay vẩn là Tòa Tổng Giám Mục đường Nguyễn Đình Chiểu, Quận 3) và đọc điếu văn khi người mất năm 1799. Mộ ông người Sài Gòn gọi là Lăng Cha Cả là một trong những di tích xưa nhứt của Sài Gòn “ở Gia Định” vào thời Gia Long, sau nầy ở trước trại Phi Long trên Tân Sơn Nhứt. Cốt của Cha Pigneau de Behaine được đem về Pháp năm 1983 và chôn trong nhà thờ Séminaire des Missions Etrangères, rue du Bac tại quận XV Paris. Tôi có viếng thăm nhà kỷ niệm cua Cha Pierre Joseph Pigneau de Béhaine, ở làng Origny-en-Thiérache, trở thành từ năm 1953 “Musée Monseigneur Pigneau de Béhaine” và sau khi xem xong tâm hồn tôi thả về dĩ vãng của một Việt Nam oai hùng tranh đấu cả ngàn năm để giử biên cương …
Tôi cũng có dịp thăm viếng nhiều di tích của xứ Pháp từ thời Trung Cổ, nhiều lâu đài của Âu Châu và Nga Sô có từ thế kỷ XV, luôn cả những ngôi mộ bên Ai Cập có trước 11
nền văn hóa của Hy Lạp và tiếc rằng xứ tôi không biết giữ gìn những kho tàng quý giá của lịch sử.
——————————–
| Những tên đường Sài Gòn trong bài theo thời cuộc | ||
| Thời pháp thuộc | Sau 1954 | Sau 1975 |
| Albert Premier | Đinh Tiên Hoàng | Đinh Tiên Hoàng |
| Amiral Roze | Trương Công Định | Trương Định |
| Armand Rousseau, Jean-Jacques Rousseau | Trần Hoàng Quân | Nguyễn Chí Thanh |
| Arras | Cống Qùynh | Cống Qùynh |
| Aviateur Garros, Rolland Garros | Thủ Khoa Huân | Thủ Khoa Huân |
| Barbé | Lê Qúy Đôn | Lê Qúy Đôn |
| Blancsubé, rue Catinat prolongée | Duy Tân | Phạm Ngọc Thạch |
| Bonard | Lê Lợi | Lê Lợi |
| Carabelli | Nguyễn Thiệp | Nguyễn Thiệp |
| Catinat | Tư Do | Đồng Khởi |
| Champagne | Yên Đỗ | Lý Chính Thắng |
| Charner | Nguyễn Huệ | Nguyễn Huệ |
| Chasseloup Laubat | Hồng Thập Tự | Nguyễn Thi Minh Khai |
| Chemin des Dames | Nguyễn Phi | Lê Anh Xuân |
| Colonel Boudonnet | Lê Lai | Lê Lai |
| Dixmude | Đề Thám | Đề Thám |
| Đỗ Hữu Vị, Hamelin | Huỳnh Thúc Kháng | Huỳnh Thúc Kháng |
Người Viết :Trần Ngọc Quang
http://vn.360plus.yahoo.com/luubinh.2009/article?mid=759&fid=-1
Quần thể nhà thờ Phát Diệm : Kiến trúc độc đáo hài hòa Đông Tây
Posted: 29/10/2011 Filed under: Viet Nam | Tags: Bùi Chu Phát Diệm, Kiến trúc nhà thờ Việt Nam, Nhà thờ Trái tim Đức Mẹ, nhà thờ Đá, Trần Lục 1 CommentQuần thể nhà thờ Phát Diệm: Kiến trúc hài hòa độc đáo Đông-Tây
Mai Trần – Y Nguyên
Nhà thờ Phát Diệm mà tôi đi thăm gần đây để lại cho tôi một ấn tượng sâu sắc, một công trình kiến trúc văn hóa hài hòa Đông-Tây và đặc biệt tài năng Việt hóa đạo Công giáo vào cuối thế kỷ 19 của Giám Mục Trần Lục
Cách Hà Nội khoảng 120 km thuộc huyện Kim Sơn, tình Ninh Bình, khu quần thể nhà thờ Phát Diệm là một điểm son đặc biệt của kiến trúc đình chùa Viêt Nam phối hợp với phong thủy và kiến trúc nhà thờ phương Tây,
Lúc ở trung học, tôi chỉ biết thoáng qua danh từ Phát Diệm, Búi Chu do cuộc di cư của người Công Giáo tránh Cộng Sản vào Nam năm 1954. Một số đông nhừng người này được định cư ở vùng Hố Nai, Gia Kiệm ở Biên Hòa và Xóm Mới Gò Vấp . Tôi ở Xóm Gà, thường đi về hướng Bà Chiểu Đakao, nhưng thỉnh thoảng tôi ngược lên mạn Gò vấp, nhất là những dịp gấn Tết đi Xóm Mới để mua pháo. Tên Xóm Mới vì ngày xưa vùng này hoang vắng rồi được Phủ Tổng Uỷ Di Cư chọn làm khu vực định cư cho người Bắc vào Nam, người dân địa phương gọi là Xóm Mới dần dà rồi thành tên chính thức luôn (người Nam có sao nói vậy người ơi ấy mà ! ) Đại đa số là người Công Giáo di cư từ Bùi Chu Phát Diêm vào. Đối với tôi Xóm Mới gắn liền với pháo và thịt chó.
Nhưng một trong những thú vị hồi hộp nhất là đi Xóm Mới mua pháo cấm, không hiểu sao mặc dù có lệnh cấm mà thiên hạ vẩn đi mua lén, đốt lén, quả thật tật lâu ngày khó bỏ. Nói chung ở miền Nam, giao thừa nào cũng có đốt pháo, thi nhau đốt pháo, giàu thì đốt cả dây (vài chục phút) nghèo thì đốt vài phong (vài phút) thỉnh thoảng xen lẩn có tiếng đi đùng của những cây pháo to, pháo đại được nối xen lẩn vào dây pháo. Chính những cây pháo này đã gây nhiếu tại nạn, hỏa hoạn. Mùa pháo nào cũng có cháy nhà vì làm pháo lậu. Có lần cháy rất lâu vì xe cứu hỏa không vào được hẽm để chữa cháy. Năm Mậu Thân 1968 lợi dụng cơ hội Tết, trong khi miền Nam mọi người đang đón Xuân thì Hà Nội xua quân tổng tấn công 44 tỉnh thành gây ra bao nhiêu tang tóc và thảm họa cho người miền Nam.
Rồi địa danh Xóm Mới Hố Nai Bùi Chu Phát Diệm mờ dần vì theo nỗi thăng trầm trong cuộc sống đổi đời…
Tôi trở lại Hà Nôi , đi thăm Phát Diệm địa điểm lịch sử có khu nhà thờ Thiên Chúa Giáo La Mã Phát Diệm gắn liền với tên 2 vị giám mục Trần Lục và Lê Hữu Từ, riêng ở Sài Gòn, Trần Lục là tên một trường trung học nam di cư từ Bắc vào. Lúc mới vào trường Trấn Lục không có cơ sở riêng phải tạm trú tại trường tiểu học Nguyễn Đình Chiểu ở Tân Định
Là người “ngoại đạo nhưng tin có Chúa ngự trên cao “ tôi lần đến Phát Diệm với tâm tình một người đi tìm và kiểm nghiệm lại quá khứ nhưng là một bất ngờ thú vị nhìn thấy một công trình kiến trúc văn hóa có tầm vóc quốc tế này, một kỳ quan du lịch của Việt Nam, và có lẽ điểm hành hương quan trọng cho người Công Giáo.
Đưòng vào nhà thờ không cho tôi cái cảm giác yên tỉnh, cho đến khi môt khuôn viên có hồ to hiện ra trước mắt với một kiến trúc độc đáo ẩn hiện phía sau mà tôi chưa hề thấy ở những nơi khác, kiến trúc đình thờ
Bước vào trong khuôn viên, bỏ lại thế gìới nhộn nhịp bên ngoài, cảm giác thoải mái yên tỉnh theo từng bước chân của người du khách.
Tập thể nhà thờ Phát Diệm rộng khoảng 22 ha (mẩu tây) gồm 1 nhà thờ chính toà và 5 nhà thờ nhỏ nằm chung quanh trong một khuôn viên có môt hồ, có nhà chuông (Phương Đình) , 3 hang đá và nhà chung
Hình 1: Khuôn viên quần thể nhà thờ Phát Diệm
Quần thể là một kiến trúc độc đáo dung hòa kiến trúc và văn hóa Đông Tây. Đây là một kiến trúc nhà thờ chỉ có duy nhất ở Việt Nam. Nhìn từ xa ta thấy hình ảnh của nhà thờ soi bóng nước. Nằm trước Phương Đình, hồ rộng khoảng 400m2, giữa hồ có một đảo nhỏ khoảng 40m2 với tượng chúa Giê Su.
Hình 2 . Phương Đình soi bóng nước
Sự kết hợp hài hòa đặc biệt với kiến trúc đền chùa khiến ta có thể ngộ nhận, nếu không nhìn thấy thánh giá trên mái, hay tượng thánh, chúa . Do ảnh hưởng truyền giáo Tây phương, phấn lớn kiến trúc nhà thờ ở Việt Nam chịu ảnh hưởng kiến trúc nhà thờ Tây phương- Romanesque-Gothique style ( xin xem phần phụ lục phía dưới )
Trong khoảng sân rộng trước khi bước vào Phương Đình có hai bức tượng đứng hai bên, bên mặt thánh Phao Lồ, bên trái thánh Phê Rô
Hình 3. Thánh Phê Rô Thánh Phao Lồ
Phương Đình
Phương Đình là môt kiền trúc bằng những tảng đá ghép, có ba tầng. Tầng mặt đất ở giữa có một sập đá xanh nguyên khối, trên tường có chạm trổ, điêu khác tinh xảo hình chúa Jesus và các thánh. Tường xung quanh là những phù điêu chạm trổ hình chấn song cửa sổ với cây trúc lá trúc . Mái cong giống mái đình chùa lại có bốn vị thánh đứng bốn góc, phục sức giống nhà sư, nhìn chung có dáng dấp của kiến trúc tam quan đình chùa.
Tầng giữa có một chiếc trống và tầng cao nhất có chuông lớn. Trên cửa chính có biển đề 4 chữ Hán : Thánh Cung Bảo Tòa.
Hình 4 .Mặt tiến Phương Đình với 4 chử Hán-Thánh Cung Bảo Tòa
Hình 5. Nhà thờ Chính Tòa Đức Mẹ Mân Côi
Phía sau Phương Đình có mộ cha Trần Lục mở ra môt sân rộng lát đá đưa khách vào nhà thờ chính tòa. Kiến trúc độc đáo được xây dựng năm 1891, dài 74m, rộng 21m và cao 15m với bốn mái nhà uốn cong và 5 vòm cửa, mặt tiền nhà thờ có khắc hình hoa Cúc, Sen, Đào…Trên vòm cửa chính có chạm trổ trên đá bụi hoa Mân côi (Rosary), nhánh Mân côi chen lẫn các thiên thần.
Trong nhà thờ có 6 hàng gỗ lim (52 cột), 16 cột giữa mỗi cây có chu vi 2.6m cao 11m nặng 7 tấn, trên cột có khắc chữ La tinh chìm “Pax Domini”
Các cột khác đều được chạm trổ điêu khắc. Cung Thánh cao hơn lòng nhà thờ, có một bàn thờ bằng đá phiến, chân bàn thờ được chạm trổ hình cây trúc tinh vi. Phía sau và là bức gỗ điêu khắc sơn son thiếp vàng với hình ảnh Thiên chúa nằm giữa và các thánh hai bên.
Không khí trang nghiêm và an lành theo ánh sáng mờ ảo làm cho lòng người dịu xuống, lắng đọng. Bước ra ngoài ánh sang chan hòa đưa ta đến phía bên phải là nhà nguyện thánh Rô Cô ( Saint Roch) và nhà nguyện chúa Giê Su (Jesus)
Hình 6. Nhà nguyện thánh Rô Cô (St Roch)
Hình 7. Bên trong nhà nguyện thánh Rô Cô
Phía sau nhà nguyện thánh Rô Cô là nhà nguyện chúa Giê Su Jesus
Hình 8. Nhà nguyện trái tim chúa Giê Su ( Sacred Heart)
Phiá bên trái của nhà thờ lớn là nhà Nguyện thánh Giu Se (St Joseph)
Hình 9. Nhà nguyện thánh Giu Se ( St Joseph)
Nhà thờ này được xây dựng năm 1896, toàn bằng gỗ lim , cột hình bát giác có chạm hình hoa lá, có những phù điêu bằng đá ghi sự tích Thánh gia thành Nazareth.
Phía sau nhà nguyện thánh Giu Se là nhà nguyện thánh Phê Rô
Nhà nguyện Phê Rô (St Pierre) xây dựng năm 1895 làm bằng gỗ mít và đá, có nhiều chạm trổ giống như bức rèm vén lên không hết
Hình 10. Nhà nguyện thánh Phê Rô
Hình 11. Nhà nguyện trái tim Đức Mẹ – nhà thờ đá
Nhà nguyện trái tim Đức Mẹ còn gọi là nhà thờ đá vì đây là nhà thờ được xây đầu tiên trong khuôn viên quấn thể nhà thờ Phát Diệm năm 1883, nằm phía tây bắc, trước nhà khu nhà chung duy nhất xây toàn bằng đá, tường, nền , chấn song, cột, bản phù điêu, bàn thờ bởi nhưng bàn tay tuyệt xão của thợ đục, điêu khắc đá, kiến trúc sư thời bấy gìờ.
Hình 12. Phía trong nhà nguyện trái tim Đức Mẹ
Mặt tiền có tháp Đức Mẹ và hai tháp nhiếu tầng ở hai bên, tháp Đức Mẹ có khắc tiếng Việt “Trái Tim Rất Thánh Đức Bà Chẳng Hề Mắc Tội Tổ Tông Truyền Cầu Cho Chúng Tôi”
Hình 13. Măt tiền khắc chữ Việt
Cha Trần Lục
Cha Trần Lục người huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa, tên thật là Phê Rô Trần Văn Hữu, theo học đạo từ năm 15 tuổi, dưới thời vua Tự Đức bài đạo, cha bị đày ở Lạng Sơn, nơi đây ông được làm phó Tế, tức là chức Sáu, giáo dân quen gọi ngài là cụ Sáu. Sau này vua Tự Đức ân xá và cải tên ngài thành Trần Lục (phải chăng lục là sáu). Từ năm 1865 đến 1899 ngài là cha sở Phát Diêm. Cũng nên biết vùng Kim Sơn Phát Diệm do Tiên Điền Sứ Nguyễn Công Trứ, một viên quan tài đức lúc bấy giờ khai phá.
Cha Trần Lục là người đứng ra xây khu nhà thờ Phát Diệm, ông là một kỳ tài về xây dựng, kiến trúc am hiểu chuyện đạo và đời lúc bấy giờ. Ông bỏ ra 10 năm để hoạch định công trình xây dựng kể cả ngân sách và vật liệu xây cất. Ngài phối hợp kiến trúc nhà thờ Tây Phưong với kiến trúc đình chùa ở Việt Nam một cách tài tình trong sứ mạng Việt hóa Thiên Chúa Giáo ở Viêt Nam.
Không những ông là một kiến trúc sư, nhà xây cất đại tài mà ông còn làm quan dưới thời Tự Đức, Đồng Khánh, Lễ Bộ Thượng Thư dưới triều vua Thành Thái, Phát Diệm Nam Tước dưới thời vua Khải Định và được trao tặng Ngũ đẳng và Tứ đẳng Bội Tinh. Ngài mất 1899 , hưởng thọ 74 tuổi.
Để tưởng nhớ công ơn ngài, trường trung học Trần Lục được khai sinh năm 1950. Năm 1954 trường theo giáo dân di tản vào Nam và tạm trú tại trường Nguyễn Đình Chiểu Tân Định. Đến năm 1971 thì chuyển đến khu vực cư xá sỉ quan Chí Hòa ( quân 10 Sài Gòn) với tên mới là Nguyễn Du .
Mộ cha Trần Lục nằm trước nhà thờ lớn và ngay sau ngõ chính của Phương Đình
Hình 14. Bia và mộ cha Trần Lục an vị trước nhà thờ chính tòa
Phụ lục
Đặc tính của Kiến Trúc nhà thờ Tây Phương
Đặc tính của Romanesque là kiến trúc nữa vòng cung như mặt tiền của Vương Cung Thánh Đường ở Lisbon, Portugal, thông dụng cho đến thế kỷ 12
Đặc tính của Gothique là kiến trúc mặt tiền có mủi đỉnh nhọn (điển hình nhà thờ Rheims ở Pháp) và trần của mái bên trong hình vòm cung với những đường gân xòe rất thịnh hành từ thế kỷ 12 đến 16

Mái trong nhà thờ Gothique ở Nuremberg
Đặc tính của Renaissance-Phục Hưng là kiến trúc có mái tròn (dome) điển hình là Vương Cung Thánh Đường St Peter ở Rome. Rất thịnh hành khoảng thế kỷ 15-17 thời này các kiến trúc sư thường kết hợp những cột đá tròn kiểu Hy Lạp La mã như Tuscan, Doric , Ionic, Corithian và Composite trong việc xây dựng đền đài, nhà thờ.
Vương Cung Thánh Đường St Peter ở Rome
Kiến trúc Byzantine bắt đầu từ đế quốc nồi tiếng Byzantine bao gồm các xừ Ý, Hy Lạp và các xứ nằm quanh Địa Trung Hải cách đây 1500 năm có nguồn gốc từ đế quốc Đông La Mã, đặt thủ đô tại Constantinople ( bây gìớ là thành phố của Thổ Nhĩ Kỳ).
Đặc tính của Byzantine architecture là lòng nhà thờ nhỏ, không thông suốt như Romanesque-Gothique. Mái nhà thờ có một hay nhiều vòm. Kiến trúc Byzantine vẩn còn lưu lại ở những xứ Đông Âu, Hy Lạp, Nga, Thổ Nhỉ Kỳ
Hagia Sophia ở Istanbul- Turkey .
Hàu hết càc nhà thờ ở Việt Nam xây cất theo kiếu Romanesque-Gothique do ảnh hưởng Pháp, tiêu biểu là nhà thờ Đức Bà ở Saigon hay nhà thờ Lớn ở Hà Nội
Bên trong va bên ngoài nhà thờ Đức Bà Sài Gòn
Bên trong và bên ngoài nhà thờ Lớn Hà Nội
Y Nguyên Mai Trần
Thơ của NKM bạn học Hồ Ngọc Cẩn
Posted: 18/09/2011 Filed under: Thơ Leave a commentBậu đi, bậu nhớ mái trường xa
Hồ chuông văng vẳng lòng tan tác
Tiếng Ngọc long lanh dạ xót xa
Bạn củ Cẩn sâu lòng trẻ lạc
Hồi âm tri kỹ vẫn còn xa
Mơ ướt tâm tư đành để lại
Xin người chớ vội trách bậu ta.
Lausanne 1968
Du hành trên tuyến tàu xưa Gò Vấp-Sài Gòn
Posted: 11/09/2011 Filed under: Hồi Ký, Nghiên cứu-Khảo luận, Viet Nam | Tags: Ga Bà Chiểu, Ga Gò Vấp, Xe hỏa Gò Vấp Saigon, Xe lửa ngày xưa, Xe điện thời Pháp thuộc 13 CommentsDu hành trên tuyến tàu xưa Gò Vấp-Sài Gòn
Y Nguyên-Mai Trần
Thàng Cưng, lực lưỡng nhanh nhẹn so với số tuổi của nó, khoảng 9, 10 tuổi gì đó mà được lái xe…bò. Mấy thằng bạn đàng em của nó lúc nào cũng tìm cách leo xe bò đi với nó cho vui. Gia đình thằng Cưng cũng thuộc loại khá thời đó, nhà gạch có chái, gian gìữa nhà cũng có bàn thờ tổ tiên khảm xa cừ đặt sau một bàn gỗ đen với sáu cái ghế và luôn luôn một bình trà đựng trong vỏ trái dừa để giữ ấm.
Ba nó không biêt làm nghề chuyên chở bằng xe bò từ lúc nào nhưng người trong xóm gọi ông là chú Tư xe bò – Cụ Phó-một nhân vật được mọi người kính nể trong xóm, cụ vào Nam từ Nam Định, nghe nói cụ đã từng giữ chức ông Phó cho hảng tàu đi đại dương của Pháp Charguers Réunis- không hiểu sao lại gọi ông với một danh từ dí dỏm ông Tư “pilot” xe bò. Ba thằng Cưng thỉnh thoảng cho nó lái xa bò ở nhửng khúc đường vắng khi xe không chở gì, chú Tư sống bằng nghề chở vật dụng xây nhà vì đồ nặng không tiện dùng xe ba bánh.
Khi rảnh rối thằng Cưng hay rủ bạn đi tắm sông ở cầu Bình Lợi, trong những nhánh sông nhỏ bao quanh là những rặng dừa nước, nhìn ra phía xa thì thấy sông Saigon. Sông khúc gần cầu Bình Lợi nước chảy xiết, nhiều chổ nước xoáy , thỉnh thoàng có nghe người chết mà người ta gọi là bị ma da kéo. Mấy đám nhỏ thường rủ nhau chơi đá banh ở sân vận động Lê văn Duyệt (giờ không còn nửa) thỉnh thoảng lại lén nhà đi tắm sông luôn, phần đông đứa nào cũng biết lội lại dùng bập dừa để nổi nên cũng khá an toàn. Tắm xong chạy về nhà thì quần khô hết nên gia đình không hay biết.
Hình 1 Tuổi thơ trong xóm
Hình 2 Xe bò trên đường Lê Lợi khoảng đầu thế kỹ 20
Thằng Cưng thỉnh thoảng theo ba nó lái xe bò ra đến Khăn Đen Suối Đờn -một khu xóm đối diện với trường Võ thị Sáu bây gìờ (Lê văn Duyệt cũ), thấy xe “lửa” đậu ở ga Xóm Gà cho người lên xuống là nó ước ao một ngày nào đó nó sẻ lái xe lửa, xe bò chậm quá. Thỉnh thoảng nó đưa má nó ra ga Xóm Gà giúp má nó mang trầu-cây nhà lá vườn-ra chợ Bà Chiểu bán, nhưng thường thì má nó đi xe thổ mộ
Đường làng 15 (đường Lê Quang Định) lúc bấy gìờ hầu hết chỉ có người đi xe đạp, thỉnh thoảng có vài chiếc mobylette hay xe nhà binh của Pháp chạy qua, lẫn tiếng xe thổ mộ lóc cóc trên đường. Khoảng đầu thập niên 50, phương tiên di chuyển chính là thổ mộ. Xe thỗ mô (xe làm bằng gỗ có hai bánh cũng bằng gỗ hai bên thùng xe, thường sơn màu nâu đậm rất thịnh hành ở vùng Bà Điểm, Hóc Môn, Chợ Cầu, Gò Vấp, Bà Chiểu, chợ Đất Hộ (Đakao) Tân Định ra tận đến Sài Gòn, xe nào cũng có 4 cái mốc, mỗi bên hai cái bên hông xe để người đi treo dép hoặc gồng gánh. Ai đi xe thổ mộ củng phái ngồi xếp bằng, co ro trong thùng xe, xe chật dĩ nhiên chuyện cọ sát với nhau là thường, anh nào còn trai tráng thường phải ngồi phía sau, hoặc ngồi phía trước đối diện với anh lái xe thổ mộ.
Người đi thường là bạn hàng mang hàng xuống từ Hóc Môn, Bà Điểm, chợ Cầu, trái cây, hoa, rau, trầu cau, thuốc rê Gò Vấp.
Thằng Cưng ngoài tắm sông lén, thỉnh thoảng xuống Gó Vấp đi xem “hát bóng” ở rạp Lạc Xuân, rạp này bên hông chợ Gò Vấp, thường hát phim cũ nên thỉnh thoảng bị đứt phim, nhưng tiền vé rẻ. Mùa nóng xem phim mà cứ đợi nối phim , thiên hạ thường la ó. La thì la vậy chớ đi xem vẫn đi vì rẻ cho dân địa phương.
Truóc khi tới quận lỵ Gò Vấp, có ga xóm Thơm (tên địa phương, nhưng cũng gọi là tên ga Gò Vấp). Ga Gò Vấp là một ga nối vì từ ga này đi ra các tỉnh miền Trung, Nha Trang, đi Lái Thiêu, Thủ Dầu Một, dĩ nhiên đi ra Sài Gòn (ngừng tại ga xe lửa Mỹ (Mỹ Tho, cũng gọi là ga Sài Gòn, bây giờ là công viên 23/9 gần chợ Bến Thành)-rồi từ ga Saigon đi Chợ Lớn Bình Tây hay đi Mỹ Tho.
Tuyến đường Gò Vấp Saigon được đưa vào xử dụng ngày 7/9/1897, lúc đầu chạy bằng nưóc sau bằng điện, từ năm 1913.
Cũng từ sau 1913 các tuyến đường khác được xây dựng từ Gò Vấp đi Hóc Môn, Gò Vấp đi Lái Thiêu-Thủ Dầu Một. Từ chợ Bình Tây Chợ Lớn đi Phú Nhuận-Dakao-Tân Định
Hình 3 Ga Xóm Thơm (Gò Vấp Xưa, đầu thế kỷ 20)
Hình 4 Chợ Gò Vấp đầu thế kỹ 20
Hình 5 Chợ Gò Váp cuối thập niên 1950 ?
Tuyến xe đi từ Gò Vấp ra Sài Gòn qua Ga Đông Nhì, lúc rạp Đông Nhì (cùng chủ với Đại Đồng Nguyễn văn Học và Đai Đồng Cao Thắng, Bàn Cờ, cũng là chủ rạp Đại Đồng Hà Nội di cư vào Nam, có tài liệu cho biết Đại Đồng Hà Nội là rạp chiếu bóng đầu tiên của người Việt Nam cho người Việt Nam )
Rạp Đông Nhì là rạp bình dân, chiếu toàn phim cũ nhưng mới hơn Lạc Xuân, có đặc điểm hát thường trực, lúc nào mua vé vào xem và xem bao lâu cũng được.
Rời Ga Đông Nhì thì đến ga Xóm Gà , ga này có mái che và xây bằng gạch nằm trước tiệm tạp hóa chú Xi . Chú Xi , gia đình ngườì Tàu sang Việt Nam đã lâu nên con cái chú ăn mặc theo kiếu Việt Nam và các con nói tiếng Nam rành rọt, tiệm chú Xi bán tạp hóa nên cái gì cũng có kể cả nước màu (nước đường nấu lên cho có màu nâu đen dùng để kho thịt hay cá,xin đọc bài viết về Xóm Gà trong Blog https://maivantran.wordpress.com)
Sau khi bỏ khách xuống thì xe điện chạy đến ga Bình Hòa, ga này nằm đối diện với cây xăng Bình Hòa hiện tại vẩn còn, mỗi lần xe lửa chạy là có cây chắn ngang hạ xuống chận lưu thông trên đường Nguyễn Văn Học, xe điện tiếp tục chạy qua khu chợ Ngã Tư Bình Hòa, dọc theo đường làng 15-đường Lê quang Định ra Bà Chiếu.
Trước 1960, nơi đây vẫn còn dấu vết ga Bình hòa trên tuyến đường Gò Vấp-chợ Bến Thành
Chợ Bình Hòa tuy nhỏ nay vẫn còn, nhưng mang lại cho Nguyên biết bao kỷ niệm. Bà Nguyên có một chỗ bán trầu cau, rất nổi tiếng trong chợ, chỗ bà là chỗ duy nhất, mằc dù thỉnh thoảng vẫn có cạnh tranh, người ta gọi bà là “bà Mười bán trầu cau” bà là người rộng lượng và biết cách chìều đãi khách hàng, người buôn bán với bà rất trung thành với bà, có chuyện, bà nghỉ thì họ vào tận nhà để mua. Bà quê Hóc Môn, sản phẩm “mười tám thôn vườn trầu” nên bà có móc nối mua cau, trầu tươi từ Hóc Môn Bà Điểm, mua thuốc lá từ Gò Vấp và cau khô từ những tiệm đại lý ở Chợ Lớn đem vể nhà sàng lọc, sắp xếp rồi đem ra chợ. Nguyên thỉnh thoảng đến thăm bà ngoài chợ, bà hay đưa cho Nguyên đem đồ ăn về nhà và mua bánh trái gần đó cho Nguyên ăn, nhất là những món ăn đặc biệt chỉ có bán hôm đó. Có lần chiếc xe đạp của Nguyên đậu gần bà mà cũng bị mất cắp-chiếc xe đạp với “ghi đông” cao đầu tiên của Nguyên!
Lúc chợ tan, những người bạn hàng bán không hết đồ gạ bán cho bà, trái cây đủ loại, cá cua, rau cải, có khi họ đem tới nhà để đổi trầu cau! Nhà Nguyên vì thế cũng ăn thêm món cua luộc hẩu như 2, 3 lần một tuần.
Bà Nguyên hay nuông chiều cháu trai đầu lòng, nên nếu Nguyên bị ba má rầy la thì bà can ngăn, nhưng Nguyên cũng sợ bà vì bà đánh đau lắm.
Bà Nguyên cả đời hy sinh, trong hoàn cảnh luân lý đạo đức khắc nghiệt ngày xưa, bà ở một mình không tái giá mà chẳng có bồ bịch gì từ năm 21-22 tuổi cho đến lúc mất đi được 88 tuổi . Niềm an ủi của bà là ba Nguyên và cô Côi-cô có tên Côi vì khi ông Nội Nguyên chết thì cô còn nằm trong bụng mẹ, cô Côi người có đầu óc phóng khoáng, mạo hiểm rồi cũng sang ở luôn bên Pháp năm 1954. Bà mất trong hoàn cảnh cơ cực của gia đình sau cuộc đổi đời 75 không thấy lại Nguyên cũng như cô Nguyên. Một nén hương lòng và sự khâm phục vô bờ của một người cháu ở phương xa
Từ Ngã tư Bình Hòa, nếu ta đi trên đường Nơ trang Long (Nguyễn văn Học) hướng về Thủ Đức và Bình Dương sẽ phải qua ngã Năm Bình Hòa nơi đây đã xẩy ra cuộc oanh tạc khốc liệt của máy bay trực thăng năm Mậu Thân 68. Ngã năm là giao điểm của hai đường Nơ Trang Long và Phan văn Trị và một đường đi vào xóm Lò Vôi thẳng ra luôn tới rạch nước mà bây gìờ gọi là rạch Bến Bôi. Từ Ngã Năm đường Nơ Trang Long đi thẳng qua cầu Băng Ky đến cầu Bình Lợi.
Đường Nguyễn Văn Học đoạn gần cầu Bình Lợi trước 75 có hãng Vissan-Việt Nam Kỹ nghệ Súc Sản-” sản xuất sản phẩm gia súc theo đường lối dây chuyền và xưởng kỹ nghệ mền len Sakymen (Sài Gòn Kỹ nghệ Mền Len). Từ Nguyễn văn Học quẹo trái về Phan Văn Trị hướng Gò Vấp có công ty lớn may dệt Vinatexco.
Đường Phan văn Trị có hai ngôi chùa với đồng mả bao quanh, chùa Thập Phước (Tập Phước) và chùa Bảo An. Hai chùa này cổ này giờ vẫn còn tuy nhiên đồng mả bao quanh không còn nữa và đất chùa bị thu hẹp rất nhiều. Ngày xưa, ban đêm ít ai đến vùng này vì nghe tiếng nhiều ma. Má Nguyên kể lại chuỵện ngay cả ban trưa, chú tiểu thường thấy bóng người đưa võng cho mình ngủ mà chùa thì vắng lặng chỉ có một mình.
Hình 6 Xe hơi sắp sang Cầu Bình Lợi.
Đường Nơ trang Long (Nguyễn văn Học cũ) đi về hướng trường Vẽ, sau này lại đổi nhiều tên khác như Mỹ nghệ thực hành, Cao Đẳng Mỷ Nghệ rồi sau 75 là trường cao đẳng Mỹ Thuật nằm ngay cuối đường Nơ Trang Long-trên đường Phan Đăng Lưu (Bạch Đằng). Đường Nguyễn văn Học đầu này có hàng điệp, phượng vĩ xen lẫn với me. Mùa hè đoạn đường rất đẹp vì Điệp, Phượng nở đỏ.
Trên đường này có sân vận động Nguyễn Văn Học (không còn nữa, tiếc thay!) kế đó khu vực nhà thương Nguyễn Văn Học, trước 75, khu bịnh viện được xây dựng lại với Viện Ung Thư và bịnh viện Nguyển Văn Học Gia Định. Khoảng năm 64, khu đất kế bên được người Mỹ giúp xây theo mô hình hiện đại làm trung tâm thực tập Y khoa cho Đại học Y khoa Sài Gòn, trang bị máy móc tối tân để dạy và trị bệnh, sau đổi thành bịnh viện Gia Định-sau 75 có tên là bịnh viện Nhân dân Gia Định. Viện Ung Thư là cơ quan y tế chuyên về ung thư cho cả nước. Viện Ung Thư nay gọi là Viện Ung Bướu đang trong tình trạng quá tải, nên người dân nói vào cửa trước, ra cửa sau thẳng vào nhà Xác. Thật sự phía sau các bệnh viên này là nhà Xác chung.
Gần sân vận động Nguyễn Văn Học, thì có rạp chiếu phim Đại Đồng
Hình 7 Rap Đai Đồng không còn chiếu phim nữa, bây giờ là nhà in
Cạnh rạp Đại Đồng có cả một khu hồ bơi, rất nổi tiếng thời này, có nhiều hồ bơi kích thước khác nhau cho đủ mọi hạng người và cả các quán ăn nhỏ. Khu này đúng ra là một địa điểm giải trí khi xưa- hơn cả hồ tắm Chi Lăng, nếu ai còn nhớ.
Hình 8 Khu bơi lội vẫn còn-nhưng đầy nhà cửa
Hình 9 Đại Đồng đường Cao Thắng
Đầu đường Lê Quang Định đối diện với chợ Bà Chiểu, ở góc đường là trường tiểu học Nam Tỉnh lỵ, có lúc tên là trường Trương Tấn Bửu, những ngày đầu mới khai sinh trường nữ sinh Lê Văn Duyệt tá túc ở trường này và trường Hồ Ngọc Cẩn trước khi chuyển đến vị trí hôm nay-trên đường Đinh tiên Hoàng (trước 1975 là Lê văn Duyệt) với cái tên xa lạ Võ Thị Sáu.
Hình 10 Trường trung học Hồ Ngọc Cẩn, sau 75 trường tiểu học Nguyển Đình Chiểu
Xe lửa chạy dọc Lê Quang Định ra Bà Chiểu rồi ngừng cho khách lên xuống. Tấp nập, kẻ đi Đât Hộ (Dakao), Sài Gòn , người xuống chợ Bà Chiểu, đi thăm Lăng Ông, đi xin xâm vì tin rằng Đức Tả Quân Lê Văn Duyệt hiển linh.
Hình 11 Ga Bà Chiểu năm 1913
Cuối Lê Quang Định, đối diện chợ Bà Chiểu quẹo trái đi vào đường Hàng Xanh (sau là Bạch Đằng) để đi Thị Nghè hoặc Cầu Sơn, Bình Qưới. Nếu đi thẳng là đường Bùi Hữu Nghĩa (xưa là đường Nhà Thờ (Rue de L’Eglise))
Hình 12 Xe điện chạy dọc theo đường Bùi Hữu Nghĩa Gia Định
Rời ga Bà Chiểu xe lửa chạy dọc hông chợ theo đường Bùi Hữu Nghĩa (l’Eglise) , qua khu nhà thờ Bà Chiểu qua cầu Sắt tới Đất Hộ (Đa kao) thuộc quận nhất.
Hình 13 Toà Bố-Toà Tham Biện- Gia Định khoảng đầu thế kỷ 20 sau Tòa Hành Chánh Gia Định
Cuối đường Lê Quang Định quẹo phải đi đến Toà Bố (Uỷ ban ND Quận Bình Thạnh bây giờ) , đối diện với tòa bố là cửa sau Lăng Tả Quân Lê văn Duyệt, kế đó là chợ Bà Chiểu. Đường Chi Lăng (bây giờ là Phan đăng Lưu) đi ngang trường vẽ (Mỹ Nghệ Thực Hành) đi về hướng Phú Nhuận ngày xưa gọi là đường hàng Keo vì đường này có trồng hàng cây keo và cũng nổi tiếng vì bót công an Hàng keo và trường trung học tư thục Đạt Đức.
Đường Bạch Đằng có tên là Hàng Xanh đi ra hướng Thị Nghè, Cầu Sơn. Khúc Cầu Sơn, Bình Qưới xưa là đồng ruộng it người ở chỉ có hảng sắt kỹ nghệ của ông Võ Hồng Nho (một thời bầu gánh cải lương Trăng Mùa Thu với cô đào chánh Bích Sơn, em cô Bích Thuận) thông ra đến sông Sài Gòn. Bây giờ mùa mưa, vùng Thanh Đa, Cầu Sơn, Bình Quới thường bị ngập là chuyện khó tránh, vì nước không có chỗ thoát.
Trên đường Bạch Đằng có rạp chiếu bóng Cao Đồng Hưng, rạp này sinh sau đẻ muộn so với rạp Huỳnh Long trên đường Châu Văn Tiếp (nay Vủ Tùng) , gần cửa chính của Lăng Ông. Rạp Cao Đổng Hưng trang bị toàn ghế bằng sắt có lỗ nhỏ, phía sau gần cửa vào thì có cả vài hàng ghế cây, học trò Hồ ngọc Cẩn rất “thân quen” với rạp này, đối với Nguyên kỷ niệm là rệp cắn, vì lần ấy rạp CĐH được biến đổi để hát cải lương, vì cô Nguyên quen với bầu đoàn Thủ Đô nên được mời ngồi hàng ghế đầu, suốt buổi em gái Nguyên cứ cựa quậy, ngồi không yên, một số người ngối gần có vẻ không vui, Nguyên hỏi em thì em nói tại rệp cắn, vì em mặc “jupe”, em còn nhỏ nên chả biết gì về cải lương nên cứ ngọ ngậy bắt rệp, rồi Nguyên cũng thấy rệp cắn, thế là anh em Nguyên xin phép ra về sớm. Lý do cũng dể hiểu vì không ai ngồi hàng ghế đầu khi xem phim, thế là rệp tha hồ làm ổ, chỗ nào đánh hơi có thịt người là …làm luôn.
Hình 14 Rạp Cao Đồng Hưng bây giờ là tiệm sách.
Lăng Ông
Hình 15 Lăng Ông 1954, bên phải trước cổng là cây thốt nốt
Cửa chính vào lăng nằm trên đường Châu Văn Tiếp (nay Vũ Tùng) với đặc điểm có trổng hàng cây thốt nốt
Hình 16 Lăng Tả Quân 1970
Hình 17 Mộ Tả quân Lê Văn Duyệt và Phu Nhân Đổ Thị Phần
Figure 18 Lăng Ông Tết Tân Mão 2011
Đi xa hơn cổng lăng về hướng chợ Bà Chiểu thì sẽ thấy rạp Huỳnh Long, Đây là một rạp hát bình dân, hay chiếu phim Việt Nam và Ấn Độ. Rạp này lúc chiếu phim Tề Thiên Đại Thánh họ cho đốt nhang ở một góc trước màn chiếu có lẽ vì trong phim có xuất hiện phật bà Quan Âm và Đường Tam Tạng.
Nếu các bạn muốn biết vế Lăng Tả Quân xin vui lòng xem video
http://www.youtube.com/watch?v=fhMzSpmqf98&feature=mfu_in_order&list=UL
Phía Lăng Ông hướng về Đakao, trước khi đến Cầu Bông có một khu vực có cái tên rầt huyền hoặc “Khăn đen Suối đờn”
Đây là khu xóm ngày xưa đối diện với trường Lê văn Duyệt. Khu xóm này kéo dài đến gần Cầu Bông , chiều ngang từ ranh giới đường Lê Văn Duyệt (Đinh Tiên Hoàng) đến đường Bùi Hữu Nghĩa. Cả khu này và khu trường Lê Văn Duyêt nằm trong khu đất ruộng nên có nhiều cầu ván để đi, chính trường Lê Văn Duyệt cũng nằm trên khu đất bồi để giảm thiểu chuyện ngập nước thường xảy ra trong mùa mưa và do thuỷ triều của rạch Thị Nghè- mà người địa phương vẫn gọi là sông Cầu Bông. Người xưa cho biết nơi đây là nơi buôn bán loại khăn đen làm ở Suối Đờn, tên một khu du lịch nồi tiếng thời trước 1945 ở Thủ Dầu Một (Bình Dương). Loại Khăn Đen Suối Đờn này được dân Nam ưa chuộng, họ đến đại lý ở đây mua hàng, lâu dần truyền khẩu thành khu Khăn Đen Suối Đờn, chớ không có điển tích gì đặc biệt cả.
Hình 19 Trường nử trung học Lê Văn Duyệt 2011
Trường Lê Văn Duyệt lúc mới xây xong giống nằm trên một hòn đảo vì hầu như xung quanh trường là ruộng nước. Một hai năm đầu trường chưa cất phải tá túc với trường Nam Tỉnh lỵ (rồi Trương Tấn Bửu) và Hồ Ngọc Cẩn.
Tên Cầu Bông bắc ngang rạch Thị Nghè, nhưng đối với dân xưa ai cũng gọi là sông Cầu Bông không biết do đâu mà có, nhưng có thể ngày xa xưa người ta tụ tập ở bến sông buôn bán bông? Ai là người Sài Gòn xưa có lẻ còn nhớ bài này, nhại theo bài Gạo Trắng Trăng Thanh, một thời nổi tiếng với đôi danh ca cũng là cặp vợ chồng ngoài đời Ngọc Cẩm-Nguyễn Hữu Thiết
“Ai đang đi trên cầu Bông,
Té xuống song ướt cái quần ni lông
Vô đây em dù trời khuya anh vẫn đưa em về ”
Cho tới bây gìờ không ai biết xuất xứ của nó và vì sao. chỉ có điều nặng mùi Nam rặt, bình dân giáo dục nhưng hậu ý tốt.
Qua khỏi cầu Bông là vào quận Nhất khu Đakao
Đất Hộ-Đa kao
Đa Kao còn gọi là Đất Hộ, thuộc quận nhất Sàigòn, Đakao có rất nhiều trường tư thục nổi tiếng như Huỳnh Khương Ninh (Đường Huỳnh Khương Ninh) giờ vẩn còn, Huỳnh thị Ngà (đường Trần Nhật Duật), Les Lauriers sau đổi tên Tân Thịnh (đường Đinh Công Tráng), Văn Hiến, Việt Nam Học Đường (đường Đặng Tất) , trên đường Phạm Đăng Hưng bây giờ là Mai Thị Lựu ngày xưa có trường chuyên dạy Anh Ngữ Trần Gia Độ, có lẽ mở cùng thời với trường dạy Anh Văn Ziên Hồng của hai anh em Lê Bá Kông Lê Bá Khanh ở đường Kỳ Đồng
Xuống dốc cầu Bông trước khi đến Trần Quang Khải có tiệm thịt quay, heo, gà vịt vẩn còn mở đến ngày nay, nhìn xuống sông khoảng thập niên 50s có trại cưa Trần Pháp. Quẹo phải vào đường Trần Quang Khải , phía bên trái có đình thờ với hình ông cọp trên tường và cây da bên trong sân, đối diện xéo một chút là bót TQK và đường hẽm đi vô xóm Vạn Chài, phía ngoài đầu hẻm có trường tư thục Văn Hiến (hiệu trường là Phan Ngô). Kế đó là rạp Văn Hoa và tiệm cà phê Văn Hoa rất thanh lịch kế bên. Râp Văn Hoa sang trọng, có máy lạnh và hệ thống âm thanh tối tân, màn ảnh lớn nhưng giá rẻ hơn Eden hay Rex.
Trần Quang Khải quẹo vào Nguyễn huy Tự là chợ Dakao , gần chợ có con đường nhỏ Trương Hán Siêu nơi đây có đền thờ của cụ Phan Chu Trinh, đi thẳng Phan Chu Trinh băng qua Đinh Tiên Hoàng thì gặp bánh cuốn Tây Hồ , thực sự không có gì đặc biệt nhưng gía bình dân, nơi đây có bán dầu cà cuống.
Nối dài Nguyễn Huy Tự là Phạm Đăng Hưng bây giờ là Mạc Thị Lựu, trên đường này có một chùa cổ, chùa Đakao hay là chùa Ngọc hoàng http://vnexplore.net/destination/253
Hình 20 Chùa Đakao -Ngọc Hoàng Xưa
Hình 21 Chùa Ngọc Hoàng 2011
Nguyễn Huy Tự quẹo trái sẽ vào đường Bùi Hữu Nghĩa qua cầu Sắt về Bà Chiểu. Quẹo phải sẽ gặp đường Nguyển văn Giai băng qua Đinh Tiên Hoàng, gần cuối Nguyển văn Giai là trường Huỳnh Khương Ninh cuối Nguyển Văn Giai là Phan Liêm, chạy dọc theo nghĩa địa Mạc Đỉnh Chi (bây gìờ là công viên Lê Văn Tám)
Đoạn Đinh Tiên Hoàng giới hạn bởi Phan Đình Phùng (Nguyễn Đình Chiểu) và Phan Thanh Giản (Điện Biên Phủ) có nhà ăn Pháp rất nổi tiếng như Chez Albert, La Cigale và hai quán café nổi tiếng Hân và Duyên Anh
Casino Đakao
Hình 22 Casino Dakao
Hình 23
Casino Sài Gòn không còn nữa : bây giờ chỉ là tiệm bán buôn
Chè Hiển Khánh
Trưoc 75, nêu ai có đến vùng này nhất là đám sinh viên, học sinh lớn ngày xưa chắc đã đến thăm thường thạch chè Hiển Khánh, tiệm này nằm sát Casino Đakao, chuyên bán thạch sợi nhỏ trắng với đá bào,chè đậu xanh nấu đặc, chè thạch đựng trong chén nhỏ, nên đôi khi phải gọi hai chén mới đã. Rồi thì bánh xu xuê, bánh gai, mùa nóng đi đâu về ghé đây là tuyệt. Chủ người Nam trung niên lịch sự với khách (đã lâu rồi không nhớ tên được.) Sau 75 có tiệm chè thạch Hiển Khánh (ở Sài Gòn và Little Saigon) ra mắt bà con -goị là thạch chè nhưng nơi đây bán đủ bánh chè và cũng không phải là của chủ xưa.
Qua khỏi Casino Đakao về phía đường Hiền Vương (bây giờ Võ thị Sáu) rồi quẹo phải vào Nguyển phi Khanh, nơi đây có một quán cơm tấm bì chả nổi tiếng sau có tiêm bán bún than Như Ý, đặc biệt có dầu cà cuống. Chỉ cần nhỏ môt hai giọt tinh dầu cũng đủ hương vị Mùi cà cuống khá mạnh nên không được thông dụng. Cà cuống là một trong những nhóm côn trùng có kích thước lớn nhất hiện nay, có cơ thể dẹt, hình lá, màu vàng xỉn hoặc nâu đất, dài trung bình từ 7-8 cm, có con lên đến 10-12 cm.
Khi còn non cà cuống giống như con gián, mình dài khoảng 7-8cm, rộng 3cm, màu nâu xám, có nhiều vạch đen, đầu nhỏ với hai mắt tròn và to, miệng là một ngòi nhọn hút thức ăn. Ngực dài bằng 1/3 thân, có 6 chân dài, khỏe. Bụng vàng nhạt có lông mịn, ở phía trên có một bộ cánh mỏng nửa mềm nửa cứng.
Cà cuống có một bộ máy tiêu hóa dài khoảng 45cm, gồm có một ống đầu trên nhỏ là cuống họng, đầu dưới phình to chứa một thứ nước có mùi hôi. Sát ngay bầu chứa nước nầy là hai ngòi nhọn mà con cà cuống có thể thò ra thụt vào được. Ở dưới ngực, ngay gần phía lưng, có hai ống nhỏ gọi là bọng cà cuống. Mỗi bọng dài khoảng 2-3cm, rộng 2-3cm, màu trắng, trong chứa một chất thơm, đó là tinh dầu cà cuống. Nhưng chỉ có con đực mới có tuyến này phát triển.
Tinh dầu cà cuống nhẹ hơn nước, cho thoảng ra một mùi đặc biệt gần giống như mùi quế.
(theo Wikipedia)
Hình 24 Nguồn : Wikipedia
Nếu ai muốn thử đến tiệm bánh cuốn Tây Hồ trên góc đường Đinh Tiên Hoàng-Huỳnh Khương Ninh. Bánh cuốn nơi đây được làm tại chỗ nên đông khách. Quán Tây Hồ có từ lâu, trước ở trong khuôn viên đền thờ cụ Tây Hồ Phan Chu Trinh, nên người Đa Kao gọi là Bánh cuốn Tây Hồ.
Cũng đặt tên như vậy, tiệm mì nổi tiếng Cây Nhản, lấy tên cây nhản được trồng trong sân rộng dùng làm tiệm mì đối diện với khu trường tiều học Đakao.
Phía đầu đuờng Hiền Vương trước khi đến nghĩa trang Mạc Đỉnh Chi (nay công viên Lê Văn Tám) Đakao có đền đức thánh Trần. Những dịp Tết hay giỗ ông người ta đổ xô vào lễ, gây trở ngại lưu thông trên đường huyết mạch dẫn vào Ngã Sáu-Công Trường Dân Chủ- Theo các nhà khảo cổ, Công Trường Dân Chủ là vùng Mả Ngụy- Mồ chôn tập thể của những người theo Lê Văn Khôi 1833-1835 (ref http://vi.wikipedia.org/wiki/M%E1%BA%A3_ng%E1%BB%A5y).
Hình 25 Đền đức thánh Trần
- Ông tên thật là Trần Quốc Tuấn là con trai của An Sinh vương Trần Liễu, cháu gọi vua Trần Thái Tông bằng chú, sinh năm 1231 tại Kiếp Bạc, xã Hưng Đạo, huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương, nguyên quán ở làng Tức Mặc, huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định.
Vốn có tài quân sự mà cũng không màng ngôi vua mặc dù được thôi thúc bời thân sinh Trần Liểu. Ông giúp các vua Trần ba lần đánh tan quân Nguyên – Mông tấn công Đại Việt, Đặc biệt những lần chống Nguyên – Mông lần thứ 2 và thứ 3, ông được vua Trần Nhân Tông phong làm Tiết chế các đạo quân thủy bộ. Dưới tài lãnh đạo của ông, quân dân Đại Việt chiến thắng ở Chương Dương, Hàm Tử, Vạn Kiếp, Bạch Đằng, đuổi quân Nguyên – Mông ra khỏi đất nước.
Sau khi kháng chiến chống Nguyên – Mông lần thứ 3 thành công. Đất nước thanh bình Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn lui về sống ở Vạn Kiếp. Ông đã dựa vào địa thế vùng Vạn Kiếp mà Kiếp Bạc là trung tâm để lập thành phố, bản doanh làm phòng tuyến chiến lược giữ mặt Đông Bắc của Đại Việt. Ông là một anh hùng đởm lược, được nhân dân trong vùng tôn vinh, qúy mến. Muà thu tháng 8, ngày 20 năm Canh tý, Hưng Long thứ 8, tức ngày 5-9-1300 ông mất. Theo lời dặn, thi hài ông được hoả táng thu vào bình đồng và chôn trong vườn An Lạc, giữa cánh rừng An Sinh miền Đông Bắc, không xây lăng mộ. Sau khi ông mất triều đình phong tặng là Thái sư Thượng Phụ quốc công Tiết chế Nhân Võ Hưng Đạo Vương. Nhân dân vô cùng thương tiếc người anh hùng dân tộc đã có công lao to lớn trong cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên Mông bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ và độc lập dân tộc nên lập đền thờ Ông trên nền Vương phủ gọi là đền Kiếp Bạc. Dân ta kính trọng vinh danh Ông là Đức thánh Hưng Đạo Đại Vương lập đền thờ Đức Thánh Trần ở nhiều nơi.
Từ đền đức thánh Trần, quẹo trái vào đường Phan Tôn bên hông nghĩa địa Mạc Đĩnh Chi.
Hình 26 Xe điện trên đường Phan Thanh Giản (giờ là Điện biên Phủ)
Hội Việt Mỹ-bây giờ dùng làm trụ sở Mặt trận Tổ quốc
Hình 27 Địa điểm Hội Việt Mỹ xưa, nay Mặt trận Tổ Quốc TPHCM
Trên đường Mạc Đĩnh Chi còn có Hội Việt Mỹ dạy tiếng Anh từ lớp 1 dén lớp 12 để lấy Certificate of Effiency in English. Trụ sở Hội Việt Mỹ bây giờ là Mặt Trận Tổ Quốc thành phố HCM.
Song song với đường Mạc Đĩnh Chi có đường Phùng Khắc Khoan có tư gia tòa Đại Sứ Mỹ. Đây là con đường đẹp với nhiều dinh thự, hai bên đường có hàng me to.
Khu Dakao, trên đường Nguyển Bỉnh Khiêm có Thảo Cầm Viên và hai trường trung học nối tiếng Võ Trường Toản (nam) và Trưng Vương (nữ).
Figure 28 Trường Trưng Vương
Hình 29 Trường Võ Trường Toản
Trên đường Đinh Công Tráng bây gìờ nổi tiếng môn bánh xèo, trước có trường tư thục Tân Thịnh (trước nữa là Les Lauriers) , tiệm chụp hình nổi tiếng Văn Minh và Duy Hy (không còn nữa)
Xe điện rời ga Đất Hộ (Đakao) chạy dọc theo đường Phan Đình Phùng (nay là Nguyễn Đình Chiểu) rồi quẹo vào đường Mạc Đĩnh Chi (rue de Bangkok) ra đường Thống Nhất (Norodom thời Pháp, nay Lê Duẩn) rồi dọc theo Cường Để , Bến Bạch Đằng (nay Tôn Đức Thắng) rồi quẹo vào Hàm Nghi (de la Somme về chợ Bến Thành.
Ngày xưa đường Phan Đình Phùng nằm cuối khu vực Nguyễn Bỉnh Khiêm (kho đạn cũ, sau lưng đài phát thanh Quân Đội ) và kéo dài ra đến đường Lý Thái Tổ (nay Nguyễn đình Chiểu) Sô 3 Phan Đình Phùng là đài phát thanh Sài Gòn
Đường Đinh Tiên Hoàng bắt đầu từ đường Hồng Thập Tự (bây gìờ là Nguyển thi Minh Khai + Sô Viết Nghệ Tỉnh) về phía Đakao có sân vận động Hoa Lư, về phía đường Thống Nhất (Lê Duẩn) có khu đại học trước là thành lính Pháp rôi thành của Lữ Đoàn Phòng Vệ Phủ Tổng Thống.
Hình 30 Lối vào thành lính Pháp 1873 xây trên thành cổ Gia Định (xây 1790) trên đường Cường Để-Đinh Tiên Hoàng
Đường thẳng vào cửa chính là Cường Để (thời Pháp Boulevard Luro, sau 75 là Tôn Đức Thắng, phía trước là đường Norodom -Thống Nhất- sau Lê Duẩn, kiến trúc bên trái sau 1963 xây dựng lại thành Đại Học Dược Khoa, bên trái là Văn khoa, phía sau hai kiến trúc này là Cao Đẳng Nông Lâm Súc có lúc đổi tên là Học Viện Quốc Gia Nông Nghiệp. Nơi đây người ta sẽ tìm thấy sinh họạt chính trị và văn nghệ sôi nổi cúa một thời sinh viên thập niên 60 và đầu thập niên 70, chúng ta sẻ thấy Khánh Ly , Hoàng Oanh, Thanh Lan, Trịnh Công Sơn và các tay lành đạo tổng hội Sinh Viên Saigon.
Hình 31 Đại Học Dược Khoa, Cao Đẳng Nông Lâm Súc
Xe điện chạy dọc theo Cường Đề qua xưởng Ba Son, xưởng đầu tiên ở Sài Gòn, do Nguyễn Ánh (vua Gia Long) lập ra đề đóng chiến thuyền. Xưởng Ba Son nằm trên ngã ba sông, nơi tiếp giáp giữa sông Sài Gòn và rạch Thị Nghè, có diện tích 26 hecta, có đường ven sông 2000m, trong đó có 6 cầu cảng tổng cộng 750m.Ngày xưa nơi đây vùng sình lầy nước đọng nên thường được dùng làm nơi đậu tàu và sửa chữa tàu. Sau khi chiếm được Sài Gòn – Gia Định, năm 1861 Pháp cho làm ụ tàu trên thủy xưởng đã có, tức là mảnh đất Ba Son bây giờ.
Ngày 28/4/1863, Pháp chính thức thông qua dự án xây dựng thủy xưởng Ba Son tại Sài Gòn trực thuộc Bộ Hải quân Pháp. Năm 1884, Pháp cho đào và xây ụ lớn bằng đá, chi phí gần 8 vạn quan. Nhiều công nhân người Việt, trong đó có thợ máy Tôn Đức Thắng đã làm việc ở đây. (http://thodia.vn/xuong-ba-son-ho-chi-minh.html)
Hình 32 Xưởng Ba son thời Pháp-sau là Hải Quân Công Xưởng thời VNCH
Xe điện sau khi rời đường Cường Để (Luro thời Pháp, nay Tôn Đức Thắng) đi dọc theo Bến Bạch Đằng, thời Pháp Le Myre de Vilers, nay Tôn Đức Tháng), Công trường Mê Linh, công trường này thời Pháp khoảng 1910 có tượng của Đô đốc Rigault de Genouilly và Doudard de L’Agree) Thời VNCH có tượng Hai bà Trưng. Đây là địa điểm hẹn hò, hóng gió mát từ sông Sài Gòn của giới trẻ.
Hình 33 Công Trường Mê Linh , thời Pháp Rigault de Genouilly
Hình 34 Công trường Mê Linh khoảng 1910 có tượng của Đô đốc Rigault de Genouilly
Hình 35 tượng Hai bà Trưng thời đệ nhất cộng hòa bị phá sập sau 11/1963
Nếu xuống xe điện trạm Mạc Đĩnh Chi bước ra đường Norodom phía rạch Thị Nghè -Thảo Cầm Viên thì gặp Bảo Tàng Viện thời Pháp Thuộc nằm trên đường Norodom gần phía đại học Dược khoa trước 75
Hình 36
Hình 37 Bào Tàng Viện thời Pháp thuộc nằm trên đường Norodom (nay Lê Duẫn)
Con đường lịch sử, tráng lệ và quan trọng nhất miến Nam: Thống Nhất, thời Pháp thuộc gọi là Norodom (nay Lê Duẫn)
Hình 38 Đường Norodom khoảng 1876
Ở hai đầu đường này là Dinh Toàn Quyền và Sở Thú-Thảo Cầm Viên
Hình 39 Dinh Toàn Quyền 1882-xây từ 1868 đến 1875 theo kiểu Baroque thời Napoleon I I I
Hình 40 Đường Norodom hậu cảnh là Dinh Toàn Quyền và tượng Gambetta -thống đốc Nam Kỳ 1906
Hình 41 Nơi có tượng Gambette bây giờ là Bồn Hoa sau lưng nhà thờ Đức Bà 2011
Hình 42 Dinh Toàn Quyền 1908
Hình 43 Dinh Toàn Quyền 1942
Hình 44 Dinh Toàn Quyền 1945
Hình 45 Dinh Toàn Quyền 1948
Hình 46 Dinh Độc Lập bị dội bom 1962- Bà Nhu (vợ Ngô Đình Nhu) đang quan sát thiệt hại sau cuộc dội bom của Phạm Phú Quốc và Nguyễn văn Cử
Hình 47 Kiến trúc sư Ngô Viết Thụ vả chính phủ VNCH xây cất lại 1971
Hình 48 Tấm biển này gắn trên tường của dinh Tổng Thống (nay HT Thống Nhất)
Công Viên Tao Đàn-Vườn Bồ Rô
Sau lưng dinh Đôc Lập nay là Hội trường Thống Nhất là công viên Tao Đàn, người xưa gọi là vườn ông Thượng (đức Thượng công Lê Văn Duyệt, có người cho là toàn quyền Maurice Long-không đúng) hay là vườn Bồ Rô. Ngày xưa cả dinh và vưỡn nằm trong khuôn viên dinh Toàn Quyền. Năm 1869 người Pháp cho xây con đường Miss Clavell (đường Huyền Trân Công Chúa) tách khu vườn khỏi Dinh. Ba mặt còn lại là rue Chasseloup-Laubat (trước 75 là Hồng Thập Tự) về phía bắc, rue Verdun (Trần Cao Vân) về phía tây, và rue Taberd ( Nguyển Du) về phía nam. Người Pháp gọi khu vườn là “Jardin de la Ville” hay Jardin Maurice Long (toàn quyền Pháp)
Trong khuôn viên vườn có khu Câu lạc bộ Thể thao (Cercle Sportif Saigonais) năm 1902 gồm sân đá banh (túc cầu hay bóng đá), hồ bơi, và sân quần vợt. Sân đá banh đó lúc bấy giờ là sân duy nhất đủ tiêu chuẩn đón những đội banh ngoại quốc đến, người viết đã có dịp xem trận đá đèn giữa đội AJS Saigon và đội banh người Áo (Austria) , lâu quá không còn nhớ đến kết quả nhưng kỹ niệm này vẩn hằng sâu trong tâm tưởng.
Tiện đây cũng nên biết trường trung học đầu tiên được Pháp xây dựng gọi là Chasseloup-Laubat nằm trên đường Chasseloup Laubat (trước 75 Hồng Thập Tự, sau 75 Nguyễn thị Minh Khai) sau đổi thành Jean Jacques Rousseau rồi Lê Quý Đôn tới ngày nay.
Hình 49 Trường Chasseloup-Laubat thời Pháp
Hình 50 Trường Lê Quý Đôn năm 2009
Tưởng cũng nên nhắc lại trên đường Phan Đình Phùng (nay Điện Biên Phủ) có trường nữ trung học đầu tiên ở Saigon-trường Gia Long được xây cất 1913 , xưa gọi là trường Áo tím, vì nữ sinh mặc áo dài màu tím đi học. Trường thay đổi nhiều tên chính thức nhưng người Nam luôn gọi là trường Gia Long
Hình 51 Trường Gia Long đầu thập niên 1920
Hình 52 Trường Nguyển thi minh Khai 2011
Đi về phía Đông Nam (phía đường Lê Lợi) là 2 hai tòa nhà lịch sử quan trọng. Pháp Đình Sài Gòn- còn gọi là tòa Thượng thẩm Sài Gòn nằm trên đường Công Lý (nay Nam Kỳ Khởi Nghĩa)
Hình 53 Pháp Đình Saigòn trên đường Công Lý (nay Nam Kỳ Khởi Nghĩa)
Góc đường Công Lý và Gia Long có dinh Gia Long , nơi đây là chỗ ở dành cho thượng khách viếng thăm VNCH, trước đó là dinh thự của Thủ hiến Cochinchina
Hình 54 dinh Gia Long thời Pháp
Hình 55 Trước 75, dinh Gia Long được dùng làm trụ sở Tối Cao Pháp Viện
Thảo Cầm Viên-Sở Thú
Sở Thú nằm trên đường Nguyên Bỉnh Khiêm, cuối đường Thống Nhất (Lê Duẫn) về phía Đông, đối diện với Dinh Toàn Quyến.
Hình 56 Bên trong khuôn viên của Thảo Cầm Viên có Viện Bảo Tàng Quốc Gia và đền thờ Hùng Vương
Hình 57 Thảo Cầm Viên cạnh rạch Thị Nghè (Arroyo de l’Avalance)
Hình 58 Chuồng Gấu- Sở Thú thời Pháp thuộc 1912
Hình 60 Đèn Thờ Vua Hùng Vương trong Thảo Cầm Viên thập niên 60
Hình 61 Bảo tàng Viện trong Thảo Cầm Viên thập niên 60
Trên đường -Thống Nhất- Lê Duẫn về phía dinh Độc Lập (nay Hội trường Thống Nhất) có nhà thờ Đức Bà được bắt đầu xây dựng năm 1877 và được khánh thành 1880, nhưng mãi đến năm 1895 mới xây thêm hai tháp chuông.
Phía trước nhà thờ Đức Bà người Pháp cho xây tượng đồng Giám Mục Pigneau de Béhaine (Adran) và hoàng tử Cảnh .
Hình 62 Nhà thờ đức Bà
Hình 63 Quang cảnh Nhà thờ đức Bà
Nhà Thờ Đức Bà thập niên 1940- Garage Jean Comte nằm trên đường Norodom sau đổi thành Saigon Xe hơi công ty. Ngày nay là tòa nhà thương mãi Diamond Plaza
Hình 64 Saigòn xe hơi công ty trước 75.
Bên hông nhà thờ là Bưu Điện Sài Gòn thời Pháp.
Hình 65 Phía trước nhà thờ Đức Bà có tượng Bá Đa Lộc (giám mục D’ Adran) và Hoàng tử Cảnh hướng về đường Tự Do (nay Đồng Khởi) được đặt tại đây 1902, bên tay phải giơ bản hiệp ước Versailles 1787, bảo đảm viện trợ của nước Pháp cho vua Gia Long.
(http://www.diendan.org/phe-binh-nghien-cuu/ba-111a-loc/).
Phía sau nhà thờ Đức bà có bùng binh và tượng Gambetta
Hình 66 Bùng binh và tượng Gambetta trên đường Norodom
Tượng Gambetta trên đường Norodom , mặt quay về phía sau lưng của nhà thờ Đức bà , phía sau lưng của Gambetta là đường Duy Tân (nay Phạm Ngọc Thạch). Con đường “trả lại em yêu” Duy Tân cây dài bóng mát của một thời sinh viên thơ mộng, mơ mộng. Nơi đây có hồ Con Rùa, có Viện Đại Học Saìgon, đại học Luật khoa nơi Tô Lai Chánh đã từng làm chủ tịch sinh viên Liên khoa trong biến cố đau buồn của lịch sử Việt Nam 1963
Hình 67 Hồ Con Rùa thời Pháp thuộc đầu thế kỷ 20
Hình 68 Hồ Con Rùa 1968
Hình 69 Hồ con Rùa 2010
Sau khi ghé thăm con đường lịch sử Norodom-Thống Nhất , chúng ta trở lại trạm xe điện trên đường Mạc Đĩnh Chi để ra chợ Bến Thành.
Xe điện chạy dọc theo Cường Để, dọc theo bến Bạch Đằng (nay Tôn Đức Thắng) quẹo phải vào đường Hàm Nghi (De La Somme), chạy ngang trước chợ Bến Thành rồi về ga Saìgòn
Hình 70 Ga Sài Gòn 1881
Hình 71 Đường xe lửa trước chợ Charner tiền thân của chợ Bến Thành (thập niên 1880) nằm trên đường Nguyễn Huệ (Charner)
Hình 72 Bên trong ga Sài Gòn khoảng thập niên 1910
Hình 73 Đường rầy xe điện trước chợ Bến Thành và sở Hỏa Xa Đông Dương
Hình 74 Xe lửa chạy trên đường Hàm Nghi (de La Somme) vào trước chợ Bến Thành rồi quẹo trái vào ga Sài Gòn, bây giờ là khu công viên 23/9
Hình 75 Đường xe điện trước chợ Bến Thành
Hình 76 Dấu tích đường xe điện trên đường Trần Hưng Đạo thời đệ nhất Cộng Hoà trước 1963 (nhìn về phía chợ Bến Thành )
Hình 77 Từ ga Sài Gòn cũng có tuyến đường chạy đến chợ Phú Nhuận, Chợ Tân Định. Đường rầy xe điện trong ảnh đi cạnh tòa nhà Quốc Hội trước 75, chạy từ đường Nguyển Huệ (Charner) Lê Lợi (Bonnard )

Hình 78 Xe điện quẹo mặt vào đường Nguyển Huệ từ Bến Bạch Đằng (Tôn Đức Thắng)
Từ ga Saigon còn gọi là ga xe lưả Mỹ ) đi Mỷ Tho) có tuyến đường đi Chợ Lớn –Bình Tây, đi Mỹ Tho
Hình 79 Từ ga Chợ Lớn đi về ga Sài Gòn
Hình 80 Đường rầy xe lửa-lớn nhỏ trên đường Hàm Nghi
Hình 81 Một góc cạnh khác của tuyến đường Hàm Nghi, là tramway (xe điện nhỏ) chạy quanh từ chợ Sài Gòn dọc Hàm Nghi xuống bến Bạch Đằng qua công trường Mê Linh sau tòa Nhà Quốc Hội (nhà Hát Thành Phố bây giờ) dọc theo đường Lê Lợi (Bonnard).
Hình 82 Đường rầy ở công trường Mê linh
Hình 83 Chạy ngang nhà hát thành phố
Hình 84 Xe điện chạy từ đường Lê Lợi (Bonard) ra chợ Bến Thành khoảng 1901
Xuống ga Saigon đi về đường Lê Lợi, con đường tình sử, con đường xưa em (anh) đi, con đường của những buớc chân chiều chủ nhật và thành ngữ bát phố. Chiếu cuối tuần nào cũng thế là chiều của riêng mình, của học sinh sinh viên, của em hậu phương anh tiền tuyền , của những tà áo như cánh bướm muôn màu, của những bộ đồng phục chải chuốt, của mọi người không phân biệt giai cấp của quán kem Mai Hưong, Bạch Đằng, Pole Nord , của nước mía Viển Đông hay chỉ một vòng ngắm cảnh.
Trưóc 75, cơ sở nghỉ từ trưa thứ bảy, chiều nào thiên hạ cũng đổ xô ra đường, mỗi người tìm vui trong cái ồn ào náo nhiệt cho riêng mình Thú vui tùy túi tiền, ngay cả hoà mình vào dòng người bát phố chỉ cần một cây kem hay môt ly nước mia, kẻ vào nhà hàng Thanh Thế , Kim Sơn , Thanh Bạch , kẻ giàu sang có máu mặt vào Continental, Caravelle, kẻ ngắm nhìn mẫu hàng mới trong Passage Eden để ước mơ, để ước gì mua được tặng nàng.
Hình 85 thời Pháp Thuộc, địa điểm nhà hàng Caravelle là khách sạn Terrasse
Hình 86 Nhà Hàng Continental thời Pháp Thuộc 1931
Cũng có những người tìm vui trong sách vở với nhà sách Khai Trí, Vỉnh Bảo trên đường Lê Lợi , hay nhà sách Xuân Thu đường Tự Do. Nhà sách này chuyên bán những loại sách đặc biệt, sách ngọại quốc , nhà sách có gắn máy lạnh, giá cao, khách lai vãng thường là người ngoại quốc hoặc dân sang, thời Pháp thuộc nơi đây là tiệm thuốc Tây Pharmacie Normale. Sinh viên học sinh có chút vốn Anh ngữ thì vào thư viện Abraham Lincoln ở góc đường Nguyễn Huệ và Lê Lợi vừa thoải mái đọc sách vì thư viện có gắn máy lạnh. Vào thời Pháp chổ này là hãng vừa bán và sửa xe hiệu Citroen Bannier (1930)
Hình 87 Tiệm thuốc Tây Pharmacie Normale (nay nhà sách Xuân Thu đường Tự Do)
Hình 88 Thư viện Abraham Lincoln góc Nguyển Huệ-Lê Lợi, trước đó nhà bán và xửa xe Citroen Bannier
Hình 89 Công Ty Bannier trưng bày xe, gần sát bên là rạp Rex truớc 75, bây giờ là khu khách sạn Rex
Cùng phía băng qua đường thì có thương xá GMC sau là thương xá TAX
Hình 90 Thương Xá TAX thời Pháp trước 1948
Hình 91 Thương xá TAX khoảng 1966 với tiệm kem có máy lạnh Pole Nord
Đầu đường Nguyễn Huệ (Charner) có dinh Xã Tây-sau 1954 gọi là Tòa Đô Chánh
Hình 92 Dinh Xã Tây khoảng đầu thế kỷ 20.
Hình 93 Dinh Xã Tây 1908
Hình 94 Toà Đô Chánh 1955
Toà Đô Chánh 1955 và ông Trần Văn Hương là vị Đô Trưởng đầu tiên . Cũng nên nhắc lại cụ Trần văn Hương là chính trị gia sanh ở Vỉnh Long nổi tiếng thanh liêm và trong sạch, Trần Văn Hương (1902-1982) là cựu thủ tướng hai lần (1964–1965 và 1968–1969), sau đó phó Tổng Thống (thời Tổng Thống Nguyễn văn Thiệu (1971-1975, và rồi Tổng Thống 7 ngày 21/4/75 đến 28/4/75. Sau 30/4/75 ông nhất định ở lại Sài Gòn, không chịu xuất ngoại tỵ nạn chính trị và chết ở Sài Gòn năm 1982.
Hình 95 Tòa Đô Chánh (nay Uỷ Ban Nhân Dân TPHCM) 2011
Từ tòa Đô Chánh nhìn ra bồn nước, bên trái có rạp chiếu bóng Eden, bên phải có rạp Rex
Giới sành điệu , ký giả, người lịch lãm thì vào Givral ở góc đường Lê Lơi Tự Do hoặc Brodard trên đường Tự Do (Đồng Khởi) hay La Pagode góc đường Tự Do Lê Thánh Tôn
Hình 96 Brodard thập niên 60
Hình 97 Nay là cà phê Gloria Jeans 2011
Quán Brodard trước ở Góc đường Tự Do (nay Đồng Khởi) và Nguyễn Văn Thinh (nay Mạc Thị Bưởi), sau này dời vào Mạc thị Bưởi không còn giữ được danh tiếng ngày xưa (bánh không ngon như xưa. Địa điểm ở góc đường bây gìờ là Gloria Jeans )
Hình 98 Pharmacie principale Solirene, nay là Givral 2009
Địa điểm Pharmacie principale Solirene là tiêm thuóc Tây đầu tiên ở Saigon, về sau là nhà hàng Givral, cùng với nhà hàng khách sạn Continental , hai địa điểm nằm ở góc đường Tự Do và Lê Lợi, nổi tiếng trên thế gìới vì đây là nbửng nơi lai vãng của bao nhiêu danh nhân, ký giả, những nguời lịch lãm khắp nơi ghé bến Saigon, thời ấy được mệnh danh là Hòn Ngọc Viển Đông.
Hình 99 Givral khoảng 2000, nay 2011 đả bị phá hủy để làm trung tâm thương mại
Góc Tự Do –Lam Sơn (Place Garnier) có khách sạn nổi tiếng Caravelle khánh thành 12/1959, thời Pháp gọi là Terrasse hotel, thập niên 1960 thời VNCH nơi đây là tòa Đại sứ Úc, Tân Tây Lan và trụ sở của NBC, ABC và CBS các hãng truyền hình Mỹ.
Hình 100 Terrasse hotel thời Pháp nay Caravelle
Hình 101 Khách sạn Caravelle khánh thành 12/1959
Hình 102 Nhà hàng La Pagode góc đường Tự Do Lê Thánh Tôn
Trước mặt Givral là tòa nhà hát thành phố thời Pháp xây năm 1900 được VNCH dùng làm Quốc Hội Hạ Viện nơi đã chứng kiến bao cảnh thăng trấm của một chế độ dân chủ phôi thai
Hình 103 Hạ Viện thời VNCH, thời Pháp Opera de ville
Phía trưóc Hạ Viện (nhà hát thành phố) có một vườn hoa (thời Pháp gọi là Place Francis Garnier- trước 75 công trường Lam Sơn thời VNCH có bức tượng đài tưởng niệm Thủy Quân Lục Chiến, nhưng bị phá hủy sau 30/4/75
Hình 104 đài tưởng niệm Thủy Quân Lục Chiến
Đi qua khỏi vườn hoa, trở lại đường Nguyển Huệ, ngày xưa đường này là kinh đào có tên là Kinh Lớn chạy từ sông Sài Gòn đến phía trước cùa dinh Xã Tây
Hình 105 Kinh đào nằm trước Chợ Charner, gọi là Kinh Lớn vận chuyển cung cấp thực phẩm hàng hóa cho Saigon được xây năm 1860
Hình 106 Kinh Lớn phía trước chợ Charner, chạy dài đến trước dinh xã Tây góc trên trái
Hình 107 Năm 1887 Kinh Lớn bị lấp đi thành đường Kinh Lấp, sau đó đỗi tên thành đường Charner
Hình 108 Chợ Charner vào thập niên 1890.
Chợ Charner vào thập niên 1890 có đường xe lửa chạy bằng hơi nước đi qua, địa điểm nằm giữa đường Ngô Đức Kế và Hải Triều (ngày xưa người Quảng Đông buôn bán tập trung ở đây đông)
Hình 109 Quang cảnh chợ Mới-chợ Sài Gòn Bến Thành
Thay thế chợ Charner, người Pháp cho xây dựng chợ Bến Thành từ năm 1912-1914 ở địa điểm ngày nay, xưa là một vùng ao sình lầy được lấp, ảnh trên chụp khoảng thập niên 1920. Phía trước là quảng trường Cuniac (tên người Pháp lo chuyện lấp ao lập chợ) người Saigon thường gọi chợ này là chợ Sài Gòn và bùng binh Saigon mặc dù cũng gọi chợ Bến Thành nhưng không gọi bùng binh Bến Thành bao giờ.
Hình 110 Chợ Bến Thành 1922
Hình 111 Việt Minh đốt cháy Chợ Bến Thành tháng 3 năm 1950
Hình 112 Chợ Saigon-Bến Thành ngày nay.
Chuyến xe điện chuyên chở ký ức cùa một thời tràn đầy kỷ niệm, tôi không biết Saigon của bạn của những người đền Sài Gòn dung thân. Sài Gòn đến với tôi như người mẹ rộng lượng dù có biết bao người con đã làm mẹ phiền lòng. Sài Gòn trong trí nhớ với những con đường với hai hàng sao, với những bông sao quay tròn như bông vụ những khi trời trở gió, của những mùa hè có tiếng ve kêu trên hàng cây điệp, phượng vĩ nở đỏ.
Sài Gòn mưa nắng hai mùa, mưa như có hẹn đến những buối chiều rồi lại đi, rửa sạch thành phố cho gió mát thổi về đón mừng Saigon nhộn nhịp về đêm. Thỉnh thoảng có chút lạnh, sưong sáng những ngày về cuối năm với những đống ung buông khói nhẹ lên mây theo cánh én. Sài Gòn của tôi có đàn én sếp thành hàng bay lúc màn đêm lón lén về thành phố, những chim sẻ ngụp lặn trong vũng nước mưa. Sài Gòn của những bước chân chiều thứ bảy, chủ nhật bát phố ăn kem Lê Lợi, nước mía Viển Đông của những hàng quán la liệt trên vỉa hè, trên đường Lê Lợi, Nguyễn Huệ, Tự Do, Lê Thánh Tôn. Sài Gòn của những khu nhộn nhịp sinh hoạt sinh viên như khu Duy Tân, khu đại học Cường Để, của những đêm đặc biệt như đêm Kiến trúc với những ước mơ không bao gìờ thành tựu.
Sài Gòn với những địa danh mộc mạc nhửng xóm bình dân xen lẫn khu của những tòa nhà tráng lệ của giai cấp giàu sang ít người gốc Việt, người Việt phần đông sống vùng ven như Phú Nhuận, Gia Định, Gò Vấp vào Sài Gòn làm việc.
Xóm tôi mùa hè có đom đóm bay, có những em bé bắt bỏ vào chai cho chiếu sáng, có nhửng xe mì dạo gõ lóc cóc khi chiều đến, có xe đá bào nhận, có chú ba Tàu “đổ” xí ngầu bò viên, có bánh ướt tôm khô, bò bía, có những người đầu đội bán rao bánh cam bánh vòng, chị bán chè rao trong đêm “ai ăn chè đậu xanh nước dừa đường cát hôn” hay “ai ăn tàu hủ hôn”…. Sài Gòn sáng sớm với tiếng hát Hoàng Oanh, ban đêm thi văn Tao Đàn của Thi sĩ Đinh Hùng với giọng ngâm Hồ Điêp, Quách Đàm, Hoàng Oanh. Đêm Sài Gòn có vũ trường, có đại nhạc hội, có những đoàn cải lương, có những con đường ăn uống .
Rôi chiến tranh mang đến cho bao nhiêu đau thương, xụp đổ của chia ly của những mảnh tình vừa chớm nỡ đả chết đi.
Rồi cuộc đổi đời có trăm người vui có vạn người buồn. Sài Gòn không còn gìới nghiêm, đông đảo nhộn nhịp, không ánh hỏa châu như xưa nhưng sao cảm thấy xa xôi. Sài Gòn của Nguyên vẩn còn chút gì để nhớ nhưng nhiều chuyện để quên, tìm đâu đôi chút an lành trong công viên, trong vận động trường, trong khuôn viên đại học trong nụ cười ánh mắt của một tà áo bay theo gió heo may. Tất cả hối hả đi tìm …sống.
Những chuyến xe điện đã ngừng hoạt động khoảng đầu năm 1957, nhưng hình ảnh của những đường rầy, những con đường xưa vần còn trong tâm khảm. Dầu gì thì Nguyên vẩn được cơ hội đi về Sài Gòn xưa trong tuyến xe ký ức. Hồi ký này hy vọng sẽ là bản đồ nhỏ cho Nguyên và bạn, những ai đi tìm lại Sài Gòn, một thời được mệnh danh là Hòn Ngọc Viển Đông.
Mai Trần Thàng Tám 2011
Xóm Gà-Hoài niệm thương yêu
Posted: 18/07/2011 Filed under: Hồi Ký, Viet Nam | Tags: Chùa Già Lam, Dược Sư, Xóm Gà 5 CommentsXóm Gà – Hoài niệm thương yêu.
Y Nguyên-Mai Trần
Vùng Sài Gòn -Gia Định có nhiều địa danh rất đơn giản, biều lộ tính mộc mạc, tả chân, có gì thì nói đó của dân Nam, rải rác khắp nơi như Xóm Củi, Xóm Chiếu, Xóm Lò Gốm, Xóm Thơm, Xóm Lò Vôi, nhưng hiếm có một xóm có tên của động vật Xóm …Gà.
Tôi cũng không thấy mấy ai viết về những cái xóm này. Tôi không biết ông Cố tôi đến định cư ở đây lúc nào, chỉ biết họ gọi nhà ông tôi là nhà ông Phó, nhà cất theo kiểu Pháp ông mất đi năm 1962 tròn 92 tu
ổi. Tôi sinh ra và lớn lên ở Xóm Gà cho đến khi rời Việt Nam, nên kỷ niệm của tôi về Sài Gòn và Xóm Gà rất thâm sâu, không bao giờ phai nhạt.
Xóm Gà có một diện tích rất nhỏ (khoảng 3-4 cây số vuông), băt đầu từ ngả tư Xóm Gà (ngả tư Lê Quang Định và Nguyển văn Đậu, tên xưa ngả tư đường làng 15 và 20) giáp giới với Đông Nhì (Bắc) Cây Thị (Đông) Cây Quéo (Tây) Bình Hòa (Nam)
Xóm Gà, ngày xưa thuộc Bình Hòa Xả, quận Gò Vấp, tỉnh Gia Định, là xả tiếp cận với quận 1 Sài Gòn chỉ cách nhau qua cầu Bông (trên đường Lê Văn Duyệt bây giờ là Đinh Tiên Hoàng) và cầu Sắt trên đường Bùi Hữu Nghĩa (xưa chỉ dành cho tuyến xe lửa ). Ngày nay thuộc quận Bình Thạnh. phường 11. Ngày xưa có ba ga xe lửa nằm trên đường Lê Quang Định (Bình Hòa, Xóm Gà và Đông Nhì) trên tuyến đường Gò Vấp ra đến Sài Gòn. Tôi nhớ mang mán thấy đường rầy xe lửa và ga nữa. Đối diện vớí ga Xóm Gà là thành cai tổng Huy hay Qui gì đó kiến trúc đồ sộ, kiểu Pháp xưa (có lẽ trước đó là nhà của cai Tổng, sau bị trưng dụng ?) . Hồi còn nhỏ, trước 1954 tôi thấy người ta bị bắt dẫn vào thành này thẩm vấn, có lúc bị bao đầu chỉ chừa mắt để chỉ điểm (thời Tây mà !). Sau thành này là đổi thành trường trung học Tân Phương, cạnh bồn nước (giờ vẫn còn) . Sở dỉ có tên Xóm Gà là vì nơi đây là trường đá gà, chớ không phải nuôi gà nhiều (tôi không thấy ai nuôi gà nhiều ở đây, ông cố kể lại trước đây, đức tả quân Lê văn Duyệt Tổng Trấn Gia Định thành rất thich đá gà, và ở vùng Saigon- Gia định có nhiều trường gà , trường gà lớn ở Quân 1 Sài Gòn, nghe nói gần dinh Độc Lập , bây giờ là Hội trường Thống Nhất ) và nhiều trường gà nhỏ, một ở Xóm Gà ! Đức tả quân thường đến trường gà lớn để chơi đá gà. Mộ đức tả quân và phu nhân hiện nằm trong khu Lăng Ông ở Bà Chiểu (gọi tắt là Lăng Ông Bà Chiểu)
Đường Nguyễn Văn Đậu (trước đây là Ngô Tùng Châu, trước đó đường làng 20 không đèn, những ngày đầu được điện hóa, bà con đi dạo chơi như đi mở hội dưới ánh đèn vàng, không may tôi lại bị xe đạp tung vào, phải vào nằm nhà thương Chợ Rẩy mất một tuần). Đưòng này ngày xưa có một khu vườn rất lớn, gọi là vườn ông Thinh (của gia đình thủ tướng Nguyễn Văn Thinh thời Nam Kỳ tự trị ?) , đoạn đường gần ngả tư Xóm Gà cũng nên thơ lắm có hai hàng cây sao ở hai bên đường, hoa sao có hai cánh nâu lúc rơi quay như bông vụ đặc biệt khi có gió thổi nhiều, học trò đi học về, nhặt hoa thẩy tung lên biến thành cả đàn chim cánh nâu tung bay quây tròn đẹp mắt. Tuổi thơ ngây thơ và đẹp quá phải không!. Trên đường Ngô Tùng Châu củng có một đặc điểm thời đó là nhà hàng cây vườn bán thịt dơi, gọi là Quán dơi, theo tôi đuợc biết đây là quán dơi đầu tiên ở Sài Gòn-Gia Định, chuyên bán nhiều món thịt dơi, hình như sau đó một thời gian thì đóng (không nhớ khi nào).
Ngay ngả tư Xóm Gà trước 75 có “bót” cảnh sát Nguyễn Văn Gặp và một tiệm mì-hủ tiếu-xíu mại-dầu chao quẩy-bánh bao, điển hình cho những tiệm ăn Tàu ở các ngả tư, ngả năm đông người qua lại thời đó. Thường má tôi sai tôi mang “gà mên” đi mua đem về ăn.
Đường Lê Quang Định Xóm Gà đi về hướng về ngả tư Bình hoà, có nhà ông Thầy nước lạnh, ngày xưa , người ta đồn rằng nước lạnh được ông làm “phép” trị bá bịnh. Dân chúng có một thời đổ xô tới đây tràn cả ra đường, nhiều khi đến hổn loạn, ngày nào cảnh sát cũng phải đến giữ trật tự. Khu đất nhà ông thầy bây giờ là cao ốc cách ngả tư Xóm Gà khoảng hơn 100m, còn mộ của ông nằm trong Hưng Gia Tự ? phía bên kia đường cách đó khoảng 100m.
Lúc nhỏ tôi chẳng hiểu tại sao và ba tôi không bao giờ tin điều ấy, ông Thầy nước lạnh làm chung sở với ba tôi, là một viên lục sự tại tòa án Sài Gòn nằm trên đường Công Lý (bây giờ là Nam kỳ khởi nghĩa) .
Ngả tư Bình Hòa trước có quán cơm tấm rất nổi tiếng, giá bình dân, ngon nhất là cơm bì xườn, hoặc cơm với lòng heo phá lấu. Quán của bà chỉ bán từ 5 gìờ sáng đến 11-12 giờ trưa là xong. Mì Minh Sanh nổi tiếng vùng này giống như mì Cây Nhản ở Đakao, nhưng cách nấu khác với mì Cây Nhãn-trong nước lèo không có thịt heo bầm nhỏ, thường tôi và các bạn sau một chầu dạo đêm Honda vòng quanh Sài gòn ghé đây ăn mì và Xâm bảo lượng rồi chia tay về trước giới nghiêm 12 giờ đêm. Một điểm đáng chú ý có lẻ nơi đây là nơi xuất phát món bánh mì thịt có bơ đánh hột gà và paté. Xe bán bánh mì này dĩ nhiên rất thành công, mỗi lần ba tôi “thăm” ông hớt tóc – cũng mua bánh mì về cho các con vì tiệm này sát xe bán mì-. Tất cả, bây giờ chỉ còn là kỷ niệm đẹp của một thời, ngọai trừ cây xăng Bình Hòa vẫn còn đó như còn thương chốn cũ.
Cây xăng ngả tư Bình Hòa 12-1989
Đường Lê Quang Định Xóm Gà, đi về hướng Gò Vấp, bên phải có chùa Dược Sư, Tịnh Thất Liên Hoa, hẻm vào chùa Linh Ứng-bây giờ có thêm Châu An tự, tịnh xá Ngọc Phương và chùa Già lam, hai chùa Dược Sư và Già Lam là hai chùa nổi tiếng ở miền Nam, nhất là trong khoảng thời gian 1960-1974. Chùa Già Lam được xem là nơi lai vảng của các Hoà Thượng, Thượng Tọa thuộc khối Ấn Quang. Chùa Dược Sư chỉ dành cho sư nữ. Đối diện với chùa là viện nuôi trẻ mồ côi, bây giờ không còn nữa
Già Lam
Châu An
Dưọc Sư
Tịnh xá Ngọc Phương
Chùa Già Lam cũng là nơi yên nghỉ của một số nhân vật nổi tiếng miền Nam như Nhạc Sĩ Y Vân, người đã làm bao nhiêu người nhỏ lệ với bản nhạc bất hủ Lòng Mẹ . Cặp nghệ sĩ tiền phong khét tiếng Năm Châu và Kim Cúc hoạt động trong nhiều lảnh vực nghệ thuật : Cải lương-kịch-điện ảnh
Một vị tướng VNCH anh hùng-“chết theo thành”-tuẫn tiết ngày 1 tháng 5, 1975, thiếu tướng Nguyễn Khoa Nam 
Được biết Thich Trí Quang trước 75 , linh hồn của khối PG Ấn quang, người đã gián tiếp đưa đến sự sụp đổ VNCH, trên 90 tuổi, đang tu thiền, tu thư kinh Phật ở chùa Già Lam.
Tiếp đó là rap Đông Nhì đối diện với trại cưa (nay không còn nửa), vượt qua cầu Hang đến chợ Gò Vấp,
bên hông phải chợ là đường Gia Long (bây giờ là Nguyễn văn Nghi) có rạp hát Lạc Xuân (không thấy được trong ảnh, nay là nhà sách Lạc Xuân). Đường Lê Quang Định khúc Xóm Gà bây giờ nổi tiếng gà quay về chiều tối với những hàng bán trái cây đủ loại. Ngoài những chùa kể trên, trong xóm còn có chùa Vạn Đức (không còn nửa) , chùa Pháp Vân cách hảng nước đá lâu đời trên đường Nguyễn Văn Đậu, mà người lái Taxi trọng tuổi đều biết.
Xóm Gà còn là nơi cư ngụ , lai vảng của những văn, thi sĩ , nhà báo tên tuổi ngày xưa như Tản Đà, Phan Khôi, Ngô Tất Tố, Tế Xuyên, Trần Tấn Qưốc ( người đã sáng lập giải Thanh Tâm cho lảnh vực cổ nhạc Cải lưong (một trong những nghệ sĩ đoạt giải thưởng này là cô Thanh Nga) . Trước 75, Trang Thanh Lan và một sô ca sĩ thuộc lò Tùng Lâm ở đây và một số ca kich sĩ thường hay lai vảng như Hùng Cương, Thanh Hùng…Về sau Tùng Lâm cũng nhận Xóm Gà “làm quê hương”. Cách nhà tôi không xa có một gia đình vớí tên tuổi mà hầu như ai cũng biết đến -Tô Văn Lai và Thúy Nga Paris và gia đình cha mẹ cô Thúy (tên Thúy Nga là tên ghép của cô Thúy và người bạn thân tên Nga) ở cư xá Thanh Bình 2 đường Ngô Tùng Châu (nay Nguyễn văn Đậu)
Theo Wikipedia “Trong những ngày tháng “rong chơi” Sài Gòn, Xóm Gà cũng là nơi Trung niên thi sĩ (Bùi Giáng) đã dạo qua:
- Ngoại ô
- Sài Gòn bất tận ngoại ô
- Xóm Gà Bình Thạnh xóm mô Chuồng Bò
- Ghé thăm Chuồng Ngựa quanh co
- Chạy về thẳng tắp viếng chùa Già Lam.
Năm 2001, địa danh Xóm Gà được nhắc tới lần nữa trong tập truyện Sài Gòn vang bóng của Phan Thứ Lang. Đó là bài “Xóm Gà – vùng đất của mấy tay anh chị thời xưa” và bài “Thi sĩ Tản Đà đóng Cinéma ở Xóm Gà”.
Gần đây hơn, năm 2006, sân khấu kịch Sài Gòn cũng đã ra mắt khán giả kịch bản Xóm Gà của Vương Huyền Cơ. Vở bi hài kịch này do Trần Ngọc Giàu làm đạo diễn.”
Xóm Gà trong trí nhớ của tôi không phải là khung trời văn nghệ, Xóm Gà với cái tên bình dân, khiêm nhường, bé nhỏ nhưng tràn đầy kỷ niệm thương yêu, những đêm hè có đom đóm bay trên hàng rào bao phủ mồng tơì, tiếng ve sầu vang trên xóm vắng, tiếng gà gáy bên nhà hàng xóm hay chiều về én liện trên không, đêm trăng sáng với tiếng rao bán mời mọc của các người bán hàng rong, chè, bắp, chuối nướng, tiếng cóc cóc của hai thanh gổ nhỏ đánh vào nhau của xe mì dạo. Từ 1975 trở về trước nữa đầu thế kỷ, người xưa trong xóm mà Vương Hồng Sển gọi là người Sài Gòn xưa, ở những vùng như Xóm Gà là nguồn cung cấp sức lao động cho Sài Gòn, ra đi khắp bốn phưong trời rồi kẻ đến muôn phương,nhà cất lên san sát, không trật tự, đổi đời, nhưng dù sao những ngôi chùa vẫn còn đó để chửng kiến bao nhiêu chuyện đổi thay, nơi dừng lại cho bao nhiêu tâm hồn rạn nứt, “tâm tình biết tỏ cùng ai” đi tìm chút thanh thản và thầm ước an lành trong cuộc sống.
Xuân nhớ nội
Posted: 15/07/2011 Filed under: Thơ, Viet Nam | Tags: Xuân Nhớ Nội Leave a commentXuân nhớ Nội
Nhớ thưở xưa nào còn bé bỏng,
Hè về quê Nội ở Cần Thơ,
Nội ra đón cháu trên ghe nhỏ ,
Bến vắng đò thưa sớm tinh mơ,
Mái chèo nhẹ lướt trên sông vắng ,
Đom đóm lung linh cả đôi bờ,
Mười mấy Xuân rồi không gặp Nội ,
Dù chốc lát thôi trong giấc mơ,
Chi còn di ảnh buồn trên kệ,
Hương lạnh nhang tàn sao thờ ơ.
B.M.T
Hà Nội Ngày tháng củ
Posted: 12/07/2011 Filed under: Thơ, Viet Nam | Tags: Hà nội Leave a commentHà Nội ngày tháng cũ
Xuân này lại xa cách cố hương
Hoa đào có rực rỡ phố phường ?
Hồ Gươm phẳng lặng rùa im bóng
Trúc Bạch, mưa phùn gợi nhớ thương
Rời Thuyền Quang anh đưa em về Yên Phụ.
Tóc mây bay mùi hoa sữa anh yêu
Đường em đi, anh vẫn nhớ nắng chiều
Hẹn Xuân sau, mình thương nhiều em nhé
Y Nguyên



















































































































































































































































































































































































