Xe xưa trên lối cũ -Xe cổ điển Pháp ở Miền Nam trước 1975.

XE XƯA TRÊN Lối CŨ 

Phần 1 : Xe cổ điển Pháp ở Miền Nam trước  1975.

Y Nguyên Mai Trần

Hoài niệm Saigon một thời là Hòn Ngọc Viễn Đông với những con đường hai bên là hàng me, hàng sao, lác đác cành phượng vỹ, thấp thoáng tà áo tung bay. Những thập niên giữa thế kỷ 19 đến giữa thế kỷ thứ 20, Pháp chiếm miền Nam và biến thành thuộc địa của họ với tên Cochinchine, bảo hộ miền Bắc và Trung. Vì nhu cầu phát triển kinh tế và chính trị cũng như khai thác tài nguyên, người Pháp đã đem vào Việt Nam và nhất là vào Cochinchine -Miền Nam hàng ngàn máy móc, xe buýt, xe vận tải và xe hơi. Sau Hiệp định Geneva 20 tháng 7, 1954, người Mỹ thay Pháp hổ trợ miền Nam không cộng sản, thành lập thể chế Cộng Hòa, viện trợ quân sự, kinh tế, giao thông, phát triển cơ cấu kinh tế thị trường. Từ đó Saigon xuất hiện những loại xe hơi,to, dài, nhiều mầu-mà người ta gọi chung là xe Hoa Kỳ, xen lẫn với các dòng xe thời Pháp, lưu thông trên khắp thành phố, tỉnh thành trước tháng 5 , 1975.
Bài sưu khảo này dựa vào tài liệu từ Internet, hình ảnh, postcards của các nhiếp ảnh gia, thư viện Pháp, Anh, Mỹ, của những người ngoại quốc đã từng đến thăm hoặc làm việc, của quân nhân Mỹ-Úc đã phục vụ trên chiến trường Việt Nam trước 1975 và manhhai albums cùng với tư liệu của người viết một thời lang thang trên các nẻo đường xưa Sài Gòn –Chợ Lớn-Gia Định, có dịp chiêm ngưỡng “xe hoa-xe Hoa Kỳ”, xe “lô ca xông citroen traction-avant””, xe taxi “con cóc, 4 ngựa”,xe “nhà binh-xe quân sự GMC”, xe “díp (jeep)”… cũng như có dịp tiếp cận xe Ford, Renault và Opel trong thập niên 60.
Mặc dù cố gắng tìm tòi, nghiên cứu hình ảnh xưa, đối chiếu với tài liệu trong thư viện, internet và kỹ niệm xưa, sự thiếu xót và nhằm lẩn có thể xảy ra, không tránh khỏi.
Bài viết nhằm giúp người đọc nhận diện, tham khảo các loại xe cổ xuất hiện ở miền Nam từ thời kỳ Pháp thuộc đến trước 1975 (tạm gọi là classic cars, xe cổ điển), cùng nhau tìm lại một thoáng hương xưa, hoài niệm phút giây lang thang trên phố củ với những ước mơ thầm lén-người viết không bàn về lịch sử hay quá trình phát triển chi tiết của các loại xe từ cổ xưa (antique) cố cựu (đầu những thập niên 1900s-veteran) và cổ điển (classic) theo quan điểm của sử gia về xe hơi, cũng như bối cảnh kinh tế xã hội chính trị thời bấy giờ.
Cũng nên lưu ý, người viết sẽ dùng danh từ xe hơi (thay vì ô-tô) cho tất cả các loại xe sedan-chạy xăng (petrol powered), để phân biệt với các loại xe chạy điện (electric powered) chạy bằng hơi nước (steam powered) hay xe đua (racing cars), cũng như không đi sâu vào chi tiết kỹ thuật công nghệ của những loại xe. Người viết xin lưu ý người đọc từ CV (chevaux vapeur)-tax horsepower-liên quan đến thuế má dùng trong kỹ nghệ xe hơi của Pháp đánh giá sức mạnh của các dòng xe, trong khi các xứ nói tiếng Anh dùng  horsepower-hp. Nếu cần xin tra tài liệu trên Internet để biết rõ ràng hơn.

Thống kê xe cộ ba miền Việt Nam trước 1945

Năm Loại Trung Kỳ Nam Kỳ Bắc Kỳ
(An Nam) (Cochinchine) (Tonkin)
1922 Xe Hơi 308 2230 1126 Automobiles
1929 Xe Hơi 1392 8712 4129 Automobiles
Xe Vận Tải 214 671 325 Trucks
Xe Bus 495 643 390 Buses
Xe Gắn Máy 156 1099 901 Motorcycles
Tổng cộng 2257 11125 5745 Total
1937 Xe Hơi 1600 6000 4300 Automobiles
Xe Vận Tải 300 620 440 Trucks
Xe Bus 300 560 300 Buses
Xe Gắn Máy 50 260 620 Motorcycles
Máy Kéo 20 260 200 Tractors
Tổng cộng 2270 7700 5280

http://www.departments.bucknell.edu/history/projects/BeaucarnotDiary/documents/Ryan_Mayfield_Paper.pdf

Tính đến năm 1974 VNCH có 35.384 xe vận tải nặng và 64.229 chiếc xe hơi chạy trên hệ thống đường xá  21.000 km, trong đó gần 12.000 km là đường trải nhựa, đi được quanh năm. (https://vi.wikipedia.org/wiki/Vi%E1%BB%87t_Nam_C%E1%BB%99ng_h%C3%B2a#Giao_th.C3.B4ng)

So về số lượng xe hơi ở ba kỳ, Cochinchine Miền Nam thời ấy có nhiều nhất, hơn phân nữa tập trung vào khu vực Saigon-Chợ Lớn-trung tâm Gia định (Statistique Générale, Moyens de Transport et de Communication (Averages of Transportation and Communication), 1936-37, p. 115.

ĐẠI LÝ XE HƠI Ở SAIGON-TỪ THỜI PHÁP THUỘC ĐẾN 1975

Saigon là nơi đặt trụ sở chính của Hội vận tải và xe hơi của Đông Dương Indochine. Saigon là nơi có nhiều công ty đại lý buôn bán, sửa chửa, bảo hiểm xe du lịch, chở khách, taxi cho mướn. (Claudie Beaucarnot, Adieu Saigon, Au Revoir Hanoi: The 1943 Vacation Diary of Claudie Beaucarnot, (David Del Testa, 2002), p.14. 27 Société des Transports et Automobiles de I’indochine, Grand Rallye des Hauts Plateaux (pamphlet), (1954), p.p 22,32,34,40,41).
Những loại xe thông dụng giai đoạn 1900-1930 là xe Pháp, Renault, Peugeot, Citroen, Panhard, Berliet, Hotchkiss, và một số ít xe Mỹ của hảng Ford, Chrysler và GM (General Motors).
Công ty xe hơi đầu tiên ở Saigon Ippolito et Cie -Maison V. Ippolito- thành lập năm 1900, đại lý xe Peugeot và cung cấp dịch vụ chuyên chở công cộng (public courier service)- thư tín và khách hàng- đầu tiên giữa Saigon-Tây Ninh (24 tháng 10, 1901), sau đó đến Biên Hòa , Bà Rịa và Vũng Tàu (Cap Saint-Jacques). Trụ sở nằm ở góc Nguyễn Huệ và Lê Thánh Tôn, trước tòa Đô Chính (bây giờ UBNDTPHCM). Quyền đại lý xe Peugeot sau được chuyển qua công ty Le Comte, 34 Norodom (đường Thống Nhất) năm 1931.

Công Ty Bainier

Garage Bainier, công ty nổi tiếng nhất nằm ở góc đường Bonard (Lê Lợi) và Charner (Nguyễn Huệ) được thành lập năm 1914.

hinh 1.jpg

Hình 1: Công ty Bainier với Auto Hall góc đường Lê Lợi và Nguyễn Huệ, từ năm 1920.

Hinh 2.jpg

 

 

 

 

 

 

Hinh 2: Vị trí AutoHall đối diện với nhà hàng Pancrazi (trước 1975, tòa nhà thương mại Eden)
Khảo sát hình, có hai chiếc Citroen Type A tourer và một Citroen C4 (1928) chạy ra từ Bainier-AutoHall garage, chiếc xe chở khách Citroen chạy về hướng Auto Hall, Auto Hall nằm đối diện với nhà hàng Pancrazi trên đường Bonard và nằm xéo góc với Garage Bainier.Từ năm 1920 Ông E Bainier thành lập SOCIÉTÉ ANONYME DES ÉTABLISSEMENTS BAINIER, dời trụ sở về gốc đường 21 Bonard và 100-102 Nguyễn Huệ, cho xây lại AutoHall với công nghệ hiện đại thời bấy giờ (hình 1), mở rộng phạm vi thượng mãi làm đại lý cho nhiều hiệu xe như Unic,Dodge, Darracq và Citroen.
Garage Bainier được xây dựng dùng công nghệ cao, tận dụng ánh sáng và không gian, được xem như một phòng trưng bày xe hơi đẹp nhất vùng Viễn Đông (http://www.entreprises-coloniales.fr/inde-indochine/Bainier-Auto-Hall-Saigon.pdf)
Ông Emile Bainier đến Saigon làm trường thợ máy (mechanic foreman), năm 1911 ông làm Giám đốc cho công ty Ippolito. Sau đó ông rời Ippolito thành lập công ty riêng SOCIÉTÉ ANONYME DES ÉTABLISSEMENTS BAINIER năm 1914 địa chỉ số 40 Bonard.
Ông Emile Bainier mất năm 1941 ở Saigon, gia đình ông tiếp tục kinh doanh cho đến năm 1953 thì trở về Pháp. Vợ chồng hoàng tử Nguyễn Phúc Ưng Thi và Nguyễn Thị Nguyệt Nga mua lại tòa nhà Bainier và phá đi để xây lên khách sạn Rex, rạp chiếu phim Đại Nam năm 1958.
Công ty Bainier lúc đầu làm đại lý cho Citroen (xem Hình 1) nhưng đến năm 1931, quyền đại lý giao cho Mr Henri Hospital chủ Garage Citroen, 37 đường D’ Espagne (Lê thánh Tôn) đến năm 1936 trở thành công ty trực thuộc Citroen với tên Công ty Xe hơi Viển đông (Société Automobile d’Extrême-Orient)

Công Ty Garage Citroen

hinh 3

Hinh 3:  Quảng cáo Garage Citroen

Hinh 4

Hinh 4: Garage Citroen của ông Henri Hospital số 37 đường D’Espagne (Lê thánh Tôn) .Năm 1936, Garage Citroen trực thuộc công ty Citroen với tên Công ty Xe hơi Viển đông (Société Automobile d’Extrême-Orient).The SAEO đổi thành Xe Hơi Citroën Công Ty (Société
des Automobiles Citroën) năm 1969.

Hinh 4a

Hinh 4a: Xe Citroen được trưng bày tại Garage Aviat ở Hànội năm 1952, Garage Aviat đại diện cho Garage Citroen ở Bắc (Tonkin ) và Trung (An Nam).

Công Ty Garage Charner

hinh 5

Hinh 5: Hinh chụp 1953, Peugeot 202 Cabriolet (1939-1949) chạy ngang qua Garage Charner 131-133 Nguyễn Huệ. Garage Charner được thành lập năm 1923, đại diện chính thức cho xe Renault (bây giờ là khách sạn Kim Đô-Royal City Hotel ).

hinh 6

Hinh 6: Garage Charner là đại lý độc quyền bán các xe hơi Delage, Renault, Panhard, Monet-Goyou…
Toà nhà Garage Charner nằm gần thương xá GMC (Grand Magasin Charner) bị cháy tháng 6 năm 1929, được xây lại.

hinh 7

Quảng cáo xe Renault của Garage Charner năm 1931

 

hinh 8b

 

 

 

Hinh 8: Renault Monasix model RY2 -1930

hinh 9

Hinh 9 : Garage Renault 231, Bến Chương Dương (thời Pháp Quai de Belgique), phòng trưng bày xe Renault tai 59 đường Lê Thánh Tôn.

Công Ty Saigon Garage đại lý Simca (S.E.I.C)

hinh 10

Hinh 10: Công ty Saigon Garage thành lập năm 1936, góc đường Nguyễn Huệ và Công trường Garnier (công trường Lam Sơn thời VNCH-công viên nằm đối diện với Hạ Viện-bây giờ Nhà Hát Thành Phố)

hinh 10a

Hình 10a: Saigon Garage S.E.I.C năm 1961

Công ty Olympic đại lý xe Anh Mỹ trên đường Hồng Thập Tự

hinh 11

Hình 11: Ảnh chụp 1953 Cinéma (nằm giữa) và Garage Olympic tọa lạc tai số 97-99 đường Hồng Thập Tự (Chasseloup Laubat) sau này là rạp cải lương Kim Chung. Trong ảnh có thể nhìn thấy xe Citroen 11 và xe Vauxhall Velox 1952-53.

Công Ty xe hơi Jean Comte-Etablissements Jean Comte

Tọa lạc tại địa chỉ 34 đường Norodom (Thống Nhất-Lê duẩn), được thành lập năm 1911 bởi hai ông Laroche và ông Le Comte.
http://www.entreprises-coloniales.fr/inde-indochine/Comte-Saigon-Pnom-Penh.pdf

hinh 12

Hình 12 – Ảnh chụp 1952-53. Etablissements Jean Comte, số 34 Boulevard Norodom (Thông Nhất (VNCH) và Lê duẩn) nằm sau nhà thờ Đức bà. Sau 1975 tòa nhà công ty bị phá bỏ để xây trung tâm thương mại Diamond Plaza). Công ty Jean Comte hoạt động ở Cochinchine từ năm 1920, đại lý các loại xe Peugeot, Hotchkiss, Dodge, Packard, Saurer và xe Vélo Solex.

hinh 13
Hình 13-Phòng trưng bày xe hơi Công Ty Jean Comte-Dãy xe Peugeot 202s và một chiếc Hotchkiss vị trí cuối cùng của dãy xe, bên phải là xe Peugeot 203.

hinh 14

Hinh 14. Năm 1960 Etablissements Jean Comte trở thành Saigon Xe hơi Công Ty, trụ sở chính thức của công ty Citroen (Société Automobile d’Extrême-Orient) được thiết lập năm 1936. Sau khi lấy lại quyền đại lý Citroen từ công ty Bainier (xem hình 1) để giao cho ông Henri Hospital –Garage Citroen số 37 đường D’Espagne (Lê Thánh Tôn), (xem hinh 4). Công ty Citroen mua lại Etablissements Jean Lecome thành lập Saigon Xe hơi Công Ty.
Hình chụp 1964 (ref manhhai’s album), Saigon Xe hơi Công ty là trưng bày và buôn bán dòng xe hơi đầu tiên của Việt Nam –xe La Dalat.

http://www.ddth.com/showthread.php/399458-La-Dalat-v%C3%A0-c%C3%A1c-lo%E1%BA%A1i-xe-th%C3%B4ng-d%E1%BB%A5ng-c%E1%BB%A7a-ng%C6%B0%E1%BB%9Di-S%C3%A0i-G%C3%B2n-tr%C6%B0%E1%BB%9Bc-1975#ixzz42NEwmey6

 

Công ty SCAMA Đại lý cho xe Ford (Mercury, Lincoln…)

hinh 15

Hinh 15: SOCIÉTÉ COLONIALE D’AUTOMOBILES ET DE MATÉRIEL AGRICOLE (SCAMA) đăng ký 1928, trụ sở 41 đường Tôn Thất Đạm (Chaigneau).
Năm 1936 công ty mở thêm tại địa chỉ 23-39, Boulevard Bonard (Lê Lợi), Saigon. Công ty đại diện cho hảng xe Ford, Mercury, Lincoln-hinh chụp 1952 với 3 chiếc Ford Vedette đậu phía trước
Thời Cộng hòa , công ty SCAMA có trụ sở tại số 9 đường Phạm Hồng Thái , đối diện với hội Kỵ Mã (bây giờ là nhà thi đấu Nguyễn Du?) cũng là đại lý cho xe Đức Opel, Mercedes, GMC
http://www.entreprises-coloniales.fr/inde-indochine/SCAMA-Ford.pdf

SIT Societe Indochinoise de transports

hinh 16

Hinh 16: Đại lý cho xe DeLahaye

 

hinh 17

Hình 17: Quảng cáo SIT Siege social -4 Filippini (đường Nguyễn Trung Trực)
Công ty khởi thuỷ nằm ở đường Nguyễn Trung Trực , thời VNCH dời về đường Ngô Tùng Châu (Lê thị Riêng). Đại lý cho xe Mỹ và Anh.
http://www.entreprises-coloniales.fr/inde-indochine/Indoch._de_transports.pdf

KYXACO Đại lý độc quyền Volkswagen VNCH

Công ty này do Ông Chí Tín (Lê Văn Ba) và hảng East Asiatic Đan Mạch lập ra. Kyxaco nhập cảng độc quyền xe Volkswagen ở Việt Nam. Trụ sở 155 đường Nguyễn Huệ, bên cạnh cinema REX góc Lê Thánh Tôn. http://antruong.free.fr/damdaiganhdao2.html

hinh 18

Hinh 18: Công ty KYXACO, 155 Nguyễn Huệ, góc Lê Thánh Tôn.
Đại lý độc quyền xe Volkswagen 1957-1975.

hinh 19

Hình 19: Công ty xe hơi Kim Long trên đường Lê Lợi, gần thương xá Tax, đại diện hãng xe Ford của Mỹ. Photo by Bruce Baumler, 1965

NHỮNG CÔNG TY XE HƠI LỚN VẨN HỌAT ĐỘNG Ở SAIGON CHO ĐẾN GIỮA 1975.

Saigon Grarage, 100 Nguyễn Huệ
Garage Charner, 131 Nguyễn Huệ
Kyxaco, 155 Nguyễn Huệ
Olympic 97-99 Hồng Thập Tự
Renault 231 Bến Chương Dương
SCAMA 9 Phạm Hồng Thái
SIT 102 Ngô Tùng Châu (Lê thị Riêng)
SàiGòn xe hơi công ty 2-B Duy Tân-34 Thống Nhất
Kim Long Garage 70 Le Loi
Lucia, Fiat Garage 11 Đổ Thành Nhân, Khánh Hội

Xe xưa trên lối cũ.

Khảo sát ảnh xưa, số lượng xe lưu thông nhiều nhất trên các tuyến đường như Tự Do, Nguyễn Huệ, Lê Lợi, Hai Bà Trưng, Trần Hưng Đạo, Bến Bạch Đằng, Võ Di Nguy, Chi Lăng, …những đường thuộc quận 1, quận 3, quận 5 (Chợ Lớn) những địa điểm có nhiều du khách và quan chức Pháp Việt, ngoại quốc cùng với thương nhân khá giả, giàu có. Phần đông là xe có biểu tượng (logos) nhập từ Pháp và các xứ Âu Châu.
Sau khi Hiệp định Genève 20/7/1954 chia đôi Việt Nam. Miền Nam xây dựng thể chế Việt Nam Cộng Hòa với sự giúp đỡ của Mỹ và Đồng Minh. Đặc biệt thủ đô Saigon trở nên sầm uất, nhộn nhịp với đủ loại xe cộ có từ thời Pháp đến những loại xe du nhập từ Mỹ, Anh, Đức, Ý, Nhật…Lần đầu tiên người Saigon nhìn thấy những loại xe to, dài, nhiều màu, kiểu cách do người Mỹ đem vào mà họ gọi chung là xe Hoa Kỳ.

Bài viết gồm ba phần

Phần 1 –Xe cổ điển Pháp ở miền Nam trước 1975
Phần 2 -Xe cổ điển không xuất xứ từ Pháp ở miền Nam trước 1975.
Phần 3- Xe chở khách, xe buýt xưa – trước 1975

                                                PHẦN 1 -XE CỔ ĐIỂN PHÁP Ở MIỀN NAM TRƯỚC 1975

.Phần lớn các công ty xe hơi đầu thế kỷ 20 có trụ sở trong địa hạt quận 1 trước 1954, một số có công ty đại diện ở các tỉnh lớn, Hà Nội Hải Phòng, làm đại lý cho hãng xe Pháp Peugoet, Citroen, Renault, Simca, Packard, Panhard, hãng xe Mỹ như Ford, Chrysler, General Motors, xe Anh như Vauxhall, Austin, Morris và xe Đức như Opel, Volswagen, xe Ý như Fiat, Nhật như Toyota, Honda..

Biểu hiệu xe Pháp (logos) thường thấy ở Việt Nam

hinh 19ahinh 20

Hinh 20: Ảnh chụp khoảng đầu thập niên 1940s, có thể nhận được loại xe peugeot 202, Traction 11 L (Legère) và xe buýt Renault. Có người lính ″mã tà ″ đội nón cối trắng điều khiển lưu thông.

hinh 21

Hinh 21. Xe Panhard, Austin 1100, Chevrolet, Renault , Volswagen, Simca, Peugeot, Jeep, Dauphine… chen chúc trên đường một chiều trung tâm quận nhất Saigon năm 1967.

hinh 22

Hinh 22: Xe đậu vị trí trước nhà hát Tây (thời VNCH là trụ sở Hạ Viện), đầu thập niên 1950s

Khảo sát hình 22, bãi xe đậu trước nhà hát Tây – trước tháng 5/1975 là Hạ Nghị Viện, sau 1975 mang tên nhà hát Thành phố. Tiệm Nouveautés Catinat của ông Lucien Barthet (Khởi thuỷ xây cất năm 1887 là tiệm Bách hóa department store, nằm ở góc đường Catinat và Bonard, đến thời VNCH trở thành Phòng thông tin triển lãm Quận 1 (hình 23, bây giờ Louise Vutton 2015).

hinh 23

Hinh 23: Phòng thông tin trước Hạ Viện 1972 (nhà hát Thành Phố sau 75)
Đường Catinat trước 1975 là đường Tự Do và Bonard là Lê Lợi
Trên bải xe ̣ (hinh 22) , các loại xe hơi có thể nhận dạng gồm có Citroen Traction Avant, Renault 4CV, Traction 11, Peugeot 202, Peugeot 203, possible Land Rover, Panhard Dyna X 1953, Peugeot 203.
Đây là quang cảnh điển hình thời Pháp, nói chung xe xuất xứ từ Pháp chiếm đa số, đi đâu cũng thấy phần đông Renault 4 CV, rồi đến Simca, Dauphine, Renault, Peugeot, Citroen và một số xe từ các nước ở Âu Châu như Đức, Ý, Anh… Cuối thập niên 1950s, và thập niên 60s, khi người Mỹ và đồng minh cùng các công ty ngoại quốc bắt đầu vào miền Nam họ mang vào các loại xe sản xuất từ Mỹ-mà người Nam gọi là xe Hoa Kỳ, đặc điểm chung là kích thước lớn, dài, kiểu đột phá táo bạo, bumper (cây cảng-hãm xung) mạ kền, đuôi vẩy cá (fintail), sơn hai ba màu. Trên đường phố Sàigòn, cuối thập kỷ 40 và bắt đầu thịnh hành từ thập kỷ 50 có nhiều loại taxi xuất hiện- xe Renault 4CV, Simca Dauphine loại xe khách như Citroen Traction và cùng các loại xe Hoa Kỳ (thường được mướn làm xe “hoa” hay cho những cơ hội đặc biệt).
Người đọc chú ý, từ taxi dùng trong bài viết cho những loại xe chở khách có gắn taximetre (taximeter) để tính tiền. Trong hình kế tiếp 24, bức ảnh cho thấy loại xe khách mà người Pháp gọi là taxi đã xuất hiện ở Saigon năm 1905-12? bên cạnh xe lôi pousse-pousse (có người kéo mang bảng số 1100 )

hinh 24

Hinh 24: Xe chở khách năm 1912 ? –Saigon –chạy ngang tháp đồng hồ-hai phu xe pousse-pousse đứng trên thềm đá tháp đồng hồ- nổi tiếng thời bấy giờ -nhìn vào trường đua Phú Thọ.

Panhard cars

Công ty Panhard và Levassor đã được thành lập vào năm 1887, một thời nổi tiếng là một trong những công ty xe hơi tiền phong sớm nhất và quan trọng hơn bao giờ hết với chiếc xe đầu tiên sản xuất vào năm 1891 dựa trên một giấy phép của các bằng sáng chế của Daimler. Nhưng thay vì động cơ đặt phía sau như xe Daimler Benz, Panhard đặt động cơ và bộ tản nhiệt radiator- ở phía trước, điều khiển bánh xe phía sau, và một truyền trượt bánh răng thô. Cách cấu tạo này trở thành và được biết đến như là “Système Panhard”
Nhưng sau Thế chiến II, Panhard quyết định thay đổi, sản xuất xe cho tầng lớp trung lưu và phát triển một loại xe nhẹ, chi phí sản xuất thấp nhằm đáp ứng như cầu dùng xe phổ quát trong xã hội thời kỳ hậu chiến, dự kiến loại xe nầy sẽ trở thành phương tiện thông dụng di chuyển của mọi người. Đây cũng là chiến lược mà Citroen đã áp dụng để sản xuất 2CV, được biết như Panhard Rod thời bây giờ.

hinh 25

Hinh 25: Panhard Model X 86 Saloon 1952. Máy đặt phía trước (traction-avant), 2 cylinder car.

Hinh 25a

Hinh 25a: Panhard Model X 86 Saloon 1952 và Traction 11 trên đường Tự Do năm 1955
Dyna Panhard X, sedan 4 cửa , nhẹ, gọn là công trình thiết kế có tầm nhìn xa của kỹ sư Jean Albert Grégoire, đầu tiên được trưng bày Dyna AFG Paris Motor Show 1946. Sản xuất thương mại bắt đầu từ cơ xưởng Panhard ở Ivry (Paris) năm 1948 và trở thành xe mẫu (pattern) cho những loại xe Panhard khác, cho đến khi ngừng sản xuất năm 1967.
Dyna X còn được gọi là Dyna 110, Dyna 120 và Dyna 130 dựa theo tốc độ 110, 120 hay 130 km/giờ do sự tăng tiến của ỗ máy
Dyna X bị thay thế bởi loại xe lớn hơn, mạnh hơn Dyna Z năm 1954.

hinh 26.jpg

Hinh 26: Panhard dyna model Z (1963). Panhard xáp nhập (absorbed) với Citroen năm 1965.

http://www.thetruthaboutcars.com/2010/03/an-illustrated-history-of-panhard/

hinh 26a

 

 

 

Hinh 26: Panhard dyna model Z (1963). Panhard xáp nhập (absorbed) với Citroen năm 1965.

Simca cars

Tên SIMCA (Société industrielle để Méchanique et Carrosserie). Công Ty thành lập bởi Henry- Théodore Pigozzi năm 1934 sản xuất xe Fiat (của Ý) cho thị trường Pháp. Khởi thủy Piozzi là đại diện phân phối xe Fiat trong nước Pháp công ty SAFAF (Société Anonyme Franais des Automobiles FIAT), dần dà bắt đầu nhập càng các bộ phận và được phép (under license) lắp ráp xe Fiat bán trên thị trường nội địa Pháp. Sau đó, cơ hội đến, ông mua lại cơ xướng cũ ở Nanterre và bất đầu sản xuất Simca tự do.
Mẫu Fiat 500 Topolino được sản xuất từ năm 1937, loại xe nhỏ, 569cc với 85km/giờ, máy đặt phía trước, ổ bánh phía sau ( rear wheel drive), 2 cửa. Fiat 500 Topolino được biến đổi thành SIMCA 5 (Cinq), và loại Fiat sinh sau Fiat 1100 được thay thế bởi SIMCA 8 (Huit.)
Sau thế chiến thứ hai, Simca cho ra mắt Aronde năm 1951, với thiết kế công nghệ monocoque (unitary body) của Simca, Simca Aronde được cho ra đời để cạnh tranh trực tiếp với Peugeot 203. Trong năm đầu tiên đã là xe bán chạy nhất so với Simca 8. Năm 1959 trở thành công vượt bực cho Simca, sản xuất 200,000 chiếc. Năm 1954, SIMCA mua lại cơ xưởng Poissy của Ford Pháp-vào thời này đang sản xuất Ford Vedette. Sau đó Simca sản xuất Vedette nhưng vẫn giữ bảng hiệu cũ. Cơ xưởng nầy thành cơ xưởng chính của SIMCA trong khi cơ xưởng cũ ở Nanterre bán lại cho Citroen năm 1961.
Sự thành công lớn của SIMCA cho phép Simca thâu tóm hãng xe Talbot (Từ đó Talbot biến mất trên thị trường), để trở thành món mồi ngón cho Chrysler sau này.

hinh 27
Hinh 27: Simca 1000 Rallye model năm 1963

Simca 1000 là loại sedan 4 cửa, máy đặt phía sau. Ổ máy 4 cylinders .9L sản xuất 43 Bhp ($3.6PS/32.1 kW) với tốc độ tối đa là 116km/giờ. Xe cân nặng 700kg

hinh 28

Hinh 28: Mẫu xe Simca 9 Aronde-1300 sản xuất đầu tiên năm 1951-55

 

hinh 29

Hinh 29: Sản xuất trong khoảng 1951-1963 SIMCA Aronde –thiết kế Pháp với nhãn hiệu Aronde/hirondell/chim nhạn. Trong suốt 12 năm với bốn kiểu xe Simca 8, 9 , 1300 và P69 Simca thành công nhất với các dòng xe này- Xe được sản xuất từ Pháp và Úc.
Simca 9 Aronde thấy ở Saigon sản xuất khoảng 1951-55, không phải là traction avant nhưng máy cũng đặt phía trước, năng xuất khoảng 1.2L. The Aronde rất phổ biến ở Pháp, giúp Simca trở thành hãng sản xuất xe hơi lớn thứ hai bên Pháp vào khoảng cuối thập niên 1950s, Simca ngừng sản xuất Arondecuối năm 1963.

 

hinh 30

Hinh 30: Simca trên đường Nguyễn Huệ

hinh 31

Hinh 31: Simca Aronde chết vì bị đặt chất nổ .

Hinh 32

Hinh 32: Simca 6-1947-50 đậu trên đường quê.
Simca 6 là một chiếc xe nhỏ sản xuất và bán nội địa (Pháp) giữa năm 1947 và 1950. Simca trước đó đã được thành lập như là một công ty con của công ty Fiat (Ý), Simca 6 được phát triển dựa vào mẩu Simca 5. Simca 5, bản thân chính là loại Fiat Topolino và sản xuất tại Pháp được bán dưới nhản hiệu Simca.

Với sự ra mắt, tại 1947 Paris Motor Show, của Simca 6 thể hiện tư thế thiết kế độc lập cho một mô hình sản xuất Simca. Các Simca được tách từ nguồn gốc của nó bởi độ Mỹ hoá xe Fiat, mở rộng đặt hạ lưới tản nhiệt thấp, phía trước, hai bên là đèn pha được lên tích hợp(integrated) vào các tấm cánh (wing panels), tương tự như các dòng xe Peugeot 203 và Renault 4CV thời bấy giờ.

 

hinh 33

Hinh 33: Simca Aronde 1968 trên đường Lê Lợi, phia sau International Havester Scout 800-1967

 

hinh 34

Hì̀nh 34: Simca 5-2 cửa-569cc (Fiat 500- Topolino đổi huy hiệu (rebadged)-động cơ phía trước (front engine) ổ bánh sau (rear wheel drive). Đừng lầm lẩn với Peugeot 202 là phiên bản cải tiến dựa trên lọai xe SIMCA 8 -4 cửa

 

hinh 35

Hinh 35: The Fiat 500, thường được biết là “Topolino”, loại xe nhỏ sản xuất ở thành phố Topolino ở Ý từ 1936 đến 1955.

 

hinh 36

Hinh 36: Simca 1000 Ralye

Simca Rallye 1.3 (Simca 1000), xe sedan 4 cửa, máy đặt phía sau Simca Pháp sản xuất từ năm 1961 đến 1978. Thuộc loại xe hạng nhẹ, cân 700kg, đạt tốc độ tối đa 116km/giờ

 

hinh 37

Hinh 37: Xe cộ trên đường Trần Hưng Đạo 1969 – picture Bob Carolan

Renault cars

Sản phẩm trí tuệ của một kỹ sư nhiệt tình tên là Louis Renault , công ty Renault được thành lập cùng với hai người anh em của ông ở Pháp vào năm 1899 , những người em lo về tài chính , trong khi ông chú trọng về cơ học, máy móc” . Thành lập cơ xưởng cạnh sông Sein năm 1899. Louise Renault sản xuất loại xe đầu tiên từ 1898-1903, loại xe nhỏ Renault Voiturette.
Khủng hoảng kinh tế 1929-31, cũng như các hảng xe hơi khác đều phải giảm giá, cắt nhân công, tăng hiệu quả năng xuất, mang giá thành sản xuất xe xuống thấp, công ty Renault trở thành công ty đa dạng sản xuất xe buýt, xe chở hàng trucks, xe lửa điện electric railcars, máy cày và cả động cơ cho máy bay.
Do nhiều cuộc đình công gây rắc rối cho các nước trong khu vực, Renault đã được quốc hữu hoá năm 1945 để tránh phá sản như Citroen đã làm trước đó vài năm. Các dự án đầu tiên được thực hiện bởi công ty mới sản xuất 4CV nhỏ, nhưng bị hoãn lại cho đến sau Thế chiến II. Đối với thị trường châu Âu, xe nhỏ là tương lai vì giá rẻ, dể mua và duy trì. Sau khủng hoảng kinh tế và thế chiến, sự cách biệt giữa Âu Châu và Mỹ càng ngày càng lớn. Louis quyết định tối tân hóa cơ xưởng, bắt chước lối sản xuất dây chuyền của hảng Ford (Ford dùng công nghệ này bắt đầu năm 1912 sản xuất hàng loạt Ford T2)
Ngày nay Renault hòa hợp với Nissan (công ty xe hơi lớn của Nhật) trở thành một trong 4 hãng sản xuất xe hơi lớn nhất trên thế giới.

hinh 38

Hinh 38: Xe 4 bánh Renault đầu tiên-Renault Voiturette 1989-1903

Dòng xe 4CV, được giới thiệu vào năm 1946, là một thành công lớn so với dự kiến ban đầu. Với sự thành công này công ty thực hiện bán, mua lại và phát triển máy móc hạng nặng để giúp gia tăng sản xuất. Renault sau đó quay trở lại với lĩnh vực chế xe hạng nặng và qua việc sáp nhập với hai công ty hiện có Latil và Somua-cả hai là công ty sản xuất xe tải chở người và hàng hoá- họ và tạo ra một công ty mới, hoàn toàn dành riêng để làm xe tải, buýt với tên Saviem.
Dòng 4CV được thay thế bằng dòng xe Dauphine xuất hiện vào năm 1956. Đây là dòng xe thành công lớn kể cả trên thị trường Mỹ. Dauphine ngừng sản xuất năm 1961, được thay thế bởi hai dòng xe Renault 4 va Renault 8
Renault bắt đầu những năm 70 với những dòng xe thành công khác, thể thao hơn và nhanh nhẹn hơn nhưi dòng xe Renault 5, vì xe xài tiết kiệm nhiên liệu nhất là trong thời gian khủng hoảng dầu trong thập niên 1970s

Cũng trong những năm 70s, Renault bắt đầu mở rộng ảnh hưởng của mình và mở ra các nhà máy ở Đông Âu, châu Phi, Úc cũng như hợp tác với công ty Mỹ AMC đến năm 1979. Vào đầu những năm 80, Renault gặp rắc rối tài chính một lần nữa nên công ty ra khỏi hoạt động đua xe hoàn toàn, cũng như bán tất cả các phi tài sản và giảm chi mọi mặt.
Năm 1987 công ty bắt đầu biến cán cân nghiêng về lợi nhuận, do đó, vào đầu những năm 90, một loạt xe mới được phát hành trên thị trường và tất cả các mô hình đều thành công: Clio Espace, Twingo và Laguna. 1995 Renault Megane là chiếc xe đầu tiên để đạt được Euro NCAP (New Car Assessment Program) đánh giá bốn sao về an toàn .
Cũng trong những năm 90, Renault trở lại Formula 1 racing đua thành công, sau khi giành chức vô địch năm 1992, 1993, 1995, 1996, 1997. Trong năm 1996, Công ty chuyển hướng, cho rằng một tình trạng nhà nước sở hữu công ty sẽ không được hưởng lợi lâu dài nên công ty đã được tư nhân hóa một lần nữa. Renault đã đầu tư hơn nữa tại Brazil, Argentina và Thổ Nhĩ Kỳ.
Sau năm 2000, tuy thất bại với một loạt xe kém thành công như Avantime và Vel Satis, nhưng cũng tiếp tục thành công với hàng loại xe cũ như Clio, Laguna và Megane.

Read more: http://www.autoevolution.com/renault/history/#ixzz44kGHFLHk

hinh 39

Hinh 39: Renault Floride-Caravelle

Floride, còn được biết đến với cái tên Caravelle, là dòng xe thể thao 2 cửa, 2 + 2 chỗ ngồi của hãng xe Pháp Renault, được sản xuất trong giai đoạn từ 1958 – 1968.
Renault ghen tị với sự thành công phát triển ở Bắc Mỹ của dòng xe Volkswagen / Beetle quyết định tìm kiếm những phương cách để Renault có được sự thành công như hãng Volkswagen-Đức. Renault quyết định thay đổi xe Renault Dauphine của mình. Tại một hội nghị của các nhà phân phối ở Bắc Mỹ diễn ra ở Florida, người kinh doanh Renault ở Hoa Kỳ kêu gọi thành lập một Dauphine coupe / cabriolet sẽ cải thiện hình ảnh của Renault tại thị trường quan trọng của Mỹ. Chủ tịch Renault, Pierre Dreyfus đồng ý, và kể từ khi khái niệm đã được sinh ra tại một hội nghị đó ở Florida cho đến lúc nổi tiếng trong công ty gọi xe là “Renault Floride”. Tuy nhiên tên “Floride” được coi là không phù hợp với các tiểu bang khác của Hoa Kỳ, nên một tên khác, “Caravelle”bắt đầu được sử dụng cho khu vực Bắc Mỹ và các thị trường lớn khác (bao gồm cả Anh)

 

hinh 40

Hinh 40: Renault Caravelle sản xuất khỏang 1947-1961

 

hinh 41

Hình 41: Dáng hao hao giống Renault Caravelle, 1968 VW Type 3 Fastback của nhân viên Úc trong khuôn viên Tổ chức hỗ trợ quân sự của thế giới tự do ( Free World Military Assistance Organization (FWMAO), hiện nay là địa chỉ khách sạn Kỳ Hoà 238 ba tháng hai (trước 1975 Trần Quốc Toản) thuộc quận 10.

Hinh 42

Hinh 42: Xe buýt Renault 6C-2 vào năm 1951 trên đường Bonard (Lê Lợi), Saigon ?.
Trong ảnh này, phia sau xe bus, tòa nhà hát Tây –sau là Hạ Viện trước 1975 – là công trình xây cất của kiến trúc sư Pháp Eugene Ferret năm 1897.

hinh 43

Hinh 43: Renault Juvaquatre -4CV- berline trên đường Saigon 1968. Juvaquate sản xuất đầu tiên 1939, chấm dứt 1955.

hinh 44

Hinh 44: Renault Juvaquatre ảnh chụp 1969 chạy trên đường Pasteur 1969 , bên trái phía xa là Saigon xe hơi công ty, bên phải qua hàng cây cao là Vương Cung Thánh Đường –nhà thờ  Đức  Bà. Xe được sản xuất vào khoảng 1936-1948, loại xe sedan 4 chổ. Đến năm 1947-48 Juvaquatre được thay thế bằng loại xe 4CV cho đến năm 1961. Juvaquatre được hồi sinh 1950-1960 biến chế thành panel van hay station wagon với nhãn hiệu Renault Dauphinoise

hinh 45

Hinh 45: Renault Dauphinoise fourgonnette là loại xe panel van hay station wagonwagon, sản xuất từ năm 1950-1960.

 

hinh 46

Hinh 46: Renault Novaquatre mẫu YN2 1934, ảnh chụp 1946

Renault Novaquatre (4CV) kiểu 1934 đậu trước trường Chasse Loup-Laubat 1946 (bây giờ Lê Quý Đôn) – so với Juvaquatre, hai đèn phía trước nằm trên 2 vành bánh xe, phía sau chiếc Renault là loại xe Jeep thời thế chiến hai 1941-45.

 

hinh 47

Hinh 47: Renault Monaquatre 1934

 

hinh 48

Hinh 48: Bến Taxi ở đường Lê Lai (Boudonnet) bên hông tường ga xe lửa Saigon (bây giờ là khu khách sạn New World). Rạp hát xưa Aristo năm đối diện bến xe taxi khoảng 1950

Taxi – Renault 4CV

Renault 4CV mà người Việt gọi là xe 4 ngựa- quatre cheveaux, xe con cóc, sản xuất khoảng 1946-61 là thối thân của xe Juva Quatre và tiền thân của Renault Dauphine . Rất thông dụng thời bấy giờ và được dùng làm taxi vì xe nhỏ, nặng 620kg, rẻ tiền, thiết kế giản dị, dể sửa ,4 chỗ ngồi, máy đặt phía sau, ổ bánh phía sau, phía trước có đặt đồng hồ tính tiền. Đầu thập niên 1960s , chính phủ với chương trình “Hữu Sản Hoá” người nghèo, nhập cảng loại xe mới Renault Dauphine, bán góp cho người muốn chạy xe taxi làm kế sinh nhai. Thành phố Saigon lại xuất hiện nhiều taxi Dauphine, bên cạnh taxi Renault 4CV 750 và 760 phân khối.
Chiếc xe này cho người viết cảm giác đi taxi đầu tiên vào khoảng năm 1952-53,người tài xế cũng là người thân vừa mua xe để chạy taxi làm nghề sinh sống, cũng muốn chạy quanh thành phố cho quen nên người viết được tháp tùng. Thời VNCH, thân xe sơn hai màu-màu bơ và xanh lá cây, có mui trần được mở, nhìn lên bầu trời như chạy đua với trăng sao lùa những luồng gió mát thổi vào xoa dịu cái nóng của thành phố vừa ngả về đêm.

hinh 49

Hinh 49: Taxi Renault 4CV chạy quanh bồn nước góc đường Nguyễn Huệ và Lê Lợi khoảng thập niên 1960

Hinh 49a

Hinh 49a : Taxi mẫu 1952.

 

hinh 50

Hinh 50: Bến Taxi Renault CV (mẫu 1957), 2 chiếc taxi Renault 750 (747cc), bên cạnh là xe La Dalat chiếc xe hơi sản xuất đầu tiên ở Việt Nam.
Những ai đã từng đặt chân đến Sàigòn trước 1975 mà không nhớ đến những chiếc taxi Renault chạy khắp nẻo đường Sài Gòn, Chợ Lớn, Gia Định,miền Nam, chứng kiến bao nhiêu cảnh vui buồn, thương hận trước 1975. Có thể nói taxi quatre cheveaux là một thứ văn hóa của dân Saigon, miền Nam là một cái gì mới, xa lạ với người miền Bắc trước 1975.

hinh 51

Hinh 51: Renault 760 (760cc) trên đường Tự Do

hinh 52

Hinh 52: Renault 4 R4 1961, phía sau là Taxi Renault 4CV 750 (747cc)

 

hinh 53

Hinh 53 : Renault 4 R4

http://www.taringa.net/posts/autos-motos/11752930/Entra-Autos-Que-Quedaron-En-La-Historia-Argentinaa.html
Renault 4, còn được gọi là 4L (phát âm là “Quatrelle”) hay 4R, là loại xe không đắt, tiết kiệm (economy) mở ra phia sau (hatchback ) được sản xuất bởi hãng Renault từ năm 1961 đến 1992
Renault 4 là một thiết kế xe nhỏ sản xuất hàng loạt đơn giản nên rất phổ biến, thông dụng trong đô thị và vùng phụ cận. Đây cũng là ứng dụng đầu tiên kỹ thuật lực kéo áp dụng trên chiếc Renault chở khách Estafette vào năm 1958 (máy đặt phía trước, ổ bánh xe phía trước (front engine, front wheel drive) Cũng la kết quả sau khi khảo cứu, khai thác những ưu điểm và nhược điểm của xe Citroën 2 CV 1948 .
Xe được bắt đầu sản xuất từ tháng 8 năm 1961 đến cuối năm 1992 tại 28 quốc gia

Renault Dauphine

Dauphine sản xuất từ năm 1956 đến 1967 , loại xe thông dụng máy đặt phía sau , thân khung liền vỏ , hộp số tự động có ba số, không tự động có 3 hoặc 4 số , 4 cửa, động cơ 845 phân khối. Dauphine được đưa ra thị trường nhằm thay thế cho dòng xe rất thành công trước đó 4CV
Một số lớn Dauphine được nhập cảng vào VNCH qua chương trình Hữu Sản Hoá 1968 làm taxi. Cùng thời với Volkswagen Beetle, Morris Minor, Mini and Fiat 500, đây là những dòng xe đi đầu trong chiến lược sản xuất xe thông dụng, giá phải chăng ở Âu Châu thời bấy giờ

 

hinh 54

Hinh 54 Tem thư phát hành khuyến khích phong trào Hửu Sản Hóa.
Chương trình Hửu Sản Hóa
https://www.facebook.com/notes/nam-r%C3%B2m/h%E1%BB%AFu-s%E1%BA%A3n-h%C3%B3a-tr%C6%B0%E1%BB%9Bc-75-v%C3%A0-qu%E1%BB%91c-h%E1%BB%AFu-h%C3%B3a-sau-75-/483065861887422/

 

hinh 55

Hinh 55: Xe nhà Dauphine chạy gần dinh Độc Lập.

 

hinh 56

Hinh 56: Taxi Dauphine –góc Nguyễn Huệ và Lê Lợi, Tòa nhà trắng bên trái là thư viện Abraham Lincoln, phía sau là Tòa Độ Chính 1967.

 

hinh 57

Hinh 57: Renault –Dauphine mẫu 1956

hinh 58

Hinh 58 : Taxi Dauphine trên đường Công lý, phia sau là chiếc Chevrolet 1950s

hinh 59

Hinh 59 : Renault Fregate model 1951 trên đường Norodom (bây giờ là lê duẩn) năm 1953.

hinh 60

Hinh 60: Renault Fregate 1954 (NBF 338), Renault 4CV Taxi (NBI 992) và Volswagen Beetle NBP… trên đường Tự Do 1961.

 

hinh 61

Hinh 61 : Renault Fregate đường Nguyễn Cư Trinh, bùng binh Cống Quỳnh quận Nhì (giờ là Q1), phía sau xe van Renault Goelette dừng lại cho người qua đường.

hinh 62

Hinh 62: Renault 8 (mẫu 1962) Saigon 1969-70 – Ngã tư Trần Hưng Đạo-Đề Thám.

hinh 63

Hinh 63: Renault 8 Gordini -4 đèn pha phía trước , sản xuất khoảng 1964-1970

hinh 64

Hinh 64: Renault Estafette trên đường Tự Do năm 1965, phía trước van Estafette là đuôi xe Citroen DS

hinh 65

Hinh 65: Xe Van Renault Estafette được sản xuất từ năm 1959 đến năm 1980 với tổng số 533,209 chiếc- Estafette là loại xe van đầu tiên ra mắt của công ty với công nghệ ổ diã xe đặt phía trước (front wheel drive)
Thiết kế thân xe có 3 cửa phía sau (three-part tailgate) cửa trượt bên hông (sliding side door) dựa vào sự thành công của Type H van Citroën.

hinh 65a

Van estafette có ba cửa mở ra phía sau.
Sau khi xe Van Estafette tung vào thị trường năm 1959, Renault là hảng chế tạo xe hơi duy nhất trên thế giới sản xuất các loại xe với 3 kỷ thuật công nghệ khác nhau:
Má đặt trước với ổ dỉa xe đặt phía trước ( the front engined front wheel drive ) như Van Estafette, máy đặt sau với ổ dỉa xe đặt phía sau (rear engined rear wheel drive ) như dòng xe Dauphine và máy đặt trước với ổ dỉa xe đặt phía sau (front engined rear wheel drive ) như dòng xe Fregate.

hinh 66

Hinh 66: Renault Estafette và bến xe buýt Renault-Saviem màu xanh-ngà, bùng binh chợ Bến Thành 1961

hinh 67

Hinh 67: Renault Goelette fourgon 1950 của trường nữ trung học Áo tím Gia Long

hinh 68

Hinh 68: Renault Goelette chở khách hàng trên quốc lộ 1 –Saigon Mỹ tho 1968 (photo Lance Nix)

 

hinh 69

Hinh 69: Renault Goelette Bien Hoa 1968 và Volswagen Van có cửa sổ., phía sau cùng xe Citroen Ami 6.

Peugeot cars

Peugeot là một trong số hãng sản xuất xe hơi lâu nhất, tuy nhãn hiệu lúc đầu- không phải đó làm xe hơi- bắt đầu năm 1842 (buôn bán máy nghiền cà phê, muối và tiêu). Người đầu tiên quan tâm đến chuyện làm xe hơi là ông Armand Peugeot và sau khi gặp ông Gottlieb Daimler, chiếc xe Peugeot đầu tiên được sinh ra – loại xe ba bánh- chạy bằng hơi nước vào năm 1889 .

hinh 70

 

Hinh 70: the Serpollet-Peugeot, xa ba bánh với động cơ bằng hơi nước ( steam powered tricycle) 1889
Năm sau, máy chạy bằng hơi nước được thay thế bằng xe bốn bánh với máy chạy xăng của Daimler.
Sau thế chiến thứ nhất, xe hơi trở thành phương tiện cần thiết và không được xem như hàng đắt giá, công ty khá thành công với hàng loạt dòng xe chạy xăng sản xuất từ hàng Societe Anonyme Des Automobiles Peugeot , xưởng sản xuất ở Adincourt. Công ty này là công ty tách ra từ công ty mẹ đó bà anh em Peugoet thành lập. Năm 1929 dòng xe Peugeot 201 được tung ra cùng với cách định mẫu các dòng xe độc đáo về sau bằng 3 con số, với số không nằm ở giữa.

Trong thời gian thế chiến 2, Peugoet bị ảnh hưởng nặng phải sản xuất các loại xe hơi và dụng cũ chiến tranh cho Đức. Khí thế chiến 2 chấm dứt hầu hết cơ xưởng Peugeot bị phá hủy cần phải được xửa chữa vì thế đến năm 1948 Peugeot mới cho ra dòng xe mới, dòng xe 203. Thời nầy Pháp trở lại ViệtNam và cho nhập cảng loại xe này rất nhiều!
Read more: http://www.autoevolution.com/peugeot/history/#ixzz44dNoqRG9
Các dòng xe Peugeot và năm được tung ra trên thị trường
• 104 (1972), 106 (1991), 107 (2005), 108 (2014)
• 201 (1929), 202 (1938), 203 (1948), 204 (1965), 205 (1983), 206 (1998), 207 (2006), 208 (2012)
• 301 (1932), 302 (1936), 304 (1969), 305 (1977), 306 (1993), 307 (2001), 308 (2007), 309 (1985), 301 (2012)
• 401 (1934), 402 (1935), 403 (1955), 404 (1960), 405 (1987), 406 (1995), 407 (2004), 408 (2010)
• 504 (1968),
Nhung dòng xe thường thấy ở Viet Nam , nhất là Miền Nam.
Peugoet 202, 203, 302, 403, 404 and 504

hinh 71

Hinh 71: NHA TRANG 1904-1907 – Gabrielle Vassal dans une voiture – Bà Gabrielle Vassal ngồi trên xe hơi ở Nha Trang. Có thể là biến thể của dòng xe Peugeot 33 -1901

https://www.google.com.au/#q=Gabrielle+Vassal+dans+une+voiture

hinh 72

Hinh 72 : Peugeot 202 và xe vận tải nhỏ Renault trên đường Charner 1950s

hinh 73

Hinh 73: Peugeot 202 thùng, chở hàng hóa (đầu 1950s)

hinh 74

Hinh 74: Taxi renault 4 CV, Jeep, Toyota Corona, Peugeot 404 , xe Hoa Kỳ trên đường Nguyễn Huệ.

hinh 75

Hinh 75: So sánh Peugeot với Simca
Đừng nhầm lẩn Peugeot với Simca 5 hoặc 8 (1946-50) –Peugeot 202 thiết kế với hai đèn trước nằm sau vỉ sắt tản nhiệt-radiator grill.

hinh 76

Hinh 76: Simca 5 hoặc 8, hai đèn trước nằm bên trong vỉ sắt
Peugeot 202 được sản xuất từ giữa năm 1938 -1942 và rồi sau đó bắt đầu sản xuất lại cuối năm 1945 , được bán trên thị trường đến năm 1949, thì được thay thế bằng Peugeot 203.
Peugeot 202 được trang bị động cơ làm mát bằng nước 1133 cc , cho tối đa là 30 PS (22 kW) tại 4000 rpm và tốc độ tối đa khoảng 100 km / h (62 mph).
Máy gắn phía trước tới bánh sau thông qua hộp số 3 tốc độ . Nhiên liệu được dẩn qua van trên cao , tại thời điểm đó đối thủ cạnh tranh rõ ràng nhất là Renault tung ra chiếc Renault Juvaquatre, vẫn cung cấp nhiên liệu qua van bên cạnh máy.

hinh 77

Hinh 77: Peugeot 302. Để ý sự khác biệt bên hông xe và kính trước.

Peugeot 302 là tiền thân của 202. Được giới thiệu tại Paris Motor Show 1936 và chỉ sản xuất trong 18 tháng, cho đến tháng tư năm 1938. Động cơ bốn xi lanh 1.758 cc làm mát bằng nước , tương tự như động cơ được trang bị cho peugeot 402, với tốc độ tối đa 105 km / h (65 mph).

hinh 78

Hinh 78: Peugeot 402 B.E 1939

hinh 79

Hinh 79 : Peugeot 203 , VW Kombi, Peugept 404, Simca Aronde góc đường Tự Do và Lê Lợi, bên hông khách sạn Continental Saigon 1968 – Photo by John F. Cordova – Café Givral bên trái và Continental Palace Hotel bên phải

Peugeot Taxi

Hinh 79a : Peugeot 203 taxi

hinh 80

Hinh 80: Peugoet 203 có thùng, dùng làm xe cứu thương và chở hàng nằm trong kho thương cảng Saigon 1951.

hinh 81

Hinh 81: Peugeot 203 Familiale khoảng đầu thập niên 1950s, 3 hàng ghế, chở đến 6 người.

hinh 82

Hinh 82: Peugeot 203-1955

hinh 83b

Peugoet 203 (late 1940s) Peugeot 1950s và Traction Legere 11
Hinh 83: Peugeot trên đường quê, thời Pháp thuộc trước 1954

hinh 84

Hinh 84: Peugeot 403 sản xuất từ 1955 đến 1966, với kiểu Pininfarina với 1468cc. Chiếc xe này hiện được trưng bày trong phòng triển lãm ở Saigon.

hinh 85

Hinh 85: Peugeot 403- 1960

hinh 86

Hinh 86: Peugeot 403 trên đường Tự Do, trước Hạ Viện 1968 (bây giờ nhà hát Thành phố)

hinh 87

Hinh 87: Peugeot 403 trên đường Thống Nhất, trước dinh Độc Lập

hinh 88

Hinh 88: Peugeot 403 trước Vương Cung Thánh Đường 1966 (Tom Briggs)

hinh 89

Hinh 89: Peugeot 404 trên đường Nguyễn Huệ

hinh 90

Hinh 90: Peugeot 404 SAIGON 1971 – Ngã tư Đoàn Thị Điểm – Phan Đình Phùng
Nay là ngã tư Trương Định – Nguyễn Đình Chiểu – Photo by Dick Leonhardt

hinh 91

 

Hinh 91: Peugeot 404 station wagon

hinh 92

Hinh 92: Peugeot 404-1964 hiện được trưng bày trong bảo tàng viện xe cổ ở Saigon.

http://www.thetruthaboutcars.com/2012/09/no-credit-no-problem-uncle-hos-used-cars-has-a-low-mile-zis-for-you/#comments

hinh 93
Hinh 93: Ford Fairlane 500 model 1957, Peugeot 404 1960 and Renault 12TS (1970s) hay Peugeot 504 trên đường Tự Do trước Hạ Viện (bây giờ Nhà hát thành phố)

hinh 94

 

Hinh 94: Peugeot D3A Camionette 1954 trên đường Phan Đình Phùng.

Citroen cars

hinh 94a

SOCIÉTÉ ANONYME DES ÉTABLISSEMENTS BAINIER
21, bd Bonard và 100-102, bd Charner
Traction Avant, tiếng Anh là front-wheeled drive –FWD-lực kéo xe đặt ổ bánh phía trước được thiết kế bởi hai ông André Lefebvre và Flaminio Bertoni khỏang cuối năm 1933, đầu năm 1934. Tuy không phải là những người sản xuất FWD đầu tiên (xe Alvis được thiết kế FWD năm 1928 ở Anh, L29 từ năm 1929-1932 tại Hoa Kỳ và DKW F1 năm 1931 tại Đức) Traction Avant áp dụng công nghệ FWD vào khung liền vỏ – unitary body. Cùng với dòng xe DKW 1930s của Đức, Traction tiên phong trong công nghệ FWD được tung lên thị trường sản xuất xe khối ở Âu Châu (European mass car market).
Trong năm 1930, hãng Citroen đã đấu tranh để cạnh tranh với các hảng đối thủ như Peugeot và Renault. Andre Citroen nhìn thấy công ty của ông cần một thiết kế mới với tiềm năng cách mạng hóa ngành công nghiệp xe hơi. Ông sang Mỹ và tìm được cảm hứng ấy sau khi thăm viếng Tổng công ty Budd tại Hoa Kỳ. Nơi đây ông chứng kiến xe hơi được thiết kế theo kiểu khung liền vỏ (vỏ xe ̣không phải là vỏ bánh xe -tiếng Anh Unitary Body or Unibody), kết cấu thân xe và khung xe (chassis) vào một đơn vị nhẹ. Thiết kế của công ty Budd bao gồm sáng kiến mới, đặt máy xe (engine) và bộ phần truyền tải (transmission) phía trước của xe, lợi thế công nghệ này làm nội thất xe rộng hơn, trung tâm trọng lực gravity thấp hơn và như vậy giúp cho việc xử dụng xe hoàn hảo (superior) hơn.
Cấu trúc Traction Avant dựa trên khung và vỏ sườn hàn lại với nhau-gọi chung là khung vỏ như đã nói trên. Hầu hết các xe khác của thời đại này dựa trên một khung riêng biệt (chassis) và vỏ (thùng) xe được hàn vào. Công nghệ khung vỏ –unibody or unitary body thân đơn nhất- đưa đến kết quả sản xuất xe nhẹ hơn, và vì thế công nhiệp này được sử dụng cho hầu như tất cả các công trình xe sedan về sau.
Mẫu Traction Avant ban đầu là một saloon nhỏ với 2.910 mm (115 in) chiều dài và 1.303 cc (79.5 cu in) động cơ, mô hình này được gọi là 7A. Chỉ sau 2 tháng, với khoảng 7.000 xe được sản xuất, 7A được nối tiếp trong tháng sáu năm 1934 bởi dòng xe 7B với động cơ 1.529 cc với hai cần gạt nước (screen wipers) thay vì một gạt nước duy nhất của dòng xe 7A . Dòng xe 7Bs được thay thế bởi dòng xe 7C mạnh hơn với động cơ 1628cc
Mẫu xe về sau dòng 11 (tung ra tháng 11, 1934) với 1,911 cc (116.6 cu in) bốn xy lanh và dòng 15 (tung ra khoang tháng 6, 1938), với 2,867 cc với 6 xy lanh. Dòng 11 có hai kiểu 11BL (“légère”, or “light”), có cùng kích thước với dòng 7 CV, và 11B (“Normale”, or “normal”) với bánh xe (wheel) to hơn và bề ngang bánh xe rộng hơn.
Nhin qua, không thấy sự khác biệt to lớn giữa 7CV và loại sinh sau 11CV và 15CV, tuy vậy những dòng xe này được thiết kế hài hòa, thú vị, được ham chuộng thời ấy, mặc dù không phải là loại xe có chiến lược viễn kiến Traction Avant trở thành một trong những dòng xe đặc biệt nhất, mở màn cho những loại xe sinh nửa thế kỷ sau-dòng xe “cách mạng” Citroën DS.

Các dòng xe Citroen và thời gian sản xuất

Citroen 7CV –1934-41
Citroen 11CV -1934-57
Citroen 15CV-1938-56
Citroen DS 19-1955
Citroen DS 21-1970
Citroen DS 23-1973

hinh 95

Hinh 95: Citroen cổ xưa AC4 model 1927-đậu trước hảng xăng dầu Shell , góc đường Norodom-Luro (Thống Nhất Cường Để thời VNCH sau nầy Lê duẩn-Tôn đức thắng), công ty được thành lập đầu thập niên 1930s với tên Companie Franco Asiatique des Petroles

hinh 96

Hinh 96 : Xe xưa Citroen, Peugeot và Renault, góc đường Catinat (Đồng Khởi ) và Bonard ( Lê Lợi) phía trước nhà hát Thành Phố-bên hông là công viên Garnier trước 1954. (Manhhai photo albums)

hinh 97

Hinh 97: Traction 11B Cabriolet RHD 1937 và Traction 11B Sedan 1937

hinh 98

Hinh 98: Traction Avant 11B –cabriolet 1937 tân trang đậu trên đường phố Saigon

hinh 99

Hinh 99: Traction Onze BL 11 (Legere=nhẹ) bên phải và Traction 11 màu trắng bên trái với thùng xe phía sau to gấp đôi được giới thiệu với kiểu xe 1952 (Ra mắt vào tháng năm 1934), 1.911 cc , động cơ bốn xy-lanh.

hinh 100

Hinh 100: Citroen traction-avant 11 model 1953.

hinh 101

Hinh 101: Xe Citroen và Vedette đậu ở góc đường Lê Lợi và Pellerin (Pasteur) ngày xưa có khu giải trí và rạp hát Casino Saigon

hinh 102

Hinh 102: Traction 15 ra mắt tháng 6 năm 1938 với 2,867 cc, sáu xy lanh

hinh 103

Hinh 103: Chiếc xe Traction 11 đậu trước nhà hàng Sing Sing, phía sau xe Traction là ngã tư Phan Đình Phùng & Đoàn Thị Điễm.

hinh 104

Hinh 104: Traction 11 xưa trên đường phố Saigon 1969

hinh 105

Hinh 105: Traction 11 kiểu sau 1935, chỉ có một ống bơm xăng và có thể mở cóp sau để chứa đồ. Traction sản xuất trước 1935 có 2 ống bơm xăng 2 bên.

hinh 106

Hinh 106: Traction Onze BL (legere) mẫu 1937

hinh 107

Hinh 107: Citroen đậu tại bến xe lô-ca-xông đường Phạm Ngũ Lăo gần Chợ Bến Thành năm 1969.Người Saigon một thời dùng xe này như xe khách, gọi là xe lô-ca- xông (location).

hinh 108

Hinh 108: Xe traction đậu trên đường Bonard (Lê Lợi)  năm 1953- Chiếc đầu là custom-made (làm theo kiểu đặt hàng) traction avant  Onze 11, sau đó là chiếc traction 11, kế tiếp là Renault Monaquatre.

Citroen DS
Citroen tung vô thị trường loại xe DS thay thế Traction Avant 11.Mẫu đầu tiên DS 19 được tung ra năm 1955, trong khi dòng ID rẻ hơn, máy yếu hơn được tung ra năm 1957. Dòng xe DS và ID luôn luôn được cái thiện trong suốt quá trình sản xuất 20 năm. Đầu tiên DS 19 với 1911 phấn khối- mang qua từ Traction Avant, sau đó được thay thế bởi DS 19a với 1985 cc (phấn khởi) năm 1965 (còn gọi là DS 20 từ năm 1969). Cùng năm DS 21 được tung ra với 2175 cc, máy mạnh hơn nhờ bộ phận phun nhiên liệu cửa hãng Bosch được gắn vào xe đầu tiên năm 1970. DS 21 trở thành một trong những loại xe đầu tiên bán trên thị trường khối (mass market) với bộ phun nhiên liệu điện tử năm 1970.
Sau cùng dòng DS 23 được giới thiệu vào năm 1973 với lòng máy 2347 cc, với 2 lựa chọn với bộ máy hòa khí (carburator) hay bộ máy phun nhiên liệu điện tử. Dòng DS 23 với bộ máy phun khi là dòng xe mạnh nhất sản xuất 141 hp (105 kW). Cũng nên biết 1Hp=.7457Kw

hinh 109

Hinh 109: Hinh quảng cáo DS 19, năm 1957, trước cổng Lăng Tả quân Lê Văn Duyệt
http://www.dsinasia.com/Vietnam/history.html

hinh 110

Hinh 110: Citroen DS 19 trên Bến Bạch Đằng (Tôn đức thắng) góc đường Hàm Nghi, tòa nhà là trụ sở Tổng Cục Quan thuế trước 1975- Trong ảnh có thể nhìn thấy cả xe taxi Dauphine và Peugoet 203. Ảnh chụp khoảng cuối thập niên 1960s.

Khi Citroen tung DS 19 năm 1955 vào thị trường báo chí thời bấy giờ ca ngợi chiếc xe này như được thiết kế từ một hành tinh nào đó trong vũ trụ.
Hệ thống nhúng treo thuỷ khí (Hydro-pneumatic suspension), Hệ thống phù trợ cho tay lái (assistance systems for the steering), thằng –phanh (brakes) và cần đổi số (gearshift lever), and inboard đĩa thắng trước (inboard front disc brakes) là những tiến bộ tiền phong của loài thiết kế đặc biệt-khác thường này.

hinh 111

Hinh 111: Citroen DS 19 series đậu trước hội trường Diên Hồng- trụ sở Thương Nghị Viện thời Việt Nam Cộng Hoà (bến Chương Dương)-bây giờ là Sở Giao dịch Chứng khoán ( 45-47 Bến Chương Dương, Quận 1)- trong thời gian hội nghị Colombo.

hinh 112

Hinh 112: DS 19 đậu trước khách sạn Continental

hinh 113

Hinh 113 : DS 19 trên quốc lộ 1 Saigon–Trung Lương 1968 (Lance Nix)

hinh 114

Hinh 114: DS 21 and DS 19 tại Càphê 30/4 trong khuôn viên Định Độc Lập (Hội trường Thông Nhất bây giờ) đường Huyền Trân Công Chúa.

hinh 115

Hinh 115: DS 23 là loại xe DS hiếm thời bấy giờ, chiếc nầy được đồn đại là của Tổng Thống Thiệu, Đệ Nhị Cộng Hoà, sau lọt vào tay tướng Trán văn trà.

Những tính năng như hệ thống nhúng treo tự cân bằng, đèn pha hướng, phanh trợ lực( power brakes) và trợ lực tay lái- power steering (tất cả được điều khiển bởi hệ thống thủy lực treo ( hydraulic suspension) xác nhận vị trí Citroen một lần nữa ở đỉnh cao của sự sáng tạo xe hơi thời bấy giờ.

DS 21 (1968-1975)
DS 21 đến thị trường 16 năm sau DS19, về cơ bản là một cải thiện quan trọng của dòng xe DS. Sự khác biệt kỹ thuật chủ yếu là động cơ công suất lớn hơn DS 19 và là một trong những Citroëns đầu tiên với hệ thống phun nhiên liệu.
DS 23
Với động cơ 2347cc đến trong cả hai hệ thống phun nhiên liệu fuel injection và các hình thức dùng bộ chế hòa khí carburetor. Các mẫu xe dùng hệ thống phun nhiên liệu điện tử đã sản xuất DS mạnh nhất mọi thời đại, với 143 HP. Các dòng DS biến thể (variant) mới nhất này đi kèm với sự lựa chọn loại hộp số: một bốn số tự động gọi là “HYDRAULIQUE” (four-speed automatic called “Hydraulique”), một ba số tự động từ Borg-Warner và hai không tự động (manuals) với hộp số gồm 4 hoặc 5 tốc độ (4 or 5 speeds)
(http://www.autoevolution.com/cars/citroen-ds23-1973.html#aeng_citroen-ds23-1973-23-117-hp)
Chú ý Citroen tung lên thị trường dòng xe DS bên cạnh dờng ID được tung ra thị trường nội địa Pháp với giá rẻ hơn. Tuy bề ngoài khó phân biệt, ID có lòng máy nhỏ hơn nên công xuất yếu hơn cộng với bộ thằng đĩa không tân tiến.

Citroen 2 CV (citroen deux cheveaux)-xe con coc

Citroen 2CV (tiếng Pháp: “deux chevaux” tức là “deux chevaux-VAPEUR” (dịch nghĩa “hai con ngựa hơi”, hay tax hores power “hai thuế mã lực”) là một FWD (Front Wheel Drive) ổ đĩa bánh trước , máy mát bằng không khí, xe được giới thiệu tại hội chợ 1948 Paris Mondial de l’Automobile , Citroën sản xuất năm mẫu xe trong khoảng thời gian 1948-1990.
Được thai nghén bởi Phó Chủ tịch Pierre Boulanger nhằm cơ giới hóa số lượng lớn nông dân vẫn còn sử dụng ngựa và xe ngựa kéo trong năm 1930 Pháp, 2CV được ghi nhận từ sự kết hợp tối đơn giản về kỹ thuật sáng tạo và tiện dụng, đơn giản thân xe bằng kim loại – khởi thủy uốn như tôn vượn sóng làm tăng thêm sức mạnh cho thân xe mà không cần thêm trọng lượng. 2CV đặc trưng với giá bình dân, chi phí thấp, bảo trì và vận hành, một động cơ làm mát bằng gió ,tiêu thụ nhiên liệu thấp, và một hệ thống nhúng treo, nhẹ nhàng off-road, sàn xe cách cao mặt đất , và điều chỉnh chiều cao hệ thống nhúng bằng cách kéo dài / rút ngắn của thanh kéo (tie rods) . Thường được hóm hỉnh, thân mật gọi “một chiếc ô-dù trên bánh xe”. 2CV có điểm nổi bật là mui trần có thể mở cuốn lại (canvas, rolled back sun roof) kéo dài tới gần cản sau của xe, cho phép xe tải vật dụng quá khổ.
Sản xuất tại Pháp giữa năm 1948 và 1989 (và cuối cùng hai năm ở Bồ Đào Nha 1989-1990), hơn 3,8 triệu 2CVs đã được sản xuất, cùng với hơn 1,2 triệu xe tải thùng nhỏ giao hàng 2CV được biết đến như Fourgonnette. Citroen cuối cùng đưa ra một số dòng xe biến thể giống nhau về cơ học bao gồm cả dòng Ami (hơn 1,8 triệu chiếc); các Dyane (hơn 1,4 triệu chiếc); các Acadiane (trên 250.000 chiếc); và Mehari (hơn 140.000 chiếc ). Tổng cộng, Citroën sản xuất hơn 8,8 triệu “A Series” xe, gồm các biến thể 2CV được biết đến.
Một đánh giá kỹ thuật 1953 của tổ chức Autocar (Anh) mô tả “sự khéo léo phi thường của thiết kế này, mà chắc chắn là độc đáo nhất kể từ Model T Ford của Henry Ford ở Mỹ”. Năm 2011, The Globe and Mail (Canada) gọi đó là một “chiếc xe độc nhât không có đối thủ”.

hinh 116

Hinh 116: Citroen 2CV Mẫu 1959 và mẫu 1962.

hinh 117

Hinh 117: Citroen mẫu 1970 và Citroen mẫu 1955.

hinh 118

Hinh 118: Citroen 2CV mẫu 1955 chạy trên Bến Chương Dương–đầu đường Tự Do

hinh 119

Hinh 119:Citroen 2 CV fourgonnette AU 1951-1962

hinh 120

Hinh 120: Citroen 2 CV sedan và Citroen 2CV fourgonnette AU 1951-1962 chạy phía trước góc Tự Do và công trường Lam Sơn.

hinh 121

Hinh 121: 1966 Citroen Ami 6 Berline Sedan

hinh 122

Hinh 122: Ami 8 1971

Citroen Ami được tung ra thị trường ngày 25 tháng 4 năm 1961, bốn tháng trước Renault 4 R 4 (xem hinh 50). Cả Renault 4 và Citroen Ami đáp ứng nhu cầu thị trường cần một chiếc xe hơi cỡ lớn hơn và it mộc mạc hơn 2CV. Ami là một 2CV với thân xe được làm lại , máy lớn hơn so với 1950 2CV), để bù đắp cho trọng lượng tăng thêm. Lúc tung ra trên thị trường, xe được trang bị máy làm mát bằng không khí với 602 cc hai xy-lanh động cơ phẳng.
Bộ khung chính và hệ thống nhúng treo tương tự như 2CV. Ghế của Ami dễ dàng tháo rời. Citroen Ami loại xe siêu nhỏ (supermini) được sản xuất từ năm 1961 đến năm 1978, là một trong số năm mẫu xe bán chạy nhất tại Pháp. Sản xuất đạt 1.840.396 đơn vị. Amis được thay thế bằng Visa Citroen từ năm 1978.
Cũng nên biết, ở Pháp biệt danh 3CV còn được dùng cho dòng xe Ami 6, nhưng không bao giờ được áp dụng cho dòng Ami 8.

hinh 123

Hinh 123: Citroen Ami 6 trên đường Lê Lợi –công trường Lam Sơn 1971

Xe La Dalat-Xe hơi sản xuất đầu tiên ở VietNam.

hinh 124

Hinh 124: Xe La Dalat-xe hơi sản xuất từ Việt Nam lần đầu tiên với sự yểm trợ công nghệ từ Citroen. Ảnh chụp “Saigon June 1974 – Hàm Nghi boulevard” by Jack Garofalo-Paris Match via Getty Images, và giao lộ Tôn Thất Đạm) (https://www.facebook.com/photo.php?fbid=872558386132787&set=g.865130223501356&type=1&theater)

 

hinh 125

Hinh 125: Các kiểu xe La DaLat
http://saigoneer.com/saigon-technology/3129-made-in-vietnam-la-dalat

Sau thế chiến thế nhất, công ty Ford tung ra loại xe hơi thực dụng – rẻ tiền, để đáp ứng nhu cầu di chuyển của dân Mỹ- Ford Model T2. Sự thành công của Ford Model T2 do tài sáng tạo thiên tài của Henry Ford qua công nghệ sản xuất dây chuyền. Ford Model T được bầu là xe có ảnh hưởng nhất của thế kỷ 20 trong cuộc thi Car of the Century-Xe hơi của thế kỷ năm 1999, trước các dòng xe BMC Mini, Citroën DS, và Volkswagen Type 1
(https://en.wikipedia.org/wiki/Ford_Model_T)
Cũng thế, để đáp ứng nhu cầu về phương tiện di chuyễn của dân Pháp sau thế chiến 2 , Citroen đã tung ra thị trường chiếc xe 2CV, sau khi gặt hái thành công trong việc sản xuất một chiếc xe rẻ tiền, bền bỉ, bảo trì và sửa chửa dễ dàng, thực dụng cho dân chúng thời hậu chiến. Citroen tiếp tục tung ra Citroën Dyane 6 và Méhari sản xuất cuối thập niên 50 và đầu thập niên 60. Xe Citroën La Dalat sản xuất ở Việt Nam là loại xe căn bản dựa trên kiểu Citroën Baby Brousse sản xuất ở Côte d’ivoire, dựa theo kiểu xe Méhari.
Như đã biết Citroen đã xuất hiện ở Đông Dương (Indochine) từ đầu thập niên 1930s qua các đại lý, nổi tiếng nhất là Công Ty Bainier ở góc đường Bonard và Charner. Từ năm 1937, quyền đại lý cho Citroen chuyển qua cho Công Ty Saigon-Citroen của ông Henri Hospital ở 37 Lê Thánh Tôn.

hinh 126

Hinh 126: Cơ xưởng sản xuất La Dalat ở Bến Vân Đồn 1971.

Từ năm 1971 Xe La Dalat được lắp ráp sản xuất tại Bên Vân Đồn (đường Tôn Thất Thuyết) nơi tọa lạc của hãng thuốc lá Bastos ngày xưa.
Xe hơi Citroen Công Ty đổi về địa chỉ Establishments Le Comte ở đường Thống Nhất (bây giờ Diamond Plaza) rồi biến thành Saigon Xe hơi Công Ty là nơi trưng bày, bán sản phẫm Citroen và xe La Dalat.
Đầu tiên Citroen nhập cảng vào Việt Nam những bộ phận chính như máy, tay lái, bộ nhúng, bộ thắng… Phần còn lại như đèn, kèn báo hiệu, ghế, giàn đồng, mui xe được chế tạo tại Việt Nam. Lúc tung ra thị trường vào năm 1970, tỷ lệ cơ phận nhập cảng so với cơ phận nội địa là 75/25 cho đến năm cuối cùng khi hảng Citroen đóng cửa vào năm 1975 là 60/40. Có tất cả là 4 kiểu La Dalat: loại 4 chổ ngồi hoặc 2 chổ ngồi với thùng chở hàng (hinh 122).

hinh 127

Hinh 127 : Citroen Mehari

Delahaye cars

hinh 128

Hinh 128: Quảng cáo xe Delahaye của công ty Bainier, Saigon

hinh 129

Hinh 129: Delahaye 235 mẫu 1951-54

Hãng xe hơi Delahaye do Emile Delahaye thành lập từ năm 1894 tại Tours, Pháp. Năm 1896, xe Delahaye tham gia cuộc đua Paris–Marseille–Paris và đứng hạng 8 với tốc độ trung bình 20 km/giờ. Một thành tích đáng nể vào thời đó.
Hiệu xe Delahaye chấm dứt hoạt động năm 1954 nhưng đã để lại một tiếng vang khá lớn trong giới yêu xe cổ. Nổi bật nhất là ca sĩ Elton John với chiếc Delahaye 178 Drophead Coupé được sản xuất năm 1949.
Không thấy dấu vết của loại xe này tồn tại ở Vietnam.

hinh 130

Hinh 130: Xe Delahaye của ca sĩ nổi tiếng người Anh, Sir Elton John.

Phụ Lục:

Citroen 11

Citroen, xe hơi đầu tiên thiết kế với ổ bánh lái phiá trước (Front Wheel Drive FWD), năm 1934 là chiếc xe Citroen Traction Avant (FWD) nguyên mẫu (prototype) với máy 1300 cc trên thân khung liền vỏ (unibody). Mặc dầu thành công với Citroen 7, Andre Citroen yêu cầu kỹ sư của ông cưa chiếc 7 ra làm đôi và làm bề ngang rộng thêm khoảng 12 cm . Dòng xe thứ nhất ra đời vẫn với 1300cc cho công xuất 23,5kW (32 Hp), so với trọng lượng xe 1000kg, máy hơi yếu. Dòng xe thứ hai ra đời máy mạnh hơn với công xuất 26.5 kw (36hp) 1628 cc và cuối cùng với 1911 cc cho ra công xuất 34 Kw (46 hp) cho đến hết đời của traction 11 năm 1957.

Đặc điểm công nghệ, máy, bộ hợp ly (clutch) và bộ hộp số có thể tách rời ra bộ phận riêng làm cho việc bảo trì, sửa chữa dễ dàng, ổ bánh trước (FWD) với nhúng treo độc lập, chiếc xe có chiều dài nên trọng lực thấp, sàn thấp làm cho xe dễ lái và bắt đường (road holding).

Vì khả năng dễ lái và chạy nhanh Traction 11 rất được yêu thich và phổ biến trong giới xã hội đen(gangster), nên còn được mệnh danh là xe của dân xã hội đen.
Citroen hầu hết sản xuất loại sedan 4 cửa, nhưng cũng có một số ít mẫu Coupe và roadster.

hinh 131

Hinh 131: Trái, Traction 7; Giữa, Traction 11 ; Phải, Traction 15

Renault 2CV

Trích từ http://hoangkimviet.blogspot.com.au/2013/05/xe-con-coc-citroen-2-cv.html
Cuộc phiêu lưu Paris-Tokyo bằng 2 CV

hinh 132

Thập niên 50 có hai người pháp gốc Lyon tổ chức một chuyến đi từ thủ đô Pháp Quốc, Paris đến Tokyo, nước Nhật Bản băng qua 2 lục địa, châu Âu và châu Á. Chuyến đi khởi hành ngày 2 tháng tám 1956 và đến Tokyo ngày 19 tháng tư 1957 với đường về không ngưng nghỉ trong một tháng trên một chiếc xe Citroën 2 CV kiểu A sản xuất năm 1939.

hinh 133.jpg

Với 9 tháng thám hiểm trên các nẻo đường. Jacques Cornet và Georges Kim đã chứng kiến từng khuôn mặt thay đổi trên những chặng đường đi qua. Vừa có tính cách mạo hiểm đầy thể lực mà cũng là kinh nghiệm cho con người. Họ đã quan sát và nhìn tận mắt những phong tục tập quán, những chế độ chính trị, những phong cảnh của Á châu đầy cảm xúc. Mổi một quốc gia mà họ đi qua, để lại hàng lớp những bất ngờ, điều tốt và xấu, những tai nạn năng nề hoặc dí dỏm nhẹ nhàng.

hinh 134.jpg

Họ đã chống chỏi với thiên nhiên, vượt qua những chặng đường chưa có xe cộ lưu thông hoặc những chặng đường biến mất trong những cơn lũ dưới những cơn mưa tầm tã của vùng nhiệt đới.

hinh 135.jpg

Họ cũng hưởng được những sự tiếp đón nồng hậu của các sắc dân á châu, chia xẽ cuộc sống với những dân du mục trên sa mạc và củng hưởng những xa hoa tráng lệ của những nhà triệu phú.

hinh 136.jpg

Trên đường về, thật là một cuộc chạy đua với thời gian đã đưa họ về đến Paris dưới 1 tháng, sự hư hỏng máy móc nhiều khi làm họ khốn đốn trên sa mạc. Khi họ khởi động lại được cổ máy để tiếp tục con đường, nhờ vào trí thông minh tháo vát và năng động, họ vẫn thành công bắt chiếc xe phải hoạt động và đưa họ trở về nhà.

hinh 137.jpg

 

Đại lý hảng xe hơi ỏ Hà Nội.

 

Nguồn :https://36hn.wordpress.com/2015/07/24/xe-hoi-va-cac-hang-xe-o-ha-noi-xua/

ha noi auto hall

ha noi sim ca

(http://tranthanhnhan1263.blogspot.com.au/)

 

ha noi hang peugeot

 

Tham Khảo:

http://saigon-vietnam.fr/
http://stubs-auto.fr/
http://www.hemmings.com/
https://www.flickr.com/groups/vehicle/
http://www.avant-train-latil.com/hanoi.php
http://www.antiqbrocdelatour.com/
http://www.dsinasia.com/Vietnam/history.html
http://www.flickriver.com/photos/photiste/8169524851/
http://motoburg.com/549-citroen-type-a-tourer.html
1949 Delahaye Type 178 Drophead Coupe - Elton John car - rvr
http://belleindochine.free.fr/Automobile.htm
http://www.renaultoloog.nl/autos-francais.htm
https://en.wikipedia.org/wiki/
http://www.entreprises-coloniales.fr
http://www.erclassics.fr/voitures-francaises-de-collection.php
https://www.flickr.com/photos/13476480@N07/albums (manhhai albums)
British family cars of the fifties . Michael Allen
Martin Buckley and Chris Rees .The Complete Illustrated Encyclopedia of Classic Cars
David Lillywhite et al. The Encyclopedia of Classic Cars

http://hoangkimviet.blogspot.com.au/2013/05/xe-con-coc-citroen-2-cv.html

Y Nguyen  Mai Tran 4/2016

Xem phần 2-Xe cổ điển không phải từ Pháp ở miền Nam trước 1975

Xem phần 3-Xe chở khách miền Nam trước 1975

 

 

 

 

 

 


Việt Nam và Thế Vận Hội trước 1975

Việt Nam và Thế Vận Hội trước 1975

Mai Trần –Y Nguyên

 

Việt Nam tham dự Thế Vận Hội lần đầu tiên năm 1952 tại Helsinki, Phần Lan.  Phái đoàn lực sĩ Việt Nam mang chuông đi đánh xứ người dưới quốc kỳ cờ vàng ba sọc đỏ.  Tưởng cũng nên nhắc lại cờ vàng có từ thời Hai bà Trưng (40) thời Gia Long (1802).

Sau khi được Nhật trả lại độc lập, vua Bảo Đại cử Trần Trọng Kim (1), vị thủ tướng Việt Nam đầu tiên (từ 17  tháng 3,1945 – 23 tháng 8, 1945)  chọn cờ quẻ ly, quốc kỳ của Đế Quốc Việt Nam, mặc dù  Nam kỳ (Cochinchina) vẩn còn là thuộc địa của Pháp.

Cờ Quẻ LY

Cờ quẻ ly (Trần Trọng Kim 8 tháng 5 – 30 tháng 8, 1945)

Đến năm 1948 thủ tướng Nguyễn văn Xuân ra sắc lệnh ngày 2/6/1948 qui định “Biểu hiệu Quốc Gia là một lá cờ nền vàng, chiều ngang bằng 2/3 chiều dài, giữa có ba sọc đỏ đi suốt lá cờ, rộng bằng 1/15 chiều dọc và cũng cách bằng nhau chừng ấy” trong khung cảnh đang đàm phán Hiệp ước  Elysée (Elysée Accords) trao trả độc lập cho Việt Nam.  Hiệp định này được ký kết ngày 8/3/1949 tại điện Elysée, Paris  giữa vua Bảo Đại và Tổng Thống  Pháp Vincent Auriol.  Sau hiệp định Geneve (Geneva Accords) 20 tháng 7 1954 chia đôi đất nước, cờ Việt Nam nền vàng ba sọc đỏ trở thành cờ Việt Nam Cộng Hoà.

Cờ Vàng ba sọc đỏ

Cờ vàng 3 sọc đỏ từ tháng 2, 1948 – 30 tháng 4, 1975

Việt Nam  tham dự Thế Vận Hội dưới màu cờ vàng ba sọc đỏ lần đầu tiên năm 1952 tại Helsinki , thủ đô Phần Lan và các Thế Vận Hội tiếp theo –Melbourne, Úc 1956; Rome, Ý 1960; Tokyo, Nhật Bản 1964;Mexico, Mễ Tây Cơ 1968  và Munich, Tây Đức 1972.

Việt Nam và Thế Vận Hội Helsinki, Phần Lan 1952

Khai mạc: 19 tháng 7 1952
Kết thúc: 3 tháng 8 1952

Tuyên bố độc lập ngày 6/12/1918 từ Nga, Phần Lan được uỷ quyền tổ chức Thế Vận Hội 1940, nhưng vì chiến tranh thế giới hai, phải hoản lại đến 1952.  Việt Nam lần đầu tiên tham dự Thế Vận Hội tổ chức tại thủ đô Helsinki, Phần Lan. Tuy tình hình chính trị và chiến tranh vẩn còn xôi động, chính phủ Nguyễn Văn Tâm  gởi một phái đoàn nam lực sỉ gồm có 8 người tranh tài trong các bộ môn bơi lội, điền kinh (athletics), quyền Anh (boxing) và đua xe đạp (cycling).

Tuy với dân số hơn 4 triệu, Thế Vận Hội đã thành công trong bầu không khí “Chiến Tranh Lạnh” với 4932 (4411 Nam, 521 nữ) lực sỉ tham dự từ 69 quốc gia/lảnh thổ.

Bản Đồ Phần Lan

http://www.sports-reference.com/olympics/summer/1952/

Cờ VN Helsinki

Cờ VN phất phới tại Thế Vận Hội Helsinki 1952

Vận Động Trương va Huy Chuong Helsinki

Bieu tương và đuoc Helsinki 1952

Cờ VN canh My và Phan Lan

Cờ Việt Nam bên cạnh cờ Mỹ và Phần Lan

 

Thành phần lực sỉ tham dự

Tên Giới Tính Tuổi/Ngày Sanh Bộ Môn
Lê Văn Phước Nam 22/15  tháng 10 1929 Đua xe đạp Đường trườngCá nhân 190.4kmĐồng đội 190.4km
Châu Phước Vinh Nam 25/8  tháng 5 1927 Đua xe đạp Đường trườngCá nhân 190.4kmĐồng đội 190.4km
Lưu Quần Nam 27/19 tháng 6 1925 Đua xe đạp Đường trườngCá nhân 190.4kmĐồng đội 190.4km
Nguyễn đức Hiền Nam 27/14 tháng 11 1925 Đua xe đạp Đường trườngCá nhân 190.4kmĐồng đội 190.4km
Nguyễn văn Phan Nam 23/30 tháng 6 1929 Bơi lội 100m tự do;400m tự do
Tiến Vinh Nam 31 Quyền Thuât Quyền Anh hạng gà (bantamweight)
Tôn Thất Hải Nam 16/16 tháng 7 1935 Kiếm thuật Epée (kiếm ba cạnh)
Trần văn Lý Nam 25/20 tháng 2 1927 Điền kinh Chạy 10.000m

 

Việt Nam không được huy chương nào (cả 4 cua rơ đều bỏ cuộc) nhưng phái đoàn Việt Nam được hoan nghinh nhiệt liệt khi diển hành trong lễ khai mạc tại vận động trường The Olympiastadion Helsinki.

Tôn That Hải 1952

Tôn Thất Hải, lực sỉ trẻ nhất phái đoàn (16 tuổi), tranh tài bộ môn Kiếm ba cạnh (epée)

Cua rơ  Nguyễn Đức Hiền sinh năm 14/1/1925 tại Châu Đốc. Năm 20 tuổi, Nguyễn Đức Hiền lên Sài Gòn làm thư ký bưu điện và đầu quân cho đội URAGO, sau đó là các đội STELLA, Độc Lập… Trong những năm từ 1949 đến 1956, ông là một trong những tay đua luôn có thứ hạng cao trong các cuộc đua ở Sài Gòn. Đặc biệt, Nguyễn Đức Hiền cùng các cua rơ  Châu Phước Vĩnh, Lê Văn Phước và Lưu Quần đã được vinh dự tham gia Thế Vận Hội Hensinki năm 1952 bô môn đua xe đạp đường trường cá nhân và chung đội. Năm 1982, ông còn đoạt chức vô địch giải đua xe đạp lão tướng tại Sài gòn trước khi vế hưu.

(http://vncycling.org/modules.php?name=Event&file=print&sid=39)

 

 Việt Nam (VNCH) và Thế Vận Hội Melbourne, Úc 1956

Khai mạc: 22 tháng 11, 1956
Kết thúc: 8 tháng 12, 1956

Lực sĩ tham dự 3314 (376 nữ và 2938 nam) đến từ 72 quốc gia.

Map of  Australia

Ngày 20/7/1954 Hiệp Định Genève phân chia VN thành hai nước từ vỉ tuyến 17 tại Cầu Hiền Lương, sông Bến Hải, thuộc tỉnh Quảng Trị , miền Nam theo chế độ Cộng Hoà, miền Bắc theo chủ nghĩa cộng sản Marx-Lenin-Mao.

Tuy Hiệp Định có đề cập đến chuyện Tổng Tuyển Cử thống nhất đất nước sau hai năm ký hiệp Định (1956), Mỹ  và phái đoàn  không cộng sản  Viêt Nam  (đứng đầu là vua Bảo Đại và thủ tư ớng Ngô Đình Diệm)  từ chối không ký Hiệp Định này vì cho rằng “không thể đảm bảo bầu cử tự do ở miền Bắc”, tổ chức chánh trị miền Nam còn phân tán, thiếu đoàn kết, không thể thắng cộng sản  được sự giúp đỡ của bộ máy cộng sản quốc tế đứng đầu với “đồng chí “ Nga và Trung Cộng , cũng như cơ hội biến miền Nam, dưới sự ủng hộ của Mỹ, thành một nước cộng hòa, tự do, dân chủ thânTây phương. Ngày 7/7/1954 Ngô Đình Diệm, với tư cách thủ tướng tuyên bố thành lập chính phủ mới gởi quan sat viên đến Geneva và bác bỏ đòi hỏi Tổng Tuyển Cử.

26/10/1955, thủ tướng Ngô Đình Diệm qua cuộc Trưng Cầu Dân Ý, bải bỏ chế độ Quân Chủ, thiết lập nền Cộng Hoà, tổ chức Quốc Hội Lập Hiến, soạn thảo Hiến Pháp

Ngày  26/10/1956, thủ tướng  Ngô đình Diệm tuyên bố Hiến Pháp mới, bải bỏ Chế độ Quân Chủ, truất phế vua Bảo Đại và thành lập nền Đệ Nhất Cộng Hoà. Ngô đình Diệm là vị Tổng Thống đầu tiên. Miền Bắc sau hiệp Định Geneve 20/7/1954 theo chế độ Cộng sản dưới sự lảnh đạo của Hồ chi minh.

Cũng nên biết Việt Nam dân chủ cộng hoà (VNDCCH ), sau khi đánh chiếm miền Nam, chỉ gởi lực sỉ tham dự  lần đầu tiên tại Thế Vân Hội  Montreal Canada  1980.

Phái đoàn Việt Nam có sáu nam lực sỉ tham dự bộ môn đua xe đạp, trong đó có 4 người tham dự môn xe đạp đường trường

Van Đông trương MCG 1956

Bieu tương và đuốc Melbourne 1956

olympic Australia

olympic Australia1956

Phái đoàn Việt Nam (VNCH) trong buổi lể khai mạc tại vận động trường MCG

Thành phần lực sỉ tham dự

Tên Giới Tính Tuổi/Ngày Sanh Bộ Môn
Lê Văn Phước Nam 27/15  tháng 10 1929 Đua xe đạp Cá nhân , rút (sprint)  1000m
Ngô thành Liêm * Nam Đua xe đạp Đua đường trường 187.7Km- đồng độiĐua đường trường 187.7Km-Cá  nhân
Nguyễn Hửu Thoại Nam Đua xe đạp Đua đường trường 187.7Km- đồng độiĐua đường trường 187.7Km-Cá  nhân
Nguyễn văn Nhiều Nam Đua xe đạp 1000m Tính giờ (time trial)
Trần Gia Thu Nam Đua xe đạp Đua đường trường 187.7Km- đồng độiĐua đường trường 187.7Km-Cá  nhân
Lê Trung Trung Nam 31 Đua xe đạp Đua đường trường 187.7Km- đồng độiĐua đường trường 187.7Km-Cá  nhân

Phái đoàn không nhận được huy chương nào (4 tay đua đường trường bỏ cuộc).

Tay đua Ngô Thành Liêm người Cần Thơ. Ngay từ lúc 14 tuổi, Ngô Thành Liêm đã tập môn xe đạp do sự dìu dắt của người anh trai là Ngô Bá Tạo, cũng là một cựu cua rơ thời bấy giờ. Năm 1949, ông lên Sài Gòn gia nhập đội URAGO và đến năm 1950 thì đầu quân cho đội A.J.S. Năm 1952, tay đua trẻ Ngô Thành Liêm đã giành được chiến thắng đầu tiên, Hạng Nhất trong cuộc đua Sài Gòn – Mỹ Tho – Sài Gòn. Từ năm 1952 – 1956, ông là một trong những tay đua xuất sắc và luôn giành được thứ hạng cao trong các cuộc đua lớn ở miến Nam. Ông chính thức giã từ đường đua năm 1974 và mất năm 1980 tại TP. Hồ Chí Minh.

URAGO là đội đua xe đạp dưới sự bảo trợ của hảng làm xe đạp URAGO Pháp, trụ sở chính ở Nice, miền Nam nước Pháp,  Urago giải thể thập niên 1980s.

AJS (Association de la Jeunesse Sportive) là hiệp hội thể thao có nhiều bộ môn, nổi tiếng nhất là bóng tròn.  AJS nổi tếng với những trận đá đèn giao hữu với các đội từ Âu Châu sang tại sân Tao Đàn phiá sau dinh Độc Lập (bây giờ là Hội trường Thống Nhất).

Một vài đặc điểm cuả Thế Vận Hội Melbourne 1956

-Các môn thể thao có dính dáng với Ngựa được tổ chức tại Thụy Điển  (tháng 6, 4 tháng trước lể khai mạc chính thức Thế Vận Hội ) để tránh những khó khăn vì  luật cách ly kiễm dịch (quarantine) của Úc.

-Trung cộng không tham gia Thế vận Hội vì sự có mặt cuả Đài Loan (Taiwan, Trung Hoa Dân Quốc).

– Sự kiện tẩy chay Thế  Vận Hội lần đầu tiên vì lý do thuần túy chính trị (Nga xăm lăng Hung, một số nước Á Rập vì Anh Pháp can thiệp vào chuyện kinh đào Suez)

Việt Nam (VNCH) và Thế Vận Hội Rome, Ý 1960

Thế Vận Hội được tổ chức tại Vận động trường Stadio Olimpico Rome, thủ đô Ý.

Khai mạc: 25 tháng 8 1960
Kết thúc: 11 tháng 9  1960

Lực sĩ tham dự 5338 (611 nữ và 4727 nam) đến từ 83 quốc gia.

map of Italy

 

 Van Đông trương Rome 1960

Bieu tương và đuốc Rome 1960

Phái đoàn Việt Nam có 3 người tham dự môn bơi lội và đánh kiếm nhưng không đoạt được huy chương nào. Lực sĩ trẻ nhất là Trương Kế Nhơn (21 tuổi) và lớn nhất Trần Văn Xuân 26 tuổi

Cờ VN Rome 1960

Cờ Việt Nam trong buổi lể khai mạc Thế Vận Hội Rome.

Danh sách lực sĩ tham dự:

Tên Giới Tính Tuổi/Ngày Sanh Bộ Môn
Phan Hữu Dõng Nam 21/14/11/1038Bến Tre Bơi Lội 100m Tự Do
Trần Văn Xuân Nam 25/6/9/1934 Đánh Kiếm Kiếm Ba cạnh (epée)Kiếm Chém(sabre)Kiếm Liểu

(foil)

Trương Kế Nhơn Nam 21/1/1/1939
Bạc Liêu
Bơi Lội 200m lội ếch

Trước  khi được cử tham dự Thế Vận Hội, Trương Kế Nhơn đoạt huy chương vàng tại Đông Nam Á vận hội  (SEAP) tổ chức ở Bangkok, Thái Lan từ 12-17 tháng 12, 1959.

Sau Thế Vận Hội , Phan Hữu Dõng, vô địch bơi lội Việt Nam (miền Nam) thời bấy giờ, đoạt được huy chương vàng SEAP tổ chức lần thứ hai ở Rangoon, Burma (now Myanmar) từ  11-16 tháng 12, 1961.

Cờ VN Seap 1959

Trương Kế Nhơn đoạt Huy Chương vàng với môn lội ếch 100m tại Đông Nam Á vận hội SEAP 1959 Bangkok.  

 Trần văn Xuân 

Kiếm sĩ tham dự hai Olympics 1960 và 1964 Trần văn Xuân 2005

Trần Văn Xuân sanh ngày 6 tháng 9 năm 1934.  Ông theo học trường Yersin (Đà Lạt) từ năm 1948 đến 1952 và học tập môn đấu kiếm nơi đây. Ông vừa làm công chức và tập luyện kiếm và được cử tham dự Thế Vận Hội Rome 1960 và Thế  Vận Hội Tokyo 1964. Ở thế vận hội Rome 1960, ông tranh cả ba loại kiếm (kiếm liểu (foil), kiếm ba cạnh (epée) và kiếm chém). Ở Tokyo 1964 ông chỉ tham dự kiếm ba cạnh và chém (Sabre).

Môn đấu kiếm phương Tây (fencing) du nhập vào Sài Gòn từ những năm đầu thế kỷ 20. Khoảng thập niên 50 đến giữa thập niên 70, Kiếm thuật được tập luyện tại Câu lạc bộ Thể thao Sài Gòn (C.S.S cũ), CLB Phan Đình Phùng, trụ sở Phong trào Phát triển Sinh viên Học sinh, các trường Taberd, Trưng Vương, Gia Long… thu hút khoảng vài trăm người và hàng năm đều diễn ra một số giải thi đấu khá sôi nổi.

Trên thao trường quốc tế, kiếm sĩ Tôn Thất Hải đã tham dự Olympic Helsinki (1952) rồi Trần Văn Xuân dự Olympic Rome (1960), Olympic Tokyo (1964), Asian Games Teheran (1974).

http://www.sggp.org.vn/thethao/nam2005/thang9/68346/

Vài đặc điểm của Thế Vận Hội Rome 1960

-Nhạc chính thức của Olympics (Olympics Anthem) được chấp nhận và được phát thanh. Bản nhạc này cũng là bản nhạc được phát thanh ở Thế VẬn Hội đầu tiên ( I Olympiad) ở thủ đô Athens, Hy lạp năm 1896

-Cấm Nam Phi (South Africa) tham dự vì chính sách kỳ thị chũng tộc (Apartheid)- South Africa trở lại tham dự Thế Vận Hội năm 1992.

-Truyền Hình trực tiếp (live)  đến 18 nước  Âu châu, Mỹ, Gia Nả Đại và Nhật vài giờ sau đó.

-Người Phi Châu da đen đoạt huy chương vàng đầu tiên. Lực sĩ Abebe Bikila chạy marathon bằng chân không. Bốn năm sau ông cũng đoạt huy chương vàng tại thế vận hội Tokyo 1964 nhưng lần này ông chạy mang giầy.

Việt Nam (VNCH) và Thế Vận Hội Tokyo, Japan 1960

Vận động trường chính: Tokyo, Japan

Lể khai mạc: 10 Tháng 10, 1964
Lể bế mạc: 24 Tháng 10, 1964

Lực sĩ tham dự 5151 (678 nữ và 4473 nam) đến từ 93 quốc gia.

map of japan

Van Đông trương tokyo 1964

Vân động trường Kokuritsu Kasumigaoka Rikujō Kyogijō, Tokyo và huy chương cho Thế Vận Hội Tokyo 1964

Bieu tương và đuốc tokyo 1964

 

Cờ VN Tokyo 1964

Phái đoàn lực sĩ Việt Nam gồm có 16 nam lực sĩ, đây là phái đoàn đông nhất tham dự Thế Vận Hội trước 1975 tham dự nhiều bộ môn.

Người trẻ tuổi nhất Nguyễn đình Lê -Bộ môn bơi lội tự do (freestyle) 15 tuổi, 156 ngày.

Môn Nhu Đạo (Judo) lần đầu tiên được đưa vào Thế Vận Hội. Việt Nam gởi một phái đoàn nhu đạo với ba người mà người lớn tuổi nhất là Thái Thúc Tuấn 37 tuổi 208 ngày.

Viêt Nam không được huy chương nào.

Phái đoàn Việt Nam (VNCH) diển hành trong buổi lể khai mạc Thế Vận Hội Tokyo 1964

Danh sách lực sĩ trong phái đoàn:

 

Tên Giới Tính Tuổi/Ngày Sanh Bộ Môn
Hồ Thành Chinh Nam 22/21/2/1941 Điền Kinh  Chạy nước rút 100m
Huỳnh Anh Nam 31/16/10/1932 Đua xe đạp 100 km  tính giờ
Huỳnh Văn Hải Nam 24/28/8/1940 Bơi Lội 200m lội ếch
Lê Bả Thành Nam 29/12/10/1934 Nhu Đạo Hạng trung (middleweight)
Nguyễn Thế Lộc Nam 29/5/9/1935 Đánh Kiếm Kiếm chém
Nguyễn Văn Bình Nam 24/1/1/1939 Nhu Đạo Hạng nhẹ(Lightweight)
Nguyễn Văn Châu Nam 24/24/8/1940 Đua xe đạp Đua rút 1000m
Nguyễn Văn Khôi Nam 29 Đua xe đạp Cá  Nhân 100kmĐội 100km
Nguyễn Văn Lý Nam 22/30/5/1942 Điền Kinh
marathon
5000m43km
Nguyễn Văn Ngân Nam 21/20/9/1943 Đua xe đạp Cá  Nhân 100kmĐội 100km
Nguyễn Ðình Lê Nam 15/9/5/1949 Bơi Lội 100m Tự Do
Phạm Văn Sáu Nam 25/6/7/1939 Đua xe đạp Cá  Nhân 100kmĐội 100km
Phan Hữu Dõng Nam 25/14/11/1938 Bơi Lội 100m Tự Do
Thái Thúc Tuấn Nam 37/28/3/1927 Nhu Đạo Hạng trung (middleweight)
Trần Văn Nên Nam 37/6/8/1927 Đua xe đạp Cá  Nhân 100kmĐội 100km
Trần Văn Xuân Nam 30/6/9/1934 Đánh Kiếm Kiếm ChémKiếm Ba Cạnh

 

Kết quả đua xe đạp

  1. Nguyễn Văn Châu – Đua rút 1000m – đừng nhì vòng 1 nhóm 1 (gồm 3 người), vòng 1 vớt vát (round 1 repêchage) đứng nhì nhóm 3 (gồm 3 người) và sau đó bị loại.
  2. Huỳnh Anh – hạng 31/33 100 km  tính giờ  với thời gian là 3 giờ  08 phút  35 giây ( tay đua về hạng nhất  2g 26ph 31.19gi)
  3. Nguyễn Văn Khôi , bỏ cuộc môn đường trường, đua tính giờ đồng đội 100km xếp hạng 31/33 (3 giờ 08 phút  35 giây, tay đua về hạng nhất  2g 26ph 31.19gi)
  4. Nguyễn Văn Ngân bỏ cuộc đường trường, nhưng đua tính giờ đồng đội 100km xếp hạng 31/33 (3 giờ  08 phút  35 giây, tay đua về hạng nhất  2g 26ph 31.19gi)
  5. Phạm Văn Sáu – Road race – hạng 76, thua về 1 đúng 20 giây
  6. Trần Văn Nên.Đường trường 194.8 Km – hạng 90, thua tay đua về nhất ( 4-39:51.63) đúng 20 giây (4-40:11.63)

Tính giờ 1000m – hạng 25/27 (1:21:58 so với tay đua về đầu 1:09:59 khoảng cách 12.1 giây)

Theo đưổi cá nhân (Individual Pursuit) , 4,000m – bị loại vòng 1 do bị bắt kịp (overtaken)

Tính giờ đồng đội Team Time Trial 100km – hạng 31/33, với thời gian là 3h 08m 59.35s ( tay đua về nhất  là     2h 26m 31.19s)

Lực sĩ Nguyễn Văn Lý đã đoạt huy chương đồng chạy 10.000m, với thành tích 36 phút 12 giây 8 (Somnuek Srisombat, Thái Lan đoạt huy chương vàng, với 35 phút 7 giây 8 tại vận hội SEAP 1959 tổ chức tại Thái Lan.

Kiếm Sĩ  Nguyễn Thế Lộc tham dự  Thế Vận Hội Tokyo 1964 và Mexico 1968 trong môn kiếm chém

Gặp lại cua rơ vô địch Nguyễn Văn Châu (xem phụ lục 1)

http://www.sggp.org.vn/thethao/2007/11/130547/

Lực Sĩ Nhu Đạo

http://books.google.com.au/books?id=B9kDAAAAMBAJ&lpg=PA10&ots=7YLum65FqQ&dq=%22le+ba+thanh%22+judo&pg=PA10&redir_esc=y#v=onepage&q=thanh&f=false

Một vài đặc điểm Thế Vận Hội Tokyo 1964

-Môn Nhu Đạo và môn Bóng Chuyền (nam và nữ) được đem vào thi đua lần đầu tiên và Việt Nam gởi 3 nam lực sĩ nhu đạo.

-Th ế Vận Hội đầu tiên được tổ chức ở Á Châu.

 

Việt Nam (VNCH) và Thế Vận Hội Ciudad de México, Mexico 1968

Thế Vận Hội Mexico được tổ chức tại thành phố Mexico-Ciudad de México

Lể Khai Mạc: 12 tháng 10, 1968
Lể Bế Mạc:  27 th áng 10, 1968

Lực sĩ tham dự 5116 đến từ 112 quốc gia.

map of mexico

 

Van Đông trương Mexico 1968

Bieu tương và đuốc Mexico 1968

Olympic mexico

Cờ VNCH phất phới buổi lể khai mạc tại vận động trường Estadio Olimpico Universitario

Phái đoàn Việt Nam gồm có 9 lực sĩ-7 nam và lần đầu tiên 2 nữ- tham dự 5 bộ môn –Đua xe đạp, Điền Kinh, Bơi Lội, Bắn Súng và Đánh Kiếm.

Lực sĩ trẻ nhất Trương Kim Hùng 16 tuổi bộ môn xe đạp (đường trường và cá nhân 196km) và lực sĩ lớn tuổi nhất Vũ văn Danh 42 tuổi, môn bắn súng ngắn. Phái đoàn không được huy chương nào.

 

Tên Giới Tính Tuổi/Ngày Sanh Bộ Môn
Bùi Văn Hoàng Nam 25/13/12/1943 Đua xe đạp Đường Trường  cá nhân  196Km
Dương Văn Dần Nam 30/20/12/1937 Bắn Súng 50m súng ngắn tự do nam
Hồ Hạnh Phước Nam 28/26/8/1940 Đi ền KinhDecathlon Mười môn thể thao
Hồ Minh Thu Nam 39/15/6/1929 Bắn Súng 50m súng ngắn tự do nam
Nguyễn Minh T âm Nữ 18/26/8/1950 Bơi  Lội 100m Tự Do
Nguyễn Thế  Lộc Nam 33/5/9/1935 Đánh kiếm Kiếm Chém(Sabre)
Nguyễn thị Mỹ Liên Nữ 17/31/7/1951 Bơi  Lội 100m Bơi Ngữa
Trương Kim Hùng Nam 16/tháng 2 1951 Đua xe đạp Đường  trường  cá nhân  196Km
Vũ Văn Danh Nam 42/17/4/1926 Bắn Súng 25 m súng ngắn bắn nhanh nam

Lực sĩ  Hồ Hạnh Phước ,điền kinh Decathlon-mười môn điền kinh -được chọn đi Thế Vận Hội Mexico dựa vào thành tích của ông –Huy chương đồng môn này tại Đông Nam Á vận hội SEAP 1967 tổ chức tại Bangkok từ 9-16  tháng 12, 1967.

Trương Kim Hung

Hai cua rơ Trương Kim Hùng (áo vàng) và Bùi văn Hoàng

Hai nữ lực sĩ Việt Nam (VNCH) đầu tiên tham dự Thế Vận Hội

Minh Tam My Lien

Hai nữ lực sĩ bơi lội-Nguyễn Minh Tâm và Nguyễn Thị Mỹ Liên diển hành ngày khai mạc

https://www.youtube.com/watch?v=pwRYsVl3z8c

Một vài đặc điểm Thế Vận Hội Mexico 1968.

-Phản kháng về chủng tộc-Quyền công dân cho nguời da đen (Black power salute)

http://life.time.com/culture/black-power-salute-tommie-smith-and-john-carlos-at-the-1968-olympics/#1

-Lần đầu ViệtNam (VNCH) gởi 2 nữ lực sĩ (trong số 9 lực sĩ tham dự nhiều bộ môn thể thao như đua xe đạp, bắn súng, điền kinh, bơi lội và đánh kiếm) Nguyễn Minh Tâm bơi 100m tự do (free style) và Nguyễn thị Mỹ Liên 100m bơi ếch (breaststroke)

-Bấm giờ bằng đồng hồ điện tử số (digital timer) được chính thức công nhận 

Độ cao (altitude) 2300m của thành phố Mexico tạo lợi thế cho lực sĩ những môn thể thao ngắn nhưng và bất lợi cho những môn đòi hỏi sức dai, chịu đựng dài hơn 2 phút.

 

Việt Nam (VNCH) và Thế Vận Hội Munich, West Germany, 1972

Được tổ chức tại Munich, thủ phủ và thành phố lớn nhất ở tiểu bang Bavaria, thuộc Tây Đức.  Có 121 nước tham dự với 7170 lực sỉ (6075 nam và 1095 nữ).

Lể Khai Mạc: 26 tháng 8 1972
Lể Bế Mạc:  10 tháng 9, 1972

map of germany copy

 

Van Đông trương Munich 1972

Bieu tương và đuốc Munich 1972

Biểu Tượng Munich Olympics 1972

 

Tuy trải qua biến cố  Tổng công kích đẩm máu Tết Mậu Thân 30/1/1968 và mùa Hè Đỏ Lửa  từ 30 tháng 3 đến 31 tháng 1 năm 1973, Viêt Nam Cộng Hoà tham gia Thế Vận Hội lần cuối với một phái đoàn  gồm 2 nam lực sỉ.

Phái đoàn lực sĩ tham dự:.

 

Tên Giới Tính Tuổi/Ngày Sanh Bộ Môn
Hồ Minh Thu Nam 43/15/6/1929 Bắn Súng 50m súng ngắn tự do nam
Hoàng Thi  Hưong Nam Bắn Súng 50m súng ngắn tự do nam

Cờ VN Munich 1972

Hồ Minh Thu người cầm cờ diển hành trong buổi lể khai mạc.

Một vài đặc điểm Thế Vận Hội Munich 1972.

-11  lực sĩ Do Thái bị giết bởi nhóm Á Rập “Black September”.

-Môn Bắn cung (Archery) trở lại Thế vận Hội sau 52 năm vắng bóng.

-7 huy chương vàng- 7kỷ lục thế giới cho lực sỉ bơi lội Mỹ Mark Spitz

 

Người viết xin ghi ơn sự cố gắng và quyết tâm vượt bực của các lực sĩ, cũng như của Chính Phủ Việt Nam Cộng Hòa, dù trong hoàn cảnh khó khăn của chiến tranh tàn khốc, đại diện Việt Nam, mang màu cờ sắc áo, đem chuông đi đánh xứ người, góp mặt tranh tài trên thao trường thế giới. Trong suốt thời gian này 1952-1975, VNDCCH không cử phái đoàn nào tham dự Thế Vận Hội!

Xem video Việt Nam tham gia Thế Vận Hội trước 1975 nơi đây.

Vận động trường Olympics đầu tiên Olympia, Hy lạp (Greece)

Mai Tran Y Nguyên

 

 

Tham khảo:

 

 

 

Phụ Lục 1:

 Cựu Vô Địch Xe Đạp Nước Rút Châu Á và Đông Nam Á.

Thần tượng một thời thơ ấu của tôi  Nguyễn Văn Châu .

Kính dâng lên anh hồn các cua rơ quá cố đã làm rạng danh môn đua xe đạp Việt Nam trên các thao trường quốc tế.
Kính tặng đến những ai đã từng một thời yêu mến môn đua xe đạp.

Trần Đình Phước

Mỗi người trong chúng ta. Có lẽ ai cũng có một thần tượng để tôn thờ cho chính mình. Riêng tôi, cựu vô địch xe đạp nước rút Châu Á tại Đông Kinh, Nhật Bản, và Đông Nam Á Vận Hội tại Ngưỡng Quang, Miến Điện ( Myamar ), năm 1961: “Cua rơ Nguyễn Văn Châu là Thần Tượng Thời Thơ Ấu của tôi.”

Vào môt buổi trưa cuối tháng Bảy, năm 2014, trong chuyến về thăm gia đình ngắn ngày, tôi cố gắng dành chút thời giờ thả bộ từ phía Cầu Kiệu đi về hướng chợ Tân Định. Thời tiết rất nóng bức và khó chịu. Mới rảo vài bước mà quần áo đã ướt đẫm mồ hôi. Khi đi ngang qua nhà bác sĩ Kính, bác sĩ chuyên trị về mắt trước năm 1975, tôi tình cờ gặp một người đàn ông khoảng ngoài bảy mươi tuổi đang đứng trông chừng xe cho khách trước tiệm “Bánh Tằm Bì 370 – Đặc Sản Bạc Liêu.” Tiệm này trước kia là nhà của ông Lang Sách, chuyên bắt mạch, cho thuốc Đông Y gia truyền.

Sau vài giây định thần, tôi hỏi ông ta: ”Có phải ông là cua rơ Nguyễn Văn Châu đã từng làm rạng danh nền đua xe đạp VNCH trước năm 1975 không?”

Ông ngạc nhiên hỏi sao tôi lại biết tên ta. Sau đó, ông trả lời: Đúng! chính ông là cua rơ xe đạp Nguyễn Văn Châu. Nói xong ông mời tôi nếu có rảnh, thì thử thưởng thức đặc sản của tiệm, do chính con trai thứ của ông làm chủ và trực tiếp đứng nấu. Còn ông thì chỉ giữ nhiệm vụ coi chừng xe cho khách, để khách an tâm thưởng thức và không sợ khi trả tiền xong đi ra ngoài tự nhiên thấy xe không cánh mà bay thì “Buồn ơi! Chào mi!” Mỗi khi quán thiếu gì, ông liền xách xe đạp chạy ngay ra chợ Tân Định gần đó để mua thêm.

Đang đói bụng và thèm một ly trà đá lạnh, nên tôi đi thẳng vào quán và chọn bàn cuối cùng ngồi. Tôi gọi một tô Bánh Tằm Bì, vì tôi nghĩ chắc là món chiến lược của quán, và không quên kêu thêm một ly trà đá lạnh.

Lúc này đã quá trưa, quán chỉ còn tôi là khách. Ông đến ngồi bên cạnh tôi và nói: ”Bao nhiêu năm nay, ít có ai hỏi đến tên tôi.” Đây là lần đầu tiên có người nhắc đến tên ông.
Tôi xin phép được gọi ông bằng anh và cho biết hồi nhỏ tôi rất mê môn đua xe đạp, nhưng không theo đuổi được, vì lý do sức khoẻ. Hôm nay gặp đươc ông, người mà tôi coi như thần tượng lúc còn nhỏ, thật là một điều may mắn và bất ngờ đối với tôi.

Tôi hỏi ông: ”Nếu có thể, xin anh cho tôi được có vài câu hỏi.” Ông cười vui vẻ với cái miệng móm xọm rất có duyên, rồi nói: ”Em cứ tự nhiên. Anh sẵn sàng trả lời các thắc mắc của em.”

– Anh có thể cho em biết sơ lược qua về anh.

Nguyen van Châu

Tay đua Nguyễn Văn Châu

Anh sinh ngày 24 tháng 8, năm 1940, tại Phú Nhuận – Gia Định. Gia đình gồm Ba Má và sáu anh em, hai trai và bốn gái. Lúc đầu gia đình ở Phú Nhuận. Năm 1952, dọn về Tân Định, hẻm 392 đường Hai Bà Trưng. Bên trái hẻm là tiệm chụp hình Văn Hoa, kế bên có tiệm nhuộm Tô Hồng, Thuốc Lào Vĩnh Bảo. Bên phải hẻm có Billards và Phở Vạn Lợi, sát bên có con hẻm nhỏ sửa giày dép và tiệm Cà Rem Hoàn Kiếm. Nhìn sang bên kia là đường Nguyễn Văn Mai, có nhà thuốc Tây Trần Ngọc Tiếng, Pháp Hoa Ngân Hàng, tiệm may Thái Lai, nhà thuốc Bắc của ông Thần Bút.

Hồi nhỏ anh và em trai theo học tại trường Hoà Bình, gần nhà thờ Đức Bà. Lúc mười hai tuổi thì chuyển sang học trường La San Đức Minh. Còn các em gái thì theo học trường Thiên Phước.

– Nguyên nhân nào anh đến với môn đua xe đạp?

Lúc đầu anh rất thích môn bóng tròn. Nhưng Ba anh nói ”Con đá banh có một cẳng thì chán lắm!” Sao con không chọn môn đua xe đạp? Chơi môn này con có thể dùng cả hai chân, hai tay và cả cái đầu. Nghe theo lời ba anh đốc thúc. Anh tập đạp thử chiếc xe đạp cà tàng của ba anh. Tình cờ, hai cua rơ đàn anh là Trần Gia Thu và Trần Văn Nên thấy anh chạy có nét, nên khuyến khích anh tập chạy đua nước rút. Hai đàn anh ra sức hướng dẫn một mầm non sẽ có nhiều triển vọng trong tương lai.

Thấy con mình đam mê, miệt mài tập tành. Thế là ba anh hy sinh bỏ ra một tháng lương để sắm cho anh một con ngựa sắt chiến đấu vào thời đó.

– Khi nào thì anh chính thức bắt đầu sự nghiệp đua xe? Chạy dưới màu áo nào?

– Anh bắt đầu chập chững chạy cho Đội Liên Hiệp Công Nhân lúc mười sáu tuổi. Năm sau chạy cho Thủy Quân Lục Chiến. Năm 1959, vào lính thì chạy cho đội Quân Vận. Trong thời gian này không có huấn luyện viên chính thức, mà chỉ có các đàn anh dìu dắt đàn em. Cá nhân anh, lúc nào anh cũng kính trọng và thương quý hai đàn anh: Trần Gia Thu và Trần Văn Nên về tư cách, đạo đức và nhất là hết lòng chỉ dạy tận tình cho đàn em, mà không bao giờ than thở hay nặng lời.

– Xin anh cho biết anh sử dụng xe đạp hiệu nào? Phụ Tùng thay thế khi cần thiết mua ở đâu?

– Anh chạy xe đạp hiệu Bernard. Khi cần phụ tùng ngoại quốc của Ý, Pháp thay thế, thì nhờ tiệm chuyên bán xe đạp và phụ tùng Đoàn Văn Thẩm, nằm trên đường Hai Bà Trưng, đối diện với đường Yên Đổ và trường Trung Học Vạn Hạnh đặt mua giùm.

Mỗi lần tham dự cuộc đua, thì trước đó vài ngày, anh phải tháo hết xe ra từng bộ phận, vô dầu mỡ cho thật kỹ. Chạy thử tới, lui nhiều lần. Kiểm soát mọi bộ phận thật bảo đảm và chắc chắn. Săn sóc chiếc xe còn hơn đứa con cưng của mình.

– Trong cuộc đời đua xe đạp. Xin anh cho biết đã đạt được bao nhiêu thành tích.

– Anh không nhớ hết! Tuy nhiên, anh đã đoạt chín lần vô địch nước rút trong nước. Đặc biệt, hai lần trong cùng năm 1961, mà cho đến bây giờ vẫn còn in đậm trong tâm trí của anh.

Lần thứ nhất “Vô Địch Nước Rút Á Châu” ở Đông Kinh. Trước khi đến Nhật Bổn, anh chỉ vỏn vẹn có ba ngày thực tập tại vòng chảo ở Huế rất thô sơ. Khi tới Tokyo với hơn bốn mươi vòng chảo hiện đại hơn, anh thấy choáng ngộp, và hoàn toàn xa lạ nên cũng rất lo lắng. Do đó, anh ra sức tập luyện ngay. Anh thầm nói: “Vì danh dự tổ quốc, vì màu cờ sắc áo, vì đồng đội đặt nhiều tin tưỏng, anh quyết tâm phải thắng cuộc đua này bằng mọi giá.”

Nguyen van Châu 2

Người Nhật phải chảy nước mắt vì anh

Và anh đã làm được điều ước nguyện này, khi bánh xe đua của anh cán mức trước tay đua nổi tiếng của Nhật tên Ywanmato, trong cuộc đua nước rút 200 mét lòng chảo chỉ đường tơ, kẽ tóc, với thời gian 11 phút 4 giây, khiến cả vận động trường nín lặng. Nhiều người Nhật đã bật khóc, khi đứa con cưng của họ bị thua đau đớn, mà trước đó họ tin rằng tấm “Huy Chương Vàng” chắc chắn sẽ nằm trong tay nước chủ nhà dễ dàng.

Nguyen van Châu 3

Vô Địch Đông Nam Á Vận Hội

Lần thứ hai ”Vô Địch Đông Nam Á Vận Hội” tại Ngưỡng Quang – Miến Điện. Cuộc đua nước rút lần này không phải chạy trên lòng chảo, mà chạy trên đường bình thường. Anh đã thắng không mấy khó! Vì đó là sở trường của anh. Anh cười và nói thêm ”Nghề của chàng mà em.”

– Xin anh kể cho biết vài tên tuổi cua rơ nổi tiếng cùng thời với anh.

Thú thật, bây giờ anh không thể nào nhớ hết! Có thể kể những cua rơ đàn anh có thành tích như: Lê Thành Các với biệt danh là Phượng Hoàng. Ông ta xuống đèo mà vẫn tiếp tục đạp hết tốc lực, dù trong đêm tối, với bất cứ mọi thời tiết. Ó đen Bùi Văn Hoàng được xếp sau ông. Tiếp theo, Ngô Thành Liêm, Lưu Quần, Trần Văn Nên, Huỳnh Anh, Trần Gia Thu, Trần Gia Châu, Trương Tỷ, Huỳnh Ngọc Chánh, Tô Hiếu Thuận, Võ Vĩnh Thời, Nguyễn Hữu Thoại, Nguyễn Văn Hoà, Nguyễn Văn Kỉnh, Trần Hữu Tuấn… Về hướng dẫn, dìu dắt và giúp đỡ hết mình cho phong trào đua xe đạp có Cựu Đ/T Trần Văn Xồi, Phạm Văn Cự, Nguyễn Văn Tạo.

– Xin anh cho biết lúc nào anh giải nghệ hẳn?

Sau năm 1975, anh vẫn còn tiếp tục đua xe đạp. Năm 1976, đoạt giải nhì trong một cuộc đua chạy ra Vũng Tàu. Sau đó anh chuyển sang làm Huấn Luyện Viên cho các đội: Cửu Long, Quận 3, Quận 5, Tân Bình, Quân khu 7. Có lúc phải ra ngã bảy sửa xe đạp và môi giới mua bán xe đạp. Chiếc xe đạp đã làm nên tên tuổi anh cũng phải bán để mưu sinh, mà thời giá lúc đó bằng giá trị chiếc xe Honda. Về sau hai vợ chồng mượn vốn để chuyển sang bán “Bánh Tằm Bì” và các món Đặc Sản Bạc Liêu. Chiếc bàn nhỏ, vài chiếc ghế ngồi chồm hổm nằm trên đường Hai Bà Trưng, trước Billards Vạn Lợi, gần hẻm nhà anh. Sau này bị dẹp lòng lề đường, nên hai vợ chồng anh thuê được căn nhà số 459B đường Hai Bà Trưng, để mở tiệm. Tiền thuê hàng tháng rất cao, vì nằm trên điạ điểm thuận lợi. May mắn được thực khách thương quý anh đến ủng hộ rất đông. Lúc này anh không còn vương vấn với nghiệp xe đạp, để tập trung cho việc buôn bán.

– Hiện nay tình hình kinh tế gia đình anh thế nào?

Anh im lặng trong chốc lát và cho biết: “Thoi thóp qua ngày nào, mừng ngày đó em ơi!” Sức khoẻ càng ngày càng yếu đi vì đủ thứ tật bệnh của tuổi già. Hiền thê của anh chẳng may mất đột ngột lúc vừa đặt chân đến Hoa Kỳ, khi viếng thăm người em. Một trong ba người con trai ra đi vì tai nạn giao thông. Hiện còn hai con trai đều đã lập gia đình. Con trai lớn đang hành nghề tài xế và con trai thứ đang làm chủ cửa hàng ăn uống mang tên “Bánh Tằm Bì 370.” Hiện anh sống cùng với người con thứ ở căn nhà hẻm 392 và phụ giúp con anh trông coi tiệm.

Nguyen van Châu xưa va nay

Nguyễn Văn Châu ngày xưa và bây giờ!

Tôi xin lỗi anh vì đã đặt câu hỏi làm khơi lại nỗi buồn của anh. Bắt tay xin chào từ giã anh. Bước chân ra khỏi tiệm mà trong lòng nặng trĩu. Tràn dâng lên một nỗi buồn cho một nhân tài bị bỏ quên. Cơn mưa bất chợt cùng lúc xuất hiện, càng làm tôi thấy thương mến anh hơn. Tôi hứa sẽ cố gắng viết vài hàng về anh và xin được trân trọng giới thiệu cùng bà con khắp nơi “Bánh Tằm Bì 370” với các món Đặc Sản Bạc Liêu. Điạ chỉ số 459B, đường Hai Bà Trưng, phường 8, Quận Ba, Sài Gòn.

Nếu ai còn quý mến anh. Người đã tạo nên kỳ tích có một không hai trong lịch sử đua xe đạp nước nhà, mà từ trước đến nay chưa có cua rơ Việt Nam nào thực hiện được. Anh đã làm đã làm rạng danh hai chữ Việt Nam trên các thao trường quốc tế.

Xin bà con hãy đến ủng hộ tiệm ăn của con trai anh, với các món ăn đặc sản quê hương của miền sông nước Bạc Liêu. Thức ăn ngon miệng, giá cả vừa phải và tiếp đón lịch sự. Thực khách sẽ có dịp chuyện trò, hàn huyên với nhà vô địch, thể tháo gia tên tuổi đã từng làm say mê giới trẻ yêu xe đạp vào đầu thập niên sáu mươi, bảy mưoi. Chúng ta sẽ cùng anh nhắc lại một thời để nhớ và không bao giờ quên.

Xin được chào anh: “Cua Rơ Vô Địch Nước Rút Nguyễn Văn Châu.” Người con yêu của vùng đất hiền hoà Tân Định và Đa Kao. Thần tượng của nhiều người yêu môn đua xe đạp, và cũng là thần tượng thuở còn ấu thơ của riêng tôi.
Trần Đình Phước

Theo Trần Đình Phước (5)

 

Phụ Lục 2Nói thêm về môn đánh kiếm (Olympics fencing)

Các loại kiếm

Hình dáng và kích thước các loại kiếm

 

  • Foil: (Kiếm Liểu) – Loại kiếm để luyện tập cuả gìới quý phái thời xưa, lưởi kiếm mềm dẻo dài 1.10m, lưởi hình chử nhật, nhẹ khoảng 450g. Thắng điểm bằng mủi kiếm đâm vào thân (torso), không được đâm vào tay, chân, đầu, cổ. Vì động tác xảy ra nhanh, nên hệ thống chấm điểm bắng điện chỉ ghi nhận nếu mục tiêu bị đâm trúng-đầu kiếm có lò xo khi chạm phần thân áo giáp (nguời đánh kiếm phải mặc áo giáp gọi là lamé) máy chấm điểm sẽ bật đèn đỏ, nếu đánh trật mục tiêu (đánh trúng những phần thân thể không có áo giáp che) thì đèn trắng bật lên giây lát nhưng không bị trừ điểm, rồi hai đối thủ bắt đầu đánh tiếp.
  • Epee – (kiếm ba cạnh) The epee (pronounced “EPP-pay” – literally meaning “sword” in French) thối thân của loại kiếm được dùng trong những cuộc đọ kiếm tay đôi ngày xưa, lưởi kiếm cứng và dày hơn kiếm liểu và có cán che tay. Không giống như kiếm liễu, đối thủ được điểm khi đánh trúng bất kể phần nào của cơ thể từ đầu đến chân và vì thế không cần phải mặc áo giáp lamé.
  • Sabre (or saber) (kiếm chém.) – The sabre is the modern version of the slashing cavalry sword. Sự khác biệt gìữa loại kiếm này với hai loai liểu và ba cạnh là kiếm dùng để đâm và chém bất cứ điểm nào trên cơ thể từ lưng trở lên để ghi điểm. Vì thế mặt và tay, cổ cũng phài che bằng áo giáp kim loại -lamé. Khi đánh trật mục tiêu máy không ghi nhận nên không phải dừng ngằt khoảng

Phụ Lục 3: Huy chương Vàng, hoài niệm túc cầu trước 1975.

Đội tuyển túc cầu Việt Nam

Các tuyễn thủ của đội banh đoạt Huy chương vàng vô địch túc cầu Đông Nam Á vận hội (SEAP 1959). Huy chương quốc tế duy nhất từ trước đến nay .

 

Huy Chương vàng túc cầu

Mặt trước và mặt sau Huy Chương Vàng duy nhất cho làng túc cầu Việt Nam, SEAP 1959

Dưới thời VNCH , Đội tuyển túc cầu quốc gia VNCH tham dự Asia Cups, Asia Games, Seap Games và cuối cùng World Cup 1974. Thành tich đáng kể cuả môn Túc câu trước 1975

1 huy chương vàng (1959), 2 bạc (1967 và 1973) và 2 đồng (1965 và 1971) ở Đông Nam Á Vận Hội. (11)

Phụ Lục 4: Vòng Cộng Hoà năm 1959:

Tiếp theo những thành công của Vòng Cộng Hoà năm 1957 và 1958, Tổng nha Thanh niên tiếp tục phối hợp với Tổng cuộc Xe đạp tổ chức Vòng Cộng Hoà lần III gồm 20 chặng đua có tổng chiều dài là 2.846 km. Mặc dù lần này quãng đường ngắn hơn so với 2 lần trước nhưng lại lớn hơn về số lượng VĐV tham gia với tổng số 78 tay đua của 11 đoàn cùng 24 tay đua độc lập đăng ký thi đấu trong đó phải kể đến Đoàn Đại biểu Việt Nam và Đoàn Đại biểu Đại hàn dân quốc. Lần đầu tiên góp mặt nhưng đoàn Đại hàn dân quốc đã tỏ ra rất mạnh với chiến thắng của Sang Ho Rin ở chặng nhỏ Bến Hải – Quảng Trị. Tuy nhiên, ngay sau khi chiến thắng ở chặng này Đoàn Đại hàn dân quốc đã bất ngờ bỏ cuộc sau khi đưa ra một loạt các yêu sách. Các tay đua Đại hàn dân quốc đã bỏ cuộc ở chặng 2 nhưng lại tiếp tục tham gia từ chặng 3 nhưng chỉ với tư cách khán giả. Trước tình thế đó, Ban Giám đốc đã quyết định giải tán Đoàn Đại biểu Việt Nam và trả các tuyển thủ về với Đoàn của họ. Nhờ vậy mà lực lượng của một số đoàn đã tương đối mạnh hơn trước, cuộc đua vì thế mà ngày càng quyết liệt và hấp dẫn hơn. Vòng Cộng Hoà lần III một lần nữa chứng kiến sự xuất sắc của Ngô Thành Liêm, tay đua cũ của Thanh niên Thể thao nay khoác áo của Đoàn Công An. Anh là người mặc áo vàng từ chặng 8 cho đến hết chặng 19, chặng áp chót của cuộc đua. Lúc này Ngô Thành Liêm đang ít hơn Nguyễn Văn Hoà 18 giây và Trần Gia Châu 1 phút 18 giấy. Tuy nhiên ở chặng cuối cùng Vĩnh Long – Sài Gòn, Nguyễn Văn Hoà đã xuất sắc về nhất, được thưởng 1 phút, qua đó thắng ngược Ngô Thành Liêm, đoạt áo vàng Vòng Cộng Hoà lần III năm 1959.

Sai khi Vòng Cộng Hoà lần III kết thúc thành công, chỉ tổ chức được duy nhất một cuộc đua nhỏ Sài Gòn – Mỹ Tho – Sài Gòn vào ngày 29/05/1960. Năm 1961, Chủ tịch Tổng cuộc mới nhận chức và một số cuộc đua được tổ chức thành công như: Vòng Tiểu Cộng Hoà (7 chặng), Tiền Thế Vận (12 chặng), Vùng I Chiến Thuật 65 và  66 (4 chặng), Vòng 6 Chặng Miền Nam (6 chặng), 4 Chặng Miền Tây (4 chặng), Tiền Á Vận (5 chặng)… Bên cạnh đó, Tổng cuộc Xe đạp còn duy trì được hệ thống thi đấu hàng năm bao gồm: Vô địch đường trường, nước rút, bán tốc độ, tính giờ đồng đội… qua đó tuyển chọn đội tuyển tham dự các cuộc đua quốc tế như: Giải Vô địch châu Á, Đông Nam Á, Thế vận hội… và đã đạt được những giải thưởng lớn như: Huy chương vàng giải Vô địch châu Á năm 1961 của Nguyễn Văn Châu, Huy chương đồng giải Vô địch châu Á năm 1965 ở nội dung 200 km đồng đội nam, Huy chương đồng tại ASIAD Games năm 1966 tại Philippines ở nội dung 100 km đồng đội nam, Huy chương vàng SEA Games 1965 (Malaysia) ở nội dung 200 km đồng hành của Trần Văn Nên…

Có thể nói, thời kỳ 1954 – 1975 là thời kỳ mà phong trào xe đạp thể thao ở Việt Nam rất phát triển (ở miền Nam) với hàng loạt các cuộc đua lớn, tạo được tiếng vang không chỉ ở trong nước và quốc tế. http://www.vncycling.org/modules.php?name=Event&file=print&sid=24

 


Xếp loại Bưởi Cam Quýt

   Xếp loại Bưởi Cam

     Mai Tran – Y Nguyên

 

Bài sưu khảo viết dựa vào tư liệu riêng với tài liệu tham khảo thu thập qua từ mạng nhằm hy vọng giúp người đọc giảm thiểu nhầm lẩn khi nhận diện hoặc tiêu thụ loại trái cây thông dụng nhất trên thế giới-cam, quýt, bưởi, tắc, chanh…thuộc chi họ Cam Quýt (Genus Citrus). Cảm hứng bắt nguồn từ hoài niệm xưa trong khu vườn phía trước nhà có nhiều loại cây ăn trái như bưởi, hồng quân, thanh long, mảng cầu, lucuma, cà phê, ổi, sa bô chê bên cạnh vú sửa, hồng nhung, mít mật, tố nử. Tuổi thơ của người viết thường quanh quẩn ngoài vườn vì tàn cây che bóng mát quanh một ngôi miếu thiết kế kiểu xưa thờ Đức thánh Trần, bên trong miếu có tượng và nhiều loại kiếm cung có cả bao chạm trỗ công phu bằng gổ. Vẩn theo tập tục của Cố, miếu thờ lung linh nhang khói trong ánh đèn dầu cho đến ngày “ai giải phóng ai”.

Miểu Xưa

Hình 1: Miểu xưa 1950

Bạn bè trong xóm hay đến chơi, trưa hè hay trăng sáng, “thăm” cây trái trong vườn, hoặc học bài, tập tành làm văn thi sĩ, hoa bưởi trắng tỏa hương thơm ngào ngạt, hè có hoa nắng, ve kêu, xuân có hoa mai, cúc, vạn thọ. Trưa hè trèo lên cây ổi, vừa hái ăn vừa đọc sách, lớn lên thì rũ nhau đạp xe đi Thủ Đức , Lái Thiêu thăm măng cụt, sầu riêng.

“Trèo lên cây bưởi hái hoa

Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân”

“Đầu năm ăn quả thanh yên
Cuối năm ăn bưởi cho nên đèo bòng
Vì cam cho quýt phải lòng
Vì em nhan sắc cho lòng anh thương” (Ca dao)

Đầy vườn hoa bưởi hoa cam rụng

Ngào ngạt hương bay, bướm vẽ vòng

…         (Xuân về, trong tập thơ Tâm Hồn Tôi, Nguyễn Bính 1940)

Hoài niệm về bưởi, chanh không phải là ca dao mà là mùa hoa bưởi thơm tỏa trong vườn, và những trái bưởi da xanh, dày, ăn hơi đăng đắng và những đêm sáng trăng quay quần trước sân trò chuyện, ăn bánh, trái, khoai mì, khoai lang, khoai từ, đậu phộng nấu, củ ấu… hoặc gọi chè bán rong thoang thoáng mùi khói bưởi. Nội bảo lột bưởi phải cho đúng cách, lấy vỏ bưởi phơi khô để dành đốt đuổi muổi.  Không biêt muổi có sợ mùi khói bưởi bao nhiêu, nhưng hương thơm tỏa ra cũng làm người dể chịu.

Củ Ấu

Hình 2: Củ Ấu

Trên dĩa quả tử (loại dĩa xưa, có vẻ trang trí màu xanh) trưng bày trên bàn thờ gia tiên  “ba ng ày Tết”  lúc nào cũng có bưởi cam quýt, loại cam sành và quýt đường to gần bằng cam hòa lẩn với vú sửa đu đủ, khóm, mẳng cầu ta(na), thanh long cho đủ màu…kiểu ngủ quả!

Bưởi nhà cho nhiều trái, ăn không hết làm quà cho hàng xóm, vị cũng ngọt nhưng hơi đắng không như bưởi Biên Hòa, ngọt thanh, hạt nhỏ-mà đặc biêt là bưởi ổi Biên Hòa, trái to bằng gấp đôi trái ổi xá lị lớn.

Bưởi được trồng nhiều nhưng phần đông chỉ thấy loại da xanh, mãi về sau mới thấy nhiều loại da xanh vàng, ruột hồng đỏ hoặc trắng, vàng rất thông dụng ở miền Nam.

Ở miền Tây, cam Sành da xanh, nhiều nước, nhiều hột, cam Xoàn da ửng vàng, quýt da vàng,  quýt đường da xanh khi chin ửng vàng, dể lột vỏ,nhiều nước nhưng không ngọt lắm, cũng là vùng trồng cam, buởi, quýt nhiều nhất Việt Nam, tựu trung vùng Bến Tre, Vĩnh Long, Cần Thơ. Đây là loại cây xanh lá quanh, trái, thân, lá có hương thơm, lá có dầu nên dể bốc cháy, mùa ra hoa thơm nứt mũi. Rải rác ở những vùng địa phương khác cũng có bưởi như Đồng Nai-Biên Hoà, Huế, Hà Tỉnh và các giống bưởi Đoan Hùng ngoài Bắc. Ở Mỹ Úc, Âu Châu nhiều vườn cây ăn trái trồng Cam Quýt, hoặc trồng trong sân vườn, hay cả hai bên lề đường. Chi họ Cam Quýt, tên khoa học là Citrus là một trong số nhỏ họ thực vật công dụng nhất, trồng nhiều nhất vì có khả năng thụ phấn lẩn nhau (interfertile), tự lai giống và từ sự nghiên cứu khoa học, công nghệ  đã sản sinh nhiều giống lai ( cultivars) do sự kết hợp nhân tạo hay biến hóa ngẩu nhiên, tạo ra nhiều thay đổi về hình dáng (shape), màu ruột bưởi, có hạt hay không, cũng như vị thơm (fragrance), ngọt chua (taste)

Nên biết trong chi họ Citrus có nhiều giống (Species) loại (varieties).

Cũng nói thêm là variety (loại) cũng được phân định loại thiên nhiên (nature variety) và loại không thiên nhiên (non-nature cultivars) Cultivar là từ hai chử cultivated varieties có nghiã là loại thảo mộc , thực vật có sự can thiệp của người (lai giống, genetic engineering, artificial intervention hoặc tự biến thể (mutation).

Giống Bưởi da xanh (nature varieties), bưởi Diển, Đoan Hùng (ngoài Bắc) sau này (non-nature cultivars).

Một đặc điểm chi họ Cam quýt (Citrus) vì là loài cây ăn trái trồng nhiều nhất trên thế gìới nên trái thường mang tên thương mại hay  xuất xứ địa phương vì tính đặc thù của giống (cultivars) như bưởi Thanh ( gốc Huế ) bưởi Long cổ cò ( gốc Tiền Giang), bưởi

Năm  Roi ( gốc Cần Thơ, Vĩnh Long ) , bưởi Tân Triều (Biên Hòa), Vinh…hoặc bưởi đường hồng , bưởi đường núm , bưởi da láng , bưởi da xanh , bưởi da cóc , bưởi chùm , bưởi ổi… cam  Mỹ , Úc, Tây Ban Nha, Ba Tây …quýt Tàu, Tứ Xuyên, Quảng Đông…Chanh Tây, Ta vân vân …

Sự phân định thực vật của các giống này sẽ phải được dựa vào quá trình phân loại khoa học (taxomony), tuy có tính cách lý thuyết nhưng là kiến thức giáo dục cần phải có.

Citrus Taxo Chart

Hình 3:  Bản phân loại chi họ Cam quýt (Genus Citrus).

Hầu hết các loại bưởi trồng ở Vietnam là bưởi thiên nhiên, kích thước tùy giống, bưởi  Năm Roi (Vĩnh Long), bưởi Tân Triều (Biên Hòa) bưởi da xanh (Bến Tre) và nhiều loại bưởi khác thường gặp ở Việt Nam có đường kính khoảng 18–20 cm, trong khi bưởi Đoan Hùng (ngoài Bắc) chỉ có đường kính độ 15 cm. Cây ra hoa, kết quả hầu như quanh năm, thường mùa hoa từ tháng 3 đến tháng 5 và mùa quả từ tháng 8 đến tháng 11.

Bưởi- Pomelo- Citrus Maxima (Merr,Burn.f.)

 Các giống bưởi thường thấy ở Vietnam có tên khoa hoc là Citrus Maxima (Merr,Burn.f.) or Citrus grandis, tiếng Anh gọi chung là Pomelo. để phân biệt với giống bưởi chùm, tiếng Anh gọi là Grapefruits-tên khoa học Citrus Paradisi không thấy nhiều ở Việt Nam. Bưởi Pomelo có nguồn gốc ở Việt Nam, Đông Nam Á. Bưởi chùm Grapefruits cho là có nguồn gốc ở vùng Caribbean

Có nhiều loại bưởi da xanh, cơm trái bưởi có màu từ vàng nhạt tới hồng và đỏ, độ ngọt, đắng, có hột hay không, tùy nơi địa phương trồng mà biến thể.  Tuy nhiên loại bưởi da xanh được trồng vùng Bến Tre, hơi the không đắng trái nhỏ, ngọt nhưng cũng có loại trái to, ngọt ruột hồng đỏ, trồng bằng cách chiết nhánh có nguồn gốc ở Mỏ Cày (Bến Tre)

Bưởi Da xanh

Hình 4 : Bưởi Da Xanh tìm thấy nhiều nơi ở miền Nam.

Da Xanh Ruột Hồng Bến Tre

Hình 5 : Bưởi da xanh-ruột hồng Bến Tre

Bưởi Năm Roi.

Được thấy trồng nhiều ở Vĩnh Long (Bình Minh, Tam Bình), Bến Tre, Cần Thơ…

Trái hình quả lê (pears), lúc chưa chín màu xanh, gần chín đổi màu vàng, vị ngọt, không the đắng, múi có khá nhiều nước, hương thơm, không hột.

Năm Roi

Hình 6 : Bưởi Năm Roi- Tam Bình, Vĩnh Long

Năm Roi Tân Triều

Hình 7: Bưởi Năm Roi –Tân Triều Biên Hoà

Bưởi Biên Hoà tên chung cho các loài bưởi đặc sản nổi tiếng từ lâu trồng vùng Đông Bắc Sàigòn, nhất là vùng Tân Triều như Bưởi đường, Da láng, Da xanh ruột đỏ, bưởi Thanh  (Thanh Long, Thanh Trà, Thanh Dây và bưởi Ổi).

Bưởi Thanh Long nhiều nước, màu trắng ngà, ngọt thanh, hột nhỏ. Bưởi Thanh Trà ruột trong trắng, ngọt. Bưởi Ổi là loại bưởi qúy hình dáng giống ổi xá lị to, trái rất thơm, múi dể lột, giữ càng lâu- da khô lại, hơi nhăn- ăn càng ngọt và thơm.

Những loại bưởi không ngọt, hơi chua cũng thấy trồng ở Biên Hòa như Bưởi Xiêm, Bưởi da cóc (vì da nhăn) vị chua, nhưng không được chuộng lắm

Bưởi Xiêm

Hình 8 : Bưởi Xiêm

Bưởi ổi Tân Triều

Hình 9:  Bưởi Ổi Tân Triều

Bưởi Long Cổ Cò

Hình 10 : Bưởi Lông Cổ Cò

Bưởi lông cổ cò là giống bưởi đặc sản của huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang.

Có hình dáng quả lê (pears) da ngoài có lớp lông trắng, sờ tay hơi nhám, lớp lông này sẽ mất dần. Khi chín vỏ đổi từ xanh sang xanh vàng có phủ lớp lông mịn.

Vỏ quả khá mỏng, trong quả bì màu trắng hồng, thịt quả bưởi lông cổ cò màu vàng đỏ, dễ lột, vị ngọt hoặc ngọt chua nhẹ, nhiều nước, mùi thơm.

Thanh trà Huế

Hình 11: Thanh Trà Huế

Đặc sản Huế, nổi tiếng từ lâu, quả nhỏ khá tròn, da xanh láng, vỏ mỏng, tép bưởi nhỏ, thơm dòn không nhiều nuớc, ngọt thanh,  Mùa Thanh trà Huế khoảng tháng 7, 8

Cơm Thanh trà Huế

Ngoài Thanh Trà Huế có loại bưởi Thanh trà ở Biên hoà

Thanh Trà Biên Hoà

Hình 12 : Bưởi Thanh Trà Biên Hòa.
Người Huế không ai gọi Thanh trà là Bưởi Thanh trà cả. Tiếng gọi bưởi Thanh Trà dành cho loại bưởi Thanh trồng ở Biên Hoà. Cũng là giống bưởi da xanh, nhưng hương thơm có vẽ khác nhau vì trồng ở điạ thổ khác nhau. Dòng Bưởi Thanh Biên hoà  gồm Bưởi Thanh long, Bưởi Thanh trà, Bưởi Thanh dây. Không nên lầm lẩn bưởi Thanh Trà với trái Thanh trà ở miền Nam, một loại trái nhỏ như trái quất, có vị chua, thanh và thơm.

Phân biệt Thanh Trà
Hình 13 : Phân biệt giữa Thanh trà Huế (trái) và trái Thanh trà của miền Nam (Cần Thơ)

Bưởi  Phúc Trạch

Phúc Trạch là giống bưởi đặc sản trồng nhiều ở Hương Khê (Hà Tĩnh) https://www.youtube.com/watch?v=5G7aGIG2rLg

Phúc Trạch

Hình 14 : Bưởi Phúc Trạch

 

Bưởi Phúc Trạch có hình cầu tròn, bề ngang và chiều cao gần bằng nhau, cuống quả không lồi, đế quả hơi lõm, vỏ không trơn không ráp, màu sắc vỏ quả xanh vàng, cơm màu hồng nhạt hoặc màu trắng trong, quả nặng hơn  1kg, số múi 14-16 múi/quả, khoảng 50-70 hạt/quả, có mùi thơm nhẹ, có vị ngọt hơi thanh chua.

Bưởi Vinh, quả to có núm, ngọt, ít nước, trồng nhiều ở Hương Sơn (Hà Tĩnh)

 

 Đoan hùng

Hình 15 : Bưởi Đoan Hùng- Vỉnh Phú-Phú Thọ

Đoan Hùng Lai

Hình 16 : Bưởi Đoan Hùng lai

http://nongnghiep.vn/nongnghiepvn/vi-vn/25/24366/khuyen-nong/giong-buoi-doan-hung-lai.html

Bưởi Đoan Hùng cũng như bao nhiêu đặc sản khác, chỉ có đất Đoan Hùng mới cho những trái bưởi thơm ngon được, và trên đất Đoan Hùng cũng chỉ có 2 vùng mà ở đó bưởi trở nên thơm ngon nhất, đó là bưởi Chí Đám và bưởi Bằng Luân.

Bưởi Sửu Chí Đám phát triển phù hợp trên đất phù sa sông Lô, sông Chảy. Về nguồn gốc, giống bưởi này được nhân dân xã Chí Đám nhân ra từ cây bưởi ngon của nhà lão nông có tên là Sửu cách đây trên 200 năm. Từ đó tên ông được đặt cho giống bưởi.

Bưởi Bằng Luân có cách đây 200 đến 300 năm là giống có nhiều nhất ở Đoan Hùng, hầu hết các xã trong huyện, đặc biệt là Bằng Luân và Quế Lâm đều trồng giống bưởi này.Bưởi Bằng Luân có dạng lá nhỏ, quả nhỏ có hình cầu dẹt hoặc dạng hình lá to, quả to, tròn đều. Khi chín có màu vàng rơm, màu thịt quả trắng, trục quả đặc, dễ tách múi, tép mềm mọng nước có màu trắng xanh, ngọt đậm, vị thơm.

http://trenguonresort.com/buoi-doan-hung-dac-san-phu-tho/

Grapefruits- Bưởi Chùm

Bưởi chùm grapefruit, tên khoa học là Citrus Paradisi-là một giống cây lai tự nhiên giữa cam (Citrus Sinensis ) và bưởi Pomelo (Citrus Maxima) được cho là có nguồn gốc ở Barbados từ thế kỹ 18.  Cây lá xanh không rụng l á thường cao khoảng 5-6m nhưng cũng có loại cao đến 13-15m, lá xanh đậm láng, cho trái nhiều đường kính khoảng 10-15cm, mọc chùm như chùm nho, trái giống cam nhưng to hơn, vỏ xanh khi chín trở vàng cam, vỏ mỏng, láng,không lột vỏ được, vị đắng, ít ngọt. Cơm bưởi (pulp) có thể có màu hồng, đỏ, trắng, thường cơm đỏ ngọt hơn tuỳ giống lai (cultivars). Năm 1929 Mỹ lần đầu tiên đăng ký (patent) loại grapefruit ruột đỏ US Ruby Read (giống RedBlush). Thông thường người ăn phải dùng dao cắt đôi và dùng muỗng múc để ăn hoặc ép lấy nước uống.

Một trái bưởi cỡ ở trung bình cung cấp khoảng 200 calori. Bưởi chua có nhiều acid, có vitamin C, A, chất sơ hoà tan pectin, và nhiều khoáng chất như Kalium calcium, phosphore, sắt, folate. Bưởi mầu đỏ và hồng còn có thêm beta carotene chống oxy hóa mà cơ thể chuyển hóa thành vitamin A

Grapefruit trắng vàng

Hình 17: Grapefruit -ruột trắng vàng

Grapefruit ruột đỏ

Hình 18 : Grapefruit-ruột đỏ

 

Cam-Oranges

Hầu hết các giống cam quýt được chọn lọc từ những đột biến lai giống tự nhiên (interfertile, mutation) và chỉ một tỷ lệ nhỏ được tạo ra từ lai giống công nghệ (hybridization).

Cam có nhiều kích thước và hình dáng từ tròn đến bầu dục, thường có 10 múi và có đến 6 hạt, bì trong trắng xốp. Khi chin vỏ ngoài (rind) trở màu từ màu cam rực rở đến vàng. Ở vùng khí hậu nhiệt đới khi chin da có thể vẩn có màu xanh. Những loại cam đột biến tự nhiên không hột

Cam đường (sweet orange) tên khoa học Citrus sinensis) trái nhỏ hơn bưởi, vỏ mỏng, khi chín thường có màu cam (vì chất carotene) hoặc vàng rực, có vị ngọt hoặc hơi chua. Cam sành miền Tây khi chín vẩn da vẩn còn màu xanh vì được trồng ở vùng nhiệt đới.  Loài cam có thể lai giống giữa loài bưởi Pomelo (Citrus maxima) và quýt (Citrus reticulata). Cây cam nhỏ, cao đến khoảng 10 m, có cành gai và lá thường xanh dài khoảng 4-10 cm. Cam bắt nguồn từ cổ xưa vùng Đông Nam Á, có thể từ  Ấn Độ , Việt Nam hay  miền nam Trung quốc.  Người Tây Ban Nha đem giống này vào Mỹ Châu khoảng giữa thế kỷ 16.

Cùng chi họ nhưng trái Citrus sinensis được phân loại là cam đường trong khi loại cam the Citrus aurantium được gọi là loại cam đắng (bitter orange)

Thống kê từ 1987, cam đươc trồng nhiều nhất trên thế giới từ vùng nhiệt đới (tropical) đến bán nhiệt đới (sub tropical). Cam được ăn hoặc ép lấy nước, tinh dầu thơm trong vỏ cam. Kể từ 2012 cam đường chiếm 70% tổng số chi họ Cam quýt (Citrus) sản xuất trên thế gìới, nơi sản xuất nhiều nhất là Ba Tây và Mỹ (California và Florida).

 (source-http://en.wikipedia.org/wiki/Orange_%28fruit%29)

 Cam rốn (Navel oranges)

Loài cam này có thể diển tả như có một cam thứ hai nhỏ nằm trên đỉnh đầu của quả cam, nhô ra như cái rốn (rúng)

Navel orangeNavel orange Cơm

Hình 19: Cam rốn (navel oranges)

Loại thông dụng gọi là Cam rốn Washington  có lẻ là ngẩu biến tự nhiên, hay thụ phấn lẩn nhau từ loài cam ngọt , phát hiện đầu tiên ở Ba Tây (Brasil) khoảng 1820, phát triển sang vùng Florida (Mỹ) chỉ trong vòng 15 năm.

Trái cam chín màu vàng, cơm vàng , rất ngọt, nhưng it nước, không có hột, vỏ dể lột.

Cam thích hợp vùng nhiệt đới, bán nhiệt đới với nhiều ánh nắng. Cây lùn khoảng 6-8ft (như Dwarf  Wahington Navel) hoặc như  Washington Navel cao đến 20 ft có lá xanh, bóng láng.

Loài cam này rất phổ thông và rất thành công về phương diện thương mại trên thị trường cam quốc tế.

Trovita

Cam Mỹ Trovita là loại cam lai giống công nghiêp ở California, mùi vị không bằng Cam Rốn (Navel) , cam không có rốn,  nhiều hạt nhưng có thể thích ứng cao với thời tiết khô, nóng. Cam có nhiều nước, trái nhỏ hơn loại Navel.

Cam Trovita

Hình 20: Cam Trovita

Valencia.

Đây là một giống lai có nguồn từ California (Santa Ana). Cam Valencia ngọt, hương vị thơm và nhiều nước. Được trồng nhiều vùng nhiệt đới và bán nhiệt đới, trái nhỏ, vỏ khá mỏng và ít hột.

http://www.survival.org.au/fruit_oranges.php#sthash.xFSP9khJ.dpuf

 

Cam Valencia

Hình 21 : Cam Valencia

 

 Cam Đỏ

 Cam Đỏ Moro

Hình 22: Cam Đỏ -Moro (Blood) Oranges

Vỏ cam màu vàng , cơm màu đỏ đậm vì có chứa nhiều pigment anthocyanin, múi cam thơm, thoang thỏang hương vị dâu mâm xôi (rasberry).

Cam Sành

Cam Sành

Hình 23 : Cam sành chưa trưởng thành da xanh đậm miền Tây (Tam Bình, Vỉnh Long)

 

Cam sành và quýt đường thích nghi tốt vùng đồng bằng sông Cửu Long,  cây cho năng suất cao, phẩm chất ngon, nước nhiều, vỏ khá dể lột. Trái có nhiều hột đã hạn chế phần nào việc tiêu thụ trái tươi. Có tài liệu nghiên cứu đã ghi nhận được nhiều trường hợp có trái không hột hay ít hột (nhỏ hơn 5 hột).

Cam Xoàn

Cam Xoàn là loại cây ít bệnh, ăn rất ngọt, vắt nước uống rất thanh, cơm màu vàng nhạt, vị ngọt đậm, mùi thơm, chắc múi hơn so với các loại cam sành, cam mật. Lúc chưa chín da láng màu xanh, lúc gần chín chuyển sang màu vàng.

Cam Xoàn có tác dụng giải khát, nhiều vitamin như vitamin C, vitamin B9. Cam Xoàn là giống cây ăn trái được trồng nhiều và lâu đời ở một số tỉnh đồng bằng sông Cửu Long. Cây sinh trưởng và phát triển mạnh, thích nghi với nhiều vùng đất cao ráo thoát nước tốt, đất không quá nhiễm phèn- mặn. Cây chống chịu khá tốt với bệnh vàng lá Geenning và một số dịch hại khác.  Sau 30 tháng trồng cây cho trái. Từ khi ra hoa đến khi thu hoạch khoảng 8 tháng.

Cam Xoàn

Hình 24. Cam Xoàn

Cây Cam Xoàn

Hình 24a: Cây cam Xoàn.

Múi Cam Xoàn

Hình 24b: Múi cam Xoàn.

 

Cam mật Phong Điền Cần Thơ

Cam mật ở Phong Điền được phát triển từ những năm 1950 – 1960, và trở thành sản vật đặc trưng làm nền văn minh miệt vườn Phong Điền, sánh vai cùng các xứ vườn nổi tiếng khác.

Cam mật là loại đặc sản nổi tiếng trong và ngoài nước, hương vị thơm ngon, vỏ sáng óng ánh, màu xanh tự nhiên, múi to hạt nhỏ, năng suất cao.

Cam Mật Phong Điền

Hình 25:  Cam mật

Cam Đường

Cam đường chính là một giống quýt, vỏ mỏng và bóc dễ nhưng vỏ lại dai nên có nơi còn gọi là cam giấy, được trồng nhiều ở Lào Cai, vùng Canh-Diễn (Từ Liêm, Hà Nội) nên có tên là cam đường Canh. Quả hình cầu hơi dẹt, nhẵn, khi chín có màu đỏ gấc rất tươi. Cam chín vào trước Tết khoảng 1 tháng nên được giữ để bày mâm ngũ quả cúng tổ tiên. Cam đường Canh lại thích nghi trồng được ở mọi nơi. Điều kiện trồng thuận lợi, cam cho năng suất cao.

Cam đường

Hình 26: Cam đường

Cam Đắng –Bitter Orange –Citrus Aurantium

 Cam Đắng

Hình 27: Cam đắng

Cam đắng (Bitter Orange), cam  Seville (Tây Ban Nha), cam chua, cam làm mức được gọi cho  loài cam có tên khoa học là Citrus  aurantium. Loài cam này là giống lai từ bưởi Citrus Maxima( Pomelo) và Quýt  Citrus Reticulata (Mandarin Orange). Da không láng, ít nước vị chua, những loại cam này thường được dùng lấy tinh dầu, pha trong dầu thơm, làm tăng mùi vị trong thức ăn hoặc làm mức. Cam đắng dùng trong thuốc Bắc, Nam như chất kích thích (stimulant) và chống thèm ăn (appetite suppressant).  http://en.wikipedia.org/wiki/Bitter_orange

 

Cam đắng Bergamot-Citrus Bergamia

Cam Bergamot

Hình 28: Cam Bergamot                                                                        Chanh Limetta

Cam Bergamot (Citrus bergamia) là loại cam có nguồn gốc Ý vùng Bergamo, da màu vàng khi trưởng thành, giống màu chanh, được cho là giống lai từ Citrus Limon Limetta và Citrus Aurantium.

Cam Bergamot vi chua đắng, được dùng trong công nghệ tinh dầu ở miền Nam Pháp hay làm mức ở  vùng Antalya Thổ Nhĩ Kỳ

Citrus Bergamia cũng đã được phân loại là Citrus aurantium subsp. bergamia (tức là một phân loài của cam đắng.

(http://citruspages.free.fr/lemons.html#limetta)

Quýt-Madarin Orange-Citrus reticulata

Quýt Ngọt

Hình 29:  Quýt ngọt

Cây Quýt (Citrus Reticulata Blanco.) thuộc chi họ Cam Quýt (Citrus), họ Rutaceae, có nguồn từ Trung Quốc,  Ấn Độ. Ở Việt Nam, quýt được trồng khắp nơi với nhiều giống và chủng loại khác nhau.

Cây thân gỗ nhỏ có dáng chắc và đều, thân và cành có ít gai.  Lá đơn, mọc so le; phiến lá hình ngọn giáo hẹp có khớp, trên cuống lá có viền mép. Hoa nhỏ, màu trắng, ở nách lá. Quả hình cầu hơi dẹt, màu vàng da cam hoặc ững đỏ, vỏ mỏng, láng hay hơi sần sùi, múi không dính nên dễ bóc, cơm dịu, thơm. Đơm hoa tháng 3-4, quả tháng 10-12.

Thân cây quýt chịu đựng khô dể hơn trái, trái dể bị hư hỏng do khí hậu khô hoặc lạnh quá nên chỉ thường trồng ở vùng nhiệt đới hay bán nhiệt đới. Nghiên cứu về phân tử học cho biết Quýt, Chanh Tây (Citron), Bưởi (Pomelo) là tổ tiên của những giống và chủng loại thuộc chi họ Cam Quýt (Citrus) qua cách thụ phấn lẩn nhau (interfertile, natural hybridization) hay lai giống công nghệ (hybrid).

Quýt bán trên thị trường thường được gọi tên theo vùng đia phương trồng, hoặc theo hình dáng và độ ngọt- quýt mật Nam phong, quýt Tàu ( Tứ Xuyên, Quảng Đông…) , rồi quýt đường, tiêu, quýt tuyết, quýt lô v.v..

Vỏ quýt thường xốp hơn cam, dễ bóc, múi có thể dễ dàng tách từng múi, trái nhỏ hơn cam.

 

Tangerines

 

Quýt Tangerine

Hình 30: Quýt tangerine

Loại tangerine (C. tangerina) liên hệ gần với quýt ngọt (C. reticulata), trái nhỏ hơn cam, da mỏng vàng đậm, dể lột hơn cam . Ngọt và hương vị mạnh hơn hương vị của cam, múi có hạt.  Lúc chín trái chắc và mềm hơn cam. Rất phổ thông ở Mỹ, tên tangerine được đặt tên từ loại quýt ngọt đươc giới thiệu qua phương Tây qua cảng Tangiers ở Morroco.

http://www.wisegeek.org/what-is-the-difference-between-mandarins-and-tangerines.htm

Clementines

Là một chủng loại từ lai giống của giống quýt ngọt.  Clementines ( C. Clementina) là loại quýt không hột , khác với tangerines có hột. Da láng, dể lột vỏ, trong có 7-14 múi, ngọt, nhiều nước, ít acid hơn cam.

Quýt Clementine.

Hình 31: Quýt Clementine

Satsuma tên khoa học Citrus Unshiu, giống quýt có nguồn từ Nhật vùng Satsuma thuộc đảo Kyushu, trái dể lột, da vàng khi trưởng thành, vị ngọt và không có hột.

Quýt Satsuma

Hình 32: Quýt Satsuma

Cây thân nhỏ chịu lạnh, mọc chậm, tàn lá rậm, thân rất it gai, da mõng nhiều tuyến dầu. Trái chin có 10-12 múi, dể tách, ruột rổng. Trái chín dể rụng nên thường phải hái trước, giữ chứa được lâu.

Satsuma thường bị lẩn với tangerine hay Clementine vì là các giống lai liên hệ trong giống quýt.

Chanh

Citron – Chanh da nhăn – Citrus Medica

Chanh Da nhăn

Hình 33: Chanh da nhăn.

Chanh da nhăn – Citrus Medica  là một trong ba giống khởi nguồn cuả chi họ cam quýt ( hai giớng kia là Buởi Citrus Maxima hay Paradisi và Quýt Citrus Reticulata). Tất cả các giống Citrus khác là do lai giống thiên nhiên (natural hybridization, interfertility) hay nhân tạo (artificial hybridization).

Chanh da nhăn ít nước, múi khô, phần chính là vỏ trong dày màu trắng (white rind) dính liền với các múi khó tách ra được- Không lột vỏ được như cam quýt .

Thường được dùng lấy mùi thơm (fragrance) hay vỏ ngoài cùng được cạo ra (zest) dùng trong salad hay nấu ăn. Ngày xưa được dùng như y dược trị say sóng, bệnh phổi, dầu từ lớp da ngoài cùng được xem là anti-biotic.

Nước (juice) của chanh nhăn (citron) chứa nhiều Vitamin C  được dùng pha chế dược phẩm chống thấp khớp (rheumatism), nôn mửa (vomiting) , hơi trong dạ dày (flatulence) , trỉ ( haemorrhoids), bệnh da , mắt yếu hay ngay cả lợi ích cho tim mạch (cardiovascular benefits)

(http://en.wikipedia.org/wiki/Citron)

 

Phật Thủ (chanh Phật Thủ)

Chanh Phật Thủ

Hình 34: Chanh Phật Thủ

Có tên khoa học là Citrus Medica (Citrus medica varsarcodactylis), tiếng Anh gọi là Chanh ngón tay (fingered citron) hay bàn tay  Phật (Buddha’s hand). Loại thân cao khoảng  2.5 đến 4.5m, thân nhánh có gai , hoa nở vào mùa Xuân, thích nơi có nhiều ánh sáng mặt trời.  Trái có vỏ dày, nhăn nhíu, cũng giống như các loại chanh Tây vỏ cạo ( Zest) trộn làm salad, hoặc làm gia vị nấu ăn vì hương thơm, làm bánh (cake, biscuit) hoặc làm jam hay marmalade .

Chanh Phật Thủ không chua nhiều, ít nước và nhiều khi không có hạt.

 

Chanh Tây-Lemon-Citrus Limon

Chanh tây hay chanh vàng, là tên khoa học Citrus Limon. Loài này được Carl Von Linné, Laurens Burman cùng các cộng sự miêu tả khoa học đầu tiên năm 1768.

Thanh yên hay chanh yên Citrus limonimedica hay Citrus medica ssp. bajoura hoặc Citrus medica L. var. ethrog Engl., Citrus medica L. cv. Ethrog) là cây ăn quả thuộc chi Cam Quýt. Là loài bản địa của Ấn Độ, Myanmar và vùng Địa Trung Hải, tại Việt Nam, giống cây này được trồng từ Lạng Sơn đến Lâm Đồng. Tên tiếng Anh của loài này là Citron.

Cây thanh yên là cây gỗ nhỏ, cao từ 2.5 m đến 5 m. Hoa thơm, màu trắng pha tím đỏ. Quả ra vào tháng 6, khá to, kích thước (12 – 20) x (8 – 12) cm hình bầu dục, màu vàng chanh khi chín, vỏ sần sùi, dày, mùi dịu và thơm; cùi trắng, dịu, nạc, tạo thành phần chính của quả, thịt quả ít, màu trắng và hơi chua (5-6% citric acid).

Vị chua đặc trưng của chanh làm tăng hương vị cho món ăn, nước uống (lemonade, lemon drink).

Về mặt thực vật học, đây là loài lai giữa C. medica và C. aurantium. Mặc dù các tác giả khác cho rằng chanh tây là kết quả lai giữa Citrus medica và Citrus aurantifolia

Chanh Tây

Hình 35: Chanh Tây

 

Chanh Ta – Key Lime- Citrus aurantifolia

Chanh hay còn gọi là chanh ta vỏ xanh (Citrus aurantifolia) để phân biệt với chanh tây (Citrus Limon), quả hình cầu, đường kính từ 2,5 cm – 5 cm (1–2 inch), khi chín có màu vàng rực (nhưng thường được khai thác khi quả còn xanh). Quả chanh ta có kích thước nhỏ hơn chanh Tây, nhiều hạt hơn, lượng axít cao hơn, mùi vị nồng hơn và vỏ mỏng hơn so với loại chanh không hạt (Citrus latifolia). Chanh ta được ưa chuộng vì mùi vị đặc trưng của nó so với các loại chanh khác – cụ thể là vị chua và đắng nồng hơn.

Chanh Ta

Hình 36: Chanh Ta

Chanh Ta -Lime

Hình 37: Chanh ta-Lime- Citrus Latifolia

Chanh ta vỏ mỏng, tiếng Anh gọi là Lime- tên khoa học Citrus Latifolia. Còn gọi là Persian hoặc Shiraz Limoo , Tahiti lime hoặc Bearss lime.  The Persian lime, chanh Trung đông là giống lai giữa key lime (Citrus aurantiifolia) với lemon (Citrus limon) hay citron (Citrus medica).

Chanh không hạt-ít gai là giống chanh được nhập vào Việt Nam trong thời gian gần đây, rất được ưa chuộng, do dễ trồng, cho năng suất cao. Có thân và quả gần giống chanh giấy truyền thống (chanh vỏ mỏng) của Việt Nam, khi cành ở giai đoạn trưởng thành thì các gai bị thoái hoá, cây cho sai quả, một chùm cho 7-8 quả. Năng suất rất cao từ 150-200kg quả/cây/năm, quả to, tròn, cơm màu trắng xanh, không hạt, nhiều nước, chua, thơm

Chanh Kaffir lime

Chanh Kafir Lime

Hình 38: Chanh Kafir Lime

Kafir Lime Citrus hystrix, tên Anh kaffir lime, là giống chanh bản địa (native) của bán đảo Đông Dương (IndoChina), cũng tìm thấy ở  xứ nhiệt đới như India, Nepal, Philippines, Bangladesh, Indonesia,Malaysia và Thái Lan. Da chanh sần sùi không láng, lá xanh đậm, láng, cơm thơm nhưng ít nước, lá và trái được dùng nấu ăn.

 

Chanh lai giống Úc

Úc có 6 giống Citrus bản địa (native), nhưng giống Chanh ngón tay được biết và trồng nhiều nhất. Được tìm thấy trong rừng nhiệt đới ở những dảy núi giữa tiểu bang Queensland và Bắc New South Wales, đây là loại cây thân bụi, có gai, cao không quá 6m, trái có hình dạng ngón tay dài đến 12cm, da màu xanh, lá cây xanh có chút vàng. Cơm chanh gồm bởi những túi nhỏ mọng nước (vesicles) vị chua. Cơm được dùng trong công nghệ làm nước xốt (sauces), mức (jam), thạch (jellies)

http://www.dpi.nsw.gov.au/__data/assets/pdf_file/0016/320272/growing-australian-native-finger-limes.pdf

Chanh Ngón Tay

Hình 39:  Chanh Ngón Tay-Finger Limes

Loại Chanh ngón tay đỏ là một giống lai tự nhiên, cấu trúc bên trong trái cũng giống như giống chanh vỏ màu xanh vàng nhưng cơm có màu đỏ hồng, tên khoa học là Citrus australasica var sanguina

Chanh ngón tay đỏ

Hình 40:  Chanh ngón tay đỏ-Citrus australasica var. sanguinea (the red finger lime)

Chanh Đỏ

Hình 41: Chanh đỏ

Chanh đỏ là giống lai giữa giống chanh ngón tay đỏ với giống chanh Rangpur (Rangpur lime *) tên khoa học là Citrus Limonia. Trái màu đỏ đến đỏ thẫm. Tàn cây bụi thấp đến 2-3m, lá bầu dục, láng màu xanh đậm khoảng 25-25mm và rộng khoảng 15mm, nách lá (axils) có kim cứng và nhọn gây khó khăn lúc hái. Trái chanh hình bầu dục , da màu vàng (gold) với đốm đỏ, đến đậm đỏ, kích thước khoảng 30-50mm chiều dài và 20-30mm chiều rộng, có thể thay đổi tùy muà và nơi trồng cũng như thòi gian thu họach. Hạt chanh nhỏ, nước chanh chua.

*Rangpur Lime loại chanh vỏ mỏng, giống lai giữa chanh Tây (lemon) và quýt (mandarin) , thịt thơm và cho nhiều nước, hơi chát, còn gọi là chanh Quảng Đông.

 

 Tắc, Hạnh

Quất ở Đông Nam Bộ Việt Nam gọi là tắc, Tây Nam Bộ là hạnh, tên khoa học là Citrus japonica ‘Japonica’; là một giống kim quất, và là giống hay được trồng nhất trong các giống kim quất.

Quất là loài cây xanh cũng thường trồng làm cảnh trong sân hay trong nhà. Cây quất ra đầy trái hay được trưng bày vào dịp Tết vì được xem là biểu tượng của may mắn.

Quất có nguồn từ Châu Á, Trung Quốc và Nhật được xếp vào chi họ Cam Quýt (Citrus) cho đến năm 1915 thì được xếp vào chi họ Fotunella theo sự nghiên cứu của Dr Walter T Swingle. Tên Fortunella (đặc theo tên nhà khoa học người Anh Robert Fortune) đã đem giống này về Âu Châu 1846. Có 4 loài tắc (kumquat), the Hong Kong Wild (Fortunella hindsii), Marumi loài tắc được trồng nhiều ở VN trái vàng tròn (Fortunella japonica), Meiwa (Fortunella crassifolia), and Nagami- trái vàng bầu dục vị thơm hơn Marumi (Fortunella margarita). Loài thông dụng nhất được trồng nhiều nơi là ‘Nagami’ and the ‘Meiwa’. Tắc có thể ăn luôn cả trái nhưng chua, ăn vỏ có vị ngọt.

Cây Tắc, thân dẽo, nhỏ cao độ khoảng 1-2m, màu xanh xám, nhiều cành nhánh, lá đơn hình bầu dục, cuốn có cánh rất nhỏ, lá màu xanh thẫm, hoặc có viền trắng như Nagami. Hoa thường đơn độc, nở xòe 5 cánh trắng, rất thơm, chùm nhụy rất ngắn. Đậu thành trái hình cầu hoặc bầu dục (oval như loài Nagami), lúc còn non màu xanh bóng, khi già chín đổi thành màu vàng cam, rất đẹp. Bên trong ruột có nhiều múi màu vàng nhạt, chứa nhiều nước chua gắt , nên thường dùng để làm nước uống với đường rất đã khát hoặc làm mứt (marmalade) để ăn…

Tắc Cây

Hình 42: Tắc (Quất, KumQuat, Kim Quat)

 

Tắc Nagami

Hình 43: Tắc Nagami Citrus japonica ‘Margarita’

Tăc Murami

Hình 44: Tắc Murami Citrus Japonica or Fortunella japonica

Tangelo (Citrus tangelo) là giống lai từ Quýt Tangerine (Citrus Tangerina) với giống bưởi chùm grapefruit (Citrus Paradisi).

Trái dể lột vỏ hơn cam, nhiều nước có mùi vị giống tangerine, đặc điểm có núm (nipple) nơi trái dính vào cành.

Tangelos
Hình 45: Tangelos

Minneolas cũng là giống lai giữa tangerine và grapefruit , tựa như tangelos dể nhận ra vì cũng có mủi nhỏ trên đầu trái

 Minneolas

Hình 46: Minneolas

Lai giống ở Florida ,trái hơi to hơn quýt có vị ngọt cuả quýt pha lẩn với vị chua chát cuả bưởi chùm (grapefruit), Đường kính trung bình 7-8cm, vỏ dể  lột như quýt hay tangerine, it hột.

Trái thanh trà

Bouea macrophylla (Bouea macrophylla Griff) loại trái có nguồn gốc ở Vietnam Đông Nam Á., thuộc họ Anacardiaceae lien hệ với giống Xoài (mango).

Thanh trà Vỉnh Long

Hình 47 : Trái thanh trà Vỉnh Long

Thanh Trà

Hình 48: Thanh Trà

Nếu có dịp về miền Tây vào mùa này, khi ngang qua xã Đông Thành (thị xã Bình Minh, Vĩnh Long), du khách sẽ ngỡ ngàng khi nhìn thấy nhiều khu vườn trái thanh trà chín vàng rực rỡ dưới nắng hè.

Cây thanh trà trông giống như cây xoài, trái tương tự quả chanh, vỏ màu xanh, chín có màu vàng cam bóng láng, cơm mềm vị chua, ngọt rất hấp dẫn mọi người – nhất là trẻ con. Trái chín vào khoảng tháng giêng đến cuối tháng 3 âm lịch.

Thanh trà có 2 loại: thanh trà chua và ngọt (thanh trà chua trái tròn, vỏ mỏng, chín có màu vàng sậm, dễ giập; còn thanh trà ngọt trái dài, vỏ dày, cứng, có lớp phấn trắng phủ bên ngoài, trái chín có màu vàng nhạt).

Có nhiều cách thưởng thức hương vị của thanh trà: ăn chín, làm mứt và làm gia vị trong việc chế biến các món ăn (nấu canh chua, kho).

Cách thông thường mà giới ưa chuộng ăn thanh trà chín chấm muối ớt.  Vị chua, ngọt, thơm của thanh trà; vị mặn, cay của muối ớt và những cái “hít hà” vì cay nồng lên tận mũi, thật thú vị!

Riêng những người lớn tuổi, thư thả hơn khi về nhà, có cách thưởng thức như: thanh trà chín cho vào rổ rửa sạch. Dùng dao bén gọt bỏ vỏ, cho vào ly (khoảng 2 trái) cùng vài muỗng đường cát, một tí muối bọt (cho có hương vị đậm đà). Lấy muỗng cà phê dầm cho cơm thanh trà nhừ ra với đường. Cho thêm tí nước vào khuấy hòa tan. Cuối cùng, bỏ vài viên đá vào là ta có được món thanh trà dầm đá giải nhiệt tuyệt hảo!

Cũng còn có cách chế biến khác nữa là làm mứt tuy hơi nhọc công một chút. Chọn mua vài ký thanh trà chua, chín (nhớ lựa những trái cứng thịt, màu sáng, không giập) về nhà rửa sạch, gọt vỏ, xắt thành từng miếng như miếng xoài, bỏ hạt.

( http://dacsanmientay.vn/am-thuc-mien-tay/am-thuc-vinh-long/qua-thanh-tra/)

Chanh Dây-Passion Fruit-Passiflora Edulis

 Chanh Dây

Chanh dây là loài dây leo giàn tên khoa học là Passiflora Edulis thuộc chi họ Passiflora, họ Passifloraceae, không phải là loài chanh tuy vị có chua.

Có nguồn gốc ở Nam Mỹ, được trồng vùng nhiệt đới và bán nhiệt đới, Úc , Mỹ, Trung, Nam Mỹ, vùng West Indies, Phi Châu, Hawaii.

Trái xanh trở thành vàng hoặc tím tùy chủng loại, trong có nhiều hạt, vị chua. Ở VN gọi là chanh dây , dùng để giải khát như uống chanh đường. Trên thế giới Passionfruit được pha chế làm nước ngọt (soft drink), nước trái cây (fruit juice) hoặc trong kem hay làm bánh để làm tăng hương vị thơm.

 

Mai Trầnn-Y Nguyên- Hè 2015

 

Tham Khảo:

1-http://buoidaxanh.vn/

2-http://kimanhl.blogspot.com.au/2014/09/trai-buoi-va-dung-no-buoi-o-t-en-khoa-h.html

3- https://dokmaidogma.wordpress.com/2012/08/25/a-tasty-hardy-and-ornamental-calamondin-orange/ pure and crossed species

4- http://www.diggers.com.au/shop/product/WPLRL/RANGPUR%20LIME.aspx

5- http://dacsanmientay.vn/am-thuc-mien-tay/am-thuc-vinh-long/qua-thanh-tra/

6- http://www.dpi.nsw.gov.au/__data/assets/pdf_file/0016/320272/growing-australian-native-finger-limes.pdf

7- http://www.3tvietnam.vn/vn/tin-san-pham/nhung-tac-dung-cua-vo-cam-quyt.html

 

 

 

 


Thử đọc lại Kim Dung phần 4: Lộc Ðỉnh Ký

Thử đọc lại Kim Dung phần 4:  Lộc Ðỉnh Ký


Nguyên Nguyên

Lộc Ðỉnh Ký từ lâu đã nổi tiếng một trong những tác phẩm hay nhất của Kim Dung. Thế nhưng không biết vì lý do này hay lý do nọ, cho đến lễ Phục Sinh 2003 tại hạ vẫn chưa có dịp đọc hay xem qua phim tập Hong-Kong truyện đó. Tựu chung có lẽ bởi những định kiến về sở thích của tuổi trẻ. Tuổi chỉ thích truyện kiếm hiệp, truyện chưởng thuần túy, chứ không thích lăng nhăng chính trị hay những chuyện thâm cung bí sử.  Thế, một khi biết được phong phanh rằng không những nhân vật chính trong truyện Lộc Ðỉnh Ký, Vi Tiểu Bảo, chẳng phải là một cao thủ võ lâm, các vị đại sư của Thiếu Lâm hoặc Võ Ðang không mấy khi xuất hiện, lại thêm bối cảnh được dựng chung quanh vài Thái Giám ở triều đình nhà Thanh, tại hạ đành hẹn lần hẹn hồi cho đến chừng nào có dịp hãy hay.

Nước chảy qua cầu và thời gian trôi qua nhanh. Thấm thoát từ ngày Lộc Ðỉnh Ký đầu tiên xuất hiện trên chốn giang hồ đến nay cũng đã hơn 30 năm. Những người đọc truyện Kim Dung năm xưa qua những bản dịch của Hàn Giang Nhạn, Từ Khánh Phụng bây giờ đã đi vào tuổi lão. Kim Dung cũng đã tròn tuổi tám mươi. Duy chỉ có vài ba hiện tượng đáng để ý, đã mặc nhiên từ chối định luật đào thải của thời gian. Thứ nhất các phim ảnh HongKong, Ðài Loan cứ quay đi quay lại những pho truyện của Kim Dung thành phim tập chiếu từng kỳ trên Tivi rồi chuyển sang băng video cho mướn khắp nơi trên thế giới. Nhất là ở những nơi có cộng đồng người Ðông Nam Á định cư. Gần như bất cứ tài tử  nào nổi tiếng hoặc đang lên cũng đều được mời đóng những vai chính của các truyện Kim Dung. Phim Tiếu Ngạo Giang Hồ đã được quay ít lắm cũng 4 lần, trong đó vai Lệnh Hồ Xung có một lần do Châu Nhuận Phát đóng. Jet Li cũng đã từng thủ vai Trương Vô Kỵ lẫn Lệnh Hồ Xung. Tony Leung tức Lương Triều Vĩ  vai Trương Vô Kỵ (Ỷ Thiên Ðồ Long) và Vi Tiểu Bảo (Lộc Ðỉnh Ký). Ca sĩ số 1 của Hongkong Andy Lau vai Khang Hy hoàng đế cũng trong Lộc Ðỉnh Ký. Và thích hợp nhất cho nhân vật Hoàng Dung trong Anh Hùng Xạ Ðiêu từ trước đến giờ vẫn là vai do tài tử đoản mệnh Ôn Mỹ Linh đóng.

Hiện tượng lạ lùng nữa không đếm xỉa gì đến sức xoáy hao mòn của thời gian chính là việc  say mê đọc truyện Kim Dung truyền qua nhiều thế hệ. Có thể nói thế hệ hiện nay mê đọc Kim Dung tại Việt Nam đã là thế hệ thứ ba hay thứ  tư, kể từ khi Cô Gái Ðồ Long xuất hiện tại Sàigòn vào khoảng năm 1962. Dịch giả cũng chuyển qua nhiều thế hệ. Có nhiều dịch giả tại Việt Nam, và cũng có những nhà chuyển ngữ sinh sống bên ngoài Việt Nam. Tin tức mới nhất thu thập từ internet cho biết hiện nay ở Sàigòn, tại mỗi tiệm sách lớn, hằng tháng trung bình có chừng 30 người mua các bộ truyện Kim Dung mới được dịch lại. Một con số khá lớn đối với các tiểu thuyết ra đời cách đây hơn 30 năm.

Một điểm nữa đáng để ý, các nhân vật trong những truyện kiếm hiệp của Kim Dung – không một người nào già ra hết. Lần cuối nếu đọc Ỷ Thiên Ðồ Long Ký tức Cô Gái Ðồ Long, vào năm 1965, ở đoạn kết thấy Trương Vô Kỵ giã từ vũ khí cùng với Triệu Minh cỡi ngựa về hướng mặt trời lặn theo kiểu Phạm Lãi với Tây Thi của nước Việt. Lúc đó, Vô Kỵ hứa với Triệu Minh chàng sẽ dành khoảng đời còn lại chỉ để kẻ lông mày của nàng thôi. Bây giờ nếu đọc lại Ỷ Thiên Ðồ Long Ký, dù với các bản “nhuận sắc” mới mẻ của Kim Dung hay các bản chuyển ngữ mới dùng nhiều từ mang Việt Nam tính hơn chút ít, người đọc vẫn thấy như vậy. Vẫn thấy Vô Kỵ cùng với Triệu Minh bỏ trốn khỏi doanh trại của Chu Nguyên Chương, người sau này đã thành công trong việc đánh đuổi giặc Mông Cổ (nhà Nguyên) và thiết lập triều đại nhà Minh. Chỉ trừ một vài thay đổi nhỏ, như Triệu Minh đã  được tác giả đổi tên thành Triệu Mẫn chẳng hạn. Lệnh Hồ Xung cũng vậy. Cũng lém lỉnh nhưng chung thủy chung tình, với ngón Ðộc Cô Cửu Kiếm, trên cơ đường kiếm Tịch Tà Kiếm Phổ của các cao thủ đã phải chia lìa với “thằng nhỏ” mới tập luyện được. Hoàng Dung cũng vẫn còn đẹp gái, nhí nhảnh dễ thương như xưa. Dương Qua vẫn mỏi mòn đi tận chân trời góc biển để tìm Tiểu Long Nữ. Chỉ có điều tất cả các tài tử thủ các vai này đều đã già đi. Một số tài tử đã qua đời. Kim Dung và những người đọc tiểu thuyết của ông cũng vậy, cũng đều lớn tuổi thêm ra.

Như các nhân vật khác, Vi Tiểu Bảo của Lộc Ðỉnh Ký cũng không già đi với thời gian. Có vẻ như chừng Vi Tiểu Bảo hãy còn sống ẩn danh đâu đó, với . . . 7 người vợ hiền, tại Vân Nam – tức nước Ðại Lý năm xưa của Ðoàn Nam Ðế, hay nước Ðiền Việt ở thời cổ đại. Trong khi vua Khang Hy – người bạn thuở thiếu niên của Vi Tiểu Bảo – đã tạ thế vào năm 1722 sau gần 60 năm trị vì.

Hiện tượng này giống y như hiện tượng các tiểu thuyết của Ian Fleming và phim ảnh Hollywood về điệp viên 007 James Bond. James Bond sau hơn 40 năm kể từ phim Dr NO, vẫn giữ vững lưá tuổi 35-45 và vẫn trẻ mãi không già. Cô thư ký Moneypenny của xếp “M” cũng vậy, lại có vẻ càng ngày càng trẻ đẹp thêm ra. Trong suốt hơn 40 năm ròng đó, chỉ có xếp M hình như đã già đi, về hưu hay qua đời sao đó, để sở tình báo của Anh Quốc phải chọn một người nữ thay thế [1]. Trưởng phòng dụng cụ và máy móc Q cũng già và qua đời sau một tai nạn xe cộ, Sở Tình Báo phải mướn người khác thay thế [2]. Bối cảnh của các công tác James Bond cũng thay đổi với thời gian. James Bond trở thành một điệp viên lợi hại của Anh quốc nhờ ở những công tác trong thời chiến tranh lạnh giữa hai khối dẫn đầu bởi Mỹ và Nga. Chiến tranh lạnh cuối cùng cũng đi đến chung cuộc. Rồi biết bao nhiêu chuyện vật đổi sao dời trong suốt thời gian 40 năm dài đó. Những thay đổi về đối tượng tranh thủ để bảo vệ và duy trì hoà bình toàn cầu. Nhưng James Bond vẫn trẻ mãi , vẫn đấm đá mạnh mẽ như xưa, và quan trọng nhất, vẫn còn đầy đủ khả năng và  phong độ để yêu những người đàn bà trẻ đẹp. Phải chăng hiện tượng trẻ mãi của James Bond, của những Vô Kỵ, Ðoàn Dự, Tiểu Long Nữ, Vi Tiểu Bảo, Triệu Minh, Vương Ngọc Yến, Hoàng Dung, Nhậm Doanh Doanh, Lệnh Hồ Xung, v.v. đều là những giấc mơ  . . . tiên của con người?

Trở lại chuyện Lộc Ðỉnh Ký. Mặc dù tại hạ đã đọc được chừng vài ba hồi trên các mạng kiếm hiệp, như www. Vietkiem.com hoặc www. Nhanmonquan.com, tại hạ thú nhận vẫn chưa làm quen được với việc . . . ngồi đọc truyện kiếm hiệp trước máy điện toán. Thói quen lâu năm khó bỏ.  Bởi hồi xưa ưa đọc truyện Tàu, truyện Kim Dung ở trong . . .mùng, sau giờ giới nghiêm. Do đó nhân dịp một người cháu đi Việt Nam, tại hạ có nhờ người cháu đem qua cho bằng được một bộ Lộc Ðỉnh Ký – bản dịch mới của Cao Tự Thanh, nhà xuất bản Văn Học, 2002. Thế rồi cố gắng đọc quyển 1 của toàn bộ 10 quyển. Rồi quyển 2 cũng với một tốc độ bình thường như đọc những tiểu thuyết tình cảm tâm lý xã hội, hoặc phiêu lưu đường rừng. Sang đến quyển thứ 3 trở đi, vô hình chung người đọc bắt đầu phải gia tăng tốc độ, đọc ngấu đọc nghiến, háo hức xem tiếp xem tiếp. Xem xem Vi Tiểu Bảo có thoát hiểm được hay không. Hoặc rốt cuộc có uống được một liều thuốc bổ nào đó chăng, như máu rắn, hoặc ăn được ếch xanh, để cấp tốc gia tăng nội lực theo với nhu cầu giải quyết các mâu thuẫn khó khăn của cuộc đời. Hoặc giả Vi Tiểu Bảo có tình cờ gặp được một vị kiếm sư nào đó đang ẩn danh nay đây mai đó truyền lại  cho chàng một đường kiếm hay một ngón chưởng nào đó đã thất truyền lâu năm. Ðể Vi Tiểu Bảo có thể đứng ra làm. . . võ lâm minh chủ theo như truyền thống lâu đời của truyện kiếm hiệp. Những háo hức và hồi hộp đó chỉ có đối với người đọc Lộc Ðỉnh Ký lần đầu. Do đó tựa đề “Thử đọc lại Kim Dung” chính ra không được chính xác mấy. Tuy nhiên để gây sự liên tục với 3 bài trước, đành phải giữ nguyên tựa cũ.

Bối cảnh lịch sử

Lộc Ðỉnh Ký được dựng lên vào khoảng 10-20 năm đầu của triều đại Khang Hy nhà Thanh.

Người ta còn nhớ, Chu Nguyên Chương nổi dậy đánh đuổi được quân Mông Cổ tức nhà Nguyên, và thiết lập nên nhà Minh vào năm 1368. Truyền lại vài đời vua, nhà Minh bắt đầu suy thoái vào khoảng đầu thế kỷ thứ  17.  Giặc giả cướp bóc nổi lên khắp nơi (xin xem “Bích Huyết Kiếm” của Kim Dung). Ðáng kể nhất có 3 đám: 1 đám chiếm cứ đảo Ðài Loan, một băng do Trương Hiến Trung cầm đầu và nhóm thứ ba là nhóm của Lý Tự Thành. Người Mãn Thanh ở phía bắc Hắc Long Giang gần bán đảo Triều Tiên nhân cơ hội nhà Minh suy yếu cũng tràn sang đánh chiếm phía bắc Trung Hoa.

Vào năm 1642, Lý Tự Thành dẫn quân chiếm được Khai Phong rồi thừa thắng xông lên, quay qua đánh chiếm Thiểm Tây và thủ phủ Tây An, rồi tự xưng mình làm vua. Sau đó quân Lý Tự Thành vượt sông Hoàng Hà sang chiếm Sơn Tây rồi bao vây Bắc Kinh, kinh đô của triều đại vua Sùng Trinh nhà Minh. Triều đình nhà Minh lập tức triệu tướng Ngô Tam Quế đang ở mặt trận phía Bắc chống cự với quân Mãn – trở về để cứu nguy. Ngô Tam Quế được lệnh triệu hồi hơn cả tuần nhưng vẫn chần chờ, suy tính thiệt hơn, nhất là các nguyên tắc “đầu tiên”. Bởi triều nhà Minh đã hết sức suy thoái và không còn tiền đâu để trả lương cho lính nữa. Sùng Trinh, vua cuối cùng của triều Minh đành phải tự treo cổ trên một nhánh cây ở ngọn đồi sau cung điện. Thái giám Vương Thừa Ân tuẫn tiết theo vua. Lý Tự Thành tiến vào cung điện và lên ngai vua.

Sau đó Lý Tự Thành phải đem quân đi đánh dẹp Ngô Tam Quế. Khi Lý Tự Thành đã bao vây được Ngô Tam Quế và sắp sửa thắng, quân Mãn Thanh đáp ứng lời cầu viện của họ Ngô, nhảy vào can thiệp. Lý tự Thành đang thắng trở thành thua, rút quân về Bắc Kinh, lo vơ vét vàng bạc châu báo rồi cùng quân đội tháo chạy. Ngô Tam Quế ngây thơ tưởng quân Mãn Thanh sau khi giúp hạ Lý Tự Thành – sẽ chia chác một số quyền lợi nào đó rồi rút lui. Nhưng không, quân Thanh vào tới Bắc Kinh mới viện cớ nước Tàu chưa yên nên sẽ ở lại bình định một thời gian rồi hãy hay. Viên phụ chính của Mãn Thanh bồng đứa cháu mới 7 tuổi đưa vào Bắc Kinh và đặt lên ngôi vua. [Ðó là vua Thuận Trị, thân phụ của vua Khang Hy. Vua Thuận Trị về sau xuất gia đi tu (theo Lộc Ðỉnh Ký) và nhường ngôi lại cho Khang Hy lúc đó mới 8 tuổi. Khang Hy chỉ thật sự cầm quyền lúc 13 tuồi.]

Ngô Tam Quế mất cả chài lẫn chì, vừa mất ngôi vua hay ít lắm cũng chức Tể tướng, vừa mất người ái thiếp đệ nhất mỹ nhân thiên hạ Trần Viên Viên (có xuất hiện trong Lộc Ðỉnh Ký). Ngô Tam Quế được nhà Thanh thưởng công, phong Vương cai trị miền Thiểm Tây. Nhưng, đối với người Hoa nói chung Ngô Tam Quế mang tội phản quốc, một tướng lãnh người Hán lại mở cửa cho quân Mãn Thanh vào chiếm nước Tàu.

Quân đội Mãn Thanh sau khi bình định được phía Bắc, tiến xuống đánh Nam Kinh và Dương Châu (quê hương của nhân vật Vi Tiểu Bảo) rồi thôn tính trọn nước Tàu – chỉ trừ Ðài Loan đến gần cuối truyện Lộc Ðỉnh Ký mới xong. Các phản tướng khác, Trương Hiến Trung bị quân Thanh bắt chém, còn Lý Tự Thành bị quân dân bỏ rơi và tuyệt tích giang hồ. Có sách ghi Lý Tự Thành bị quân dân giết chết. Có sách chép Lý Tự Thành khoác lên mình chiếc áo cà sa và đi tu luôn.

Từ đời Thuận Trị cho đến Khang Hy, tôn thất nhà Minh vẫn còn nổi lên lo việc phục quốc. Có ba nhóm đáng kể: Lỗ Vương ở Chiết Giang, Ðường Vương ở Phúc Kiến, và Quế Vương ở Quảng Ðông. Lỗ Vương và Ðường Vương, ông thì bịnh chết, ông bị quân Mãn bắt. Chỉ có Quế Vương chống cự hơi dai. Về sau, Quế Vương thua chạy sang Miến Ðiện (Myanmar bây giờ), bị vua Miến Ðiện trao trả lại cho Ngô Tam Quế và bị giết chết vào lúc Khang Hy mới lên ngôi vua [Ðoạn này được mô tả trong quyển 1 của Lộc Ðỉnh Ký]. Một trong những đại tướng của Ðường Vương là Trịnh Thành Công dẫn binh sĩ bộ hạ di tản sang Ðài Loan, tiếp tục kháng chiến. Một phần lớn của Lộc Ðỉnh Ký được xây dựng trên những giao tác giữa các phe phái còn lại của Ðường Vương, Quế Vương, Lỗ Vương, và phe của phản tướng Ngô Tam Quế. Và giao tác của những nhóm này cùng với Tây tạng, Mông Cổ và nước Nga đối với triều đình nhà Thanh của vua Khang Hy. Nhiên liệu dùng để vừa hoá giải vừa kích động cho những giao tác chính trị, quân sự và văn hoá của tất cả các thế lực khác nhau đó, là nhân vật chính của truyện Lộc Ðỉnh Ký, mang tên Vi Tiểu Bảo.

Người Mãn Thanh cai trị nước Tàu từ năm 1644 mãi cho đên cuộc cách mạng Tân Hợi 1911 mới cáo chung. Thời gian đó dài gấp 3 lần thời gian quân Mông Cổ cai trị Trung quốc dưới danh hiệu nhà Nguyên.

Hầu hết các sử gia, ngay cả sử gia Trung quốc, đều đồng ý nhau rằng người Mãn Châu rất khôn khéo trong việc chính trị, và già tâm lý hơn người Mông Cổ. Có lẽ cũng do ở đất Tàu quá rộng, dân lại đông, đông hơn quân dân Mãn Thanh chiếm đóng. Tuy vậy, những biện pháp dùng uy để cai trị của người Mãn Thanh không kém tàn ác. Thí dụ như bắt dân Tàu phải để một loòng tóc bím chạy tới lưng, ai không tuân lệnh bị chặt đầu.

Ban đầu quân Mãn Thanh có chính danh: mang quân vào Trung quốc để giúp trừ khử các băng đảng ăn cướp như Lý Tự Thành. Ðến lúc mới chiếm đóng, họ ra lệnh quân lính trả lại tài sản của dân chúng lính họ đã “chôm” trong một hai năm chiến tranh. Họ cũng trưng dụng các cựu thần nhà Minh, xử dụng cả hai thứ tiếng Mãn và Hán. Và lập lại những khoa thi cử như xưa, chứ không đi theo vết bánh xe cũ của nhà Nguyên. Các chức vụ lớn ở triều đình luôn luôn giao cho 2 người, một Mãn, một Hán. Tại lục Bộ, mỗi bộ có một Thượng Thư và hai Thị lang người Mãn, một Thượng Thư và hai Thị lang người Hán. Chức vụ tổng thống một số tỉnh dành cho người Mãn, nhưng tỉnh trưởng từng tỉnh cho một người Hán. Sau trên 260 năm cai trị người Mãn dần dà bị . . . đồng hoá  với người Hoa, và các phong trào phản Thanh phục Minh cũng xuội lơ với thời gian bởi người Mãn rất thành công trong việc an dân kiến quốc. Có thể nói nhiều khi hay không bằng hên, 3 ông vua đầu trào Khang Hy, Ung Chính và Càn Long đều là những “minh quân”, rất giỏi và . . . sống lâu – tổng cộng triều đại các vị này kéo đến hơn 120 năm [3].

Lộc Ðỉnh Ký và Vi Tiểu Bảo

Nhân vật chính Vi Tiểu Bảo lúc đầu truyện chỉ là một thanh niên chừng 13-14 tuổi. Con  của một kỹ nữ  tại thành Dương Châu, nhưng không biết cha là ai, Vi Tiểu Bảo thất học từ nhỏ, sống và lớn lên trong kỹ viện Lệ Xuân, nơi bà mẹ làm việc. Vi Tiểu Bảo mang nhiều tính điếm đàng và khôn lanh kiểu chợ trời. Thích phụ nữ đẹp, không kể già hay trẻ. Thích đánh bạc và thảy xí ngầu lắc.

Vào một dịp tình cờ Vi Tiểu Bảo đi theo kiếm khách Mao Thập Bát lên Bắc Kinh. Ðến nơi do một sự hiểu lầm, y bị bắt đem vào cung điện, và trở thành thái giám bắt đắc dĩ, mặc dù “thằng nhỏ” chưa bị hề hấn gì. Với công việc của một thái giám giả, Vi Tiểu Bảo được dịp làm quen với vua Khang Hy lúc đó mới chừng 15-16 tuổi. Hai người ưa tập luyện võ với nhau. Thường thường Vi Tiểu Bảo bị đánh sưng mình sưng mẩy bởi anh ta không rành võ nghệ, và lại luời biếng học. Sự nghiệp tại Thanh triều bắt đầu lên khi Vi theo lệnh ngầm của Khang Hy ra tay dùng thủ đoạn hạ cấp để bắt được tướng Ngao Bái – rồi sau đó đánh thuốc độc hạ sát Ngao Bái trong tù. Bên ngoài, trong chốn dân gian tướng Ngao Bái có rất nhiều kẻ thù, nên khi nghe tin Vi Tiểu Bảo hạ được Ngao Bái giới giang hồ rất khâm phục và tưởng lầm y là một cao thủ võ lâm hãy còn trẻ tuổi. Lãnh tụ của một phe phản Thanh phục Minh, Thiên Ðịa Hội, và cũng đồng thời quân sư của Trịnh Vương (phe phục Minh) ở Ðài Loan, là Trần Vĩnh Hoa tức Trần Cận Nam lập tức kết nạp y vào Thiên Ðịa Hội [4]. Trong Thiên Ðịa Hội, Vi Tiểu Bảo tuy mới chừng 15 tuổi được phong chức Hương chủ của Thanh Mộc Ðường, vai vế tương đương với 4 Hương Chủ khác đã lừng danh trong chốn giang hồ, và cũng trở thành đệ tử của Trần Cận Nam. Vốn tính đàng điếm, cơ hội chủ nghĩa, Vi Tiểu Bảo nhận chức vụ của Thiên Ðịa Hội qua loa để được tự do trở về hoàng cung. Từ đó về sau, y không bao giờ chịu khó học võ gì với Trần Cận Nam mặc dù mang tiếng đồ đệ. Tuy nhiên cũng kể từ đó trở đi y trở thành một thứ gián điệp nhị trùng giữa Thiên Ðịa Hội và vua Khang Hy. Rồi sau này, gián điệp tam trùng, tứ trùng cho các phe phái khác nhau.

Vi Tiểu Bảo bắt đầu có một món tiền lớn nhờ ở việc chia chác tài sản của Ngao Bái sau vụ kiểm kê. Y cũng chứng kiến nhiều vụ xì-căng-đan cùng những thâm cung bí sử. Ðáng kể nhất Vi biết Thái hậu hiện tại không phải mẹ ruột của Khang Hy và cũng lại có phần trong việc ám hại mẹ ruột của hoàng đế. Ngoài ra y còn biết phụ hoàng của Khang Hy hãy còn sống, mà chính Khang Hy không hề biết. Phụ hoàng chính là vua Thuận Trị hiện đã quy y cửa Phật và tu tại Ngũ Ðài ở gần chùa Thiếu Lâm. Vi cũng làm quen được với công chúa Kiến Ninh, vai em bà con gần của Khang Hy. Y cũng khám phá một bí mật kinh thiên, động địa. Cả Thái hậu, vua Khang Hy và nhiều phe phái phản Thanh phục Minh  đều đang tìm kiếm một bộ sách bí truyền gồm cả thảy 8 quyển mang tên Tứ Thập Nhị Chương Kinh. Ai làm chủ được hết cả bộ sách đó sẽ ráp lại được một bản đồ chỉ nơi chôn dấu kho tàng châu báu của người Mãn Thanh. Ðịa điểm chôn dấu của kho tàng đó cũng là LONG MẠCH của nhà Thanh. Và tất nhiên khi Long Mạch bị phá tan, nhà Thanh sẽ suy tàn. Thái hậu, vua Khang Hy, Ngô Tam Quế, thiền sư Hành Si tức vua Thuận Trị xưa, một hoàng thân, v.v. mỗi người giữ được một quyển của bộ sách đó. Ðịa điểm chôn dấu kho tàng và cũng là Long Mạch của nhà Thanh nằm ở chân núi mang tên Lộc Ðỉnh Sơn –  nơi có rất nhiều con lộc tức con hươu – tại biên giới giữa Mãn Châu, Nga La Tư và bắc Trung Hoa, gần Hắc Long giang tức sông Amour. Về sau, nhờ ở lanh tay lẹ chân, và nhiều ngón nghề thu thập được ở kỹ viện (tức nhà chứa gái mãi dâm), mặc dù không có chủ tâm, Vi Tiểu Bảo dần dà qua nhiều chuyến phiêu lưu và năm tháng đã  “chôm” được toàn bộ Tứ Thập Nhị Chân kinh. Nhờ đó y biết được địa điểm của Lộc Ðỉnh Sơn. Y lại rất mánh trong việc nhờ người hộ vệ nữ phái Song Nhi (về sau thành 1 trong 7 vị hiền thê của y) ráp lại bản đồ Lộc Ðỉnh Sơn từ hàng trăm bản vẽ trên da dê, dấu trong những quyển sách, rồi khâu sách lại – trừ những miếng da dê đó  – dâng cho Khang Hy.

Với biệt tài “vỗ mông ngựa” tức bợ đỡ cấp trên, Vi Tiểu Bảo đem những gì y biết được về tung tích của cựu hoàng Thuận Trị và hành vi mờ ám của Thái Hậu tâu với Khang Hy. Khang Hy mới sai Vi đi lên núi Ngũ Ðài tìm Thuận Trị. Dọc đường Vi cũng gặp nhiều chông gai nguy hiểm bởi có nhiều phe phái kể cả vài Lạt Ma từ Tây Tạng đang tìm kiếm Thuận Trị để lấy một quyển của bộ Tứ Thập Nhị Chương Kinh kể trên. Nhờ ở tài miệng mép, Vi thoát hiểm trở về trao quyển sách bí truyền đó cho nhà vua. Khang Hy vẫn thấy chưa yên tâm quyết định cải trang thân hành lên Ngũ Ðài để gặp phụ vương Thuận Trị. Nhưng vua phái Vi Tiểu Bảo đi trước, và chỉ định Vi làm “thiền sư” phụ tá Phương Trượng ở chùa Thiếu Lâm để học . . . nghề tu một thời gian – trước khi chính thức chuyển sang trụ trì chùa Thuận Trị đang tỉnh tu. Trong chuyến đi này Vi đụng độ với nhiều cao thủ trong chốn giang hồ. Trong đó có Trang gia chủ, bởi mang ơn Vi đã giết kẻ thù toàn gia đình là Ngao Bái nên . . .  tặng cho Vi một a-hoàn vừa giỏi võ nghệ vừa đẹp tên Song Nhi theo y làm bạn đồng hành và cũng để bảo vệ cho y. Song Nhi sau này thành một người vợ của Vi Tiểu Bảo, và chỉ có Song Nhi được chọn  – trong 7 người vợ – đi theo nguyên soái Vi Tiểu Bảo trong chiến trận với Nga La Tư về sau. Vi Tiểu Bảo cũng gặp và trồng cây si với người đẹp A-Kha, con của đệ nhất mỹ nhân Trần Viên Viên và Lý Tự Thành. Vi còn gặp công chúa con của vua cuối nhà Minh Sùng Trinh, với pháp danh Cửu Nạn ni cô, rồi được Cửu Nạn nhận làm đồ đệ. Nhưng rốt cuộc Vi cũng chẳng học được món võ gì hết trừ  món “chạy trốn kẻ địch”. Vi lại đụng độ với các cao thủ Tây Tạng rồi nhờ thủ đoạn giảo huyệt gài giết được khoảng năm bảy cao tăng Tây Tạng. Trong những chuyến đi – theo sứ mạng Khang Hy giao phó – Vi với tư cách một Hương chủ của Thiên Ðịa hội thường mang theo cả chục cao thủ Thiên Ðịa hội trà trộn cải trang thành quân lính nhà Thanh. Những cuộc đụng độ giữa phe Thiên Ðịa Hội với các phe khác cũng cùng chung chí hướng phản Thanh phục Minh, hoặc tiêu diệt Ngô Tam Quế, vẫn thường xảy ra. Nhất là đụng độ giữa Tổng lý Trần Cận Nam với Trịnh Khắc Sảng – con trai thứ của Trịnh Vương, chủ nhân của Trần Cận Nam và phục quốc quân ở đảo Ðài Loan.

Sau đó Vi Tiểu Bảo bị một phe khác bắt đưa về một hải đảo của Thần Long giáo. Một băng đảng thảo khấu lớn đang muốn chiếm đoạt bản đồ của kho tàng nhà Thanh ở Lộc Ðỉnh Sơn, và hiện đang cấu kết với nước Nga để đánh nhà Thanh. Tại đảo của đảng Thần Long, Vi Tiểu Bảo một lần nữa áp dụng võ . . . mồm, và cơ hội chưởng pháp – được Hồng giáo chủ và phu nhân xinh đẹp nhận làm đồ đệ và phong cho y chức Bạch Long Sứ  – một trong 5 chức vụ phụ tá Hồng giáo chủ. Vi nhận sứ mệnh mới trở lại hoàng cung tìm cách đánh trộm vài quyển Tứ Thập có bản đồ của kho tàng ở Lộc Ðỉnh Sơn.

Vi Tiểu Bảo lợi dụng những hiểu biết về các phe phái chống Thanh, và những quen biết trong triều, gây được lợi cho nhiều thế lực đối chọi lẫn nhau. Thêm vào đó, Vi đã chu toàn được nhiều công tác cho Khang Hy – kể cả có lần y nhảy ra bao che cứu Khang Hy khỏi cái chết trong đường tơ kẻ tóc, nên được thăng quan tiến chức như diều.

Trở lại hoàng cung Vi được công chúa Kiến Ninh, em bà con Khang Hy, đem lòng trìu mến. Kiến Ninh mới biết thực sự Vi Tiểu Bảo vẫn chưa bị mất . . . thằng nhỏ và hãy còn “gin”. Nhưng Khang Hy thì mãi về sau mới biết. Muốn thử một địch thủ chính trị và quân sự lợi hại Ngô Tam Quế, Khang Hy nghĩ ra kế gả em gái Kiến Ninh cho con trai của Quế là Ngô Ứng Hùng, rồi đưa Hùng về Kinh giữ làm con tin. Ngoài ra Khang Hy biết Ngô Tam Quế có giữ 1 cuốn sách của bộ Tứ Thập Nhị Chương Kinh. Khang Hy phái Vi Tiểu Bảo hộ tống công chúa Kiến Ninh đi đến vương phủ của Ngô Tam Quế để làm lễ đính hôn, một công đôi ba việc. Dọc đường Vi ăn nằm với công chúa để về sau công chúa phải mê mệt, có mang với y, và trở thành một người vợ của y.  Tại vương phủ của Ngô ở Vân Nam, Vi ăn cắp được quyển sách quý về Lộc Ðỉnh Sơn, bắt được một gián điệp Mông Cổ, và đấu trí với Ngô Tam Quế. Công tử Ngô Ứng Hùng bị hôn thê Kiến Ninh dùng súng người Tây dương tặng, đánh vào đầu bất tỉnh để rồi bị cắt đi “thằng nhỏ” trở thành . . . thái giám bất đắc dĩ cho chính người vợ Mãn Thanh. Sau đó Ứng Hùng bị Vi tìm cách dẫn về Bắc Kinh rồi sau này bị chặt đầu khi Ngô Tam Quế dấy quân phản lại nhà Thanh.

Trong một lần phiêu lưu với Song Nhi về mạn bắc để tìm núi Lộc Ðỉnh, và lúc chạy trốn bọn Thần Long giáo, Vi tình cờ quen được công chúa Tô Phi Á (Sophia) của nước Nga. Hai người thấy thích nhau rồi Sophia đem người tình họ Vi về Mát-Cơ-Va. Nhân một cuộc chính biến Vi bày kế và giúp cho Sophia cướp lại được chính quyền. Nhờ đó khi Vi Tiểu Bảo trở về Bắc Kinh, thái hậu nhiếp chính Sophia của Nga giao cho y dâng lên Khang Hy một lá thư cầu hoà đôi bên.

Khang Hy tiếp tục giao Vi Tiểu Bảo nhiều sứ mệnh khó khăn như đi về quê của Vi là thành Dương Châu để hiểu dụ dân chúng, đi dẹp đảng Thần Long giáo ngoài một hải đảo, hoà giải với các lực lượng Mông Cổ và Tây Tạng, v.v. Tại Dương Châu, Vi Tiểu Bảo được trùng phùng với mẹ. Và ở ngay tại kỹ viện trong một dịp may hiếm có, y . . . xơi tái hết những người đàn bà y thương trộm nhớ thầm, hay trồng cây si lâu năm. Nhân dịp mấy người này bị bất tỉnh vì thuốc mê sau một trận đấu giữa các phe đối nghịch với nhau, mặc dù cùng chung một mục đích phản Thanh hoặc tiêu diệt phản thần Ngô Tam Quế. Trong những người phụ nữ này có cả Tô Thuyên tức phu nhân Hồng giáo chủ của Thần Long giáo – đáng tuổi má y.  Những người này sau đó đều trở thành vợ của y. Sở dĩ Khang Hy phải hiểu dụ dân Dương Châu bởi lúc quân Mãn Thanh mới tiến chiếm Trung Hoa, họ đã tàn sát hàng ngàn người Dương Châu vô tội, sách vở thường gọi “Mười ngày thảm khốc ở Dương Châu”.

Sau trận đánh dẹp Thần Long giáo, Vi Tiểu Bảo bị lạc vào một hoang đảo cùng với 7 người vợ. Hồng giáo chủ bị tử vong vì các bộ hạ không phục và bội phản. Tổng lý của Thiên Ðịa Hội Trần Cận Nam cũng bị công tử con của minh chủ mình là Trịnh Khắc Sảng đâm lén sau lưng tử mạng. Trước khi chết Trần Cận Nam dặn Vi Tiểu Bảo không được trả thù mà làm hỏng chuyện lớn. Ở trên đảo với 7 người vợ, Vi Tiểu Bảo có vài đứa con. Vua Khang Hy biết được Vi ở đó, tiếp tục giam lỏng y cho tới khi y theo một đô đốc về Ðài Loan và giúp mưu bình trị hòn đảo này. Trịnh Khắc Sảng đầu hàng và bị giải về Bắc Kinh. Trong thời gian Vi và 7 vợ sống trên đảo, Khang Hy dẹp hết tất cả các phiên vương và những phong trào phục hưng nhà Minh, kể cả Ngô Tam Quế.

Trở về Bắc Kinh Vi Tiểu Bảo được phong làm nguyên soái tư lệnh chiến dịch đánh Nga La Tư để hoạch định lại biên giới Nga-Hoa. Nhờ ở người tình không biên giới Sophia, và khả năng quân sự . . . kiểu chợ trời, chiến dịch Nga La Tư thành công mỹ mãn.

Vi Tiểu Bảo ca khúc khải hoàn trở về Bắc Kinh. Sau cùng y bị cả hai phe Khang Hy và phe chống Thanh triều nhất là dư đảng Thiên Ðịa Hội  ép buộc y phải dứt khoát chọn  một trong hai đường. Vi Tiểu Bảo theo bản năng tự nhiên của con người y, chọn đường thứ ba: Về Dương Châu rước mẹ, xong rồi giả chết, nhưng thực ra đem bầu đoàn thê tử và một gia tài kếch xù về Vân Nam sống ẩn danh, trong hạnh phúc cuộc đời. Vi Tiểu Bảo cố tình quên đi kho tàng to lớn ở Lộc Ðỉnh Sơn cũng như việc phá bỏ long mạch của nhà Thanh. Bí mật đó chìm luôn dưới dòng thời gian.

Ngũ Hành và Vi Tiểu Bảo

Khác với ba bài về Kim Dung trước đây, “Ðọc Lại” lần nầy thật ra chỉ đọc lần đầu. Phim video do Lương Triều Vĩ và Andy Lau đóng chỉ mới xem đến tập thứ 3. Nhiều chi tiết hay ho chắc chắn chưa được khám phá hoặc thấu triệt. Trong đó có những gút mắt của thuyết Ngũ Hành. Tuy nhiên nếu tính nhẩm, có thể thấy ngay nếu chờ đọc lại hoặc xem phim tập hai ba lần chắc không bao giờ viết nổi một cái gì về Lộc Ðỉnh Ký hết. Bởi nó sẽ dài, thật dài, đủ in thành một tập sách nhỏ. Quá nhiều điểm thật hay và lý thú. Kim Dung thật sự đã dùng hết 10 thành công lực và các tuyệt chiêu để tạm kết thúc và đánh dấu sự nghiệp trước tác của ông.

Trước hết xin thử khảo sát sơ qua thuyết Ngũ Hành. Một cấu trúc về tương quan nhân vật gần như ắt có và đủ trong các truyện Kim Dung [5]. Tóm tắt, Ngũ Hành gồm 5 yếu tố: Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ, được biểu tượng bằng 5 hướng Tây, Ðông, Bắc, Nam, Trung – tương đương với 5 màu: Trắng (bạch), Xanh (thanh), Ðen (hắc), Ðỏ (hồng), Vàng (hoàng). Mỗi người thường mang một mạng. Mạng này khắc (trị) được mạng kia, và tạo thành một vòng tròn kín. Thí dụ Chu Chỉ Nhược mạng Thủy, Trương Vô Kỵ mạng Hỏa. Thủy khắc Hỏa. Chu có thể khắc phục được Trương nhờ ở mạng Thủy hơn là tài năng. Năm yếu tố này cũng tạo nên một vòng nữa chỉ mạng này hỗ trợ (giúp) cho mạng kia. Thí dụ: Hoàng Dung (mạng Mộc) và Quách Tỉnh (mạng Hỏa). Mộc sinh (trợ) Hỏa. Hoàng Dung giúp Quách Tỉnh rất nhiều trong việc học tập võ nghệ.

Vậy thử xem qua vài nhân vật trong Lộc Ðỉnh Ký và mạng ngũ hành của họ. Trước hết, Vi Tiểu Bảo mạng gì? Mạng Thổ. Bởi Vi Tiểu Bảo người gốc Dương Châu ở miền Trung (mạng Thổ) nước Tàu. Ta có thể kiểm chứng mạng Thổ của Vi Tiểu Bảo rất dễ. Sự nghiệp của Vi bắt đầu lên khi Vi dùng mưu hạ cấp thảy bột vôi vào mắt của tướng Ngao Bái, rồi đâm một nhát dao và bắt sống được Ngao. Sau đó Vi theo lệnh ngầm ném đá dấu tay của vua Khang Hy đi vào lao xá đánh thuốc rồi giết Ngao Bái. Ngao Bái một tướng với võ công vô địch của Thanh triều sao lại bị một đứa trẻ con không biết võ hạ sát dễ dàng như vậy? Chỉ vì mạng Thổ của Vi Tiểu Bảo khắc mạng Thủy (màu Ðen, hướng Bắc) của Ngao Bái. Kim Dung nói rõ Ngao Bái mạng Thủy cũng giống y như mạng Thủy của Chu Chỉ Nhược trong Cô Gái Ðồ Long. Ðó là màu “đen xì” của con dao trủy thủ rất bén – chém đá như chém bùn – của Ngao Bái. Vi Tiểu Bảo tìm được con dao này khi kiểm kê tài sản Ngao Bái, rồi chôm con dao đó luôn. Ngoài ra họ Ngao cũng ám chỉ một loài động vật sống dưới nước, mạng Thủy. Y hệt bảo đao Ðồ Long Chu Chỉ Nhược chôm được từ Tạ Tốn cũng màu “đen xì”, và Chỉ Nhược là con của một ngư ông chuyên nghề đánh cá trên sông. Ngao Bái mang mạng Thủy như Chu Chỉ Nhược.

Vua Khang Hy và công chúa Kiến Ninh đều những người mang mạng Mộc (phía Ðông màu Xanh). Tại sao? Tại vì họ người Mãn Thanh. Thanh tức màu xanh. Mãn Thanh vị trí nằm ở ÐÔNG Bắc Trung Hoa. Mãn Thanh khắc phục và chiếm được Trung quốc (Trung= mạng Thổ). Mộc khắc Thổ. Khang Hy (mạng Mộc) nếu đấu võ với Vi Tiểu Bảo (Thổ) luôn luôn thắng hạ được Vi Tiểu Bảo. Kiến Ninh cũng vậy. Cũng hạ Vi Tiểu Bảo dễ dàng – ngay cả trong chuyện chăn gối phòng the, với chút ít tính sa-điết khổ dâm.

Hai người vợ khác của Vi Tiểu Bảo: Phương Di và Mộc Kiếm Bình (họ Mộc) cũng đều mạng Mộc. Riêng Phương Di mang tên Di gợi lên từ lối gọi Bắc Dịch, Nam Man, Tây Nhung và Ðông Di của người Tàu từ thời Hán thời Ðường. Phương Di có thanh âm như Ðông Di, chỉ phương Ðông. Ðông tức mạng Mộc. Phương Di cũng xuất thân từ  phe phản Thanh của Mộc Vương, mạng Mộc. Trong rất nhiều trường hợp, Vi Tiểu Bảo khi gặp người phụ nữ đẹp đều bị . . . thôi miên tức bị khắc phục trước sắc đẹp của họ. Vi chính mạng Thổ nên ưa bị khắc phục bởi các phụ nữ đẹp thuộc mạng Mộc. Bất kể già trẻ lớn bé.

Tô Thuyên, tức phu nhân hờ – không chăn gối – của giáo chủ Thần Long giáo Hồng An Thông cũng vậy. Thuyên mang nghĩa một loài cỏ thơm, mạng Mộc. Tô Thuyên đáng tuổi như má của Tiểu Bảo và Kim Dung đã khơi dậy mặc cảm Oedipus trong tình vợ chồng của Bảo và Thuyên. Cũng như đã mô tả Vi Tiểu Bảo mê mệt bà Trần Viên Viên, má vợ của y về sau.

Thế nhưng trong cái khung đối chiếu của Thần Long giáo, Vi Tiểu Bảo mang toạ độ gì? Vi Tiểu Bảo sẽ theo sắp đặt của Châu Dịch tức Kinh Dịch đổi ra mạng gì khi đứng trong hàng ngũ của Thần Long giáo? Mạng Kim, màu trắng, phương Tây. Bởi Hồng giáo chủ lúc kết nạp y vào bang giáo, vì có chỗ trống do sự qua đời của 1 trong 5 phó chủ tịch biểu hiệu cho ngũ hành, đã bổ nhiệm y làm Bạch Long Sứ. Bạch tức màu trắng, mạng Kim. Kim khắc được Mộc. Vi Tiểu Bảo (mạng Kim) làm cho Tô Thuyên (mạng Mộc) mang bầu rồi trở thành vợ của y. Trong lúc Tô Thuyên bật mí chuyện mang bầu với y, giáo chủ Hồng An Thông nổi giận giao đấu với tất cả các phó thủ lãnh kia. Hồng giáo chủ giết được các Long Sứ khác chỉ trừ Vi Tiểu Bảo bởi Vi Tiểu Bảo mạng Kim có thể khắc được mạng Mộc của Hồng An Thông. Chứ  Thông mang nghĩa cây Thông (Mộc) không thể hạ được Vi Tiểu Bảo, mang mạng Kim trong vùng trời biển của Thần Long giáo. Hồng giáo chủ sau khi chiến đấu với các phó chủ tịch kia, đã bị thương, rượt đuổi Vi Tiểu Bảo không được – bởi Vi đã học được ngón nghề chạy trốn của Cửu Nạn ni cô – mệt quá lăn đùng ra chết. Ta để ý Kim Dung không cho vợ hờ Tô Thuyên hay Vi Tiểu Bảo giết Hồng giáo chủ bởi cả Tô Thuyên và Vi Tiểu Bảo đều là đệ tử của Hồng An Thông. Tô Thuyên mặc dù cũng đã là một cao thủ nhưng vẫn học được ít nhiều ngón nghề của Hồng An Thông. Vi Tiểu Bảo ngày trước được Hồng An Thông chỉ dạy một ngón võ nhảy lên vai của đối phương – nên một ngày là Thầy, muôn đời vẫn Thầy. Vi Tiểu Bảo dù thế ngũ hành có trên rơ Hồng giáo chủ cũng không thể giết Thầy được.

Kinh Dịch cũng cho ta thấy khi vào Thiên Ðịa Hội Vi Tiểu Bảo chuyển sang mạng Mộc – màu Xanh, phương Ðông. Trần Cận Nam, lãnh tụ Thiên Ðịa Hội phong y làm 1 trong 5 phó lãnh tụ (cũng biểu tượng cho ngũ hành) với tước hiệu Hương Chủ của Thanh Mộc Ðường. Thanh tức màu Xanh, Mộc tức cây cối, màu xanh và mạng Mộc. Trần Cận Nam, trong tên có Nam, ám chỉ người phía Nam, mạng Hỏa, màu Ðỏ. Trong Ngũ Hành, Mộc sinh Hỏa. Mộc giúp đỡ cho Hỏa. Vi Tiểu Bảo đã giúp Trần Cận Nam rất nhiều trong công cuộc phản Thanh phục Minh của Thiên Ðịa Hội do Trần Cận Nam tức Trần Vĩnh Hoa lãnh đạo. Và sau cùng khi Trần Cận Nam bị Trịnh Khắc Sảng đâm lén chết Vi vẫn nghe lời trối trăn của Cận Nam không giết Khắc Sảng để trả thù. Mặc dù y có rất nhiều phương tiện trong tay để làm việc đó.

Vi Tiểu Bảo trong phương thế mạng Thổ đã vận hành ra sao đối nữ hoàng Sophia (Tô Phi Á) của nước Ra-Sát (Russia) tức Nga? Ðầu tiên y gặp Sophia ở phía Bắc ngay tại biên giới 3 nước Tàu, Nga và Mãn Châu, lúc y đi tìm Lộc Ðỉnh Sơn. Sophia lúc đó trong thế tương đối mang mạng Thủy, bởi đang cư ngụ phía Bắc, và Vi từ phía Nam, mạng Hỏa. “Thủy- Sophia” chinh phục được “Hỏa- Tiểu Bảo” nhờ ở thân hình và nhan sắc diễm kiều, và rơ ngũ hành. Sau đó, Sophia đem Tiểu Bảo về Mát-Cơ-Va chơi. Vừa trở lại kinh thành, Sophia hay tin vua cha qua đời. Tiếp theo đó, một cuộc chính biến và Sophia bị giam lỏng. Vi Tiểu Bảo tìm cách cứu Sophia và thành công trong việc giúp Sophia nắm lại được chính quyền Nga – trong vai trò hoàng hậu nhiếp chính. Mạng Thổ chính tông của Vi (thể hiện từ việc Tiểu Bảo là người miền Trung và cũng Trung Hoa) đã giúp được Sophia, người Tây Phương, mạng Kim. Thổ sinh Kim. Thổ hỗ trợ Kim.

Trong những người tình và vợ của Vi Tiểu Bảo, Kim Dung có vẻ chỉ chấm Song Nhi người vợ được Vi Tiểu Bảo yêu mến nhất. Song Nhi chính là người hộ vệ Vi Tiểu Bảo – che chở, bảo vệ và cứu mạng y trong những cơn nguy khốn. Xuất thân một a-hoàn của gia đình họ Trang có tinh thần phục quốc, Song Nhi được Trang gia chủ . . . tặng cho Vi Tiểu Bảo để đáp ơn đã giết kẻ tử thù Ngao Bái, và sau này gian quan Ngô Chí Vinh. Song Nhi mạng gì? Mạng Hỏa, phía Nam. Bởi Trang chủ người gốc ở trấn Nam Tầm, phủ Hồ Châu. Song Nhi mạng Hỏa giúp Vi Tiểu Bảo mạng Thổ. Giúp trong nghĩa nâng khăn sửa túi đến trọn đời. Hỏa sinh Thổ. Ðó là một luật của Ngũ Hành. Bằng chứng hiển nhiên nhất khi Vi Tiểu Bảo làm nguyên soái trong chiến dịch Tây chinh đi đánh với Nga về sau, Vi Tiểu Bảo chỉ chọn có Song Nhi cho đi theo, trong sự bất mãn của sáu người vợ kia.

Trong việc giải quyết mâu thuẫn gây nên bởi thuyết Ngũ hành, Kim Dung nhất quyết không để lộ một chút sơ sót. Mâu thuẫn đó dễ xảy ra bởi truyện Tàu thường có rất nhiều nhân vật, và nhiều màn tình huống gay cấn khác nhau. Số nhân vật trong tiểu thuyết hình như mang tỉ lệ thuận với dân số của quốc gia. Dân số Việt Nam ít hơn dân Tàu nên tiểu thuyết Việt Nam có ít nhân vật hơn tiểu thuyết Tàu? Ðối với một tiểu thuyết kiếm hiệp có nhiều nhân vật chiến đấu lẫn nhau mà lại dựa trên Ngũ Hành sinh khắc, người viết phải rất thận trọng. Bởi A mang mạng X thắng B mang mạng Y thì được, nếu mạng X khắc mạng Y. Nhưng cũng đem A đó cho đánh với C mang mạng Z, người viết lập tức có một mâu thuẫn cần phải giải quyết. Bởi mỗi một mạng chỉ khắc (trị được) một mạng khác nữa mà thôi. A mạng X đã khắc B mạng Y rồi nên khó lòng khắc C mạng Z.

Trong tất cả truyện của Kim Dung, mâu thuẫn Ngũ Hành đều được giải quyết ổn thoả. Trong “Võ lâm Ngũ Bá”, Vương Trùng Dương biệt hiệu Trung Thần Thông, người miền Trung ở gần Cổ Mộ (dưới đất) mạng Thổ. Dưới cơ mạng Mộc của Hoàng Dược Sư, ưa mặc áo xanh sống gần gũi những cây đào (mạng Mộc). Và mạng Thổ của Trung Thần Thông không thể trị được Tây Ðộc Âu Dương Phong, mạng Kim, áo màu trắng. Ðể hoá giải, Kim Dung cho Trung Thần Thông phải mượn ngón Nhất Dương Chỉ của Ðoàn Nam Ðế – phía Nam mạng Hỏa, mới thọc được một cú vào mặt Tây Ðộc cho y tởn tới già! Hỏa mới khắc được Kim. Ðông Tà nếu đánh nhau gay gắt có thể hạ được Vương Trùng Dương. Nhưng Kim Dung cho Vương bệnh chết sớm và lúc sống Ðông Tà vẫn mến phục Vương bởi Vương cũng giỏi chữ nghĩa bằng hoặc hơn Ðông Tà. Tuy vậy để thế Ngũ Hành vẫn được cân bằng, sau khi Vương chết đi, Kim Dung nâng cao vai trò Lão Ngoan Ðồng Châu Bá Thông, cũng mạng Thổ. Mộc khắc Thổ như thường: Ðông Tà mạng Mộc dễ dàng bắt được Châu Bá Thông, mạng Thổ và giam trên đảo Ðào Hoa suốt 20 năm. Trên đảo Ðào Hoa 20 năm, kinh dịch cho Châu Bá Thông biến dần sang mạng Mộc như ai – với cái tên sẵn có Thông, thuộc loài cây. Ngoài ra Kim Dung cho Thông phát minh ra một loại võ gọi Song Hổ đả bác. Mỗi tay đánh một kiểu quyền khác nhau. Hai tay như hai người. Ðể ý Song Hổ mang nghĩa 2 con cọp. Cọp sống ở đâu? Ở trong rừng. Rừng có nhiều Cây, mạng Mộc. Mộc của Thông dữ hơn Mộc của cây đào và cành hoa của Hoàng Dược Sư. Nên sau cùng Thông đánh được Hoàng Dược Sư và tự giải thoát cho mình. Ðánh lại được chứ không khắc được, bởi Thông mới chuyển sang mạng Mộc như Ðông Tà. Tương tự Tây Ðộc mạng Kim thật ra trên cơ Ðông Tà. Kim Dung cho hai người đó ít đánh nhau gay gắt và lại gán cho họ một thứ tình tương kính đồng nghiệp, giữa kẻ cướp với bà lão ăn trộm, của những người cùng chung nghề nghiệp với nhau. Nghề nghiệp của Ðông Tà và Tây Ðộc là lo đi chôm Cửu Âm Chân Kinh!

Trong Lộc Ðỉnh Ký, khó nhất của Ngũ Hành là cái màn giáo chủ Hồng An Thông phải thanh toán năm vị phó chủ tịch kia, mang 5 mạng khác nhau của Ngũ Hành. Ðể cho thật chắc ăn, Kim Dung cho Hồng An Thông mang thật nhiều mạng. Cũng như cho Vi Tiểu Bảo chính mạng Thổ nhưng vào Thần Long giáo, châu dịch chuyển sang mạng Kim với chức Bạch Long sứ – màu trắng. Kim Dung cho Thông – chính mạng Mộc – họ Hồng để ám chỉ mạng Hỏa xơ-cua của Thông. Rồi còn cho Thông thêm một mạng phụ nữa, mạng Thủy với tước hiệu giáo chủ Thần LONG giáo. Long là rồng – sống ở dưới nước. Thần Long giáo cũng có sào huyệt trên đảo giữa vùng Nước biển mênh mông.  Vi Tiểu Bảo với chức Bạch Long sứ  (mạng Kim trong Thần Long giáo)  không chết, bởi Bảo mạng Kim khắc được Thông mạng Mộc. Chứ Thông không thể giết được Bảo. Cái chết của 4 vị Long Sứ kia mỗi người một kiểu nhưng đều phù hợp lô-gích của Ngũ Hành. Ðối với Hoàng Long Sứ (hoàng = màu vàng) mạng Thổ, Kim Dung cho Thông, mạng Mộc chỉ cần chọi vào Hoàng một cục đá. Hoàng chết ngay, Mộc trị Thổ. Ðối với Hắc Long Sứ mạng Thủy thì sao? Hắc màu đen chỉ phương Bắc mạng Thủy. Nước giúp cây sinh sống. Thủy sinh Mộc chứ không khắc Mộc. Kim Dung khôn khéo né tránh việc mô tả Hắc Long Sứ bị chết như thế nào và chỉ mượn lời Thông nói lớn cho Hồng phu nhân nghe, đại khái: Hắc Long Sứ suốt đời theo hầu hạ giúp đỡ ta, về già tự nhiên nó đâm lòng phản, và nó đã chết rồi. Ta để ý Kim Dung muốn cho chắc ăn thêm vào “Hắc long sứ  về già đâm lòng phản” tức Hắc Long sứ  hoặc bởi già có thay đổi, châu dịch đã chuyển y sang mạng khác (để phản lại Thông), hoặc mạng xơ-cua Thủy của Thần Long giáo chủ đã làm cho y (cũng mạng Thủy) mệt rồi chết. Còn lại Thanh Long Sứ, màu xanh, mạng Mộc như Thông và Xích Long Sứ, màu đỏ, mạng Hỏa. Ta để ý Kim Dung tránh dùng Hồng Long Sứ mà chỉ dùng Xích Long sứ, cùng chỉ màu đỏ, để tránh trùng hợp với Hồng giáo chủ. Cái chết của hai vị phó thủ lãnh này cũng sẽ đưa đến cái chết của Hồng An Thông. Bởi mấy mạng này không ai khắc ai.  Thanh Long sứ bị Thông đá gảy xương sườn nhưng hai tay ôm chặt lấy chân Thông để cho Xích Long sứ chém vào vai Thông một đao. Thanh Long sứ sau đó còn lượm được phán quan bút đâm vào sườn của Thông. Mộc trả đũa với Mộc. Rồi hai vị phó đó chết vì bị thương và kiệt sức. Thông sau đó cũng chết vì bị thương và đuối sức bởi rượt khắc tinh của y là Bạch Long Sứ Vi Tiểu Bảo, rượt mãi  không được.

Viết tiểu thuyết kiếm hiệp theo sát với Ngũ Hành thật ra rất khó. Hình như chưa có tiểu thuyết gia Trung quốc nào lại khoái Ngũ Hành dữ dội như Kim Dung. Và Kim Dung đã chứng tỏ ông không để một sơ hở nào trong việc áp dụng tương quan sinh khắc của ngũ hành vào các nhân vật.

Vài chi tiết lý thú

Người ta để ý Kim Dung qua Lộc Ðỉnh Ký đã tiếp tục khai triển những đề mục cũ và đồng thời đưa ra thêm các đề mục mới như sau:

  • · Ðề mục một vai chính rất mù mờ về võ nghệ. Nối tiếp từ  Ðoàn Dự  trong Lục Mạch Thần Kiếm và Thiên Long Bát Bộ. Tuy nhiên Ðoàn Dự còn biết chữ nghĩa và biết được một hai ngón võ nghề như Lục Mạch Thần Kiếm và Lăng Ba Vi Bộ. Tuy nhiên võ của Ðoàn Dự khổ nỗi khi đánh ra được, khi không. Vi Tiểu Bảo mù chữ từ đầu đến đuôi mặc dù làm quan rất lớn. Võ nghệ chỉ học được một hai chiêu nhưng không đủ tự bảo vệ mình thì còn nói chi đến chỗ cứu người khác. Kim Dung đã tạo ra một đường hướng mới cho truyện võ hiệp: Nhân vật chính không cần giỏi võ nghệ, mà chỉ cần thông thuộc võ mồm.
    · Ðề mục liên quan đến kỹ viện, tức nơi lui tới của giới làng chơi, đã được giới thiệu qua Tiếu Ngạo Giang Hồ. Ở đó Kim Dung dùng kỹ thuật của ngành hài kịch, cho len vào một tình huống tương phản, mâu thuẫn: Ðưa cao đồ của một chính phái Lệnh Hồ Xung vào kỹ viện trốn tránh với một ni cô ở tuổi xuân thì.. Trong Lộc Ðỉnh Ký, Kim Dung phát triển đề mục kỹ viện đến tột độ. Một ông quan lớn triều Thanh Vi Tiểu Bảo xuất thân là con một kỹ nữ làm việc tại kỹ viện Lệ Xuân ở Dương Châu. Vi sinh đẻ và lớn lên tại kỹ viện. Những lúc thối chí chốn quan trường, y ưa ôm mộng đem tiền kiếm được về mua kỹ viện Lệ Xuân và mở thêm ra vài kỹ viện hạng nhất nữa. Ðệ nhất mỹ nhân làm nghiêng thành đổ nước Trần Viên Viên cũng xuất thân từ một kỹ viện lớn ở Tô Châu. Ở tuổi trên dưới 40, Trần Viên Viên, sau này là nhạc mẫu của Vi, cũng còn đẹp để làm chàng thanh niên Vi Tiểu Bảo mê say ngây ngất. Tiếu lâm nhất Kim Dung viết ra nhiều đoạn cài xen kẻ sinh hoạt chính trị với sinh hoạt chốn kỹ viện với nhau. Trịnh Khắc Sảng và A Kha vì muốn lùng bắt Vi Tiểu Bảo mới cải trang làm hai người đàn ông đi tìm hoa tại kỹ viện Lệ Xuân. Tình cờ Vi Tiểu Bảo phát hiện ra được và tìm cách đánh thuốc mê hai người. Bởi lúc nào y cũng thấp thỏm lo sợ kẻ tình địch y Trịnh Khắc Sảng sẽ lựa chọn má y để vui vầy qua đêm. Như vậy y sẽ trở thành con hờ của Khắc Sảng thì quá khổ. Sau khi bất tỉnh vì thuốc mê,  A-Kha bị tơi bời hoa lá với Vi Tiểu Bảo, để rồi sau cùng lấy y làm chồng như  6 người đẹp khác
    · Tạo dựng kỹ viện song song với triều đình nhà Thanh, và vương điện của Phiên Vương Ngô Tam Quế, Kim Dung cho ta thấy nhiều điểm thật hay và ngộ, nhưng không kém chua chát của sự thật cuộc đời. Cả kỹ viện lẫn triều đình, nơi hành sự của chính trị trung ương, đều là chốn của những con người . . . giả [10]. Xưa nay người ta thường so sánh chính trường với sân khấu màn nhung, nhưng Kim Dung có lẽ nhà văn đầu tiên đem so sánh chính quyền với kỹ viện. Ði sâu hơn nữa, Kim Dung cho thấy cái trường đào tạo nên chính trị gia ưu việt Vi Tiểu Bảo không đâu khác hơn chính cái kỹ viện Lệ Xuân ở Dương Châu, nơi sinh trưởng của y. Giao tác giữa kỹ viện và chính trị cả nước còn được nhấn mạnh qua vai trò của kỹ nữ Trần Viên Viên, với sắc đẹp nghiêng thành đổ nước, đã làm điên đảo vua cuối nhà Minh, Lý Tự Thành, rồi Ngô Tam Quế, và bao nhiêu kiếm khách hiệp sĩ khác. Một người anh em kết nghĩa với Vi Tiểu Bảo là Hồ Dật Chi si mê bà Viên đến độ chỉ xin làm lao công tưới vườn nhà bà Viên để có thể ngày ngày nhìn ngắm bà trong lúc tưới cây!
    · Tiểu tiết “cắt đứt thằng nhỏ” thường gọi nôm na “thiến sống” cũng được Kim Dung phát huy tối đa. Trong “Tiếu Ngạo Giang Hồ”, Kim Dung nghĩ ra một thứ kiếm pháp mang tên Tịch Tà Kiếm Pháp chỉ dành đặc biệt cho người bán nam bán nữ mới tập được. Những người đó ngông cuồng . . . tự cắt mất “bảo bối” quý nhất của đàn ông để có thể luyện tập được món kiếm pháp cực kì lợi hại đó. Ðiều kiện cần và đủ để luyện tập Tịch Tà Kiếm pháp là người luyện phải tự . . . “thiến sống” hay chia lìa “thằng nhỏ” của mình. Giải thuyết đưa ra trong “Thử Ðọc Lại Kim Dung III” là Tịch Tà Kiếm pháp đòi hỏi người xử dụng phải vừa có tay chân nhanh nhẹn và khéo léo như một phụ nữ, vừa có đầy nội lực hùng hậu của một người đàn ông. Và theo Kim Dung, chỉ có một cách nhanh nhất để hội đủ hai điều kiện tương phản đó: người luyện kiếm phải . . . chia tay với thằng nhỏ. Kiếm pháp này đã do một thái giám phát minh ra đầu tiên!  Trong Lộc Ðỉnh Ký, Kim Dung chiếu sáng đời sống của các thái giám trong triều nhà Thanh. Nhất là tâm lý của các phụ nữ khi gần gũi thái giám. Họ không lo sợ gì hết. Từ công chúa cho đến các công nương kiếm khách xâm nhập hoàng thành từ phía bên ngoài. Họ coi thường thái giám qua nhận diện cách ăn mặc. Họ biết thái giám chẳng làm gì được họ bởi không có vũ khí “thằng nhỏ” đó. Thái giám hỏi họ làm vợ họ cứ nhận bừa. Nhưng tiếu lâm ở chỗ trong đó có một tay thái giám giả hiệu xuất thân từ kỹ viện là Vi Tiểu Bảo. Thế mới biết đi đêm có ngày gặp ma. Kim Dung còn cho biết thái giám bởi không còn gì hết nên rất tham tiền, tham vàng bạc của cải. Chính nhờ đó, một thái giám giả hiệu người Hán Vi Tiểu Bảo đã dễ dàng mua chuộc họ bằng tiền bạc chôm từ những nơi khác.
    · Trong “Tiếu Ngạo Giang Hồ” Kim Dung bắt đầu giới thiệu cá tính chợ trời của một kiếm khách vai chính Lệnh Hồ Xung. Ðây thật ra là một tuyệt chiêu mới về tiểu thuyết kiếm hiệp. Nó phá tung những huyền thoại cổ điển về những người võ hiệp, như kiểu Cam Tử Long – Lã Mai Nương, Càn Long du Giang Nam, Quách Tĩnh, Trương Vô Kỵ, v.v.Theo đó những vai chính thường là những người đôn hậu chất phác, đôi khi hơi . . . cù lần. Trung thực và tình nghĩa tới cùng. Lời nói nào cũng xuất phát ở tận đáy lòng. Lệnh Hồ Xung không hoàn toàn như vậy. Hồ Xung mồm mép và mưu lược hơn người tuy bản chất vẫn trung hậu và đầy tình nghĩa. Một týp tiến sĩ chợ trời của giới giang hồ. Sang “Lộc Ðỉnh Ký”  Kim Dung mô tả Vi Tiểu Bảo – so với tiến sĩ chợ trời Lệnh Hồ Xung – như một người xứng đáng nhận giải Nobel về thành tích chợ trời của y. Từ xuất xứ không biết cha mình là ai, môi trường sống không học không hành, đánh bài gian và thảy xúc xắc, cho đến móc túi và tham nhũng .  Nhưng hơn cả Lệnh Hồ Xung, Vi Tiểu Bảo được tiếp cận và giao tác với những vấn đề to lớn hơn: những người đàn bà đẹp (thường lớn tuổi hơn y), tiền tài, danh vọng, việc mất nước về tay nhà Thanh, gián điệp muôn trùng, chính trị và quyền bính. Những thử thách to tát đó thường dễ dàng làm hư thối con người. Nhưng Kim Dung cho thấy đối với một vua chợ trời kiểu Vi Tiểu Bảo, các khó khăn đầy mâu thuẫn đó đều được hoá giải như chơi. Như một cơn bài mà Vi thường vui vẻ đánh với thủ hạ.
    · Kim Dung viết xong Lộc Ðỉnh Ký vào năm 1972. Lúc đó một nhận xét về đấm đá của người Tây phương chắc không có gì lạ. Nhưng đọc nhận xét này vào năm 2003, mới nhớ chuyện xưa. Người Tây phương trước thập niên 70 của thế kỷ trước, lúc đánh nhau, họ không hề hoặc rất ít khi dùng chân để đá nhau. Kim Dung đưa ra nhận xét này  trong đoạn quân Thanh đánh nhau với quân Nga, dưới quyền chỉ huy của nguyên soái Vi Tiểu Bảo. Những phim Hollywood  trước thập niên 70, không bao giờ thấy các vai trò trong phim dùng chân đá nhau theo kiểu Karate, Taek Won Do, hay Kung Fu. Ðiển hình các phim như Shane (Alan Ladd,  Van Heflin), Giant  (Rock Hudson, James Dean) và hàng trăm phim khác, nhất là loại phim cao-bồi,  người ta thấy những vai trong phim đánh nhau mệt nghỉ. Toàn đánh đấm bằng tay thôi. Những cú đá bắt đầu len vào phim Âu Mỹ có lẽ bắt đầu từ phim loạt TiVi The Avengers ở cuối thập niên 1960. Với những cú đá kiểu karate của nữ tài tử Diana Rigg. Sau đó người lăng xê các cú đá kiểu kung fu vào “văn hoá” phim ảnh rồi đời sống toàn cầu chính là Lý Tiểu Long tức Bruce Lee. Rồi đến phim loạt cho Tivi Kung Fu với tài tử David Carradine. Và bây giờ phim nào có đánh nhau đều có đấm và . . . đá.  Kim Dung đưa ra quy ước bất thành văn này để đối chiếu với các quy ước trong giới kiếm hiệp giang hồ Trung Hoa. Ðó là đánh lén, thảy bột vôi vào mắt địch rồi lợi dụng cơ hội nhào tới đâm địch nhân. Núp dưới gầm bàn rồi dùng dao chém chân địch. Tất cả những ngón này Vi Tiểu bảo đều xử dụng rất thuần thục. Trong đoạn đầu mặc dù y dùng thủ đoạn hạ cấp để cứu Mao Thập Bát, nhưng Mao Thập Bát vẫn mắng chửi y và từ chối không nhận y làm đồ đệ. Ðến sau này khi phải cấp bách cứu mạng Trần Cận Nam, chủ tịch Thiên Ðịa Hội, một người tiếng tăm lừng lẫy trong chốn giang hồ, Vi tiểu Bảo lại dùng ngón “nghề của chàng” nữa. Sau đó y xấu hỗ dấu nhẹm với Trần cận Nam chuyện làm sai quy ước giang hồ của y.
    · Một điểm tiếu lâm “không chịu được” nằm ngay trong tên họ của nhân vật chính, Vi Tiểu Bảo. Vi là “Nhỏ”, Tiểu cũng “Nhỏ”,  và Bảo là cái gì “quý giá”, một thứ của gì quí quí. Vi Tiểu Bảo, tên một nhân vật phái nam, có thể dịch ra theo kiểu “thuần Nôm” là “của quí  nho nhỏ “ hoặc “thằng nhỏ” . . . của đàn ông. Kim Dung xác nhận điểm này khi Vi Tiểu Bảo với tư cách nguyên soái, ký tên vào bản hoà ước hoạch định biên giới Nga-Trung. Vốn mù chữ và đến tên Bảo họ Vi y cũng không biết. Y chỉ biết có Tiểu tên đệm thôi. Nhưng biết cũng không rõ ràng. Viết đúng chữ Tiểu phải viết một gạch thẳng và hai gạch nhỏ ở hai bên. Thế bởi mù chữ y ký tên nguệch ngoạc nhưng cũng đúng thật tên của y, bằng lối tượng hình của chữ Hán, bằng một đường nét đậm thẳng đứng với hai vòng tròn hai bên! Hết ý kiến. Hoà ước này có thật và có chữ ký của nhiều quan lớn đôi bên. Nhưng có lẽ chữ ký của Vi Tiểu Bảo rất khó xem nên sử gia đã không để ý và lướt qua. Phải chăng đề tài chính của truyện Lộc Ðỉnh Ký cũng là một khảo luận nhỏ về tên của Vi Tiểu Bảo, về cái khổ và cái quý của con người. Về những người có của quí, và không có của quí.
    · Thuyết Bất-nhị-nguyên của nhà Phật cũng được Vi Tiểu Bảo xử dụng khi y bốc thơm cao tăng Tây Tạng và cao thủ Mông Cổ để cầu xin tha mạng. Y nhắc lại trận đánh năm cũ của cao thủ Mông Cổ với “sư huynh” của y là phương trượng Thiếu Lâm. Thật ra trong trận đánh đó phương trượng Thiếu Lâm hạ cao thủ Mông Cổ dễ dàng. Nhưng Vi tâng bốc người Mông Cổ bằng cách nói dóc là y nhớ người Mông Cổ hạ phương trượng Thiếu Lâm. Sau đó y lâm râm khấn với phương trượng Thiếu Lâm rằng sở dĩ y nói dóc vì y tin rằng  không tức sắc, sắc là không, thắng cũng như thua, thua như thắng, Thiếu Lâm thắng Mông Cổ không khác gì Thiếu Lâm thua Mông Cổ. Phải chăng Vi Tiểu Bảo trong một giây phút gần gũi với sự sống và cái chết, bất chợt đã tự  giác ngộ?.

Ảnh hưởng và vinh danh

Trong sinh hoạt văn nghệ, nghệ thuật và văn hoá nói chung, người ta thường nghe nói nhà văn này hoặc nhà đạo diễn phim ảnh này chịu ảnh hưởng của nhà văn hay đạo diễn kia. Nhiều vị, nhất là những nhà đạo diễn một khi họ đã nổi tiếng, đều tự nhiên tuyên bố danh tánh của các vị tiền bối đã ảnh hưởng đến tác phẩm của họ. Thí dụ như đạo diễn Quentin Tarantino của các phim nổi tiếng Reservoir Dogs, Pulp Fiction, thường ca tụng John Woo của Once a Thief (Chou Yun Fat, Leslie Cheung), Face/Off (John Travolta) và Broken Arrow (John Travolta). Brian de Palma, đạo diễn những phim như Dressed to Kill với Angie Dickinson; Mission: Impossible với Tom Cruise, thường được xem có thể trở thành một Hitchcock thứ hai. Thông thường nhà làm phim thường cho xen vào phim mới của mình một cái “xen” hầu như “bắt chước” y hệt  cái xen hay ho của vị tiền bối gây ảnh hưởng đó. Họ gọi công việc đó, “vinh danh” tiền bối (pay tribute to). Và một khi một đạo diễn hoặc tác giả có nhiều người vinh danh – những hoạt cảnh tuyệt chiêu đi luôn vào văn hoá của bộ môn nghệ thuật đó. Nhiều khi đi tuốt đến dân gian. Thí dụ những từ  như Tú Bà, Sở Khanh phát xuất từ Kiều bây giờ trở thành những danh từ chung. I couldn’t give a damn (đại khái: Tôi chẳng màng nữa) của “Cuốn Theo Chiều Gió” do Rhett Butler (Clark Gable) thốt ra vào lúc cuối phim trở thành câu nói thông thường của tiếng Mỹ.

Ðối với vua phim kinh dị Alfred Hitchcock, người ta có thể nhận ngay 3 xen nổi tiếng nhất, dễ bị “cóp” nhất: Xen 1: Marion Crane (Janet Leigh) đang tắm vòi sen trong phim Psycho, bị Norman Bates (Anthony Perkins) xem trộm rồi một lão bà nhảy vào đâm chết. Xen 2:  Roger Thornhill (Cary Grant) trong phim North by NorthWest – sau khi bị bắt tra tấn tại một biệt thự nọ, trốn về đi báo với cảnh sát. Lúc cảnh sát dẫn y trở lại biệt thự đó, không thấy những người gian ác đánh đập y đâu hết, và trang trí bày biện đồ vật trong phòng khách tra tấn y cũng hoàn toàn thay đổi – làm cho mọi người bị bẽ mặt. Xen 3: Cũng trong phim North by Northwest, cảnh Cary Grant trên một ngọn đồi trơ trọi phải chạy trối chết vì bị một chiếc máy bay nhỏ lờn vờn rượt bắn.

Xen số 1, một phụ nữ đang tắm vòi sen bị hung thủ lẻn vào phòng tắm rồi tấn công bằng dao hiện đã trở thành một kỹ thuật tiêu chuẩn của phim kinh dị. Có đến hàng trăm phim đâm ra bắt chước xen tắm này. Xen thứ 2 và thứ 3 cũng được phim James Bond chôm nhiều lần. Moonraker dùng xen thứ 2, From Russia with Love xử dụng xen thứ 3.

Thế Kim Dung có xử dụng hoặc vinh danh Hitchcock hay không? Thưa có.
– Trực tiếp: Trong “Tiếu Ngạo Giang Hồ” lúc Lâm Bình Chi đâm chết con trai Dư Thanh Hải tại một quán nhỏ bên đường. Sau đó Lâm Bình Chi về nhà kêu Cha là trưởng của Phước Oai tiêu cục dẫn một đoàn tùy tùng trở lại quán đó để dò la. Tới nơi không thấy chủ quán và người hầu bàn xinh đẹp (tức Nhạc Linh San) đâu hết. Bàn ghế bày biện của quán biến đâu mất, chỉ thấy đó là một nhà bỏ hoang. Xác chết của con Dư Thanh Hải chôn đâu đó cũng biến mất. Ðây là vinh danh Hitchcock xen thứ 2.
– Gián tiếp và phát triển thêm: Xen thứ 1 (và xen thứ 3). Ở chỗ nào? Ở chỗ Ngô Ứng Hùng con trai Ngô tam Quế đã được chọn làm phò mã sắp cưới công chúa Kiến Ninh bị công chúa đập bá súng bất tỉnh rồi . . . cắt đứt đi thằng nhỏ của Hùng! Muốn nhìn rõ sự vinh danh Hitchcock này ta thử phân tích các thành tố chính yếu đã đưa phim Psycho đến hạng nhất về phim kinh dị có phẩm chất từ trước đến giờ. Các thành tố của xen kinh dị 1 gồm:
(i) Nạn nhân trong trạng thái không phòng bị: đang tắm vòi sen
(ii) Nạn nhân không có gì che chở thân thể: đang trần truồng để tắm. Từ chết đến bị thương dù có chống đỡ, nếu bị đâm hay chém.
(iii) Ðịa điểm án mạng rất chật hẹp: chỗ tắm vòi sen không có đường chạy.

Kim Dung vừa vinh danh Hitchcock vừa phát triển cường độ kinh dị đến tột điểm của rùng rợn [6]. Và lại áp dụng cho nam phái! Phù hợp với đề tài thái giám của câu chuyện. Kiến Ninh phải cắt thằng nhỏ của Ngô Ứng Hùng đi bởi nàng không muốn làm vợ Hùng, một phần vì đã quen sex với Vi Tiểu Bảo qua những yêu cầu sa-điết của nàng. Cảnh Ngô Ứng Hùng lúc bị Kiến Ninh thiến sống hoàn toàn nắm đủ tất cả 3 thành tố kể trên:
(i) Nạn nhân trong trạng thái không phòng bị: bất tỉnh nhơn sự  vì đầu bị đánh
(ii) Nạn nhân không có gì che thân thể: Kiến Ninh cởi quần áo y ra trong lúc y bất tỉnh;
(iii) Ðịa điểm “hành quyết” rất chật hẹp: Khi bất tỉnh rồi thì chạy đi đâu.

Nhìn lại người ta để ý ngay cả vụ 9-11 cũng hoàn toàn hội đủ 3 thành tố đó. Nó gây kinh hoàng và mãi mãi biến đổi cục diện toàn cầu.

Ngoài Hitchcock người ta để ý đặc biệt trong Lộc Ðỉnh Ký, Kim Dung vinh danh một lô các phim hoặc truyện hiệp sĩ phương Tây, như của Alexandre Dumas, của Robert Louis Stevenson, của Edmond Dantès (Bá Tước Monte Cristo). Ðặc biệt của Alexandre Dumas trong “3 người Ngự Lâm Quân” (Les Trois Mousquetaires) và “Người đàn ông trong chiếc mặt nạ sắt” (The Man in the Iron Mask – Le Vicomte de Bragellone). Cũng như trong “Tiếu Ngạo Giang Hồ”, Kim Dung đã vay mượn một ít của truyện Scaramouche của Rafael Sabatini [5].

Trong truyện “3 người Ngự Lâm Quân” ta còn nhớ D’Artagnan lúc đầu truyện có hẹn đấu gươm với 3 anh ngự lâm kia Athos, Porthos và Aramis trên đường đi tìm ông xếp Ngự Lâm quân để xin gia nhập. Mới đọ gươm với một trong 3 anh kia được vài chiêu, quân lính hoàng triều của phe Richelieu xuất hiện, D’Artagnan quay lại hợp sức với 3 ngự lâm – một cho tất cả, tất cả cho một – đánh lại bọn lính của Richelieu một trận tơi bời te tua!

Trong Lộc Ðỉnh Ký cũng vậy, đầu truyện Mao Thập Bát rất mong mỏi gặp Trần Cận Nam lãnh tụ phe Thiên Ðịa Hội như để ngưỡng mộ anh hùng và nếu được gia nhập luôn. Y có hẹn với 2 người kiếm khách khác ở ngoài thành Dương Châu để đấu kiếm hơn thua. Hai người kiếm khách này thuộc phe Thiên Ðịa Hội của Trần Cận Nam. Ðang mới bắt đầu so kiếm thì quân lính triều Thanh xuất hiện muốn tìm bắt Mao Thập Bát vì nghi Mao là thủ phạm một vụ án mạng. Mao cùng hai đối thủ hẹn đọ kiếm kia quay lại hợp sức với nhau, đánh trả quân Thanh. Với sự trợ giúp ti tiện của Vi Tiểu Bảo, phe phản Thanh đại thắng.

Một chi tiết khác cũng giống như “3 người Ngự Lâm” là Hoàng hậu Sophia nước Nga có liên hệ tình cảm với một bá tước (Vi Tiểu Bảo) của nước Trung Hoa đối nghịch. Giống y như hoàng hậu Pháp có tình nhân Quận công Buckingham của Anh quốc đang sắp có chiến tranh với Pháp.

Kim Dung còn vinh danh Alexandre Dumas với truyện “Người đàn ông trong chiếc mặt nạ sắt” qua việc dựng lên, trong Lộc Ðỉnh Ký, một Thái hậu giả mang mặt nạ đánh lừa mọi người qua nhiều năm tháng. Thái hậu thật vẫn còn sống và bị Thái hậu giả giam nhốt dưới hầm chứa quần áo. Ðọc đến đoạn này, người ta không khỏi liên tưởng đến trí tưởng tượng của Alexandre Dumas trong việc dựng lên anh em sinh đôi thay nhau làm vua Louis XIV của nước Pháp. Người không được làm vua bị mang chiếc mặt nạ sắt và lưu đày ra một hoang đảo thật xa.

Ảnh hưởng của “Ðảo Kho tàng” của Stevenson, hoặc “Bá Tước Monte Cristo” của Dantes có thể tìm thấy bàng bạc qua chuyện Vi Tiểu Bảo khám phá ra một kho tàng thật khổng lồ của nhà Thanh. Muốn tìm kho tàng đó phải kiếm ra một bản đồ tản mác trong 8 quyển sách kinh thất tung lâu năm. Nhân vật chính cũng trở thành vương tước như ai mặc dù y chẳng có học, chẳng biết võ nghệ gì hết. Ðảo Thần Long chứa chấp một băng đảng ăn cướp, với giáo chủ võ nghệ tuyệt luân – khiến người đọc dễ liên tưởng đến truyện “Ðảo Kho Tàng” của Stevenson. Có lẽ đây, lần đầu truyện kiếm hiệp Tàu có màn cao thủ bậc nhất võ lâm là ăn cướp sinh sống ở ngoài hải đảo. Cao hơn Hoàng Dược Sư rất nhiều bực.

Ở những đoạn Khang Hy mưu tính đòn chính trị, thường thường hội ý với Vi Tiểu Bảo, người đọc có thể nhận ra dáng dấp “The Prince” (Vương Công) của Machiavelli. Quyển sách của Machiavelli thường dùng như sách gối đầu giường của những người làm chính trị. Cũng giống như quyển Binh Thư Tôn Tử (The Art of War) cho những nhà quân sự, và ngày nay, cho những tổng lý của các công ty thương mại.

Ảnh hưởng của các phim James Bond cũng rất đậm nét trong các truyện Kim Dung, nhất là Lộc Ðỉnh Ký. Ðiểm đặc thù nhất của phim James Bond là gì? Là những xen đấm đá hoạt động không ngừng, gọi nôm na theo tiếng Anh là non-stop action. Những phim James Bond đã tạo thành một genre-loại đặc biệt, chứa những cảnh hiểm nguy, hoạt động đấm đá không ngừng, mà nhiều phim hoạt động hoặc kinh dị bây giờ vẫn thường xuyên xử dụng. Ðiển hình các phim với những tài tử như: Sylvester Stallone (Rambo), Wesley Snipes (Passenger 57, The Art of War), và Bruce Willis (Die Hard), v.v.. Lộc Ðỉnh Ký cũng vậy. Ta thấy Vi Tiểu Bảo cứ trải qua hiểm nguy này tiếp đến hiểm nghèo khác. Không ngừng. Những cảnh đó thường dễ làm người đọc nín thở bởi Vi Tiểu Bảo không biết mấy võ nghệ. Ngoài ra Kim Dung cũng đã vinh danh James Bond bằng cách cho Vi Tiểu Bảo có thật nhiều đào, nhiều vợ, giống như điệp viên 007.

Quay trở lại văn học Trung Quốc, Lộc Ðỉnh Ký vinh danh những văn hào nào với những tác phẩm nào? Rất nhiều, đếm không hết lại sợ thiếu sót. Nhưng rõ rệt nhất: Hồng Lâu Mộng của Tào Tuyết Cần và AQ của Lỗ Tấn. Hai tác phẩm hàng đầu của Trung Hoa nhưng hãy còn hơi xa lạ đối với người Việt.

Hồng Lâu Mộng được đứng hàng đầu trong tứ tài tử của văn đàn Trung Hoa, và đã được chính Mao Trạch Ðông hồi còn sinh thời không tiếc lời ngợi khen. Ba kiệt tác kia: Thủy Hử của Thị Nại Am, Tây Sương Ký của Vương Thực Phủ và Tam Quốc Chí của La Quán Trung.

Tác giả chính của Hồng Lâu Mộng là Tào Tuyết Cần. Với Cao Ngọc viết tiếp thêm 40 hồi sau cùng. Theo Vương Hồng Sển [7] Hồng Lâu Mộng độc đáo ở chỗ khác với các loại tiểu thuyết khác như Tây Du, Thuyết Ðường, Chinh Ðông, Chinh Tây là một tiểu thuyết đầu tiên không kết hợp từ những mẩu chuyện nhỏ un đúc trong chốn dân gian. Một sáng tác theo cảm hứng văn nghệ của Tào Tuyết Cần, tuy có dựa vào kinh nghiệm và hoàn cảnh gia đình của chính tác giả. Hồng Lâu Mộng khởi mộng từ khoảng năm 1765 vào đời vua Thanh Càn Long năm thứ 28. Câu chuyện dựng chung quanh một hai gia đình vọng tộc, trong đó có họ Giả, với những tình tiết của những người thân thuộc họ hàng với nhau. Có sex, có đồng tình luyến ái, có những mối tình tay đôi tay ba, trong chốn lầu cao cửa rộng. Về sau gia đình gặp nạn suy sút, nhân vật chánh Bửu Ngọc thi đỗ nhưng lại chọn đường xuất gia đi tu. Hồng Lâu Mộng thành công nhờ ở nhiều điểm, nhưng điểm chánh nằm ở hội tụ được phân tích tình cảm và tâm lý của một lô các nhân vật, nhất là các nhân vật nữ phái. Từ mẹ của Bửu Ngọc đến các chị, các em, các người bà con thân thuộc và luôn cả các a-hoàn phục dịch trong nhà.

Kim Dung vinh danh Tào Tuyết Cần bằng rất nhiều cách. Thứ nhất Kim Dung bắt chước đoạn đầu và đoạn cuối của Hồng Lâu Mộng. Hai hồi đó không liên hệ trực tiếp đến câu chuyện ở phần chính. Trong Hồng Lâu Mộng tác giả cho vào hồi đầu câu chuyện một tảng đá lâu ngày thu thập được linh khí biết di chuyển và biết viết lách ghi lại câu chuyện của Hồng Lâu Mộng. Chuyện đó được một ông sư đi ngang khám phá và chép lại cho đời sau. Sau khi kết cuộc câu chuyện, vị đại sư đó mới hỏi hòn đá tại sao câu chuyện không có nhân vật nào đại trung, đại thần hết vậy. Như vậy làm sao để đời được. Trong Lộc Ðỉnh Ký cũng vậy. Kim Dung cho vào một đoạn đầu kể chuyện những nhà trí thức ái quốc (có thật, như Cố Viêm Vũ, Hoàng Tông Hy và Lã Lưu Lương; cũng như nội tổ của chính tác giả Kim Dung Tra Lương Dung là Tra Y Hoàng) gặp gỡ nhau và trong lúc trà dư tửu hậu bàn về những chuyện vu oan giá họa do những gian thần người Hán gây nên để trừ khử các nhà ái quốc. Rồi vào hồi hai mới giới thiệu Vi Tiểu Bảo và vào câu chuyện. Gần đến kết cuộc Kim Dung mới lôi mấy nhà trí thức đó ra thuyết phục Vi Tiểu Bảo trở về Thiên Ðịa Hội để tiếp tục chuyện phục quốc. Nặng tình nghĩa với vua Khang Hy, và cũng thành thật với chính mình, Vi Tiểu Bảo đã chọn con đường rút lui về ở ẩn.

Lộc Ðỉnh Ký cũng vinh danh Hồng Lâu Mộng bằng cách mô tả tỉ mỉ những mâu thuẫn tâm lý tình cảm của một lô các nhân vật phái nữ. Ða số đều lọt vào tay và trở thành vợ của Vi Tiểu Bảo. Tâm lý và những ước mơ, khát vọng cùng những giằng co nội tâm của Vi Tiểu Bảo, một người con trai xuất thân bần cùng và thất học, cũng được Kim Dung phân tích đến nơi đến chốn. Nếu Hồng Lâu Mộng có tả về thủ dâm mộng dâm, Lộc Ðỉnh Ký đáp ứng bằng sex theo khổ dâm sa điết của Kiến Ninh, và mặc cảm Oedipus của Vi tiểu Bảo, si mê những người đàn bà đáng tuổi má mình: Trần Viên Viên và Tô Thuyên. Lại cũng như Hồng Lâu Mộng, Lộc Ðỉnh Ký cho thấy sau bức màn nhung bên ngoài, sự xung đột vẫn thường xuyên xảy ra giữa các tầng lớp, phe phái và thế lực, phục Minh hay ngay trong triều Thanh, của xã hội phong kiến. Lộc Ðỉnh ký còn dứt khoát theo con đường Hồng Lâu Mộng đã vạch ra: Không thèm xây dựng tiểu thuyết trên những nhân vật đại thần đại trung nữa. Ðặt kính hội tụ vào một nhân vật xuất thân từ nơi đầu đường xó chợ và đưa y đến hàng đại thần nhà Thanh hay . . . gian tặc đối với người Hán, tùy theo góc nhìn của xã hội đương thời.

Ảnh hưởng của Lỗ Tấn ra sao? Lỗ Tấn một văn hào lớn của Trung Hoa trong thế kỷ 20. Chuyên về truyện ngắn nói lên những khổ đau của con người, Lỗ Tấn nổi tiếng nhất với “AQ chính truyện” (Muốn đọc Lỗ Tấn, xem ghi chú [8]). Và Vi Tiểu Bảo của Kim Dung có nhiều điểm rất giống nhân vật AQ của Lỗ Tấn. Hai người Bảo và Q đều xuất thân từ giai cấp thấp hèn nhất của xã hội Trung Hoa. Cả hai đều thuộc lớp mù chữ. Riêng Vi Tiểu Bảo mù chữ đến nỗi ký tên thật y thành tên Tiểu viết ra như vẽ hình “thằng nhỏ”. Thật thành giả, giả thành thật. Vi Tiểu Bảo ký tên “thằng nhỏ”. “Thằng nhỏ” viết theo chữ Hán là Vi Tiểu Bảo. Cả AQ và Vi Tiểu Bảo đều thích cờ bạc đánh bài. Kim Dung đã vinh danh Lỗ Tấn bằng cách xây dựng những cá tính chánh của Vi Tiểu Bảo giông giống AQ. Tuy nhiên Vi Tiểu Bảo có số sướng hơn AQ rất nhiều và không bị đoản mệnh như AQ.

Thấp thoáng trong Lộc Ðỉnh Ký ta còn gặp nhiều hoạt cảnh và hình dáng của những nhân vật truyện Tàu thuở trước. Ở cặp Vi Tiểu Bảo-Song Nhi, ta có thể nhớ đến Cam Tử Long-Lã Mai Nương, trong truyện Lã Mai Nương. Lã Mai Nương do vị Thầy của Cam Tử Long cho xuống núi đi theo Cam Tử Long để tìm kẻ tử thù. Song Nhi cũng vậy – được Trang gia chủ tặng riêng cho Vi Tiểu Bảo – để theo và bảo vệ chàng bôn ba trong chốn giang hồ.

Rồi giống như Thủy Hử , Lộc Ðỉnh Ký tạo nên đám Thần Long giáo tuy ăn cướp nhưng cũng lấy được một chút chính danh, do ở việc cấu kết với Nga chống lại Thanh triều, và lo tìm kho tàng để lấy vàng bạc châu báu, cắt đứt long mạch nhà Thanh. Thủy Hử có nhà sư Lỗ Trí Thâm chuyên lén đi ăn thịt cầy, Lộc Ðỉnh Ký có sư Vi Tiểu Bảo pháp danh Hối Minh lén đi vào một kỹ viện gần chùa cho đỡ buồn trống, cho đỡ chổng. Chẳng may chưa làm ăn gì hết y bị hai cao thủ phái nữ tấn công đòi giết. Y phải hoá trang kỹ nữ trốn chạy có cờ.

Lộc Ðỉnh Ký còn thường xuyên nhắc đến các nhân vật của Tam Quốc Chí. Vi Tiểu Bảo khi thống lãnh quân đội cũng áp dụng những chiến thuật của Khổng Minh y học lóm được từ những khách làng chơi ghé lại kỹ viện Lệ Xuân, nơi y sinh sống thuở thiếu thời. Lộc Ðỉnh Ký cũng vinh danh con ngựa xích thố của Lã Bố và Quan Vân Trường bằng cách cho vào một hồi về giống ngựa đua Vân Nam của Ngô Ứng Hùng.

Lộc Ðỉnh ký cũng lên án một vài “minh quân” người Hán bằng cách nhắc lại sự tích Lưu Bang, được chim bẻ ná, giết tướng Hàn Tín sau khi thắng Hạng Yũ. Kim Dung mượn lời nhân vật Lã Lưu Lương nói với Vi Tiểu Bảo vào đoạn cuối, nhằm thuyết phục anh chàng họ Vi đứng ra lãnh đạo Thiên Ðịa Hội và các phong trào kháng Thanh: “Hán Cao Tổ (Lưu Bang) xuất thân đại lưu manh, làm chuyện bậy bạ còn nhiều hơn ngươi, nhưng rốt lại vẫn trở thành ông vua khai quốc của nhà Hán”.  Diễn lại vở tuồng Lưu Bang hạ Hàn Tín, Lộc Ðỉnh ký cho Trịnh Khắc Sảng công tử của xếp của Trần Cận Nam  dùng dao nhọn đâm lén vào lưng của Trần Cận Nam chỉ vì Cận Nam, mặc dù hết sức trung thành với Trịnh Vương, không hoàn toàn tuân những mệnh lệnh điên khùng của công tử Khắc Sảng. Lộc Ðỉnh Ký cũng vẽ lại hoạt cảnh Hàn Tín thuở thiếu thời luồn trôn một tay anh chị đứng đường, bằng cách cho Vi Tiểu Bảo chui qua háng của Tô Thuyên để trốn chạy Hồng Giáo chủ đang rượt đuổi.

Giải hoá các mâu thuẫn

Một trong những kỹ thuật chính yếu của nghề viết tiểu thuyết là tạo cho nhân vật các giằng co tâm lý khó xử, nhiều tình huống mâu thuẫn, và nếu được những thế lực hoặc xã hội hoặc cá nhân, tương phản, kình chống với nhau, trùm lên đầu nhân vật chính. Rồi tìm cách giải tỏa chúng vào cuối câu truyện.

Tất cả những nhà văn nổi tiếng như cồn đều đã đề ra giải pháp ổn thoả cho các gút mắt trong truyện mà đa số các độc giả có thể chấp nhận được hoặc cảm thấy thoải mái. Thí dụ, truyện Kiều phải kết cuộc làm sao mới vừa tổng hợp được các triết lý Khổng Mạnh, triết lý nhà Phật, triết và hồn Việt [9], luân lý và đạo đức của dân tộc, đạo làm người, thuyết tài mệnh tương đố, v.v. vừa giải quyết được mâu thuẫn của câu chuyện. Văn hào Nguyễn Du đã thành công trong chuyện đó ngoài việc chấm bút tạo áng thi văn bất hủ.

Truyện của Kim Dung sở dĩ thành công, một phần lớn nhờ ở những giải hoá các mâu thuẫn đó. Trong “Anh Hùng Xạ Ðiêu” Quách Tỉnh trái  lời 7 vị Thầy đi yêu con gái một người mang danh Ðông Tà. Trước đó y đã yêu và hứa hôn với một người công chúa Mông Cổ. Trong “Lục mạch Thần Kiếm” Kim Dung cho người đọc nín thở khi thấy thái tử Ðoàn Dự chuyên đi yêu các em gái của mình. Rồi tới màn Ðoàn bị giam chung với một em gái và bị uống thuốc kích dâm sao đó. Kết cuộc người Ðoàn Dự mê mệt, Vương Ngọc Yến, do chính bà mẹ Ðoàn Dự trối trăn, thật ra không phải là em gì của Ðoàn Dự hết. Mấy người em gái kia cũng vậy. Con muốn lấy ai thì lấy. Trong “Tiếu Ngạo Giang Hồ” Lệnh Hồ Xung được nhiều người yêu. Mỗi người yêu một kiểu. Rồi Lệnh Hồ Xung lại đi yêu con gái của giáo chủ của Ma giáo. Kim Dung phải lái người đọc làm sao để ai cũng có thể chấp nhận cô dâu Nhậm Doanh Doanh với đầy lý lịch Ma giáo đó.

Tiểu thuyết muốn được người đọc yêu chuộng hơn nữa phải luôn luôn có những mâu thuẫn tiểu tiết lồng trong những mâu thuẫn gút mắt chính. Thí dụ 1, mâu thuẫn tiểu tiết về tương quan của Ngũ Hành như đã trình bày ở trên. Thí dụ 2, một trong những mâu thuẫn tiểu tiết của Lộc Ðỉnh Ký là chuyện ăn vụng giữa Kiến Ninh với Vi Tiểu Bảo. Vua Khang Hy với mưu tính chánh trị muốn gả em gái Kiến Ninh cho Ngô Ứng Hùng con trai Ngô Tam Quế. Làm sao giải quyết chuyện động trời này, và đồng thời gây được kinh dị, tiếu lâm, thích thú, vừa thoả đáng được các đòi hỏi của luân lý – và cũng nằm trọn trong cái đề luận phụ của câu chuyện (về . . . có thằng nhỏ và không có thằng nhỏ). Kim Dung đã giải tỏa cái gút đó bằng cách cho Kiến Ninh đánh vào đầu Ứng Hùng bất tỉnh rồi lẹ tay cắt đứt . . . thằng nhỏ của Ứng Hùng đi. Rồi la to rằng Ứng Hùng vào đó tính hiếp thị cho biết mùi vợ chồng và để . . . trả thù dân tộc! Sau đó dù Ứng Hùng có trở thành chồng Kiến Ninh, Ứng Hùng cũng chỉ giống như . . . một thái giám mà thôi.

So với các tiểu thuyết trước của Kim Dung – những mâu thuẫn chính và phụ trong Lộc Ðỉnh Ký khó khăn gấp bội phần. Khó khăn ở chỗ đó là những mâu thuẫn tình cảm, thế lực và nhất là chính trị, chủng tộc và văn minh, văn hiến, v.v. Những mâu thuẫn này Kim Dung đã giải hoá thật hay.

Hai mâu thuẫn chính, thường xuyên giao tác với nhau, nằm ngay ở phần xương sống của câu chuyện: Phản Thanh phục Minh với lòng ái quốc và chủ nghĩa cá nhân. Lồng vào đó một ý niệm thể hiện qua thành ngữ quen thuộc của người Ăng Lê, nổi tiếng với đầu óc thực tiễn: “If you can’t beat them, join them” (Nếu bạn không hạ được đối phương, hãy nhập bọn với chúng). Nhiều khi được kèm theo: “And beat them later” (Và để rồi hạ bọn chúng sau).

Theo với nền luân lý Khổng Mạnh và văn hoá Trung Hoa từ ngàn đời, quân dân phải luôn luôn trung thành với vua. Người ta chỉ có thể chuyển đổi sự trung thành đó khi triều đại hoàn toàn suy thoái và có một vị vua khác, do . . . mệnh trời chỉ định, đã lên được ngôi vua ở triều đình rồi. Những vị quan to có bất mãn với đương kim hoàng đế hay bị thất sủng, chỉ có nước xin vua cho trở về qui ẩn. Vua hay chúa của mình có bị thất trận, chết, và nếu không có ấu chúa cần phải bảo vệ, quần thần phải tuẫn tiết chết theo. Ðó là trường hợp Vương Thừa Ân đối với vua cuối triều Minh Sùng Trinh. Trường hợp hàng ngàn tướng sĩ theo phò các vị hoàng thân triều Minh nổi dậy chống nhà Thanh – khi chủ tướng của họ bị nhà Thanh dẹp tan. Những đám tàn quân cấp dưới có thể di tản sang một nước khác để chờ ngày trở về. Như trường hợp một nhóm Thiên Ðịa Hội di tản sang nước An Nam, sau những cuộc khởi nghĩa chống nhà Thanh bị thất bại.

Thêm vào đó, cho mãi đến thế kỷ 20, lối sống dân tộc Trung Hoa vẫn luôn dựa vào  hệ thống giá trị của văn hoá ngàn đời, thể hiện bằng những câu “thánh ngữ” như: “Quốc gia hưng vong thất phu hữu trách” hoặc “Quân xử thần tử – thần bất tử bất trung”. Hay tam cương ràng buộc “thần phải trung thành với quân vương, con cái phải hiểu để với cha, vợ phải tòng phục chồng”. Giá trị của con người nằm ở ngũ thường: “Nhân, nghĩa, lễ, trí, tín”. Còn rất nhiều, nhiều “thánh ngữ” biểu tượng cho hệ thống văn hoá, và giá trị cổ truyền Trung Quốc. Nhưng hay cũng như dở, hợp lý hay vô lý, chính các “thánh ngữ” này đã giúp Trung quốc không ít trong việc tồn tại như một quốc gia cho mãi đến ngày nay. Chủ nghĩa cá nhân theo kiểu Tây Phương có một chỗ đứng rất nhỏ, nếu không nói không có, trong xã hội Trung quốc cổ xưa, nhất là trong tầng lớp quyền bính. Thánh ngữ “quân xử thần tử – thần bất tử bất trung” lan tràn mạnh mẽ sang những nước láng giềng, và lên đến tột đỉnh tại Nhật Bản tại các lãnh địa sứ quân. Như rất nhiều phim hiệp sĩ đạo của Nhật cho thấy [11]. Chủ nghĩa cá nhân, mặc dù luôn tiềm ẩn với mọi con người, làm sao phát triển được khi vua hay sứ quân bảo mình chết – không cần biết vì lí do gì – mình cũng phải chết. Nhỡ các quân vương đó bảo mình chết vì muốn chôm đào nhí hay giựt bạn trai của mình thì sao?

Cái văn hoá phong kiến đó đã chui vào xương tủy dân Hoa suốt cả ngàn năm. Không nhúc nhích. Văn chương chữ nghĩa lúc nào cũng nhồi vào sọ người dân những thứ “thánh ngữ” này. Ngay đến các tiểu thuyết trước thời Hồng Lâu Mộng – như chính Hồng Lâu Mộng có nhắc nhở – thường phải có vai trò của một vị đại trung đại thần bảo vệ giang san và . . . triều đình. Hồng Lâu Mộng chính lần đầu tiên một truyện dài đã không xử dụng vai chính những đại trung đại thần. Và Kim Dung chính tác giả đầu tiên đã đối diện trực tiếp đến những “thánh ngữ” đó và hùng hồn biện minh cho việc dung hoà với một số điều hay việc tốt của văn hoá phương Tây. Hành trình của Vi Tiểu Bảo chính là hành trình của một người mang chủ nghĩa cá nhân xuyên qua những xung đột và mâu thuẫn về chính trị, văn hoá, hệ thống giá trị Khổng Mạnh, biên giới quốc gia, quân sự, võ biền, tình cảm, luyến ái, và mưu cầu tự do và hạnh phúc cuộc đời. Tất nhiên hành trình đó đầy chông gai hiểm nghèo và người phiêu lưu bất đắc dĩ đó chỉ được trang bị bằng bản lĩnh chợ trời, và bản năng sinh tồn tự nhiên con người, mô tả bằng câu thành ngữ của người Anh: “Nếu bạn không hạ được đối phương – hãy nhập bọn với chúng, để rồi hạ chúng sau”.

Vi Tiểu Bảo trước hết bị giam lỏng trong hoàng cung. Sau đó sợ chết, y phải gia nhập đoàn thái giám. Rồi tình cờ y quen biết với hoàng đế Khang Hy trạc tuổi y, ưa tập võ nghệ. Sau khi giết Ngao Bái y bị phe Thiên Ðịa Hội câu lưu vì thấy y người Hán sao lại có chức trong triều đình Thanh. Y phải gia nhập Thiên Ðịa Hội. Sau đó vài năm y bị bọn Thần Long giáo bắt ép gia nhập. Hai người y yêu Phương Di và Mộc Kiếm Bình cũng vậy. Cũng bị cho uống thuốc độc bắt phải theo Thần Long giáo. Y phải gia nhập vì sợ chết nhưng trong bụng y ghét nhất Thần Long giáo, chỉ trừ Hồng phu nhân Tô Thuyên thôi. Nhiều năm sau, chính y được Khang Hy giao sứ mệnh đi dẹp Thần Long giáo. Ðối với Thần Long giáo, đặc biệt Vi Tiểu Bảo vì  “không hạ được chúng, nên đã nhập bọn với chúng, để rồi hạ chúng sau”. Và gần như bản năng sinh tồn của Vi Tiểu Bảo trong những lúc nguy biến đều có thể được mô tả một trăm phần trăm như kiểu thành ngữ này. Cứ mỗi khi Vi Tiểu Bảo áp dụng thành ngữ Ăng Lê này, y đều thành công. Tuy nhiên, một đôi khi nó cũng đưa y đến bên bờ vực thẳm, mất mạng như chơi.

Thế nhưng chiến thuật kiểu cơ hội chủ nghĩa đó hiển nhiên rất mâu thuẫn với hệ thống giá trị cổ truyền Trung Hoa. Ngoài đó ra, Lộc Ðỉnh Ký còn chất chứa hàng chục thứ mâu thuẫn khác nữa. Kim Dung đã giải quyết mâu thuẫn của xung đột giữa hệ thống giá trị cổ truyền Trung Quốc với mưu cầu tự do và hạnh phúc cho con người Vi Tiểu Bảo ra sao?

Quan trọng nhất, Kim Dung cho Vi Tiểu Bảo hoàn toàn thất học. Nhưng cho Vi một mớ hiểu biết lờ mờ về lịch sử . . . theo kiểu chợ trời bởi những kiến thức đó của anh tiến sĩ chợ trời đã được thu lượm và nghe lóm từ những “tiên sinh” kể chuyện ở đầu đường hay tại kỹ viện nơi Vi sinh sống. Ðặc biệt Vi Tiểu Bảo gần như bị dị ứng đối với vấn đề học hành, từ chữ nghĩa đến võ nghệ. Ðiểm này hơi vô lý bởi Tiểu Bảo làm quan lớn một thời gian dài – y chỉ cần thuê một số lão sư đến dạy chữ nghĩa cho y, ngay cả vừa ngủ vừa học cũng được. Nhưng không, từ đầu đến đuôi Vi hoàn toàn không chịu khó học được một câu, viết được một từ đàng hoàng. Mặc dù y biết y nói sai bởi có nhiều người, kể cả Khang Hy, sửa sai những câu thánh ngữ y thốt ra, hoặc những điển tích y muốn ví von so sánh. Tại sao vậy? Tại vì nếu cho y biết chữ y sẽ bị kẹt vào thế: “nước nhà lâm nguy, người trí thức phải có trách nhiệm”! Phải gia nhập Thiên Ðịa Hội, hoặc phong trào của mấy vị hoàng thân vương tôn tàn dư của Minh Triều, một cách nghiêm túc. Không thể nào cù cưa với Khang Hy hoặc ăn nằm với Kiến Ninh được trừ phi muốn … trả thù dân tộc. Có chữ một chút khộng được, bởi có chữ có nghĩa Vi biết cái giá trị chính giữa của xã hội, của dân tộc Trung Hoa, biết phân biệt theo với hệ thống giá trị đó, phe ta phe thù. Những giá trị và quan niệm Trung Hoa đó không cần biết hay hoặc dở, đúng hay sai, kinh điển hay không, vẫn là một hệ thống giá trị của một dân tộc. Vi mang nợ núi sông vì đã được hưởng thụ thành quả của hệ thống giá trị đó. Do đó Vi phải trả nợ đó. Vi cũng, bởi ràng buộc của hệ thống giá trị cũ, không thể theo được chủ nghĩa cá nhân, mưu cầu tự do hạnh phúc cho riêng mình. Chính bởi ở lý do đó, muốn được tự do hành động theo riêng bản năng mình, phù hợp với chủ nghĩa tự do cá nhân, Vi không thể biết gì đến chữ nghĩa.

Vi Tiểu Bảo cũng không thể học võ với ai, bởi môi trường võ nghệ lại chỉ có một mục đích tối thượng. Người chốn giang hồ hay võ biền phải lo bênh vực kẻ yếu thế cô. Phải lo đáp ơn sông núi. Phải dùng tài võ nghệ của mình để điều binh khiển tướng hòng đánh đuổi quân xâm lăng ra khỏi bờ cõi nước nhà. Người kiếm khách Trung Hoa còn luôn luôn có những quy ước hành động bất thành văn. Trong đó, không bao giờ có cái chuyện “Nếu bạn không hạ được đối phương, hãy nhập bọn với chúng” mà Vi Tiểu Bảo hằng xử dụng như một ngón võ tuyệt chiêu không những bảo vệ tính mạng của mình, mà còn dùng nó để thăng quan tiến chức. Không được, Vi Tiểu Bảo không được biết đến chữ và võ. Kim Dung giải hoá các mâu thuẫn đó bằng cách cho Vi Tiểu Bảo hoàn toàn bị dị ứng từ chuyện học chữ đến chuyện luyện võ. Vi Tiểu Bảo vẫn mù chữ và dốt võ từ đầu đến cuối truyện. Lộc Ðỉnh Ký đã cho thấy những tình huống, những màn kịch rất hợp nhất với lô gích. Từ lô gích ngũ hành đến lô gích của hệ thống các giá trị, cũ và mới.Với một bố cục thật chặt chẽ.

Tuy nhiên, ở điểm này ta thấy, Kim Dung đã dung hoà hay đúng hơn “nhượng bộ” thế lực của hệ thống giá trị cũ của Trung Hoa. Luận đề chính vẫn không hề hấn, không bị suy suyển: Thời đó vẫn có một con người đã có thể hợp tác với Thanh triều. Vô học hay có học theo nguyên lý bất nhị cũng y như nhau! Chỉ quan trọng ở chỗ có một người Hán làm lớn trong triều nhà Thanh và làm được nhiều điều ích lợi cho dân Trung Hoa và nước Trung Hoa. Và động cơ mạnh mẽ để thúc đẩy và giúp y làm nên việc, là chủ nghĩa cá nhân, mưu cầu tự do hạnh phúc con người. Và cá nhân y thành công – không bị Khang Hy giết chết, hay các phe kháng Thanh cho đi mò tôm, dù biết y một dạ hai ba lòng – chung qui cũng nhờ ở những giá trị cổ truyền Trung Hoa vẫn có trong người y: lòng chung thủy, trung thành, và hai chữ tín nghĩa. Y cũng có trí, dù đó là một loại trí chợ trời. Trí chợ trời với trí khoa bảng, qua Lộc Ðỉnh Ký, không biết loại nào hơn loại nào. Nếu so sánh cái trí của y với cái trí của sư phụ y là Trần Cận Nam. Trần Cận Nam học sâu hiểu rộng, thường là thần tượng, người hùng kiểu mẫu trong giới giang hồ. Thế nhưng cái trí của Trần Cận Nam bị mớ giá trị cổ truyền kia làm cho Nam mù mờ không biết rằng Nam đang phục vụ một sứ quân bất tài như Trịnh Khắc Sảng để rồi về sau bị Sảng đâm lén sau lưng. Trong khi Vi Tiểu Bảo nhờ thất học nhưng với trực giác và trí thông minh của giới chợ trời biết tẩy ngay con người của Trịnh Khắc Sảng ngay khi mới gặp. Nhưng đối với lễ, y hoàn toàn không có. Kim Dung cho y chửi thề từ đầu đến cuối. Rồi lây tính chửi thề qua Khang Hy. “Con mẹ nó,…”. Thỉnh thoảng y cũng khoái ăn mặc đẹp theo cách nhà quan nhưng dường như y  có vẻ không được thoải mái mấy.

Phải chăng chi tiết “thất học” của Vi Tiểu Bảo được Kim Dung dùng để đưa một thông điệp chính. Với hai thành tố. Thứ nhất có nên dung hoà hoặc bổ xung hệ thống giá trị cổ truyền Trung Hoa với một số giá trị Tây phương hay không. Bút hiệu của Kim Dung đích thị mang ý nghĩa của thành tố này. Kim mạng Kim theo Ngũ hành, chỉ phương Tây, cũng có nghĩa hiện đại. Dung tức dung hoà! Kim Dung tức dung hoà với giá trị hiện đại, phương Tây? Thành tố thứ hai phải chăng khi cho Vi Tiểu Bảo, một người trẻ tuổi, hoàn toàn vô học cả văn lẫn võ Kim Dung có ngụ ý những người mù chữ, bởi không biết gì hết đến hệ thống giá trị cổ truyền và những ràng buộc của nó, và hãy còn trẻ, nên dễ hành động theo bản năng con người mình hơn và dễ . . . tiếp thu được cái hay cái mới hơn?

Còn thêm một thông điệp nhỏ nữa trong vấn đề Vi Tiểu Bảo không biết nhiều võ công. Bởi có biết cũng không giúp ích được cho y trong những công tác trọng đại Khang Hy giao phó. Thời Vi Tiểu Bảo bắt đầu là thời thế lực mạnh mẽ của súng đạn Tây Phương. Nước Tàu từ đó về sau cho dù có đến “Võ Lâm Ngũ Thiên Bá” cũng khó lòng thay đổi được cục diện quốc phòng, và an ninh quốc gia. Giới giang hồ đang bắt đầu lo gác kiếm.

Nếu nhìn kỹ, chi tiết bắt Vi Tiểu Bảo phải thất học, từ văn đến võ, thật ra là một “nhượng bộ” giả của Kim Dung. Chính ra đó là lối thuyết phục nhẹ nhàng của tiểu thuyết. Vừa để giải toả mâu thuẫn vừa đưa những người đọc khó tính, và bảo thủ đối với hệ thống giá trị cổ truyền của Trung Hoa, đến chỗ chấp nhận các hành vi của Vi Tiểu Bảo. Kim Dung đã làm người đọc khó tính dễ bị lôi cuốn bởi phiêu lưu vô bờ bến, tuy thiếu chất võ  hiệp của chàng Hán tộc họ Vi. Trong lúc tác giả âm thầm tấn công hệ thống giá trị cổ và đồng thời rót nhẹ vào tai người đọc những điểm nóng hay nguội cần phải dung hoà với văn hoá và văn minh Tây phương.

Mặt khác, có nhiều chi tiết cho thấy Kim Dung vẫn chấp nhận tam cang ngũ thường nhưng đưa ra một thông điệp mới: Cần phải xem lại từng giá trị một và áp dụng theo tùy trường hợp. Thí dụ, Vi Tiểu Bảo vẫn có thể trung thành với vua gốc Ðông Di là Khang Hy, bởi vua chơi đẹp với y. Trước công tác nào cũng vậy vua hứa nếu y làm được việc vua sẽ trọng thưởng. Và vua luôn luôn giữ lời hưá. Y trung thành với vua đến nỗi sẵn sàng chết thay vua, hay không thèm đi phá long mạch người Mãn để cho nhà Thanh tiêu tùng. Trong khi đó các phe phục Minh chưa gì đã xâu xé lẫn nhau và tuy cùng chung mục tiêu vẫn thường xuyên tranh chấp với nhau, bởi mỗi phe đi phò một ông hoàng thân khác nhau. Họ không bao giờ nhất thống, trong tư tưởng và hành động. Tệ hơn nữa Trịnh Khắc Sảng chưa chi đã đâm lén công thần số 1 của mình là Trần Cận Nam chỉ vì Cận Nam chỉ tuân theo lệnh của Trịnh Vương, cha của y. Tiếu lâm hơn, Kim Dung vạch ra mặt trái của loại “tam cang” chồng chúa vợ tôi bằng cách mô tả, công chúa Kiến Ninh hành hạ Vi Tiểu Bảo trong những lần chăn gối vì sa điết, và lúc “xuất giá tòng phu” Kiến Ninh lại “xuất chiêu” cắt đứt cái phụp “thằng nhỏ” của phu quân Ngô Ứng Hùng. Vi Tiểu Bảo đã từng chui qua háng Tô Thuyên, một người vợ sau này của y. Vi Tiểu Bảo theo người yêu công chúa Sophia trở về Mát-Cơ-Va, v.v. Trong nhiều chi tiết về vợ chồng, Kim Dung cho thấy người vợ vẫn có thể trên cơ, hay nằm trên người chồng như thường.

Lộc Ðỉnh Ký cho thấy Kim Dung cũng không hoàn toàn phá tung toàn bộ hệ thống giá trị cổ truyền Trung quốc. Ta để ý Vi Tiểu Bảo sau cùng phải . . . cưới tất cả những người đàn bà nào y iêu hay iêu y. Ðặc biệt gồm cả 4-5 bà y đã xơi tái nhân cơ hội mấy người này bị hôn mê bất tỉnh. Rồi kể cả Kiến Ninh người như đã …. hiếp dâm y và cho y biết mùi khổ lụy của tình ái. Y đều cưới tất cả và đem về trình diện với má y đàng hoàng. Chỉ trừ công chúa Sophia của nước Nga, y chỉ yêu sơ sơ rờ-măng thôi. Ở điểm này ta thấy Kim Dung lại rất cẩn thận, nói lên quan niệm, luyến ái phương Tây không nhất thiết phải dẫn đến vợ chồng.

Tạo ra Vi Tiểu Bảo một người thất học trèo lên địa vị cao sang Kim Dung cũng đưa một thông điệp nhỏ: Vi Tiểu Bảo không tham lam quá độ. Lúc nào cũng thấy mình được như vậy là quá rồi. Ngay cả chết y cũng (giả bộ?) không sợ. Chỉ nhờ ở chỗ y biết y dốt và sức y có hạn. Phải chăng đó cũng là chìa khoá để đưa đến giác ngộ, tự do và hạnh phúc? Một điểm tiếu lâm nhỏ ở cuối câu chuyện phải kể, các nhà nhân sĩ đi kiếm Vi và thuyết phục y ra làm minh chủ Thiên Ðịa Hội. Họ tính gạt y bằng cách xin y tên tuổi của bố y để đi xin cho y một lá số tử vi. Chắc chắn số tử vi đó sẽ nói y có mạng đế vương để y ham mà nhảy ra lãnh chức minh chủ các phong trào kháng Thanh. Nhưng không, y không ham gì cả và đáp chính y không biết cha là ai, và nói làm lãnh tụ cực lắm y không đủ sức. Thông điệp về “tri túc”, về biết đủ là đủ, lại được Kim Dung nhấn mạnh qua lời nói của Hồng phu nhân tức Vi phu nhân sau này, trước khi Hồng An Thông từ giã cõi đời. Lúc đó Hồng giáo chủ đòi giết Vi Tiểu Bảo, và lẩm bẩm đòi sống thọ ngang . . . với trời.  Hồng phu nhân che chở cho Vi và nói đại khái: “Ông đã oai danh cả đời. Như vậy là đủ quá rồi”.

Trong việc cấu tạo nhân vật Vi Tiểu Bảo, Kim Dung còn để ý đến gốc gác của Vi bằng cách cho bà mẹ Vi tiết lộ với Vi  thật ra bà không biết cha y là ai. Bởi bà có đủ thứ khách tại kỹ viện: Hán, Mông, Tạng, Mãn, v.v. chỉ trừ người Tây dương mà thôi! Với mục đích gì? Có lẽ cho Bảo có gốc gác về huyết thống mù mờ Bảo có thêm một lý do khác để hợp tác với người Mãn Thanh. Y có thể nói cha tôi có lẽ là người Mãn. Ðể ý Kim Dung còn bảo hiểm và tránh tiếng cho Vi Tiểu Bảo  bằng cách cho Vi sống trên một hòn đảo với bảy người vợ trong suốt những năm vua Khang Hy đem quân dẹp hết các nhóm phản Thanh phục Minh. Ðể Vi Tiểu Bảo hoàn toàn không bị mang tiếng Hán gian. Thật ra Kim Dung chỉ muốn Vi Tiểu Bảo được an toàn trên hệ thống xa lộ của giá trị cổ truyền, không phải đơn thuần vì lí do nhượng bộ (giả). Nhưng có lẽ bởi những thông điệp chính cần được chải chuốt đến mức tối đa, không thể bị cọ xát bởi ảnh hưởng của lý lịch.

Khi bật mí lí lịch có vẻ hợp chủng của Vi Tiểu Bảo về huyết thống của người Cha phải chăng Kim Dung lại đưa thêm một hai thông điệp nữa. Ðó là, người Tàu thật ra cũng đã là một thứ hợp chủng như người nước Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ rồi. Về huyết thống nó đã có đầy những cái hay, không thiếu chi “chất xám”. Chỉ cần dung hoà thêm về quan niệm và chủ nghĩa cá nhân của Tây phương nơi khối óc. Khối óc nhỏ bé của Vi Tiểu Bảo. Thông điệp đó cũng khơi lên “giấc mộng Mỹ” nơi đó nếu có cố gắng, giấc mơ nào cũng thực hiện được. Một người nửa Hán nửa tạp chủng như Vi có thể hiện thực được giấc mơ của mình giữa triều đại quân chủ phong kiến của người rợ Ðông Di, thì triều đại đó phải là một thứ triều đại số dách rồi.

Mâu thuẫn của một người Hán, hay nửa Hán nửa gì đó, phục vụ cho một triều đại ngoại chủng còn được Kim Dung giải hoá thật hay qua chồng hồ sơ lí lịch khác của Vi Tiểu Bảo. Ðó là chồng hồ sơ một chuyên gia hay một nhà chuyên nghiệp. Chuyên gia là gì và tại sao Vi Tiểu Bảo hội đủ lí lịch đó. Một nhà chuyên nghiệp, hay chuyên gia, theo ý nghĩa “pro” thông thường của Tây phương là một người xử dụng kỹ năng của mình để kiếm sống và không để ý đến căn cước hay lí lịch của khách hàng, hay người mình phục vụ. Một bác sĩ y khoa vẫn phải chăm sóc sức khoẻ cho một bệnh nhân có thành tích ăn cướp giết người. Một chuyên viên giải phẫu khi phải lắp nối lại một “thằng nhỏ” bị cắt không bao giờ hỏi người bị cắt đó có phải là một tội nhân chuyên hiếp dâm hàng loạt hay không. Nguời luật sư luôn luôn phải bênh vực thân chủ mình dù người đó có bị cáo  về tội khủng bố, ăn cướp, giết người. Hay một nhà độc tài vừa bị bắt hay truất phế. Ý niệm “nhà chuyên nghiệp” ngày nay đã lan tràn qua rất nhiều lãnh vực, nhiều ngành nghề và vượt khỏi biên giới, tinh thần quốc gia. Và hình như chỉ còn bị giới hạn ở những lãnh vực “chuyên nghiệp” liên quan đến quốc phòng mà thôi. Người ta thấy những giáo sư đại học, những khoa học gia, những tài tử và đạo diễn như Antonio Banderas, Catherine Zeta-Jones, Nicole Kidman, Penelope Cruz, Ang Lee, John Woo, Chou Yun Fat, v.v. – những nhà chuyên nghiệp với niềm hãnh diện của các quốc gia sản xuất ra họ – chẳng mấy chốc đều trở thành Mỹ kiều hết ráo. Các nhà thể thao nổi tiếng, nhất là các ngôi sao về tennis, về bóng rổ – như Martina Navratilova, Yao Ming – thường xin nhận nước Mỹ làm quê hương. Kim Dung cho Vi Tiểu Bảo là một nhà chuyên nghiệp. Dù đó, một chuyên gia chợ trời. Ở chỗ Vi Tiểu Bảo là con của một người đàn bà mang nghiệp chuyên gia xưa cũ nhất lịch sử nhân loại. Con vua thì được làm vua – con người kỹ nữ phải là thằng điếm chuyên nghiệp. Bởi Vi Tiểu Bảo một nhà chuyên nghiệp, y có thể xuyên qua hết những bức thành trì kiên cố của giá trị cổ truyền. Y muốn phục vụ ai thì phục vụ. Không cần để ý tới khách hàng hoặc người y phục vụ. Miễn y không làm suy giảm tìềm năng, tài nguyên, tài sản của đất nước và làm phương hại đến nhân dân. Vi Tiểu Bảo đã thoả mãn những yêu cầu đó và lại còn vinh danh được vai trò của chuyên gia.

Ở sự ví von chuyên gia này, ta thấy tầm nhìn của Kim Dung vào năm 1972 đã phóng thật xa. Bởi vào đầu thế kỷ 21, ngay những người được xem là “anh hùng” dân tộc như Russell Coutts và Brad Butterworth của Tân Tây Lan trong cuộc đua thuyền America’s Cup, vào năm 2003 đã bỏ Tân Tây Lan nhảy sang làm việc cho thuyền đoàn của Thụy Sĩ, chỉ bởi Thụy Sĩ trả lương họ gấp đôi lương kiếm được tại Tân Tây Lan.

Thay lời Kết

Người dịch Cao Tự Thanh hiện nổi tiếng như cồn tại Việt Nam. Bản dịch của Cao có rất nhiều chú thích giúp người đọc am tường vấn đề hơn. Những chú thích đó thường cho biết chi tiết nào có vẻ hư cấu chi tiết nào đúng với lịch sử. Hành văn cũng rất dễ đọc. Duy có điểm, một số các từ và thành ngữ, chơi chữ phải giữ nguyên tiếng Hán mới tôn trọng được tính chất . . . kiếm hiệp của Kim Dung. Nhiều lối chơi chữ chính dịch giả phải thú nhận bó tay trong phần ghi chú. Một sơ sót rất nhỏ, tác giả dịch thẳng theo tiếng và âm Tàu Russia thành La Sát. Người đọc dễ thấy chới với không ít bởi không biết La Sát là nước nào mà to lớn dữ vậy. Ðến xong vài quyển rồi mới có một ghi chú nhỏ nói đó chính là nước Nga. Âm R không có trong tiếng Hán và tiếng Nôm khi xưa, và vẫn không có trong tiếng Quảng Ðông cho đến ngày nay. R đọc thành L. Russia Tàu phiên âm thành La Sát.

Nếu hỏi trong mười mấy bộ tiểu thuyết, Kim Dung đã dồn hết mười thành công lực vào bộ tiểu thuyết nào để nhằm đưa ông lên tột đỉnh của sự nghiệp. Câu trả lời chắc chắn là bộ Lộc Ðỉnh Ký.

Lý do dễ hiểu. Lộc Ðỉnh Ký không phải đơn thuần là một tiểu thuyết võ hiệp. Như người dịch Cao Tự Thanh đã viết, nhân vật chính không biết ‘võ’ mà cũng chẳng ‘hiệp’ gì. Lộc Ðỉnh Ký có lẽ là một tổng hợp lớn của đề luận về ước mơ của tuổi trẻ, của con người thời tao loạn, của tâm lý phái nữ, dục vọng con người, của chính trị, tranh chấp chủng tộc và văn hoá, của chiến tranh và bang giao quốc tế, của những ám ảnh về “tiểu bảo” tức thằng nhỏ, về sex, về vấn đề tranh sống hoặc tìm chỗ đứng trong xã hội, trong lịch sử của con người. Của chuyện lớn, triều đình – chính trị, được vận hành thành công bởi con người nhỏ, nhỏ tuổi (Tiểu Bảo và Khang Hy). Của chuyện nhỏ (thằng nhỏ) xít ra chuyện lớn (Cắt thằng nhỏ Ngô Ứng Hùng đưa đến chuyện Ngô Tam Quế làm phản một lần nữa / Vi Tiểu Bảo, người nhỏ, ăn nằm và nên duyên vợ chồng với những người đàn bà chức lớn, lớn tuổi / Từ cuộc tình nhỏ của Sophia và Bảo đến bang giao hai nước Nga-Hoa).

Lộc Ðỉnh Ký còn đưa ra một luận đề chính nữa, theo lý giải bút hiệu Kim Dung của chính tác giả, nhằm dung hoà hệ thống giá trị cổ truyền của Trung Hoa với những gì hay ho, hiện đại của phương Tây. Chính sự dung hoà Ðông và Tây này  có thể tác động cho việc mưu cầu tự do và hạnh phúc cuộc đời. Thế, Kim Dung có đặt câu hỏi dân chủ có phải một yếu tố hàng đầu trong mưu cầu tự do hạnh phúc hay không? Có lẽ, không và cũng có lẽ, có. Không, ở chỗ nhiều cuộc hội họp và hội nghị toàn quốc giữa các phe chống Thanh thường không đi đến kết quả nào, theo với đa số. Họ chỉ đồng ý nhau trên căn bản kiếm hiệp giang hồ. Và chủ ai nấy giữ. Trung thành mù quáng, không cần biết chủ mình có thật tài, có đức hay không. Phe nào trừ được gian tặc Ngô Tam Quế trước, phe đó sẽ được làm minh chủ. Không, cũng ở chỗ Khang Hy thường quyết định về chuyện quốc gia đại sự một mình. Không có quốc hội gì hết. Và những quyết định của Khang Hy thường rất tốt, rất . . . minh quân. Có, có chút đỉnh, ở chỗ trong nhiều trường hợp, Khang Hy ưa hỏi ý kiến của Vi Tiểu Bảo. Hỏi ý kiến của một người tiêu biểu thuộc Hán tộc, thuộc dân bị trị. Xuất thân từ chốn bần cùng.

(Nói đến dân chủ, những người mê đọc truyện Tàu thuộc các thế hệ trước thời Kim Dung đều có thể nhớ đến truyện Phong Thần của Hứa Trọng Lâm, viết vào thời Minh. Phong Thần thuật chuyện nổi dậy của vua nước Châu chống lại nhà Thương. Mỗi bên được những đạo sĩ, những võ tướng thần thông cái thế thuộc hai phe đối nghịch nhau phò tá: Xiển giáo và Triệt giáo. Qua những chiến trận phù phép giữa hai bên, các đạo sĩ, võ tướng đều tử trận. Họ trở về cõi Trời và được phong thánh phong thần. Rồi cùng nhau “làm việc” cho Ngọc Hoàng Thượng đế. Cả hai phe đối nghịch nhau cùng làm việc cho một đấng chí tôn – chính là một ý niệm cơ bản của dân chủ theo kiểu Westminster của Anh quốc, hay kiểu nước Nhật ngày nay. Hưá Trọng Lâm có vẻ đã mơ hồ nhận thức được ý niệm này qua pho truyện Phong Thần, vào khoảng thế kỷ 16.)

Ở một góc cạnh nào đó, ta có thể thấy Lộc Ðỉnh Ký mang ít nhiều luận đề của Hồng Lâu Mộng và AQ. Nhưng những luận đề đó được viết ngược lại. Viết theo cái nhìn của Kim Dung về các vấn đề nhân sinh và mâu thuẫn giữa những hệ thống giá trị của xã hội. Viết theo một chiều hướng hiện đại và một bối cảnh rộng lớn, quốc tế hơn. Lồng trong những đường gươm lưỡi kiếm và súng đạn. Hồng Lâu Mộng cho một gia đình từ giàu sang đến suy sụp. Lộc Ðỉnh Ký cho một người từ chốn thấp hèn leo đến địa vị giàu sang phú quý. Hồng Lâu Mộng cho người giàu sang giao lạc với mọi a-hoàn trong nhà. Lộc Ðỉnh Ký ngược lại cho một người nghèo hèn đi ngủ với các công chúa, các mỹ nhân của thời đại. Hồng Lâu Mộng và AQ cho nhân vật chính đi trốn nợ đời ở chốn Phật, hay lên đoạn đầu đài để đi về bên kia thế giới. Lộc Ðỉnh Ký cho vai chính hưởng được cuộc đời hạnh phúc ẩn danh trong cõi trần gian.

Xin ghi lại lời của chính Kim Dung (ngày 22 tháng 6, 1981) đăng trong trang cuối bản dịch của Cao Tự Thanh: “Lúc gặp các độc giả gặp nhau lần đầu, câu hỏi mà tôi thường gặp nhất là ‘Ông thích bộ tiểu thuyết nào của mình nhất?’. Câu hỏi này rất khó trả lời, nên tôi thường không trả lời. Còn nếu bàn về ‘mình thích’, thì tôi thích mấy bộ có tình cảm mãnh liệt hơn như ‘Thần Ðiêu Hiệp Lữ, Ỷ thiên Ðồ long Ký, Phi hồ ngoại truyện, Tiếu ngạo giang hồ. Lại thường có người hỏi ‘Theo ông bộ tiểu thuyết nào của mình là hay nhất?’, thì bộ Lộc Ðỉnh Ký này là hay nhất. Có điều rất nhiều độc giả hoàn toàn không đồng ý. Tôi rất thích sự không đồng ý của họ.”

Trong quyển “Thú Xem Truyện Tàu” [7] Vương Hồng Sển đã viết:

“Như chúng ta đều biết, một tác phẩm văn nghệ muốn trở nên bất hủ, chẳng những phải cống hiến cho loài người những thành thực về phương diện nghệ thuật mà còn phải có tác dụng nhứt định đối với cuộc sống. Nghệ thuật chơn chính phải giúp cho nhơn loại về mặt xã hội và tinh thần để giành lấy được tự do và bình đẳng. Nghệ thuật không gây ảnh hưởng trực tiếp đối với đời sống như chánh trị, triết học, nhưng nhứt định sẽ có ảnh hưởng gián tiếp bằng cách thông qua những lý tưởng và hành động của những nhơn vật điển hình mà nó đã tạo ra trong tác phẩm.

Vì thế, nghệ thuật tuyệt vời là phải tổng hợp và thể hiện cho được cái thiện chân thiện mỹ đó làm cơ sở, hơn thế nữa, làm mục tiêu cao nhất mà nghệ thuật mình phải đạt tới.”

Với Lộc Ðỉnh Ký, Kim Dung đã đạt đến nghệ thuật tuyệt vời đó.

Sydney, đầu mùa đông 2003.
N.N.

Ghi Chú

[1] Bernard Lee qua đời vào năm 1979 sau khi đóng vai xếp M trong 11 phim James Bond. Vai M sau đó được giao cho Robert Brown và Edward Fox, rồi đến tài tử  nữ Judi Dench.
[2] Desmond Llewelyn đóng vai Q suốt 37 năm, tử nạn xe cộ vào năm 1999 và John Cleese thay thế.
[3] Nguyễn Hiến Lê (1997) Sử Trung Quốc. nxb Văn Hoá.
[4] Một nhóm Thiên Ðịa Hội di tản sang Việt Nam và lâu ngày hội nhập vào xã hội Việt, mang chiêu bài chống thực dân Pháp. Phan Xích Long, một người tự xưng con cháu vua Hàm Nghi, gây được ủng hộ của Thiên Ðịa Hội tức Nghĩa Hoà Ðoàn, nổi dậy chống Pháp tại Sàigòn vào năm 1913. Cuộc nổi dậy bị quân Pháp nhanh chóng dập tắt.
[5] Xin xem “Thử Ðọc Lại Kim Dung I (Ngũ Hành) & III (Tiếu Ngạo Giang Hồ)” – trong những số báo trước. Hoặc ở www. Vietkiem.com hay www. Nhanmonquan.com hay www. Talawas.org ;  www. Vietnamdaily.com.
[6] Trước Kim Dung, phim ảnh cũng đã thử sơ sơ áp dụng xen 1 của Hitchcock vào phái Nam: Phim James Bond – Goldfinger. Cảnh James Bond bị Goldfinger bắt trói nằm trên một tấm bàn (thành tố: không cục cựa và trốn chạy được). Sau đó cho tia laser rà vào giữa hai chân (thành tố: không phòng bị bởi lúc đó ít ai biết tia laser ra sao). Và đưa tia laser rà về phía thằng nhỏ của James Bond (thành tố: không có gì che chở – bởi có mặc quần áo giáp tia laser vẫn xuyên qua như thường).
[7] Vương Hồng Sển (1970) Thú Xem truyện Tàu. Xuân Thu (Los Alamitos CA) tái bản 1989.
[8] Mai Kim Ngọc (1987) Tập Truyện Lỗ Tấn. Nhà xuất bản Văn Khoa (Calif.).
[9] Ðỗ Quang Vinh (2003) Bút Thuật của Nguyễn Du trong Ðoạn Trường Tân Thanh. Tác giả xuất bản. www. Geocities.com/doquangvinhvenguon.
[10] Trong phim mới Simone do Al Pacino thủ vai một nhà đạo diễn xuống dốc. Tình cờ một người bạn thân trước khi chết cho nhà đạo diễn một chương trình điện toán có thể quay phim một người tài tử, không có thật, sáng tạo bởi máy điện toán. Nữ tài tử ảo này mang tên Simone trở nên nổi tiếng khắp thế giới nhưng không ai có thể biết, gặp và thấy được, bởi Simone một người ảo chỉ xuất hiện được trên TiVi hay phim nhựa mà thôi. Cuối phim – Hollywood đưa ra một châm biếm mới về chính trị gia trong cuộc phỏng vấn trên TiVi với “minh tinh” Simone. Simone tiết lộ “nàng” đang chán ngán nghề diễn xuất và đang chuẩn bị đổi nghề. Nàng muốn nhảy ra . . . chính trường, và có thể có ngày sẽ ứng cử tổng thống.
[11] Ðiển hình là phim loạt: “Người hiệp sĩ đạo và đứa bé trong chiếc xe đẩy”


Thử đọc lại Kim Dung phần 3 – Tiếu Ngạo Giang Hồ

Thử đọc lại Kim Dung phần 3 – Tiếu Ngạo Giang Hồ


Nguyên Nguyên

Sau khi viết xong ‘Thử Đọc lại Kim Dung II: Nguồn Việt và Kim Dung’, người viết cảm thấy nhàm nên định gác bút, hay ít ra cũng tạm giả từ đề tài về truyện chưởng với Kim Dung. Nhiều bạn hữu –  đa số trên 30 năm không gặp lại nhau –  vội biên điện thư email đến tại hạ khuyến khích viết thêm về Kim Dung. Một ông bạn ở Montréal (Canada) đã gởi tặng lược đồ về Ngũ Hành, kèm trong bài này, và nhắn nhủ trong thư nếu viết về Kim Dung có viết đến hằng chục bài cũng không hết, nhất là những đề tài liên quan đến tình yêu, đến nhân sinh quan, đến những tình tiết éo le, v.v.  dại gì mà ngưng viết. Cứ viết tiếp đi, ít ra ngoài người kiểm duyệt trong nhà còn có 1 độc giả trung thành là ông bạn đó. Sự thật, thuở tuổi học trò tại hạ chỉ được đọc vài truyện chính yếu và nòng cốt của Kim Dung thôi. Tuyệt đối ngày trước chưa có cơ hội đọc Tuyết Sơn Phi Hồ, Tiếu Ngạo Giang Hồ và Lộc Đỉnh Ký. Tiếu Ngạo Giang Hồ ấn bản do Hàn Giang Nhạn dịch thuật, được dịp đọc lần đầu tiên cách đây chừng 5 năm, rồi sau đó xem luôn phim tập HongKong. Riêng Lộc Đỉnh Ký, mặc dù nghe giới giang hồ đồn rằng rất hay và được biết truyện hiện được đăng trên một vài mạng ở internet như come.to/KimDung hoặc come.to/lunxit nhưng tại hạ không đủ sức bỏ giờ này qua giờ kia để ngồi đọc truyện này trên khung hình computer, nên đành phải hẹn lần hẹn hồi. Âu đó cũng là một cái hẹn cho một dịp nào đó của tương lai.

Bẵng đi cũng gần 12 tháng. Gần đây một người bà con ở Việt Nam gởi người thân đem sang một bộ truyện Tiếu Ngạo Giang Hồ ấn bản mới nhất do Vũ Đức Sao Biển, Trần Hải Linh và Lê Thị Anh Đào chuyển ngữ, nhà xuất bản Văn Học, trọn bộ 8 quyển, phát hành vào năm 2001. Ấn bản mới này có sự đồng tình cho phép đàng hoàng của Kim Dung (tức Louis Cha hay Tra Lương Dung), và dựa vào bản nhuận sắc sau này của Kim Dung với nhiều sửa chữa và thay đổi.  Theo lời người bà con đó qua điện thư, Sàigòn lại đang trải qua cơn ghiền Kim Dung như 35 năm về trước và nhắn với tại hạ nên nhín chút ít thì giờ đọc qua cho biết.

Điểm đáng để ý trước tiên, trong vòng mười, hai mươi  năm trở lại đây, một loạt các dịch giả mới bắt đầu xuất hiện trên chốn giang hồ. Đa số các cao thủ dịch thuật này, thường xuất thân từ các trường đại học Văn Khoa ban Hán Văn, mang chủ yếu rõ rệt  xử dụng lối hành văn mới mẻ với nhiều tính chất Việt ngữ hơn. Một số kế nghiệp các bậc tiền bối như Nguyễn Chánh Sắt, Tô Chẩn, v.v.  thay phiên nhau dịch lại các pho truyện cổ điển như Hồng Lâu Mộng, Tam Quốc Chí, Thủy Hử, v.v. và một số khác theo chân những cao thủ năm xưa như Từ Khánh Phụng, Hàn Giang Nhạn, chuyển ngữ lại các truyện chưởng của Kim Dung. Trên các mạng internet và các báo ở hải ngoại có Nguyễn Duy Chính hiện đã chuyển ngữ Ỷ Thiên Đồ Long Ký, Thần Điêu Hiệp Lữ, Thiên Long Bát Bộ, v.v. và tại Việt Nam đứng đầu phải kể đến Vũ Đức Sao Biển người đã hết sức ca tụng Kim Dung qua 3 quyển mang tựa ‘ Kim Dung giữa đời Tôi ‘, xuất bản vào những năm cuối thập kỷ 90 vừa qua. Thế rồi vô hình chung tại hạ bắt đầu đọc lại Tiếu Ngạo Giang Hồ ấn bản mới nhất do ê-kíp Vũ Đức Sao Biển chuyển ngữ. Và trong lúc đọc lại Kim Dung kỳ này, tình cờ lại khám phá thêm một vài bí-kíp ngồ ngộ hay hay của Kim Dung nên đành phải phá lệ cố gắng viết thêm bài này.

Theo Vũ Đức Sao Biển, Tiếu Ngạo Giang Hồ là tác phẩm độc đáo nhất của Kim Dung bởi nó ‘lặng lẽ dắt người đọc đi vào cuộc hành trình tìm về những suối nguồn tư tưởng của phương Đông khi lên cao chín ngàn dặm, nương mây cỡi gió mà bay như Trang Tử đã viết trong Nam Hoa Kinh. Tiếu Ngạo Giang Hồ có cái u uẩn, trầm mặc đầy suy niệm của những ngôi chùa, những đạo quan, những rừng tùng bách, bóng trăng sáng trên Trường Giang, cơn mưa tuyết mùa Đông trên Ngọc Nữ phong. Xuyên suốt tác phẩm là tiếng đàn, tiếng sáo của khúc Tiếu Ngạo Giang Hồ, tiếng ca buồn của Mạc Đại tiên sinh trong khúc Tiêu Tương dạ vũ….
… Hai trong ba nguồn tư tưởng triết học lớn của phương Đông –  Phật giáo và Lão giáo  –  đã được Kim Dung hình tượng hoá và cụ thể hoá qua những hình tượng văn học. Phương Chứng đại sư của chùa Thiếu Lâm là con người tiêu biểu của tư duy Thiền Tông Phật giáo. Với một căn bản võ công trác tuyệt, một cái tâm từ bi, nhà sư gần như đã góp phần hoá giải những hận thù, chia rẽ, sân si. Định Nhàn, Định Dật của phái Hằng Sơn là một dạng Phật giáo khác, một Phật giáo nhập thể và nhập thế….
… Nhưng điểm đặc sắc nhất vẫn là tư duy Lão-Trang qua đường Độc Cô cửu kiếm. Phong Thanh Dương đã dạy cho Lệnh Hồ Xung dĩ vô chiêu thắng hữu chiêu….’

Tiếu Ngạo Giang Hồ (TNGH) là tên của một nhạc khúc viết cho đàn thất huyền cầm và sáo. Hai tác giả của bản nhạc khúc bất hủ này lại là hai cao thủ của hai kiếm phái đối nghịch với nhau: Lưu Chính Phong thuộc Ngũ Nhạc kiếm phái (một nghiệp đoàn liên minh năm kiếm phái: Hằng Sơn, Hoa Sơn, Tung Sơn, Thái Sơn và Hành Sơn) và Khúc Dương thuộc phe Ma Giáo. Việc kết giao bằng hữu giữa hai người bị cả hai phe lên án và cuối cùng Lưu và Khúc bị bức tử. Trước khi chết hai vị cao thủ này trân trọng gửi gấm quyển nhạc khúc này lại cho anh chàng lãng tử mê nhậu nhẹt Lệnh Hồ Xung, đệ tử thứ nhất của Nhạc Bất Quần chưởng môn phái Hoa Sơn. Truyện TNGH bắt đầu với việc Nhạc Bất Quần sai con gái mình Nhạc Linh San và đệ tử thứ hai Lao Đức Nặc đến miền Phúc Châu tỉnh Phúc Kiến để dò la tin tức của phái Thanh Thành do Dư Thanh Hải lãnh đạo xuống đánh phá Phước Oai Tiêu Cục để chiếm quyển kiếm pháp độc nhất vô nhị mang tên Tịch Tà Kiếm Phổ. Phe Hoa Sơn đến trễ nên bọn Thanh Thành đã làm tiêu tan Phước Oai Tiêu Cục. Điểm kinh ngạc đầu tiên, Lâm Chấn Nam hậu bối của chủ nhân Tịch Tà kiếm phổ lại không thông thạo mấy về Tịch Tà kiếm nên ông và phu nhân bị thảm sát bởi phe Thanh Thành. Nhưng chưa phe nào lấy được Tịch Tà kiếm phổ bởi nó được dấu kín ở một ngôi nhà tự của họ Lâm ở Phúc Kiến. Trước khi chết Lâm Chấn Nam trối trăn với chàng lãng tử nghĩa hiệp Lệnh Hồ Xung về chỗ cất dấu quyển kiếm phổ đó và nhờ Lệnh Hồ Xung nói lại với con trai Lâm Bình Chi rằng nên lấy giữ quyển kiếm phổ đó nhưng đừng bao giờ luyện tập bởi nó rất nguy hiểm. Trước đó Lệnh Hồ Xung đã bị thương nặng sau khi liều thân đánh với một tên dâm tặc Điền Bá Quang để cứu ni cô Nghi Lâm thuộc kiếm phái Hằng Sơn. Nhạc Bất Quần (biệt hiệu Quân Tử Kiếm) gặp lại đệ tử Lệnh Hồ Xung rồi thu nhận Lâm Bình Chi làm đệ tử.

Trở về núi Hoa Sơn, Nhạc Bất Quần bắt lỗi Lệnh Hồ Xung đã vi phạm một vài giới cấm của phái võ của mình –  trong đó có việc dẫn ni cô Nghi Lâm vào động làng chơi ôm ấp nàng Nghi Lâm để trốn tránh Điền Bá Quang và các phe phái khác đang truy tầm –  nên phạt chàng lên núi gần đó quay mặt vào vách thạch động để sám hối trong vòng 1 năm. Lệnh Hồ Xung tuân lệnh lên núi, và ngày ngày có Nhạc Linh San hoặc một đệ tử khác mang giỏ chứa đồ ăn đến cho. Lệnh Hồ Xung có cảm tình nồng thắm với Nhạc Linh San và ngược lại Linh San cũng thương Hồ Xung. Tuy nhiên Linh San có một đàn em mới thường tập kiếm với nhau là Lâm Bình Chi nên càng ngày càng ít mang đồ ăn lên cho Lệnh Hồ Xung. Ở trên núi Lệnh Hồ Xung tình cờ khám phá ra một thạch động hoang phế lâu năm trên vách có ghi khắc tất cả những loại kiếm pháp của năm kiếm phái thuộc hội đoàn Ngũ Nhạc, và những chiêu hoá giải. Bởi nơi đây đã từng chứng kiến một trận đấu sát phạt kinh hồn giữa các cao thủ của năm kiếm phái đó với những kiếm khách thuộc Ma Giáo. Cũng trong thời gian ở trên núi Lệnh Hồ Xung may mắn gặp được lão tiền bối Phong Thanh Dương tuyệt tích giang hồ đã nhiều năm. Phong Thanh Dương chính là sư thúc (vai chú) của Nhạc Bất Quần, thầy của Lệnh Hồ Xung. Năm xưa phái Hoa Sơn đã bị phân hoá do sự tranh chấp giữa hai phe Kiếm Tông và Khí Tông. Nhạc Bất Quần thuộc Khí tông và sư thúc Phong Thanh Dương thuộc Kiếm tông. Cảm mến Lệnh Hồ Xung, Phong Thanh Dương đem hết Độc Cô cửu kiếm ra truyền lại cho chàng. Độc Cô cửu kiếm là tác phẩm của người kiếm khách vô địch thời xa xưa không bao giờ bị bại, mang biệt danh Độc Cô Cầu Bại.

Ở trên núi được vài tháng Lệnh Hồ Xung phải trở về giảng đường để hỗ trợ sư phụ Bất Quần do ở lệnh từ trung ương đòi cách chức chưởng môn Nhạc Bất Quần. Trung ương ở đây là chưởng môn phái Tung Sơn Tả Lãnh Thiền –  ‘chủ tịch’ của hội đoàn Ngũ Nhạc Kiếm Phái –  một người có nhiều tham vọng triệt tiêu hết bốn phe kiếm phái kia  và thống nhất tất cả lại thành một phái duy nhất để ông làm Chưởng Môn. Nhạc Bất Quần thấy tình hình không ổn nên dẫn hết đồ đệ đi lưu vong, dọ thám tình hình, và nhất là lên Tung Sơn để hỏi Tả Lãnh Thiền cho ra lẽ. Dọc đường Lệnh Hồ Xung bị nội thương rất nặng không còn sống sót bao lâu. Tình cờ chàng gặp một thiếu nữ diễm kiều Nhậm Doanh Doanh con gái  giáo chủ bị đảo chánh của Ma giáo Nhậm Ngã Hành. Lúc gặp Hồ Xung, Doanh Doanh đang lén bỏ Ma Giáo đi tham quan giang hồ cho vui nên hoá trang thành một lão bà. Doanh Doanh lại đàn rất hay. Tình sư đệ giữa Hồ Xung và Bất Quần trong khi đó căng thẳng trầm trọng bởi Bất Quần nghi Hồ Xung học thêm kiếm pháp ở đâu đó và cũng đã ăn cắp quyển sách luyện nội công bí kíp của ông. Thành ra rốt cuộc Hồ Xung bị lạc ra khỏi phái đoàn của Nhạc Bất Quần. Sau đó Hồ Xung gặp lại Doanh Doanh. Hai người lưu lạc với nhau rồi Hồ Xung bệnh nặng ngã ra bất tỉnh. Doanh Doanh cõng Hồ Xung lên núi Thiếu Lâm giao mạng mình cho Phương Chứng đại sư giam giữ. Để đổi lại, Phương Chứng sẽ dùng Dịch Cân Kinh của Thiếu Lâm trị bệnh cho Hồ Xung. Khi tỉnh dậy Hồ Xung không biết việc Doanh Doanh trao đổi mạng cứu mình nên từ  chối sự giúp đỡ của Phương Chứng viện lẽ mình là cao đồ của phái Hoa Sơn nên thà chết chứ không thể trở thành đệ tử Thiếu Lâm nhận truyền thụ Dịch Cân Kinh. Lệnh Hồ Xung lại khảng khái ra đi và dọc đường  dùng Độc Cô cửu kiếm cứu được một trong những nhà lãnh đạo thuộc phe bị đảo chánh của Ma Giáo Hướng Vân Thiên. Hướng Vân Thiên biết Hồ Xung là tay kiếm khách vô địch mới gài cho Hồ Xung đến Hàng Châu giải cứu cho giáo chủ bị đảo chánh Nhậm Ngã Hành bị giam trong lòng đất dưới Tây Hồ. Trong lúc cứu Nhậm Ngã Hành, Lệnh Hồ Xung vô tình học được một phần Hấp Tinh đại pháp của Nhậm Ngã Hành nên tạm thời khỏi bệnh và thu hồi được nội lực. Nhậm Ngã Hành sau khi thoát nạn ngỏ ý mời Lệnh Hồ Xung gia nhập Ma giáo và nếu chàng ưng thuận lão sẽ chỉ hết Hấp Tinh đại pháp, chứ nếu không phần chàng học được sẽ gây biến chứng tai hại về sau. Lệnh Hồ Xung từ chối bỏ đi rồi sau lại thống lãnh quần hùng lên Thiếu Lâm tự cứu giải Nhậm Doanh Doanh. Trong thời gian đó phái Hằng Sơn của những nữ sư Định Dật, Định Nhàn bị phái Tung Sơn triệt hạ mãnh liệt –  và cuối cùng Hồ Xung khám phá ra hai vị sư phụ này bị một cao thủ nào đó đánh cho tử vong trong cách rất kỳ bí. Trước khi chết hai vị ni cô này yêu cầu Lệnh Hồ Xung làm chưởng môn phái Hằng Sơn và tìm cách trả thù cho họ.

Hồ Xung không biết rằng chính sư phụ Nhạc Bất Quần đã dùng những loại võ công lão học được từ Tịch Tà kiếm phổ của dòng họ Lâm ở Phúc Kiến để giết đi hai ni cô của phái Hằng Sơn, tỉa bớt một kiếm phái lợi hại. Chính Bất Quần đã ăn cắp được Tịch Tà kiếm phổ nhưng mọi người, nhất là Lâm Bình Chi, đều nghi ngờ Lệnh Hồ Xung đã giữ quyển Tịch Tà kiếm phổ. Tịch Tà kiếm có thể nói là một loại kiếm pháp thần sầu quỷ khốc nhất nhì thiên hạ nhưng người xử dụng nó phải tự thiến đi bộ phận sinh dục của mình để dần dà, theo Kim Dung, trở thành ái nam ái nữ (gay hoặc transvestite). Một bản khác của Tịch Tà kiếm phổ đã lọt vào tay Đông Phương Bất Bại thường được xem đệ nhất cao thủ, người đã đảo chánh lật đổ Nhậm Ngã Hành trước đây 10 năm để lên ngôi giáo chủ Ma Giáo. Lâm Bình Chi về sau cũng ăn cắp được bản chính của Tịch Tà từ Nhạc Bất Quần và cũng phải tự thiến mình để luyện tập hầu trả được mối thù cho song thân. Khác với Lệnh Hồ Xung, Lâm Bình Chi sớm thấy được bộ mặt ngụy quân tử của Nhạc Bất Quần nên sợ lão biết mình cũng thiến như lão, phải giả vờ mình còn gin và cưới Nhạc Linh San để che mắt thiên hạ. Bất Quần trong khi đó chép ra một bản giả bày mưu tìm cách cho lọt vào tay lãnh tụ Tung Sơn Tả Lãnh Thiền để lão này học sai đường bước của kiếm pháp, nhằm lọt vào tròng của Bất Quần.

Lệnh Hồ Xung gặp lại Doanh Doanh rồi cùng Nhậm Ngã Hành, Hướng Vân Thiên lên bản doanh của Ma Giáo hợp sức lại giết được giáo chủ Pê Đê  Đông Phương Bất Bại, người có võ nghệ thần sầu quỷ khốc,  và phục hồi địa vị giáo chủ Ma giáo cho Nhậm Ngã Hành. Nhậm Ngã Hành lại mời Lệnh Hồ Xung gia nhập và làm phó thủ lãnh nhưng Lệnh lại khước từ, trở về Hằng Sơn. Sau đó không lâu Tả Lãnh Thiền tụ tập quần hùng tại Tung Sơn với đề nghị sát nhập hết năm kiếm phái của Ngũ Nhạc lại làm một và tôn lão làm chưởng môn. Nhạc Bất Quần gài được cái màn đấu kiếm với Tả Lãnh Thiền để tranh chức minh chủ của phái Ngũ Nhạc thống nhất. Tả Lãnh Thiền mặc dù kiếm pháp siêu phàm nhưng bị mắc hởm Nhạc Bất Quần đem Tịch Tà giả ra xử dụng nên cuối cùng bị Nhạc Bất Quần dùng Tịch Tà thứ thiệt và kim châm đâm mù hai con mắt. Nhạc Bất Quần lên ngôi Chưởng Môn Ngũ Nhạc thống nhất.

Tiếp đó Lâm Bình Chi tung ra Tịch Tà kiếm pháp gia truyền của dòng họ mình giết chết kẻ thù Dư Thanh Hải nhưng bị tai nạn mù hai con mắt. Sợ Nhạc Bất Quần phát hiện rằng mình cũng bị thiến như ai cho mục đích cao cả của Tịch Tà kiếm pháp, Bình Chi giết vợ Linh San trong vòng tay đầy nước mắt của Lệnh Hồ Xung rồi chạy sang hợp tác với Tả Lãnh Thiền. Sau đó Nhạc Bất Quần đụng độ với Lệnh Hồ Xung nhưng Kim Dung cho Tịch Tà Kiếm pháp vẫn phải thua Độc Cô cửu kiếm, và Bất Quần bị đại bại với đệ tử cũ của mình. Bình Chi cấu kết với Lãnh Thiền, hai hiệp sĩ mù bất đắc dĩ,  gài Bất Quần và Hồ Xung vào một động tối đen để hạ độc thủ nhưng Lãnh Thiền bị Hồ Xung giết và Bình Chi bị chặt tay chặt chân. Còn Bất Quần trong lúc sơ ý bị ni cô Nghi Lâm vô tình đâm vào lưng chết, vô hình chung trả thù được cho hai vị sư phụ Định Dật, Định Nhàn của phái Hằng Sơn.

Thu phục được ngôi vị giáo chủ Ma giáo, Nhậm Ngã Hành đe doạ sẽ thôn tính luôn Ngũ Nhạc thống nhất rồi tới Thiếu Lâm và Võ Đang. Trong lúc quần hùng chuẩn bị đối phó, Phương Chứng lên Hằng Sơn truyền Dịch Cân Kinh chữa bệnh hoàn tòan cho Lệnh Hồ Xung nói dối rằng cách này do Phong Thanh Dương chỉ cho đại sư nhờ đại sư truyền lại cho Hồ Xung. Cũng trong lúc căng thẳng đó, Nhậm Ngã Hành bị xuất huyết não cười ha hả rồi chết. Doanh Doanh để tang cha 3 năm rồi tái hợp với Hồ Xung dạy tiếp cho Hồ Xung cách thổi sáo để rồi cả hai cùng cỡi ngựa về phiá mặt trời lặn, kẻ khảy đàn người thổi sáo, hợp tấu nhạc khúc Tiếu Ngạo Giang Hồ.

Phải nhìn nhận Tiếu Ngạo Giang Hồ có nhiều tính tiết rất éo le, ly kỳ và sôi động. Cũng hơi khác thường so với nhiều truyện khác của Kim Dung, TNGH gần như hoàn toàn không có cấu trúc dùng bối cảnh lịch sử  theo kiểu chống Mông Cổ như Anh Hùng Xạ Điêu, Thần Điêu Hiệp Lữ, Ỷ Thiên Đồ Long Ký, v.v.  Trái lại, TNGH đã trở về với đường hướng của các tiểu thuyết kiếm hiệp thời tiền-KimDung (như Lã Mai Nương, Ngoạ Hổ Tàng Long) bằng cách đặt trọng tâm câu chuyện chung quanh hoạt động của các tiêu cục tức security guards nếu gọi nôm na theo kiểu bây giờ. Đó là câu chuyện của Tịch Tà Kiếm phổ, ngón kiếm pháp gia truyền dòng họ Lâm chủ nhân mấy đời của Phước Oai Tiêu Cục ở Phúc Kiến. Đề tài dựa vào sinh hoạt của các tiêu cục là bối cảnh chính yếu của trên khoảng 60% các truyện kiếm hiệp Tàu hoặc các phim kung-fu của Hongkong. Bối cảnh chính thứ hai để dựng nên truyện Tàu thường dựa vào tính cách dã sử, bài Mông chống Thanh, và liên quan ít nhiều đến Thiếu Lâm Tự, theo kiểu Càn Long hạ Giang Nam, hoặc Thiếu Lâm Trường Hận, . . .. Ta để ý thoạt đầu Kim Dung cũng tính tạo cho mình một đường hướng riêng trong Võ Lâm Ngũ Bá và Xạ Điêu Anh Hùng truyện, bằng cách không đá động gì đến Thiếu Lâm Tự. Kim Dung đã tiện tay tạo ra năm người có võ công tuyệt trác: Vương Trùng Dương, Hồng Thất Công, Âu Dương Phong, Đoàn Nam Đế và Hoàng Dược Sư. Năm người này hoàn toàn có những ngón võ độc lập, và tiêu biểu cho thế xung khắc của thuyết ngũ hành. Người này hạ được người kia, luân chuyển nhau trong một vòng tròn ngũ hành, để rồi rốt cuộc không ai có thể trở nên vô địch hết. Sang đến Ỷ Thiên Đồ Long ký, vì phải có chuyện quận chúa Mông Cổ Triệu Minh phải lòng giáo chủ Trương Vô Kỵ, Kim Dung bắt buộc phải gài Thiếu Lâm Tự, Võ Đang Tự trở vào câu chuyện mới ra vẻ lịch sử. Nào là hai phái Nga Mi và Võ Đang cũng có cội nguồn với Thiếu Lâm qua việc hai người sáng lập Quách Tường và Trương Tam Phong trong lúc chạy trốn sự tập nã của phe Thiếu Lâm đã lắng tai nghe trộm Cửu Dương Chân Kinh do nhà sư Giác Viễn trước khi lâm tịch đọc lại. Kết cuộc câu chuyện cũng xảy ra tại chùa Thiếu Lâm trong trận đấu kinh hồn giữa Trương Vô Kỵ cùng người tình năm xưa Chu Chỉ Nhược với ba vị Hoà Thượng của Chùa. Trở lại với chùa Thiếu Lâm, rồi trở lại với bối cảnh Tiêu Cục trong các truyện về sau, như trong TNGH, Kim Dung đã mặc nhiên thừa nhận rằng chính ông cũng không thể vượt ra khỏi khuôn khổ  một  truyền thống lâu đời của  loại tiểu thuyết Tàu đã mọc rễ lâu năm trong tâm thức người đọc. Theo truyền thống đó, các hoạt động tranh hùng xưng bá trong giới kiếm hiệp thường xảy ra chung quanh hành trình của các Tiêu Cục với dịch vụ chính yếu bảo đảm an ninh của việc chuyên chở hàng hoá từ miền này đến miền kia. Nói rộng hơn một chút, một nhà văn dù có tài năng siêu việt cách mấy đi nữa, rất khó tạo dựng nên một truyền thống mới hay biến đổi một cái gì đã trở thành truyền thống lâu đời.

So sánh với các truyện chưởng khác của Kim Dung, TNGH cũng có vẻ mang nhiều chất bạo động chém giết, và ‘violent’ hơn. Điển hình trong Anh Hùng Xạ Điêu ta thấy chỉ có 1 cái chết trong lúc đầu câu chuyện: cái chết của thân phụ của Quách Tỉnh bị bọn Hoàng Nhan Liệt thảm hại. Đến giữa chuyện cái chết của Trần Huyền Phong chồng của Mai Siêu Phong, rồi gần cuối truyện cái chết của 6 vị sư phụ của Quach Tỉnh thuộc nhóm Giang Nam thất quái do Âu Dương Phong gây ra nhưng cài cho mọi người tưởng lầm là do Hoàng Dược Sư, nhạc phụ tương lai của Quách Tỉnh. Nhưng cái chết của 6 vị sư phụ này không có mô tả mà chỉ được Quách Tỉnh phát hiện sau khi trở lại Đào Hoa đảo. Tuyệt nhiên nhân vật chính Quách Tỉnh, cũng như Trương Vô Kỵ trong Cô Gái Đồ Long,  không thấy chém giết ai hết.  TNGH lại khác, từ đầu đến cuối truyện độc giả thấy chém giết tưng bừng. Bắt đầu câu chuyện ta thấy Lâm Bình Chi đâm chết con trai cưng của Dư Thanh Hải chỉ vì người này chọc ghẹo Nhạc Linh San đang giả làm gái bán rượu. Kế đó bọn Dư Thanh Hải kéo xuống tàn sát cả Phước Oai Tiêu Cục của gia đình Lâm Chấn Nam (cha của Lâm Bình Chi). Xong rồi tại lễ từ giả giang hồ của Lüu Chính Phong, toàn thể gia đình này bị bọn Phí Bân thuộc phe Tung Sơn đến giết sạch trước sự chứng kiến của quần hùng. Chỉ vì Lưu Chính Phong kết bạn tâm giao tri kỷ với Khúc Dương thuộc phe Ma giáo bởi hai người say mê hoà tấu bản Tiếu Ngạo Giang Hồ với nhau. Màn bạo động nhất của TNGH có lẽ chuyện 6 anh em Đào Cốc Lục Tiên võ nghệ cao siêu chuyên môn nắm hai tay hai chân bất kỳ đối thủ nào và xé xác ra làm 4 mảnh. Ngay cả bà vợ của Nhạc Bất Quần cũng kinh hoàng vì suýt nữa cũng bị xé xác. Lệnh Hồ Xung mặc dù  là người hào hiệp đầy thiện tính cũng dùng mưu đâm chết một đệ tử của phái Thanh Thành ở đầu câu chuyện. Xong rồi anh ta đâm mù mắt chừng mười mấy người thuộc phái Tung Sơn. Chặt tay chặt chân Lâm Bình Chi chỉ do ở Linh San đã trối trăn xin đừng giết Bình Chi. Đâm luôn Tả Lãnh Thiền, mặc dù Lãnh Thiền đã bị mù, v.v. . Người yêu sau cùng của Hồ Xung là Doanh Doanh cũng vậy. Cô này lúc chưa hoàn thiện ai chọc giận cô ấy thì bị uống thuốc độc mỗi năm đúng ngày đúng tháng phải đến lạy lục cô ấy mới được thuốc giải. Nếu cô ta tức giận hơn nữa,  cô ra lệnh bảo người chọc cô phải tự xẻo tai xẻo mũi, người đó cũng phải làm. Khác hẵn với Hoàng Dung trong Anh Hùng Xạ Điêu hay ngay cả Triệu Minh quận chúa hoặc Chu Chỉ Nhược trong Cô Gái Đồ Long. Ta để ý một điểm khác biệt giữa Lệnh Hồ Xung với các nhân vật trước của Kim Dung như Quách Tỉnh, Trương Vô Kỵ, hoặc Dương Qua. Lệnh Hồ Xung có vẻ khôn ngoan lém lỉnh hơn mấy nhân vật kia nhiều. Tiếng Mỹ gọi Hồ Xung street-wise, tức khôn ở ngoài đường ngoài chợ, hay nôm na theo tiếng Việt, tiến sĩ chợ trời. Có phải vì nhân vật Hồ Xung có nhiều bản lĩnh chợ trời nên Kim Dung cho anh ta xem thường việc chém giết người khác hay chăng? Hoặc giả Kim Dung bắt đầu chạy theo mốt thời đại của phim ảnh Âu Mỹ lúc đó bắt đầu chuyển sang loại bạo động? Tuy nhiên những cảnh bạo động đó Kim Dung tả qua thật nhanh dễ làm người đọc không để ý đến.

một nhà văn dù có tài năng siêu việt cách mấy đi nữa, rất khó tạo dựng nên một truyền thống mới hay biến đổi một cái gì đã trở thành truyền thống lâu đời.

Đối với những người ghiền xem xinê thời thập niên 50, TNGH đã cho thấy ít nhiều ảnh hưởng của Alfred Hitchcock, ông vua làm phim kinh dị còn giữ nhiều dấu ấn trong phim ảnh cho đến ngày hôm nay. Một trong những đặc điểm chính của phim Hitchcock là cấu tạo một người dân bình thường rồi lôi kéo vai chính đó vào một vụ án mạng hay xì-căn-đan rùng rợn, đổ vào nhân vật đó một sự tình nghi của nhà chức trách. Từ đầu cho đến cuối phim do đó nhân vật chính sẽ bị săn đuổi chạy trối chết bởi hai phe, chức trách cũng như tội phạm, để rồi cuối phim nỗi hàm oan sẽ được giải toả đem lại cho người xem một anti-climax, một kết cuộc có hậu, một happy ending. Trong phim The Wrong Man (Bắt lầm Thủ phạm), Henry Fonda thủ vai một nhạc sĩ bị bắt vì tình nghi đã ăn cướp hãng bảo hiểm chỉ vì dáng dấp ông ta giống chính thủ phạm thực thụ. Ông ta đi tìm các chứng nhân, nhưng đa số các chứng nhân hoặc đã chết đi hoặc không nhớ họ đã làm gì vào hôm xảy ra ăn cướp. Nổi tiếng nhất là hai phim The Man who knew too much (Người biết quá nhiều) với  James Stewart và Doris Day, và phim North by NorthWest (Hướng Bắc và Tây-Bắc) với Cary Grant và Eva Mary Saint. (Doris Day có hát bản nhạc nổi tiếng Que Sera Sera trong phim The Man who knew too much). Trong hai phim này các nhân vật chính bị lôi kéo vào những vụ âm mưu lớn, và bị hàm oan là biết rõ các âm mưu đó, hoặc bị báo chí chụp hình (oan và sai) đã đâm một viên chức của Liên Hiệp Quốc (North by NorthWest). Những nhân vật chính này tuy ở thế yếu của một người dân bình thường –  nhưng vì bị dồn vào một thế phải chọn lựa những gì phải và những gì trái, chính họ cũng không ngờ rằng họ đã huy động được sức mạnh tiềm tàng trong con người để vượt ra khỏi cảnh oan kiên và cả thắng bọn ma đầu tội phạm. Trong TNGH cũng vậy, từ đầu tới đuôi Kim Dung đã gán hoạ vào đầu Lệnh Hồ Xung với ba chữ oan, oan, oan. Đầu tiên Kim Dung cho Hồ Xung bị kết tội trước quần hùng là đã toa rập với dâm tặc Điền Bá Quang lo nhậu nhẹt và hãm hiếp ni cô Nghi Lâm của phái Hằng Sơn. Cái oan đầu tiên này Kim Dung dùng đến cả quyển 1 mới giải toả được. Sau  khi Hồ Xung học được Độc Cô Kiếm pháp vì không tiện nói ra với sư phụ Nhạc Bất Quần nên bị sư phụ và nhiều người khác nghi ngờ rằng đã chôm được Tịch Tà kiếm phổ hoặc học được đâu đó của quân tà ma ngoại đạo. Trong lúc nằm dưỡng bệnh, Nhạc Linh San đem quyển luyện nội công của cha đến cho Hồ Xung mượn để chữa bệnh. Hồ Xung chưa kịp đọc, quyển sách đã bị mất và một người sư đệ ngồi canh Hồ Xung bị giết chết. Ai cũng nghi (lầm) Hồ Xung chiếm quyển sách đó và thủ tiêu vị sư đệ để ém nhẹm. Nhạc Linh San do nỗi nghi ngờ và hiểu lầm này đã dần dần xa rời Hồ Xung và ngã về Lâm Bình Chi. Chính nỗi hàm oan này đã đào một cái hố chia rẽ tình thầy trò giữa Bất Quần và Hồ Xung cho đến mãi về sau. Kim Dung đã áp dụng kỹ thuật kinh dị thriller à la Hitchcock cho đến đoạn gần cuối truyện. Lúc đó trước khi Lâm Bình Chi giết Nhạc Linh San, Bình Chi mới bật mí về quyển Tịch Tà Kiếm phổ, và lột mặt nạ quân tử giả dối của Nhạc Bất Quần trước mặt Linh San. Doanh Doanh núp đâu gần đó lắng tai nghe hết.

Một ảnh hưởng khác của Hitchcock có thể tìm thấy trong TNGH của Kim Dung ở chỗ lúc Lâm Bình Chi trở về nhà, sau khi đâm chết con trai của Dư Thanh Hải ở tửu quán  vào lúc đầu câu chuyện.  Lâm Bình Chi thuật lại tự sự với Cha (Lâm Chấn Nam) rồi cả nhà tiêu cục Phước Oai mới chạy ngựa trở lại cái tửu quán đó để xem xét tình hình. Đến nơi không thấy tửu quán đâu hết, và ông chủ quán cùng cô con gái  hầu bàn (do Nhạc Linh San trá hình) cũng vắng lặng tăm hơi. Y hệt như cảnh Cary Grant trong phim North by NorthWest cùng với công an trở lại lâu đài y bị bắt tra tấn hôm trước chỉ thấy đó là một toà nhà bình thường không có kẻ gian ác nào ở đó hết. Cũng y hệt như trong phim James Bond MOONRAKER  –  một loại phim chịu ảnh hưởng rất nhiều của Hitchcock –  lúc điệp viên 007 cùng với các xếp và cộng sự trở lại phòng thí nghiệm của bọn gian sau một trận đấm đá, chỉ thấy đó là một biệt thự của dân giàu sang ở thành phố Venice, chứ không phải một phòng thí nghiệm khoa học nào hết.

Một kỹ thuật dựng truyện khác của Kim Dung cũng có lẽ chịu ảnh hưởng phim đánh gươm của Hollywood vào khoảng năm 1952, phim Scaramouche do Stewart Granger, Janet Leigh và Mel Ferrer thủ vai chính, dựa theo một tiểu thuyết kiếm hiệp dã sử của Rafael Sabatini, một nhà văn thường được xem ngang hàng với Alexandre Dumas, tác giả của Ba Chàng Ngự Lâm Pháo Thủ (The Three Musketeers). Scaramouche dựng bối cảnh vào khoảng vài năm trước cách mạng Pháp 1789. Anh chàng lãng tử André Moreau vì phải trốn tránh kẻ thù Hầu Tước De Mayne người đã giết anh bạn thân mang giòng máu cách mạng Phillippe, nên phải gia nhập một gánh xiệc lưu động, đóng vai kép hài mang mặt nạ tên Scaramouche. Ôm giấc mộng trả thù cho bạn, André tình cờ theo học đánh gươm với thầy dạy kiếm thuật cho hầu tước De Mayne. Một ngày nọ De Mayne phát hiện được, và đánh cho André tơi bời te tua qua một trận đấu gươm tại võ sảnh của thầy. Thấy dạy gươm cho André không được nữa vị tôn sư của André và De Mayne mới chỉ cho André địa chỉ của Thầy mình hiện còn dạy đánh gươm ở Paris. André mừng quá kêu đoàn xiệc lên Paris lưu diễn và theo học kiếm pháp với Thầy của Thầy mình, và về sau trong một trận đấu gươm tại hí viện kéo dài chừng 15 phút, một trận đấu gươm lâu nhất trên màn bạc, Scaramouche (tức André) đã đánh bại được De Mayne.

Kim Dung trong lúc viết TNGH có lẽ đã chịu ảnh hưởng ít nhiều của Hitchcock và thêm vào đó, của Sabatini trong Scaramouche. Ở chỗ nào? Ở chỗ lần đầu tiên trong truyện kiếm hiệp Tàu người ta thấy một điểm ngộ nghĩnh nhưng có vẻ mới lạ và chắc ăn trong việc Lệnh Hồ Xung được bậc Thầy của Thầy mình truyền dạy kiếm pháp cho. Độc giả dù ít đọc truyện Tàu cách mấy đi nữa khi thấy một anh chàng lãng tử được sư thúc của Thầy mình truyền dạy đều có thể đoán ngay thế nào anh chàng này về sau có đấu với Thầy có thể cho Thầy mình đo ván là cái chắc. Cũng như khi xem phim Scaramouche tới đoạn ông thầy của Scaramouche chỉ dẫn cho Scaramouche lên Paris để học tiếp đường gươm nét kiếm tuyệt chiêu của Thầy mình, người xem có thể đóan, trong thích thú, vào cuối phim Scaramouche sẽ đánh bại De Mayne, học trò của học trò của Thầy mình. Phong Thanh Dương một bậc tôn sư hàng đầu về kiếm pháp, vai em của Thầy của Nhạc Bất Quần, Thầy của Lệnh Hồ Xung, đã đem Độc Cô Cửu Kiếm truyền lại cho Lệnh Hồ Xung. Tuy nhiên, điểm này có hơi phá đổ tôn ti trật tự của hệ thống quân sư phụ ngày trước. Để hoá giải điểm đảo lộn trật tự lổng chổng này,  Kim Dung đã lồng vào đó một cái thế chẳng đặng đừng cho Lệnh Hồ Xung: Kim Dung cho dâm tặc Điền Bá Quang lên núi thách thức đấu kiếm với Lệnh Hồ Xung. Nếu thua Lệnh Hồ Xung phải bỏ việc chịu hình phạt của Thầy, đi theo hắn xuống núi. Trận đấu kiếm xảy ra nhiều ngày. Mỗi đêm Hồ Xung trở vào thạch động học tiếp với Thái Sư Thúc (vai chú của thầy mình) Phong Thanh Dương. Đến lúc học xong Độc Cô Cửu kiếm rồi,  Lệnh Hồ Xung đánh cho Điền Bá Quang thua xiểng liểng và chạy dài xuống núi.

Tiếu Ngạo Giang Hồ còn cho thấy tầm nhìn rất xa của Kim Dung, ngay từ 1963 năm xuất hiện TNGH. Đó là những nhận xét về giới Gay (homosexual, đồng tính luyến ái) hoặc gọi nôm na Pê Đê, bắt nguồn từ tiếng Tây pédéraste, hay những nhận xét về ảo tưởng quyền bính hoặc  thần thánh hoá lãnh tụ. Một trong những cái đinh của TNGH là Tịch Tà Kiếm Phổ của dòng họ Lâm –  chủ nhân Phước Oai Tiêu Cục ở Phúc Kiến. Tịch Tà Kiếm Phổ đầu tiên do một hoạn quan (thái giám) sáng chế ra. Sau đó một ông sư hoàn tục tên Lâm Viễn Đồ –  tức tổ tiên của Lâm Bình Chi –  có duyên được làm sở hữu chủ quyển bí kíp này. Bởi kiếm phổ do một thái giám phát minh ra, điều kiện cần và đủ để luyện tập nó là người luyện tập phải tự cắt mất thằng nhỏ của mình đi. Càng trở thành bán nam bán nữ hay thiên nhiều về nữ tính càng tốt. Lâm Viễn Đồ muốn cho chắc ăn nên đã chờ đến khi có vợ con đàng hoàng rồi, mới tiến hành luyện tập nó! Sau này giáo chủ Ma giáo Đông Phương Bất Bại trở nên đệ nhất cao thủ cũng nhờ ở nó, nhưng chỉ sau khi lão ta gần như trở thành một phụ nữ thực thụ, e ấp một đào nhí phái nam. Rồi Nhạc Bất Quần đến Lâm Bình Chi đều bắt  đầu rụng râu, xức dầu thơm, trang sức thật đẹp sau khi tập luyện Tịch Tà kiếm đến độ thành thục.  Phải nhìn nhận Kim Dung vào ở đầu thập kỷ 60 đã có những nhận xét cực kỳ sắc bén về việc phối hợp Tịch Tà kiếm pháp với giới Pê Đê. Vào thời đó tại hầu hết các quốc gia trên thế giới tình huống PêĐê hãy còn nằm ngoài pháp luật. Tìm hiểu những cá tính của người gay phải nói là một việc hết sức khó khăn. Thế mà Kim Dung đã làm được và lồng vào một thế kiếm Tịch Tà vô địch thiên hạ. Tịch Tà kiếm là gì nếu không là một lối xử dụng chiêu kiếm hoặc kiếm khí cực kỳ nhanh lẹ cần vào đôi tay khéo léo nhanh nhẹn của người phụ nữ cộng với một nội lực thâm hậu của người đàn ông. Ta hãy trích một đoạn nhỏ nói về thế đánh của Đông Phương Bất Bại với Lệnh Hồ Xung:

[Lệnh Hồ Xung phóng] chiêu kiếm này cực nhanh, nếu Đông Phương Bất Bại không thu người lại thì lập tức bị mũi kiếm đâm xuyên qua yết hầu ngay. Nhưng ngay lúc này, Lệnh Hồ Xung cảm thấy má bên trái hơi đau, hắn hướng trường kiếm sang bên trái.

Thì ra Đông Phương Bất Bại ra tay quá nhanh, thật không thể lường được. Trong lúc nhoáng như tia chớp, lão đã dùng kim đâm lên má Lệnh Hồ Xung. May mà chiêu kiếm này của Lệnh Hồ Xung phóng rất nhanh, tấn công khiến địch nhân không thể tự cứu.
……. Lão liền vung kim trái phải trên dưới gạt hết bốn chiêu kiếm của Lệnh Hồ Xung. Lệnh Hồ Xung chăm chú nhìn lão ra tay. Lão dùng kim thêu gạt bốn chiêu , toàn thân không có chỗ hở.

Ngày nay cộng đồng người gay sống yên ổn hoà mình với cộng đồng người straight. Những ai có quen biết hoặc bạn bè với những cặp gay đều để ý rằng trong bất cứ cặp nào cũng có một người thủ vai người nam (mang nhiều nam tính hơn người kia), và một người thủ vai nữ, chuyên lo việc thêu thùa bếp núc trong nhà. Người thủ vai nữ rất khéo léo, tay chân nhanh nhẹn  không thua gì người đàn bà nhưng thông thường hãy còn giữ sức mạnh (nội lực theo Kim Dung) của đàn ông. Kim Dung vào năm 1963 đã tạo dựng Tịch Tà kiếm pháp và chỉ dành riêng kiếm pháp đó, thật chính xác, cho loại người này. Thật tuyệt chiêu.

Cũng ở cái thời 60 đó Kim Dung đã dựng nên chuyện Lâm Bình Chi phải làm đám cưới giả với Nhạc Linh San để che mắt thiên hạ, nhất là ngụy quân tử Nhạc Bất Quần,  việc mình đã trở thành gay bất đắc dĩ. Mãi cho đến khoảng cuối thập niên 1980 nhân cái chết của tài tử Rock Hudson báo chí mới bắt đầu xì ra ở Hollywood đã có không ít đám cưới giả à la Lâm Bình Chi để che mắt giới hâm mộ điện ảnh rằng tài tử nào đó không phải gay. Nhiều đám cưới của một vài tài tử nổi tiếng hiện nay vẫn còn bị xầm xì là đám cưới che mắt, mặc dù xã hội đã biến đổi rất nhiều và vẫn có nhiều tài tử hay nhà thể thao nổi tiếng công khai có một đời sống lứa đôi gay.

Tầm nhìn xa của Kim Dung còn thể hiện qua việc Kim Dung cho Đông Phương Bất Bại rồi sau này Nhậm Ngã Hành đâm ra mù quáng mang nhiều ảo tưởng thần thánh về quyền lực. Giáo chủ Đông Phương Bất Bại bắt thuộc hạ phải luôn quỳ xuống và xưng hô: Giáo chủ thiên thu vạn tải, thống nhất giang hồ. Bịnh hơn nữa thuộc hạ phải hô to: Tri ân giáo chủ, nhờ nói lên tên giáo chủ thuộc hạ cảm thấy sáng suốt hơn lên, hoặc: Ngày nào không đọc bảo huấn của giáo chủ, thì ăn không ngon ngủ không yên.
Dành một chương mô tả và châm biếm sinh hoạt tôn sùng lãnh tụ ngay ở tổng bản doanh của Ma giáo, Kim Dung chắc hẵn đã phản ảnh đến câu nói bất hủ của Lord Acton mà chính Kim Dung chắc đã từng đọc qua trong lúc theo học Luật ở Thượng Hải thuở thanh niên: Power corrupts, absolute power corrupts absolutely (Quyền lực làm hư thối con người, quyền lực tuyệt đối chắc chắn sẽ tuyệt đối làm hư thối con người).

Viết đoạn suy tôn thần thánh những người lãnh tụ như kiểu Nhậm Ngã Hành hay Đông Phương Bất Bại vào năm 1963, Kim Dung cũng gần như đã tiên đoán những gì sẽ xảy ra ở Trung Quốc trong cuộc cách mạng văn hoá của Mao Trạch Đông vào khoảng cuối thập niên 60, hoặc việc thần thánh hoá lãnh tụ Kim Nhật Thành ở Bắc Triều Tiên. Vào thời đó nhiều người thường dân ưa cúi đầu trước những bức hình to lớn của nhà lãnh tụ treo ở các dinh thự, các quảng trường, để cầu nguyện hay tri ân nhờ hồng phúc của lãnh tụ nhà mình được tai qua nạn khỏi, hoặc đã lao động tốt. Họ dường như quên rằng chính lãnh tụ đã gây ra bao nhiêu chết chóc và kinh hoàng trong nhân dân. Ngày nay, nhất là ở các nước tiên tiến có dân trí cao, đừng nói chi đến thần thánh hoá lãnh tụ, ngay cả chuyện thần tượng hoá nhà lãnh đạo cũng đã bắt đầu bị sụp đổ hay dẹp qua một bên. Có lẽ đó cũng nhờ hồng phúc của Monica hấp tinh đại pháp đụng độ với xi-gà kiếm pháp vào cuối thế kỷ vừa qua ở Mỹ. Phần lớn nhân loại hiện nay bắt đầu ý thức rằng lãnh tụ có giỏi đến đâu chăng nữa, cũng chỉ là con người thôi.

Phần lớn nhân loại hiện nay bắt đầu ý thức rằng lãnh tụ có giỏi đến đâu chăng nữa, cũng chỉ là con người thôi.

Thế còn luật Ngũ Hành vận chuyển ra sao trong TNGH? Xin tóm tắt lại những điểm chính về Ngũ Hành đã trình bày trong Thử Đọc Lại Kim Dung I. Khác với lô-gích tam đoạn luận của Tây Phương: A thắng B, B thắng C,  suy ra A sẽ thắng C, lô-gích Ngũ Hành sẽ cho: Kim khắc Mộc, Mộc khắc Thổ, Thổ khắc Thủy, Thủy khắc Hoả, và Hoả sẽ khắc Kim trở lại. Nếu Lô-gích Tam đoạn luận được biểu diễn bằng một đường thẳng đứng, lô gích Ngũ Hành sẽ được tượng trưng bằng một vòng tròn kín.

Mạng Thủy còn được biểu tượng bằng hướng Bắc (màu Đen), Mộc hướng Đông (màu Xanh), Hoả hường Nam (màu Đỏ), Thổ miền Trung (màu Vàng), và Kim thuộc hướng Tây (màu Trắng). Ngoài chu kỳ khắc theo lôgích kiểu Tam Đoạn Luận, Ngũ Hành còn có một chu kỳ SINH tức chu kỳ hỗ trợ:  Thổ hỗ trợ Kim, Kim giúp Thủy, Thủy sinh Mộc, Mộc giúp Hoả, và Hoả sinh Thổ.

Đầu tiên ta để ý đến Ngũ Nhạc Kiếm Phái tức năm phe phái phối hợp với nhau thành một khối liên minh, bao gồm: Phái Hằng Sơn ở phía Bắc, Thái Sơn phiá Đông, Hành Sơn phía Nam, Hoa Sơn hướng Tây và Tung Sơn thuộc miền Trung. Nhạc Bất Quần thuộc miền Tây chưởng môn Hoa Sơn thuộc mạng Kim. Kim khắc Mộc. Hoa Sơn hường Tây khắc phục được Lâm Bình Chi người Phúc Kiến hướng Đông (Mộc) của nước Tàu, thu Lâm Bình Chi làm đồ đệ rồi chôm được Tịch Tà Kiếm Phổ của họ Lâm.
Họ Lâm là một họ rất phổ thông của người Phúc Kiến và người Triều Châu. Tại Việt Nam, đa số những người Việt có họ Lâm thường có gốc gác người Hoa xuất từ Phúc Kiến hoặc Triều Châu. Họ Lâm cũng có nghĩa là rừng, liên hệ đến cây cối, tức mạng Mộc. Họ Lâm người gốc Phúc Kiến ở phía Đông nên Lâm Bình Chi chắc chắn mang mạng Mộc. Đông Phương Bất Bại cũng mạng Mộc bởi tên lão có từ ĐÔNG. Nhạc Bất Quần thuộc mạng Kim, có thể được hỗ trợ bởi mạng Thổ. Bởi vậy chưởng môn Tung Sơn Tả Lãnh Thiền, miền Trung mạng Thổ, âm mưu nhiều năm thống nhất năm phái Ngũ Hành để lên làm minh chủ, nhưng rốt cuộc lão gần như bày mâm dọn cỗ cho đối thủ lão là Nhạc Bất Quần. Thổ đã hỗ trợ Kim. Trong trận đãu giữa Nhạc Bất Quần với Tả Lãnh Thiền –  Thổ với Kim không ai khắc ai  – nhưng Kim Dung đã cho Bất Quần thắng và đâm mù mắt Lãnh Thiền. Chỉ nhờ ở Bất Quần xử dụng Tịch Tà kiếm pháp (thuộc mạng Mộc ở miền Đông) mới khắc chế được Lãnh Thiền, Mộc khắc Thổ.

Phái Hằng Sơn của các vị ni cô ở phiá Bắc thuộc mạng Thủy. Phái này bị phe Tung Sơn miền Trung mạng Thổ phá rối đánh cho gần như tan hàng (Thổ khắc Thủy). Thế Lệnh Hồ Xung mạng gì? Điểm đầu tiên ta để ý Kim Dung rất thích cho nhân vật chính  mang mạng Hoả: Trương Vô Kỵ, Quách Tỉnh đều mang mạng Hoả. Vậy thử cho Hồ Xung mang mạng Hoả, người phía Nam xem ra sao. Tính người mang mạng Hoả: giàu tình người, nhiều trực giác, thích được thương yêu, thích sôi nổi, giao tế giỏi,  hoàn toàn thích hợp với cá tính của Lệnh Hồ Xung. Hoả thường được giúp bởi Mộc (màu xanh và hướng Đông). Lệnh Hồ Xung được Phong Thanh Dương dạy cho Độc Cô cửu kiếm. Trong tên Phong Thanh Dương có hai từ Thanh và Dương đều chỉ màu xanh thuộc mạng Mộc. Ni cô cõng Hồ Xung chạy trốn lúc Hồ Xung bị thương nặng, và thầm yêu Hồ Xung suốt đời, mang tên Nghi Lâm. Lâm tức là rừng, nhiều cây cối, mạng Mộc. Người yêu thương Lệnh Hồ Xung, giúp đỡ Lệnh Hồ Xung rất nhiều, cõng Hồ Xung lên Thiếu Lâm đổi mạng mình nhờ Phương Chứng đại sư chữa bệnh cho Hồ Xung là Nhậm Doanh Doanh. Trong TNGH Kim Dung ít mô tả về màu sắc quần áo các nhân vật, nhưng lại giới thiệu Doanh Doanh bỏ trốn khỏi tổng hành dinh Ma giáo đi tham quan giang hồ với một lão tướng bodyguard mang tên Lục Trúc Ông, trong tên có Trúc ám chỉ mạng Mộc. Doanh Doanh mạng Mộc giúp đỡ mạng Hoả của Hồ Xung. Mạng Hoả của Hồ Xung khắc chế được mạng Kim của thầy cũ Nhạc Bất Quần, nhưng có thể thầm phục mạng Thủy của các ni cô phái Hằng Sơn ở phía Bắc. Bởi vậy Kim Dung cho các vị Định Dật, Định Tĩnh và Định Nhàn trối trăn cho Hồ Xung làm chưởng môn Hằng Sơn lãnh đạo toàn các ni cô, Hồ Xung cũng phải nhận bởi Hoả bị khắc phục, bị cảm hoá bởi Thủy.

Nhậm Ngã Hành mạng gì? Lúc Nhậm Ngã Hành bị Đông Phương Bất Bại (mạng Mộc) đảo chánh, Nhậm mang mạng Thổ. Mộc khắc Thổ. Kim Dung nói rõ Nhậm bị giam dưới lòng đất –  mạng Thổ. Thế nhưng Nhậm lại bị giam  dưới lòng Tây Hồ ở thành phố đẹp nhất Trung Quốc Hàng Châu (Tây Hồ => TÂY => mạng Kim) trong vòng 10 năm và luyện thêm được Hấp Tinh đại pháp, Tinh thường màu trắng, lại mạng Kim. Nhậm Ngã Hành sau 10 năm bị giam cầm đã chuyển dần sang mạng Kim, để rồi Kim khắc Mộc, trở ra lật đổ và giết Đông Phương giáo chủ trả được hận xưa.

Trở lại Ngũ Hành của Ngũ Nhạc Kiếm Phái. Ngũ Hành ở đây cũng tương đương với Ngũ Hành của Võ Lâm Ngũ Bá: Đông Tà Hoàng Dược Sư (Mộc), Tây Độc Âu Dương Phong (Kim), Trung Thần Thông Vương Trùng Dương (Thổ), Bắc Cái Hồng Thất Công (Thủy), Đoàn Nam Đế (Hoả). Nhưng có điểm đáng kể, mạng Thổ của miền Trung trong Võ Lâm Ngũ Bá là một vai chính nhân quân tử đạo mạo oai phong (Vương Trùng Dương) thì ở TNGH một vai cực kỳ gian ác hiểm độc thể hiện qua Tả Lãnh Thiền. Nhiều tác giả từng đưa giả thiết về Những ẩn số chánh trị trong truyện Kim Dung (NNH) hoặc  Dụ Ngôn về Chính Trị (VĐSB) theo đó Vương Trùng Dương biểu hiệu cho Trung Hoa, Âu Dương Phong biểu hiệu cho Âu Mỹ, Bắc Cái cho nước Nga, Đông Tà cho nước Nhật, Nam Đế cho Việt Nam (?), v.v. chắc không khỏi ngỡ ngàng khi thấy miền Trung của Tả Lãnh Thiền phái Tung Sơn, một người nham hiểm và mang nhiều tham vọng dơ bẩn, không còn là một biểu tượng đáng yêu nữa cho nước Tàu. Biểu tượng nước Nga ở phiá Bắc (phái Hằng Sơn đầy từ bi độ lượng) hoặc nước Nhật qua những người hùng phải tự cắt thằng nhỏ của mình à la Lorena Bobbitt  như Lâm Bình Chi, Đông Phương Bất Bại chắc cũng không còn cơ sở lý luận vững chắc nữa. Theo thiển ý con số 5 của Võ Lâm Ngũ Bá, hoặc Ngũ Nhạc Kiếm Phái, Kim Dung chỉ đưa ra để phô trương thuyết Ngũ Hành siêu đẳng của Trung Quốc. Và lô-gích ngũ hành đó, xuyên qua cá tính sinh-khắc giữa các nhân vật với nhau, Kim Dung đã trình bày rất mạch lạc chặt chẽ.

Bản dịch TNGH mới mẻ của Vũ Đức Sao Biển và ê-kíp quả nhiên là một việc làm đáng được khích lệ và hoan nghênh. Nếu trong ngành điện ảnh Âu Mỹ người ta đã từng quay đi quay lại nhìều phim hay xưa cũ, như Psycho, Rear Window, Dial M for Murder, the Thrêe Musketeers, v.v. rồi ở giới phim tập Hongkong cứ vài năm họ lại quay lại Tiếu Ngạo Giang Hồ, Ỷ Thiên Đồ Long Ký, Anh Hùng Xạ Điêu, v.v. thì tại sao ở Việt Nam ta không tán thưởng công việc đưa chiếc bình mới để chứa rượu cũ này.

Trong bản dịch mới chính các tác giả cũng thừa nhận không thể hoàn toàn chuyển hết các cụm từ hoặc thành ngữ Hán sang chữ quốc ngữ. Thí dụ: Giáo chủ thiên thu vạn tải, thống nhất giang hồ. Bởi nếu chuyển hết sẽ không còn mang tính chất kiếm hiệp nữa và vô hình chung sẽ mất hết cái hay ho tinh túy của truyện Tàu nói chung và truyện chưởng Kim Dung nói riêng. Dù vậy lần chuyển ngữ này đã đem lại cho người đọc không ít thích thú, qua những từ thuộc tiếng lóng, tiếng bình dân thường được xử dụng hằng ngày. Thí dụ, rất nhiều đoạn dịch giả viết Kiếm Khách A đánh cho kiếm khách B thua te tua chạy dài. Hoặc tại hạ sẽ có ngày lên núi của các hạ để tính sổ lại, tức để thanh toán ân oán giang hồ. Nhưng vui nhất phải là đoạn Điền Bá Quang tâm sự với Lệnh Hồ Xung rằng anh ta bị Bất Giới đại sư, thân phụ của ni cô Nghi Lâm, cắt bớt phân nửa thằng nhỏ rồi! Chỗ này chính Kim Dung đã để lộ một lôgích rất chặt chẽ: Tại sao Bất Giới chỉ cắt phân nữa thằng nhỏ của Điền Bá Quang mà thôi? Kim Dung chắc chắn không cho Bất Giới cắt hết trọn thằng nhỏ của Bá Quang bởi nếu cắt hết vô hình chung Kim Dung sẽ đẩy Bá Quang vào cái nhóm tự cắt nguyên si thằng nhỏ để luyện tập Tích Tà kiếm phổ, như Lâm Bình Chi, Nhạc Bất Quần, Đông Phương Bất Bại! Cho Bá Quang bị mất chỉ một demi-thằng nhỏ thôi mới giữ được Bá Quang bên phe straight của Lệnh Hồ Xung.

Một điểm nữa trong bản dịch đã khiến người đọc ở ngoài nước Việt Nam không khỏi chú ý. Đó là biến đổi của ngôn ngữ, của tiếng Việt tại Việt Nam trong vòng 25 năm qua. Bây giờ người ta gọi đánh cược thay vì đánh cuộc (đánh cá) như hồi xưa. Cược đã thay cho Cuộc và đã vào các tự điển đàng hoàng.

Hy vọng bản dịch mới Tiếu Ngạo Giang Hồ sẽ đến với giới hâm mộ Kim Dung ở bên ngoài Việt Nam trong nay mai.

Nguyên Nguyên


Xem tiếp: Thử đọc lại Kim Dung 4


Thử đọc lại Kim Dung- phần 1

Thử đọc lại Kim Dung- phần 1

Nguyên Nguyên

Có lẽ trong tiềm thức của người viết trong hơn 35 năm qua luôn luôn vẫn có  một số thắc mắc,  tức bực về tiểu thuyết kiếm hiệp của Kim Dung. Trước hết nếu so với các truyện kiếm hiệp cổ điển của Trung Quốc như Lã Mai Nương, Càn Long hạ Giang Nam, Tiết Nhơn Quí Chinh Đông, Thuyết Đường, Thủy Hử, v.v., trong các truyện chưởng của Kim Dung – ít khi nào ông cho khai tử bớt những nhân vật cực ác khi đến quá nửa truyện. Thậm chí nhiều khi cho đến hết truyện những nhân vật cực kì nham hiểm và gian ác đó vẫn chưa được cho gác kiếm về chầu Diêm Vương, nhưng lại vẫn cứ tiếp tục sống dai và ‘quậy’ dài dài  cho đến một thế hệ tiếp nối trong một truyện kiếm hiệp nối tiếp khác. Thí dụ như Tây Độc Âu Dương Phong trong ‘Xạ điêu Anh hùng truyện’ đã sống luôn qua đến khoảng nửa truyện kế tiếp mang tên ‘Thần Điêu Hiệp Lữ’ rồi mới lăn đùng ra chết sau khi đấu võ nghệ với Bắc Cái Hồng Thất Công suốt mấy ngaỳ liền trên một đỉnh núi tuyết trước sự chứng kiến của cậu thanh niên  Dương Quá. Hoặc giả như Tinh Tú Lão Nhân Đinh Xuân Thu trong ‘Lục Mạch Thần Kiếm và Thiên Long Bát Bộ’ – một nhân vật cực kì hung ác ai cũng ghét thế mà cứ sống dài dài – sống lâu hơn một trong những nhân vật chính là Tiêu Phong – cho đến hết truyện luôn. Cũng giống như Mộ Dung Công Tử – lúc đầu truyện mang cá tính nửa chính nửa tà nhưng đến lúc cuối truyện  trở nên hoàn toàn gian ác bởi mang nhiều tham vọng khôi phục nước Yên – tác giả cũng không cho chết quách cho xong nhưng lại trở nên điên điên khùng khùng như Âu Dương Phong trong cuối truyện ‘Anh Hùng Xạ Điêu’ nói trên.

Tranh chấp để xem xem ai võ công cao nhất, ai là anh hùng vô địch thiên hạ cũng  thường không được giải đáp cho thật chắc chắn như trong các truyện kiếm hiệp ngày xưa trước thời Kim Dung. Trong ‘Anh Hùng Xạ Điêu’ và ‘Võ Lâm Ngũ Bá’, có tất cả 5 người với võ nghệ tuyệt luân: Bắc Cái Hồng Thất Công, Nhất Đăng Đại Sư Đoàn Nam Đế, Tây Độc Âu Dương Phong, Đông Tà Hoàng Dược Sư và Trung Thần Thông Vương Trùng Dương. Năm người đó mỗi người có một hai ngón võ tuyệt chiêu bao trùm thiên hạ. Nhưng khổ nổi nếu họ đấu với nhau thì lại ‘bất phân thắng bại’!! Vương Trùng Dương thường được xem như ‘trên cơ’ 4 người kia một chút nhưng lại . . . chẳng may chết sớm, và trước khi chết thật Vương Trùng Dương đóng kịch chết giả để cố í thọc vào chính huyệt của Tây Độc Âu Dương Phong một ngón Nhất Dương Chỉ  cho Tây Độc chừa bỏ tham vọng đi ăn cắp quyển võ công bí kiếp Cửu Âm Chân Kinh. Thành ra trong hầu hết suốt các truyện ‘Anh Hùng Xạ Điêu’  hoặc ‘Võ Lâm Ngũ Bá’ ta không thấy một ai có thể xưng anh hùng vô địch hay võ lâm minh chủ cả. Thất vọng nhất trong cái ‘lô gích’ của Kim Dung phải là anh chàng Quách Tỉnh. Anh này có nội công tự nhiên trời cho như hút được máu rắn quí của một thiền sư  nào đó, học võ nghệ từ nhỏ với Giang Nam Thất Quái, học leo núi với Mã Ngọc,  học các võ  chính như Hàng Long Thâp Bát Chưởng của Hồng Thất Công, học thế đánh Thiên Cang Bát Đẩu của  phái Toàn Chân, học Cửu Âm Chân Kinh và Song Hổ Đả Bác từ  Châu Bá Thông một cao thủ tương đương hay hơn Võ Lâm Ngũ Bá một chút, vài ngón nghề Nhất Dương Chỉ từ chính Đoàn Nam Đế. Quách Tỉnh như vậy đã học các món võ chính tông của ít lắm là 3 trên 5 vị ngũ bá đó – cộng với tuổi trẻ, với ‘tư duy’ sẵn có, với nội công thâm hậu nhờ uống máu rắn. Thế mà lúc đấu với các cao thủ khác như Cừu Thiên Nhận (chính hiệu), Quách Tỉnh không bao giờ chứng tỏ được thế thượng phong đánh hạ được họ hay cho họ nằm ‘đo đất’ cả. Lô gích đó của Kim Dung hồi còn trẻ người viết xem như hơi ‘lổng chổng’ không được chặt chẽ chút nào. Thêm một thí dụ khác: Trương Vô Kị trong ‘Cô Gái Đồ Long’ đã trải qua bao nhiêu thăng trầm và học được bao nhiêu thế võ tuyệt chiêu: Cửu Dương Chân Kinh lúc sống dưới thung lủng núi tuyết qua quyển sách dấu trong bụng con khỉ, ăn được con ếch đỏ cũng ở dưới thung lủng để bổ xung dương khí, luyện được Càn Khôn Đại Nả Di tâm pháp lúc bị nhốt trên Quang Minh đỉnh, học Thái Cực Quyền  và Thái Cực Kiếm rất thuần thục với Trương Tam Phong, v.v. và v.v. thế đến khi đụng độ với người yêu cũ  Chu Chỉ Nhược,  hình như Trương Giáo Chủ phải chịu lép mặc dù cô Chu trưởng môn Nga Mi chỉ học được có Cửu Âm Chân Kinh và một số chiêu của Nga Mi kiếm pháp mà thôi. Lô gích nằm ở đâu hay Kim Dung đã theo mốt thời đại trọng nữ khinh nam?? Tức bực cho độc giả còn phải kể đến cái ngón Lục Mạch Thần Kiếm và nhất dương chỉ của thái tử Đoàn Dự! Võ nghệ thứ gì mà khi được khi không, trong cuộc đời thật chắc làm gì có loại võ nghệ kì cục như vậy –  giống như chiếc xe hơi, cái radio hay Tivi rất cũ kỉ khi chạy khi không? Rồi còn rất nhiều,  nhiều nữa những cái lủng củng trong lô-gích của Kim Dung về ai giỏi võ hơn ai trong các bộ truyện chưởng của ông ta.

Những thắc mắc đó hình như cứ lởn vởn trong đầu người viết qua nhiều năm tháng, rồi trở đi trở lại trong hai thập niên qua khi xem phim tập Hongkong quay đi quay lại nhiều lần các truyện của Kim Dung. Nhiều khi người viết cũng thử đặt ra một vài giả thuyết dựa trên kiến thức rất hạn hẹp của mình về triết lí đông phương – thử giải thích các dụng í của Kim Dung khi ông ta ra công sáng tác các tác phẩm kiếm hiệp để đời đó. Người viết thử dùng những triết lí như ‘nhân vô thập toàn’ hay bắt chước các người viết khác moi Kinh Dịch, hay sưu tầm những ‘ẩn số chính trị’ để tìm giải đáp cho một thắc mắc lâu năm về Kim Dung. Nhưng rất tiếc và nói cho đúng người viết vẫn chưa được hoàn toàn thoả mãn về những ẩn í của Kim Dung khi ông cho vào các truyện của ông một lôgích có vẻ hoàn toàn bác bỏ lôgích của Tam Đoạn Luận: A giỏi hơn B, B giỏi hơn C, do đó A phải giỏi hơn C. Nói một cách khác và thông thường, nếu A có nhiều tiền và của cải hơn B, ta nói A giàu hơn B. Nếu A cùng cỡ tuổi với B và A học được và thành thục nhiều ngón võ hơn B, A chắc sẽ giỏi võ hơn B và sẽ ‘nốc ao’ B khi đấu với B. Tương tự Trương Vô Kị có vẻ học được nhiều ngón võ tuyệt chiêu hơn Chu Chỉ Nhược –  đại khái Cửu Dương Chân Kinh, Càn Khôn Đại Nã Di, Thái Cực Kiếm, Thái Cực Quyền, v.v. Nội cái Càn Khôn Đại Nã Di – một môn võ tối cao của Minh giáo thời đó có mãnh lực biến đối thủ dùng gậy ông đập lưng ông – Vô Kị đã học được trong lúc bị nhốt với Tiểu Siêu ở trong mật động của Quang Minh Đỉnh – nếu theo đúng mô tả của chính tác giả – cũng đủ dùng để chế ngự được Cửu Âm Chân Kinh, nếu không kể đến các thứ võ lâm chi bảo như Thái Cực kiếm và Thái cực quyền. Càn Khôn Đại Nả Di chắc chắn – theo lôgích của mô tả trong truyện – sẽ chế ngự được thế đánh móc vào sọ người kiểu Cửu Âm Bạch Cốt Trảo trong Cửu Âm Chân Kinh bởi nó có thể khiến bàn tay bạch cốt trảo quay về tự móc sọ của người xử dụng nó để tấn công mình.! Trong khi ấy Chu Chỉ Nhược theo với ước đoán của độc giả (vì đoạn Chu Chỉ Nhược luyện Cửu Âm Chân Kinh tác giả dấu không kể ra) chỉ biết có Cửu Âm Chân Kinh và rất có thể chỉ biết qua loa về Nga Mi kiếm pháp bởi lúc Diệt Tuyệt Sư Thái nhường ngôi chưởng môn Nga Mi cho họ Chu, Diệt Tuyệt Sư Thái đang sắp sửa tự tử nên chưa có thì giờ truyền lại trọn vẹn các ngón nghề của Nga Mi kiếm pháp cho nàng. Thế mà Kim Dung tự í cho Vô Kị gần như bất lực trước Chỉ Nhược và có vẻ ‘dưới cơ’ Chu Chỉ Nhược. Thật bực mình!!

Thế nhưng, gần đây nhân lúc đọc được quyển Cờ  BẠC của Huỳnh Văn Lang do Nhà Văn Nghệ Tổng Phát Hành xuất bản vào năm 1998, người viết tự nhiên thấy những ‘cái đinh’ kể ra trong quyển Cờ Bạc, nhất là những chương về nghệ thuật đá gà  khả dĩ có thể dùng để giải thích những hiện tượng tréo cẳng ngỗng trong các phần đấu võ trong các truyện kiếm hiệp của Kim Dung. Theo tác giả Huỳnh Văn Lang (HVL) trong suốt ‘sự nghiệp’ đá gà ăn tiền của ông kéo dài hàng chục năm sau khi rời chiếc ghế Tổng Giám Đốc Viện Hối Đoái VNCH, ông đã kiếm tiền khá bộn trong việc nuôi gà đá và đá gà nhờ ở việc áp dụng thuyết Ngũ Hành của triết lí Trung Quốc. Tác giả kể lại một ngày nào đó năm xưa ông được một người bạn tặng cho một quyển sách cũ viết về nghệ thuật đá gà áp dụng theo thuyết Âm Dương Ngũ Hành do chính đức Tả Quân Lê Văn Duyệt viết. Xin tạm trích một đoạn quan trọng của quyển Cờ Bạc:
‘Theo Tả Quân, . . .con gà cũng như con người, cùng vạn vật đã sanh ra trong vũ trụ thì tất nhiên bị vũ trụ bao vây và chi phối, mà vũ trụ cùng vạn vật lại do định luật âm dương ngũ hành chi phối, vì tất cả đều do âm dương ngũ hành mà ra. . . Suy luận như vậy,  Tả Quân đã dùng luật Ngũ Hành làm tiêu chuẩn căn bản cho môn chọi gà nòi của Ngài và còn để lại cho hậu thế những bài học nghệ thuật vừa cao siêu vừa hiệu nghiệm. Theo lời Ngài dạy:

Từ thuở khai nguyên vũ trụ thì có Hoả, Hoả tự thiêu để sanh ra Thổ, Thổ sanh ra Kim, Kim sanh ra Thủy, Thủy sanh ra Mộc, để rồi Mộc lại sinh ra Hoả, làm thành một chu kì tương sanh của Ngũ hành. Động lực để vạn vật phát triển là SANH và KHẮC. Sanh là tạo, là dưỡng. Khắc là diệt, là trừ: Hoả khắc Kim, Kim khắc Mộc. Mộc Khắc Thổ, Thổ khắc Thủy, để rồi Thủy khắc Hoả lại – thành một chu kỳ Tương Khắc của Ngũ Hành.’

Tác giả thuật tiếp cách phân biệt Ngũ Hành qua màu sắc của con gà và những phức tạp gặp phải khi con gà mang nhiều màu sắc khác nhau. Lông màu gì pha với màu gì, mồng gà màu gì và chân cẳng vảy vi mang màu gì. Sau khi đã minh định được màu sắc chính của con gà người chọi gà có thể xác nhận gà thuộc mạng nào, Kim hay Mộc, hay Thủy, hay Hoả hoặc Thổ, và đem nó đi so với gà sắp sửa phải đấu. Nếu gà mình mạng Hoả và gà đối phương thuộc mạng Kim – Hoả khắc Kim – gà bên mình rất có nhiều cơ hội để thắng. Và tác giả HVL đã xác nhận qua hằng trăm trận đấu gà từ năm 1969 cho đến đầu năm 1975 – cũng như Tả Quân Lê Văn Duyệt trước khi viết quyển sách bí truyền đó, đã trải qua kinh nghiệm  cở 400 độ đấu gà – luật Ngũ Hành gần như có hiệu nghiệm gần đến 80-90 phần trăm. Theo khoa học, định luật Ngũ hành có vẻ rất có lí đó khi được áp dụng vào các vụ đấu gà được gọi định luật empirical (định luật thống kê). Định luật empirical rất nhiều khi vẫn có giá trị tương đương với những định luật thuần lí. Thí dụ về định luật thuần lí là luật vật lí về đun nước sôi. Định luật thuần lí luôn luôn đúng và đúng ở mọi chỗ, nói rằng khi ta đun nước nóng đến 100 độ, nước sẽ sôi và sôi ùng-ục. Định luật thống kê có thể được thí dụ bằng một cuộc tổng tuyển cử lựa chọn chính quyền tại một nước dân chủ. Định luật sẽ nói rằng khi chính phủ đang cầm quyền làm mất lòng dân bằng những thất bại trong các chính sách kinh tế, y tế, và giáo dục, v.v. chính phủ đó sẽ bị thất cử dễ dàng. Đó là luật thống kê, thường thường đúng nhưng không chính xác đến 100 phần trăm.

Thuyết Âm Dương – Ngũ Hành ra đời vào khoảng  thời Xuân Thu Chiến Quốc, cùng một lúc với Kinh Dịch, do ở một nhà ‘thông thái’ tên Trâu Diễn đã hệ thống hoá nó cho được mạch lạc. Ngũ Hành cũng được  áp dụng trong nghệ thuật Phong Thủy (Feng Shui) xem nhà xem hướng, rất phổ thông hiện nay trên toàn cầu. Tóm tắt Ngũ Hành gồm có Kim, Mộc, Thuỷ, Hoả, Thổ, năm nguyên tố căn bản của vũ trụ. (Ở điểm này một vài học giả Tây Phương cho rằng Ngũ hành chịu nhiều ảnh hưởng của phái Zoroastre của Ba Tư).
Kim tức kim loại, biểu tượng bằng màu Trắng, và theo Phong Thuỷ chỉ hướng TÂY (muốn dễ nhớ, nhớ người Âu Tây da trắng). Kim khắc Mộc, Kim có thể diệt được Mộc (nhớ cưa sắt cưa được gỗ), nhưng giúp được Thủy;
Mộc là gỗ, mang màu Xanh, đứng về hướng ĐÔNG. Mộc trị hay khắc Thổ (đóng cây vào đất – cây mọc từ đất mọc lên), nhưng giúp được Hoả (nhớ lửa cháy thường nhờ cây nhờ gỗ, giấy làm cháy lửa cũng do gỗ làm ra);
Thủy= Nước – biểu tượng màu Đen, đi về hướng BẮC. Thủy trị Hoả (tất nhiên, nước dùng để chữa lửa) và hổ tương cho Mộc (cây cần nước để sống);
Hoả= Lửa – mang màu Đỏ, biểu hiệu bằng hướng NAM. Hoả khắc Kim (nhớ lò luyện kim cần có lửa) và giúp được Thổ;
Thổ= Đất – mang màu Vàng, đại diện bằng Miền Chính Giữa – TRUNG Tâm. Thổ khắc Thủy (nước thẩm thấu vào lòng đất hay đập đất ngăn được nước chảy) và tương thân với Kim.
Tóm tắt có hai chu kì ngũ hành:
Chu kì SINH: Kim sinh Thủy, Thủy sinh ra Mộc, Mộc sinh Hoả, Hoả tự thiêu sinh ra Thổ, Thổ sinh Kim.
Chu kì KHẮC: Kim khắc Mộc, Mộc khắc Thổ, Thổ khắc Thủy, Thủy khắc Hoả, và Hoả lại khắc Kim.

Hiểu kĩ như vậy ta hãy trở lại quyển Cờ Bạc của HVL trước khi đọc lại Kim Dung. Sau khi đọc được quyển sách bí truyền của Tả Quân Lê Văn Duyệt, tác giả HVL đã cố gắng áp dụng thuyết ngũ hành theo sách Tả Quân đi đá gà ăn tiền. Sau đó không lâu ông lại được cơ hội quen biết với một ‘ông già gân’ chuyên nghề dạy võ gốc người Quảng Ngãi vào Nam sinh sống lâu năm, mang tên Tám Long. Chính ông tám Long khuyên tác giả nếu muốn thấu triệt thuyết ngũ hành hãy đọc lại các pho truyện tàu xưa như Ngũ Hổ, Tiết Nhơn Quí, Tiết Đinh San, Võ Tắc Thiên, v.v. sẽ thấy trong hầu hết các truyện tàu thuyết ngũ hành luôn luôn được ứng dụng triệt để. Các nhân vật chính trong các truyện tàu đều được mô tả qua màu sắc, điển hình trong truyện Thuyết Đường thuật chuyện các người anh hùng lo chuyện lật đổ nhà Tùy để lập nên nhà Đường với vị vua đầu tiên là Lí Thế Dân. Qua truyện đó, người đọc có thể để í các hổ tướng được mô tả rõ rệt qua màu sắc và mạng lí theo Ngũ hành. Thí dụ, như Trình Giảo Kim mặt đỏ râu vàng, mặc áo giáp, đầu đội kim khôi – đặc biệt có hai mạng: khi trên ngựa mạng Hoả (mặt đỏ) và khi xuống ngựa, mạng Thổ (râu vàng); như La Thành, mặt trắng, mình ưa mặc bạch bào đoản giáp trắng, hay dùng cây Bát cổn Ngân thương bạc, cỡi ngựa Kim Thiên Lí Cu: đúng thật mạng Kim; như Đơn Hùng Tín, mặt xanh, chuyên mặc giáp xanh, hay dùng chiếc Kim đính Đông dương sóc, cưỡi con ngựa Thanh tông mã, rõ ràng mang mạng Mộc; Tần Thúc Bảo lại khác, mặt vàng, áo giáp bằng đồng vàng, hay dùng đôi giản đồng và cưỡi ngựa có lông vàng như tơ, đích thị mạng Thổ; và Uất Trì Cung gốc thợ rèn, mặt đen, mặc thiết giáp bằng đồng đen, ra trận dùng ngựa ô tuyền, đúng là mạng Thủy.  Quyển Cờ Bạc đưa một vài thí dụ chứng minh rằng các tác giả người Trung Quốc xưa và nay lúc nào cũng áp dụng thuyết ngũ hành (mạng này khắc mạng kia) trong các trận đánh với nhau. Khuôn khổ bài này có hạn nên chỉ xin trích lại một đoạn tả trận chiến giữa tướng Dương Lâm của nhà Tùy đấu với bên nhà Đường. Bên nhà Tùy ngoài tướng Dương Lâm còn có Thập Nhị Thái bảo lập ra trận Nhất tự trường xà – toàn treo cờ xanh (mạng Mộc). Bên Đường có Trình Giảo Kim và Tần Thúc Bảo – cả hai mang mạng Hoả và Thổ – đánh hoài nhưng không sao phá nổi trận. Sau nhờ có La Thành – mang mạng Kim – chỉ đấu với tướng Dương Lâm có 10 hiệp, đâm Dương Lâm một thương ngay tại mông, phá tan trận và thu được hơn hai muôn hàng binh của nhà Tùy. Kim khắc Mộc là như vậy. Tóm lại khi đọc truyện Tàu ta nên để í trước bổn mạng của các nhân vật rồi sẽ xem họ đấm đá đấu chưởng với nhau ra làm sao. Hằng trăm trận ăn thua hay sống chết với nhau thường dựa sát vào những tương sinh tương khắc của luật Ngũ hành mà thôi. Thí dụ một cao thủ võ lâm mặt đỏ, cỡi ngựa màu đỏ (xích thố), mang kiếm giáp màu đỏ (mạng Hoả) chạy ngựa hay phi thân xuống núi đánh với một nhân vật võ lâm khác, cho dù đó là một bà lão mặt đen mặc quần áo màu đen (mạng Thủy), người đọc sành điệu luật Ngũ hành có thể đoán được rằng tác giả sẽ cho cao thủ từ trên núi xuống kia thế nào cũng sẽ bị thua chạy dài, nếu không bị chém đứt đầu thì cũng bị thương nặng tàn phế võ công!!

Bây giờ xin trở lại những điểm ‘lổng chổng’  trong một vài truyện kiếm hiệp Kim Dung mà người viết còn nhớ. Tuy nhiên, trước hết xin minh định người viết không thể xác nhận người viết có tin vào luật Ngũ Hành hay không, nhưng chỉ có thể tiết lộ rằng qua mấy mươi năm đọc truyện Tàu và kiếm hiệp Kim Dung, cho mãi  đến lúc đọc được quyển Cờ Bạc của Huỳnh Văn Lang người viết vẫn thường cho rằng mấy ông viết truyện Tàu có vẻ quên đầu quên đuôi không áp dụng lô-gích tây phương cặn kẽ, nhất là lô gích kiểu tam đoạn luận: A thắng B, B thắng C, vậy A chắc chắn phải thắng C. Chỉ đến lúc đọc xong đoạn đá gà trong quyển Cờ Bạc, mới thấy truyện Tàu nói chung và võ hiệp Kim Dung nói riêng hiếm khi dựa trên lô-gích tam đoạn luận của Tây Phương, nhưng lại chính yếu dựa trên lô-gích của thuyết Ngũ Hành. Nếu lôgích Tam Đoạn Luận được biểu diễn bằng một đường thẳng đứng (A hơn B, B hơn C, do đó A hơn C, vân vân cho đến A hơn E), lô gích Ngũ Hành sẽ được biểu diễn bằng một vòng tròn (Kim khắc Mộc, Mộc khắc Thổ, Thổ khắc Thủy, Thủy khắc Hoả, nhưng Hoả lại khắc Kim, kết thúc 1 vòng tròn). Đem lô gích của luật Ngũ hành vào truyện Tàu, Tam Đoạn Luận phải cuốn gói đi chỗ khác chơi. Xin trở lại với Kim Dung:

Trước hết xin xét kĩ lại ‘Cô Gái Đồ Long’ tức ‘Ỷ Thiên Đồ Long kí’. Trương Vô Kị mạng gì? Đầu tiên ta để í Vô Kị bị Huyền Minh Thần Chưởng đánh cho bị bệnh gần chết. Huyền Minh thần chưởng lại là một băng hàn chưởng thuộc thế âm chỉ có Cửu Dương chân kinh – thế dương, chất nóng – mới trị được thôi. Sau đó Vô Kị làm Giáo chủ Minh giáo biểu hiệu bằng ngọn lửa, rồi lại mang vào nhiệm vụ đi tìm lại Thánh Hoả lệnh. Hoả hoả hoả. Đích thị Vô Kị mang mạng Hoả. Còn tại sao tác giả gọi Huyền Minh thần chưởng thứ chưởng đã khiến cho VôKị bị trọng thương gần 8, 9 năm trờI mà không gọi Huyết Minh hay Hồng Minh thần chưởng cho có vẻ rùng rợn? Huyền tức Đen chỉ mạng Thuỷ, Thuỷ (nước) dập hay khắc được Hoả (lửa). Thế Chu Chỉ Nhược mang mạng gì mà Vô Kị phải chịu xếp de? Ta xem binh khí hay võ công chính của Chu Chỉ Nhược là gì? Ỷ Thiên kiếm? Không phải, Ỷ Thiên Kiếm thật sự của Diêt Tuyệt Sư Thái, nó màu xanh và Diệt Tuyệt Sư Thái mạng Mộc – dễ bị Vô Kị làm cho quê mặt vì Vô Kị mạng Hoả – Mộc chỉ sinh Hoả (gỗ chỉ bị cháy vì lửa) thôi chứ không khắc được Hoả. Ta nhớ lại Chu Chỉ Nhược nghe lời dặn dò của sư phụ Diệt Tuyệt Sư Thái lo đi ăn cắp bảo đao Đồ Long để rồi dùng Ỷ Thiên Kiếm chặt vỡ đao Đồ Long để lấy quyển bí kiếp Cửu Âm Chân Kinh được dấu trong đao Đồ Long. Mạng Chu Chỉ Nhược dính liền với đao Đồ Long (thầm phục dịch giả Từ Khánh Phụng không biết vì sao ông dịch tựa Ỷ Thiên Đồ Long Kí thành ra Cô Gái Đồ Long – và tất nhiên Chu Chỉ Nhược chính là Cô Gái Đồ Long – sự nghiệp của họ Chu đã dính liền với đao Đồ Long). Đao Đồ Long màu gì? Kim Dung đã tả Dư Đại Nham lần đầu thấy đao Đồ Long, chàng cầm lấy, lau sạch và đem đến gần ánh lửa xem cho kĩ , thấy nó màu ĐEN sì, chẳng phải sắt và cũng chẳng phải vàng. . . (Chương Thứ 3). Màu đen đích thị là màu của mạng Thủy. Mạng của Chu Chỉ Nhược là mạng Thủy. Thủy khắc Hoả (mạng của Trương Vô Kị). Nước dùng để làm tắt lửa!! Và đó cũng xảy ra cùng lúc với chu kì Âm thịnh Dương suy. Vô Kị phải dưới cơ Chu Chỉ Nhược dù giỏi võ và nội công thâm hậu hơn Chu Chỉ Nhược!!! Vô Kị mang tên với nghĩa đơn sơ ‘Không kị thứ gì hết’ thật ra lại kị Thủy và những chất âm đó chứ!

Chưa hết, nếu ta nhớ ở đoạn cuối khi Vô Kị, Chu Chỉ Nhược đấu nhau với 3 sư cụ ở chùa Thiếu Lâm trước mặt bao nhiêu quần hùng. Chu Chỉ Nhược định dùng đòn lén để hạ thủ Tạ Tốn, đột nhiên xuất hiện vài ba thiếu nữ mặc áo vàng phi thân từ đâu đến chỉ múa vài đường quyền qua cây gậy trúc đã đủ áp chế Chu Chỉ Nhược. Trước khi cáo biệt giới võ lâm các thiếu nữ áo vàng đó tiết lộ họ từ núi Chung Nam đến, tức con cháu của Thần Điêu Hiệp Lữ Dương Qua! Thế nhưng tại sao Kim Dung cho họ mặc áo vàng? Lại không mặc áo xanh lam hay áo tím cho  có màu sắc đỡ chói và thơ mộng? Áo vàng dùng để ám chỉ mạng Thổ. Thổ trị Thủy. Chỉ có mấy cô áo vàng (Thổ) mới có cơ trị được Chu Chỉ Nhược (Thủy) theo đúng rơ và cơ sở của Ngũ Hành!!

Vẫn chưa hết, trong Ỷ Thiên Đồ Long kí còn có Y-Dược Sĩ Hồ Thanh Ngưu. Hồ Dược sĩ tối ngày mài miệt với cây cỏ và các vị thuốc, liên quan đến Mộc. Trong tên Hồ Thanh Ngưu có từ THANH dùng để chỉ màu xanh. Màu xanh chính là màu của mạng Mộc. Hồ Thanh Ngưu rõ ràng mang mạng Mộc. Thế Hồ Thanh Ngưu tán mạng vì ai? Vì Kim Hoa Bà Bà, đâu từ phương Tây đến. Kim Dung đã cho thấy rõ chân tướng mạng của Kim Hoa Bà Bà: Tóc bạc trắng, có tên mang chữ KIM, gốc ở phương Tây – mạng Bà Bà mạng KIM. Kim khắc Mộc, nên vợ chồng Hồ Thanh Ngưu phải mất mạng về tay Kim Hoa Bà Bà. Thật quá rõ! Còn một chi tiết nhỏ: Hồ Thanh Ngưu mạng Mộc – Mộc sinh Hỏa, Mộc giúp Hỏa, và Hồ Dược Sĩ đã giúp Vô Kị mạng Hoả một thời gian vài ba năm truyền dạy Vô Kị gần hết những y thuật bí truyền của ông ta.

Thế còn Triệu Minh mạng gì? Triệu Minh có hai đặc tính: người Mông Cổ và yêu rồi cuối cùng nên duyên vợ chồng với đối thủ phản động Trương Vô Kị. Nhìn ở bản đồ, nước Mông Cổ nằm ở hướng TâY Bắc của Trung Hoa. Hướng Tây chỉ mạng KIM, hướng Bắc chỉ mạng Thủy. Có thể Triệu Minh mang mạng Tây và chút ít mạng Thủy hay chăng? Xem kĩ thêm một chút ta thấy Triệu Minh lúc ban đầu mang sứ mệnh đi triệt hạ Minh giáo nhưng sau dần dần đâm ra phục Vô Kị rồi yêu con người hùng đi làm cách mạng này. Tức Triệu Minh (hay Triệu Mẫn trong bản hiệu đính mới của Kim Dung) đã khâm phục rồi yêu Trương giáo chủ hay nói cách khác bị Trương Vô Kị khắc phục bằng tài và . . . tình. Có vẻ Triệu Mẫn mang mạng Kim chính, mạng Thủy phụ. Muốn chắc ăn hơn ta thử liệt kê các đặc tính của một người mang mạng Kim, một người mang mạng Thủy,  mạng Hoả, mạng Thổ và mạng Mộc:
Tính người mạng Kim:  có đầu óc tổ chức, thích ở trong thế chủ động và lãnh đạo, cần cho rằng mình đúng, thích trật tự và sạch sẽ.
Tính người mạng Thủy: giàu tưởng tượng, trung hậu, thông minh, rất ‘cứng cựa’, độc lập, kín đáo, . . .
Tính người mạng Hoả: giàu tình người, nhiều trực giác, thích được thương yêu, thích sôi nổi, giao tế giỏi, . . .
Mạng Thổ: rất chừng mực, hài hoà, trung thành và đòi hỏi trung thành, thích chi tiết, thích bầu bạn nhưng có thể rất cứng đầu.
Mạng Mộc: vui tính, có mục đích, năng động, thích bận rộn, có thể rất hách xì xằng, thực tế, hiếu thắng, . . .

Theo đó Triệu Minh mang nhiều cá tính mạng Kim hơn mạng Thủy và Chu Chỉ Nhược chắc chắn mang mạng Thủy, Vô Kị mạng Hoả. Mối tình giữa Triệu Minh và Vô Kị thật sự là mối tình chớm nở bằng việc khâm phục mến tài. Hoả khắc phục được Kim. Mối tình này khác với mối tình giữa Quách Tỉnh và Hoàng Dung, như sẽ phân tích phiá dưới, đã chứng tỏ ngòi bút hết sức điêu luyện của Kim Dung – mặc nhiên nói lên tình yêu giữa người nam và người nữ – dù cho trong giới giang hồ kiếm hiệp đi nữa (trừ trường hợp anh chàng Pê Đê Đông Phương Bất Bại trong bộ Tiếu Ngạo Giang Hồ) – không một mối tình nào giống mối tình nào.

Bây giờ xin xem qua bộ ‘Xạ Đìêu Anh hùng truyện’ và ‘Võ Lâm Ngũ Bá’. Tổng cộng chừng một phần 5 của Xạ Điêu Anh Hùng truyện đề cập đến truyền tích và hành vi của năm ông võ sư thượng thặng của Trung Quốc trước thời nước Tàu bị Mông Cổ chiếm đóng. Đó là Bắc Cái Hồng Thất Công (Vua Ăn Xin), Tây Độc Âu Dương Phong, Đông Tà Hoàng Dược Sư, Nam Đế Nhất Đăng Đại Sư, và Trung Thần Thông Vương Trùng Dương. Rõ ràng 5 vị võ lâm ngũ bá đại diện cho năm thức Ngũ Hành. Bắc Cái Hồng Thất Công, ông vua ăn xin mặt mày đen đúa ở phiá Bắc (Bắc Cái) mạng THỦY, Tây Độc Âu Dương Phong và cháu là Âu Dương Cơ đi từ BẠCH Đà sơn đến – chuyên môn ăn mặc đồ trắng, kể cả đoàn phụ nữ tùy tùng mặc áo quần màu trắng, mạng KIM. Đông Tà  Hoàng Dược Sư ở phía Đông ưa ở trong vườn đào thích mặc áo màu xanh, đích thị mạng MộC. Nam Đế Nhất Đăng đại sư ở phía Nam mặc áo cà sa màu đỏ, với ngón nghề Nhất dương chỉ, đúng mang mạng HỎA. Trung Thần Thông Vương Trùng Dương có căn cứ ở miền Trung mang mạng THỔ. Kim Dung còn nhấn mạnh ở mạng Thổ của Trùng Dương bằng cách cho ông sư tổ phái Toàn Chân này chết giả chôn vào lòng đất mấy ngày – chờ Âu Dương Phong đến cạy hòm để ăn cắp Cửu Âm chân kinh – chợt tỉnh dậy thọc vào mặt họ Âu Dương một ngón Nhất Dương chỉ đau cho gần chết (!) cho Âu Dương tởn đến già. Võ lâm ngũ bá nói nôm na dùng để chỉ sự hài hoà của 5 nguyên tố của Ngũ hành. Bởi vậy để cân bằng sự hài hoà đó Kim Dung cho vào nhân vật Lão Ngoan Đồng Châu Bá Thông sau khi Vương Trùng Dương chết đi một thời gian. Châu Bá Thông là sư đệ hay lí lắc như con nít của Vương Trùng Dương, đặt ra để thay thế họ Vương trong mạng Thổ để đối phó cân bằng với bốn tay cao thủ hạng nhất kia. Ta để ý sự hài hoà ngũ hành đó rất ngộ nghĩnh như sau:
. Đông tà mạng Mộc, có thể trị Thổ (Vương Trùng Dương) nếu đánh nhau gay gắt, nhưng Kim Dung cho Đông Tà có vẻ mến và thích Vương Trùng Dương nên ít khi chạm trán trực tiếp với họ Vương. Nhưng rõ ràng Mộc vẫn trị Thổ như thường qua việc Đông Tà khắc phục được và giam cầm Châu Bá Thông trên đảo đào hoa suốt 20 năm trời để bắt buộc họ Châu phải chép ra hay đọc ra Cửu Âm Chân Kinh cho Đông Tà!
. Nam Đế mạng Hỏa trực tiếp có thể khống chế mạng Kim của Tây Độc Âu Dương Phong. Thì đó Âu Dương Phong chỉ sợ có ngón Nhất Dương chỉ của người võ lâm ở phương Nam mà thôi.
. Mạng Kim của Âu Dương Phong chính ra có thể thắng được Hoàng Dược Sư, mạng Mộc. Nhưng hình như giữa họ Âu Dương và họ Hoàng có tình nể nang đồng nghiệp (professional courtesy) với nhau. Đó là tình mến nhau nhường nhau giữa tên ăn cướp và bà già ăn trộm, nên họ lại ít đấu nhau cho chí tử.
. Mạng Thủy của Hồng Thất Công có thể trị được Nhất Dương chỉ của Đoàn Nam Đế (mạng Hoả). Nhưng không được họ lại cùng phe thiện và thương người như nhau!
. Tương tự mạng Thổ của Vương Trùng Dương có thể chặn mạng Thủy cuả Hồng Thất Công (Bắc Cái), nhưng không họ mến tài mến đức của nhau.
. Âu Dương Phong mạng Kim và Hồng Thất Công mạng Thủy không có khắc gì với nhau – nên không ai hạ được ai hết. Rốt cuộc trong một trận đấu cuối cùng trên núi tuyết trong truyện ‘Thần Điêu Hiệp Lữ’ (nối tiếp ‘Anh Hùng Xạ Điêu) hai ông lão đấu nhau mấy ngày đêm rồi đều lăn đùng ra chết, trước chứng kiến của Dương Qua.
. Hoàng Dược Sư mang mạng Mộc nên mang tính hiếu thắng. Ông ta mất vợ cũng chỉ vì kêu vợ cố nhớ lại rồi viết ra bản Cửu Âm Chân kinh học lóm được từ Chu Bá Thông. Có lẽ ông cũng mang chút ít mạng Thổ nên ông đã đòi hỏi trung thành của mọi người, nhất là đám đệ tử. Sau khi cặp học trò Trần Huyền Phong và Mai Siêu Phong ăn cắp quyển copy của Cửu Âm Chân Kinh trốn đi, Hoàng Đông Tà nổi giận cắt hết gân của những người học trò còn lại rồi đuổi đi hết.

Kim Dung đã cấu tạo cá tính nhân vật thật hay và Ngũ hành được đại diện rất đầy đủ, vững chắc trong ‘Anh Hùng Xạ Điêu’. Sự cân bằng ngũ hành trong Võ Lâm Ngũ Bá và Anh Hùng Xạ Điêu chính là cân bằng hài hoà trong một thế động, luôn luôn động. Người này khắc chế người kia xoay vòng cho giáp, để rồi rốt cuộc không hề có một người nào thật xuất chúng trồi lên trên cao. Thế Hoàng Dung và Quách Tỉnh mang mạng gì? Hoàng Dung nhỏ lớn sống ở Đào Hoa Đảo bên phía Đông. Hoàng Dung mang mạng Mộc như thân phụ Hoàng Dược Sư. Muốn cho độc giả thấy rõ Hoàng Dung mạng Mộc tiêu biểu bằng màu xanh, Kim Dung bày ra màn Hoàng Dung được Hồng Thất Công truyền chức Bang Chủ Cái Bang và giao cho nàng cây gậy trúc màu XANH với bài quyền độc đáo Đả Cẩu Bổng Pháp (bài quyền dùng gậy đánh chó của giới ăn xin). Cây gậy trúc màu xanh và bài quyền Đả cẩu bổng được xem như ấn tín của Cái Bang. Ai có được hai thứ đó trong tay đều được bang chúng nhìn nhận là Bang Chủ. Chọn gậy trúc màu xanh thay vì màu thông thường là màu vàng Kim Dung khẳng định Hoàng Dung mang mạng Mộc. Thế nhưng tại sao Hồng Thất Công mang gậy trúc màu xanh lại có mạng Thủy? Kim Dung trốn khỏi mâu thuẫn này dễ dàng bằng cách cho ngón võ nghề chính yếu của Hồng Thất Công là Hàng Long Thập Bát Chưởng, Long tức rồng liên hệ với nước, mạng Thủy. Trong khi đó Quách Tỉnh mang mạng Hoả – người gốc Hàng Châu, cũng có thể được tạm gọi phía Nam Trung Hoa (Hoa Nam) vì nằm phía Nam sông Dương Tử. Kim Dung lại muốn cho chắc chắn nên cài Quách Tỉnh làm đồ đệ của Giang NAM Thất Quái. Liên hệ mật thiết với Giang Nam Thất Quái, Quách tỉnh có gốc gác phương Nam và mạng Hoả. Mộc  sinh Hoả. Cây dễ bị bén lửa. Mộc Hoàng Dung dễ cảm mến và yêu Hoả Quách Tỉnh. Mộc sinh Hoả và giúp Hoả. Nhớ trong truyện có rất nhiều đoạn Hoàng Dung cầu cạnh các cao thủ khác, nhất là Hồng Thất Công, truyền dạy võ nghệ thêm cho chàng khờ Quách Tỉnh. Nàng lo nấu những bữa ăn ngon cho Bắc Cái Hồng Thất Công để ông vua ăn xin này truyền ngón Hàng Long Thập Bát chưởng cho Quách Tỉnh. Tình yêu giữa Hoàng Dung và Quách Tỉnh là thứ tình yêu lo và giúp chồng thành công. Nó khác với thứ tình yêu mến và khắc phục giữa Triệu Minh và Trương Vô Kị trong Cô Gái Đồ Long như đã nói ở trên. Và cũng khác hẳn mối tình giữa Tiểu Long Nữ và Dương Qua trong Thần Điêu Hiệp Lữ – cả hai đều cùng mạng Thổ, bởi sống và tập luyện võ vớI nhau dưới lòng đất nơi Cổ Mộ rất lâu năm. Ai nói Kim Dung không tuyệt chiêu trong việc tả tình yêu đôi lứa chắc phải suy nghĩ  lại. Tiện ở đây cũng ghi thêm Dương Khang có lẽ cũng mạng Hoả như Quách Tỉnh (cùng gốc Hàng Châu) nên trên đường giang hồ, trong một phút ghen tương sao đó vì nàng Mục Niệm Từ, Dương Khang đã lụi vào một cao thủ võ công giỏi hơn mình là Âu Dương Cơ thuộc mạng Kim một nhát dao đến mút cán. Ngoài ra Hoàng Dung mạng Mộc rất kị những người mạng Kim như Âu Dương Cơ và Thiết Bang Chưởng Cừu Thiên Nhận. Có lần Hoàng Dung tính giỡn mặt với ông Thiết Bang Cừu Thiên Nhận thứ thiệt vì lầm tưởng ông này là ông giả, bị ông này đập cho một chưởng như buá sắt đập (Thiết tức sắt, mạng Kim) đâm ra bệnh gần chết. Sau phải nhờ Đoàn Nam Đế (mạng Hoả, Hoả trị Kim) với ngón Nhất Dương Chỉ trị mới khỏi. Kim Dung đã viết thật hay và phô bày rất cặn kẽ về luật Ngũ Hành trên ngót một ngàn trang sách cho  Anh Hùng Xạ Điêu. Bố cục và sự giao động cũng như đãu chưởng tranh hùng  giữa các cao thủ với nhau đều hoàn toàn nằm trong cơ sở lô-gích của thuyết Ngũ Hành.

Thế còn những Đoàn Dự, Tiêu Phong, Mộ Dung Phục, Hư Trúc, và Du Thản Chi cùng một lô các cao thủ khác trong Thiên Long Bát Bộ thì sao?  Những Lệnh Hồ Xung, Nhâm Doanh Doanh, Nhâm Ngã Hành, Đông Phương Bất Bại, Nhạc Linh San, Phong Thanh Dương đạo nhân, Điền Kế Quang, Nhạc Bất Quần, v.v.  trong Tiếu Ngạo Giang Hồ, họ được chiếu theo các mạng nào trong Ngũ Hành?

Người viết thú thật chỉ đọc được Thiên Long Bát Bộ và Tiếu Ngạo Giang Hồ có một lần – và xem phim tập Hongkong cũng chỉ một lần thôi. Chỉ nhớ được mơ hồ rằng Mộ Dung Phục tuy có  gốc tổ tiên nước Yên (ở phía cực Bắc) nhưng giấc mơ phục quốc của Mộ Dung vẫn mãi mãi một giấc mơ hảo huyền, nên Mộ Dung Phục dính liền với đất Giang Nam, mạng Hoả. Kim Dung nhấn mạnh thêm Bắc Tiêu Phong Nam Mộ Dung, và cho Tiêu Phong thuộc người Khất Đan ở phía Bắc nước Trung Hoa. Mạng Thủy của Tiêu Phong khắc mạng Hoả của Mộ Dung Phục mặc dù rất nhiều đoạn Kim Dung mô tả võ nghệ của Mộ Dung Phục rất thần sầu quỉ khốc. Mỗi lần gặp Tiêu Phong ta để í thấy Mộ Dung Phục có vẻ hơi ngán mặc dù lúc nào anh ta cũng đầy tự tin mình giỏi võ hơn người. Có lẽ dưới cơ Tiêu Phong chỉ vì cái ‘rơ’ mà thôi. Cái rơ Ngũ hành!

Phần quan sát thế ngũ hành của các nhân vật còn lại trong Thiên Long Bát Bộ và các cao thủ của Tiếu Ngạo Giang Hồ, nhân vì bài đã khá dài, người viết xin trân trọng nhường lại cho người đọc.

NN

Thử đọc lại Kim Dung phần 2


Lịch sử Kinh Rạch xưa và nay ở Sàigòn-Chợ Lớn

LỊCH SỬ KINH RẠCH Ở SÀI GÒN – CHỢ LỚN

 

I. KHÁI QUÁT VỀ ĐỊA THẾ SÀI GÒN – CHỢ LỚN

Sài Gòn ban đầu là tên gọi khu đất thuộc Quận 5 hiện nay.Năm 1778, quân Tây Sơn lấy cớ người Hoa trợ giúp cho Nguyễn Ánh nên đã tàn phá cù lao Phố (nay là xã Hiệp Hòa, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai). Những người Hoa còn sống sót rút chạy về vùng này, lập phố thị Đề Ngạn (nghĩa là “bờ đê”). Theo nhiều nhà nghiên cứu thì người Hoa Quảng Đông phát âm “Đề Ngạn” thành “Thầy Ngồn”, lâu ngày đọc trại thành “Sài Gòn”[1]. Đến khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, theo nghị định ngày 3/10/1865 của Thống đốc Nam kỳ, chúng xây dựng nên hai thành phố riêng biệt, cách nhau bởi một số ruộng bưng, ao đầm ở vùng Chợ Quán. Thành phố Sài Gòn có diện tích khoảng 3km2, nằm gọn trong địa phận Quận 1 ngày nay; thành phố Chợ Lớn có diện tích không đầy 1km2, nằm gọn trong Quận 5 ngày nay[2]. Như vậy, đến đây hai tiếng “Sài Gòn” lại được đặt tên cho vùng mà trước đó có tên gọi là Bến Nghé, còn vùng đất Sài Gòn cũ được đổi tên thành Chợ Lớn. Nhưng không bao lâu sao đó thì, do sự mở rộng của hai thành phố nên Sài Gòn và Chợ Lớn đã tiếp giáp với nhau thành một địa bàn, gọi chung là Sài Gòn – Chợ Lớn.

Vùng đất Sài Gòn – Chợ Lớn là đầu mối giao thông thủy bộ giữa miền Đông và miền Tây Nam Bộ. Ưu thế đó đi kèm với điểm bất lợi, vì đó là nơi “phong hồi thủy tụ” nên địa hình trũng thấp, khó có thể chọn làm trung tâm. Bởi thế mà năm 1785, sau khi Nguyễn Huệ kéo quân vào Nam đánh tan hai vạn quân Xiêm và giao cho Nguyễn Trấn ở lại giữ đất Gia Định, thì ông liền chọn địa điểm cầu Sơn (nay là Phường 25 và 26, quận Bình Thạnh) để đóng binh. “Cầu Sơn nằm trên gò cao, giữa là đồng bằng, dưới có ruộng cạn”[3], thuận lợi cho thế phòng thủ và tiến quân.

Quả thật, Sài Gòn – Chợ Lớn lúc bấy giờ là vùng trũng thấp, sông rạch chằng chịt. Ngay tiếng “Đề” (đê) trong địa danh Đề Ngạn cũng cho biết đây là vùng đất trũng, cho nên người Hoa phải đắp đê (hiểu là dãy đất cao) ven rạch Tàu Hủ để cất phố chợ. Theo Trần Kim Thạch thì khu vực từ rạch Bến Nghé trở xuống hướng Nam , “địa hình xấp xỉ mặt nước biển, đi từ + 0,5m đến +3m, thường bị triều bao phủ gần hết”[4]. Chính vì vậy mà theo Trương Vĩnh Ký thì xung quanh gò Cây Mai hàng năm có “tổ chức các cuộc đua thuyền để tôn vinh đức Phật”[5]. Về phía Sài Gòn (hiểu là khu vực Quận 1 hiện nay) có một con đường dù đã được đắp cao để đi lại nhưng nước vẫn thấm ướt quanh năm, nên gọi là đường Nước Nhỉ[6], nghĩa là luôn có nước nhỉ giọt:

Đường Nước Nhỉ chảy tiu tiu,

Người thương khách lại qua hóng mát.

(Cổ Gia Định phong cảnh vịnh)

Về phía Chợ Lớn, có con rạch mang tên Nước Lên[7], chỉ hiện tượng triều cường dâng lên gây ngập tràn:

Quán Nước Lên dòng dờn dợn,

Khách bộ hành tắm giặt nghỉ ngơi.

(Cổ Gia Định phong cảnh vịnh)

Bởi vậy mà giao thông chủ yếu bằng thuyền, luồn lách theo hệ thống kinh rạch[8] chằng chịt. “Sự đi lại trên rạch khác nào như sợi chỉ của một con thoi qua lại trên máy dệt”[9].

Thế nhưng, khác với quân Tây Sơn, chúa Nguyễn Phúc Tần, ngay từ năm 1679, đã chọn Bến Nghé làm nơi lập đồn binh vì thấy được tính chất là đầu mối giao thông của địa điểm này. Từ đó, theo thời gian, trụ sở hành chính của Gia Định như dinh Điều Khiển[10] (1732), thành Bát Quái, tức thành Quy[11] (1790), thành Phụng[12] (1835) rồi phủ Toàn quyền Đông Dương (1869) đều được đặt ở vùng Bến Nghé, tức Sài Gòn. Tuy nhiên, Bến Nghé chỉ là trung tâm hành chính, còn trung tâm thương mại thực sự thu hút đông đảo dân cư lại là Chợ Lớn.

Như vậy, trong suốt hơn ba trăm năm, Sài Gòn và Chợ Lớn đồng thời là trung tâm của cả Nam Bộ. Chính điều đó, cộng với nền kinh tế tư bản của chế độ thuộc địa khiến cho, hơn ở đâu hết, vùng này đã có những thay đổi lớn lao không ngờ, mà chủ yếu là công cuộc khắc phục địa hình trũng thấp để xây dựng đô thị. Đặc biệt, kể từ khi Pháp xâm chiếm thì tốc độ đô thị hóa của Sài Gòn – Chợ Lớn càng thêm khẩn trương. Trong quá trình đó thì vấn đề giao thông được đặt ra sớm nhất vì đó là điều kiện tiên quyết để phát triển đô thị.

Nhìn lại xuyên suốt quá trình phát triển của Sài Gòn – Chợ Lớn từ khu đầm lầy thành phố thị nguy nga như ngày nay, thật dễ dàng nhận thấy phương thức giao thông của nó chuyển dần từ đường thủy sang đường bộ. Bởi thế mà vấn đề lịch sử kinh rạch ở đây trở thành vấn đề lịch sử phát triển chung của cả thành phố.

 

II. LỊCH SỬ KINH RẠCH Ở SÀI GÒN – CHỢ LỚN

Như đã nói, kinh rạch ở Sài Gòn – Chợ Lớn nhiều vô kể, có những con rạch không có tên hoặc có tên nhưng ít ai biết đến[13]. Do đó, bài viết này chỉ ghi chép lại những thông tin về các kinh rạch được nhiều người biết đến, mà chủ yếu là sự hình thành và tiêu vong của chúng.

 

(Sơ đồ kinh rạch ở Sài Gòn – Chợ Lớn xưa và nay: của Lê Công Lý).

 

1. Kinh rạch ở Chợ Lớn

Trước hết, phải kể đến kinh rạch ở Chợ Lớn, vì vùng này được đào kinh sớm nhất do nằm ở vị trí giao thương với miền Tây.

Năm 1772, đào kinh Ruột Ngựa. Trước đó, từ cửa sông Rạch Cát về đến rạch Lò Gốm chỉ có con rạch nhỏ nước đọng, thuyền bè đi lại không được. Mùa thu năm 1772, Đốc chiến Nguyễn Cửu Đàm (con trai của Chánh thống Nguyễn Cửu Vân) cho đào thành kinh thẳng tắp như ruột ngựa, nên gọi là kinh Ruột Ngựa (chữ Hán gọi Mã Trường Giang)[14]. Kinh Ruột Ngựa nối kinh Tàu Hủ ăn ra sông Rạch Cát, dài gần 3 km. Từ đó, có thể rẽ trái đi Cần Đước, Cần Giuộc; rẽ phải đi Chợ Đệm, Bến Lức. Kinh Ruột Ngựa tuy ngắn nhưng giữ vai trò cực kì quan trọng, là kinh đào đầu tiên nối kinh Tàu Hủ và vùng Chợ Lớn với vùng đất phía tây.

Kế đến là việc đào kinh Phố Xếp[15]. Khi vừa từ cù lao Phố  lánh nạn Tây Sơn về Chợ Lớn (năm 1778), người Hoa có nhu cầu mở thêm phố chợ nên đào thêm kinh Phố Xếp, nối rạch Tàu Hủ cắt ngang rạch Chợ Lớn, lên hướng bắc đến chợ Rẫy (nay là bệnh viện Chợ Rẫy). Chợ này nằm trên gò đất cao, xung quanh đó người Hoa trồng rau cải để bán. Lúc này hoạt động buôn bán ở Chợ Lớn còn rất yếu, chỉ có chợ Rẫy là phát triển, nên Trương Vĩnh Ký khẳng định: “Thực sự, Chợ Lớn xưa nằm trên nền đất Chợ Rẫy bây giờ”[16].

Kinh Phố Xếp giúp vận chuyển rau cải ra rạch Tàu Hủ và đi khắp nơi. Kinh này tồn tại mãi đến năm 1925 mới bị lấp, thành đại lộ Tổng Đốc Phương, nay là đường Châu Văn Liêm ở Quận 5.

Đến năm 1819, kinh Ruột Ngựa đã bị cạn lấp, ghe xuồng đi lại khó khăn nên mùa xuân năm này, Phó tổng trấn Gia Định thành là Huỳnh Công Lý vâng lệnh đốc thúc hơn 10 000 dân phu trong trấn Phiên An[17] đào kinh mới từ đầu rạch Lò Gốm đến cuối rạch Ruột Ngựa, nối kinh Tàu Hủ thông với sông Rạch Cát. Kinh đào xong rộng khoảng 40 mét, sâu khoảng 4 mét, dài khoảng 5 km, được vua Gia Long đặt tên là An Thông Hà. Nhờ đó mà ghe thuyền đi lại được nhanh chóng, dân thương hồ “bơi chèo hát xướng ngày đêm nối nhau, thực là nơi đô hội trên bến dưới thuyền, người ta đều khen là thuận lợi”[18].

Đến khi Pháp chiếm Nam Bộ, tuy làm chủ được tình thế nhưng kẻ xâm lược luôn phải đối phó với nhiều đợt tấn công của nghĩa quân ta từ phía Đồng Tháp Mười. Vì thế nên chúng cho đào kinh Vành Đai (Canal de Ceinture) hình vòng cung bao bọc phía bắc của Sài Gòn – Chợ Lớn, còn gọi là kinh Vòng Thành hay kinh Bao Ngạn (tức “bờ bao”). Kinh này “dài 7 km, rộng 10m, sâu 3m. Đào năm 1875, nối rạch Thị Nghè và rạch Hoa Kiều[19]. Nay[20], không còn tác dụng gì, bị đóng bùn. Rạch Thị Nghè mà nó chảy vào, thuyền bè không đi lại được khi triều rút quá cầu Phú Mỹ[21]. Trong vùng Phú Thọ, lòng kinh bị đắp cao hơn mực nước triều”[22].

Theo dự án, kinh được xuất phát từ ngã ba giữa rạch Chợ Lớn và rạch Lò Gốm đến gò Cây Mai (nay là đường Nguyễn Thị Nhỏ, Quận 11), vòng qua Phú Thọ, đến Hòa Hưng rồi đổ ra rạch Thị Nghè ở vị trí nay là cầu Công Lý. Bờ kinh là đường bộ cho lính canh phòng, dưới kinh là tàu chiến cỡ nhỏ di chuyển. Thế nhưng, do dân phu đấu tranh và nghĩa quân đánh phá liên miên nên công trình dang dở dù đã đào được thành đường kinh, sau đó được lấp dần.

Bước sang đầu thế kỉ XX, nhờ sự giúp đỡ của chính quyền thuộc địa, nền thương mại của Hoa kiều phát triển mạnh, mà chủ yếu là việc thu mua lúa từ miền Tây chở về Chợ Lớn xay thành gạo xuất khẩu. Do đó, kinh Tàu Hủ đã tỏ ra quá tải trước lượng ghe thuyền tấp nập, nên từ năm 1906 đến 1908, Pháp cho đào một con kinh mới từ sông Sài Gòn đi về phía tây, ăn đến sông Rạch Cát, dài khoảng 13 km. Đoạn từ sông Sài Gòn đến Chợ Quán khoảng 4 km có tên tên là kinh Tẽ (vì được xem như là một nhánh tẽ của kinh Bến Nghé), nhưng sau đó bị đọc và viết nhầm là kinh Tẻ; đoạn còn lại có tên là kinh Đôi (Pháp gọi là Canal de Doublement) vì gần như song song với kinh Tàu Hủ.[23] Tuyến kinh mới này nhờ được thi công bằng cơ giới nên vừa rộng vừa thẳng, làm tăng thêm đáng kể khả năng thông thương giữa Sài Gòn – Chợ Lớn với miền Tây.

Hoạt động thương mại ở Chợ Lớn phát triển kéo theo nhu cầu mở rộng đô thị. Chính điều này dẫn đến việc lấp rạch Chợ Lớn. Con rạch này vốn đã có từ lâu đời, đến năm1925 được lấp thành đường giao thông. Đoạn gần rạch Lò Gốm thành đường Trương Tấn Bửu (nay là đường Lê Quang Sung), đoạn giữa vốn là những ụ chuyên đóng mới và sửa chữa tàu thuyền, thành bến xe Chợ Lớn, đoạn giáp với rạch Tàu Hủ thành đường Khổng Tử (nay là đường Hải Thượng Lãn Ông). Năm 1930, trên bờ rạch Chợ Lớn cũ, chợ Bình Tây (tức Chợ Lớn mới) do Quách Đàm (một người Hoa) xây dựng khánh thành, hoạt động mua bán càng thêm sầm uất nên ít ai còn nhớ con rạch này.

 

2.      Kinh rạch ở Sài Gòn

Kinh rạch ở Sài Gòn chỉ được đào lấp kể từ khi Pháp xâm lược nước ta và chọn Sài Gòn làm trung tâm hành chính, mở mang phố chợ. Trước đó, hoạt động mua bán chỉ phát triển ở Chợ Lớn, do người Hoa khuếch trương.

Năm 1860, việc lấp kinh rạch đã gây cuộc tranh cãi lớn trong Hội đồng thành phố, giữa quan điểm đấu tranh cho vệ sinh công cộng coi kinh rạch như các ổ nhiễm khuẩn và quan điểm của nhóm thương nhân coi kinh rạch như huyết mạch để vận chuyển hàng hóa[24]. Chính vì phải điều đình giữa hai quan điểm đó mà việc đào lấp kinh rạch ở Sài Gòn diễn ra khá chậm chạp.

Năm 1862, đô đốc Bonard thực hiện phân lô vùng Bến Nghé thành nhiều khoảnh và bán với giá rẻ để thu hút  dân cư. Năm 1867, kinh Chợ Vải được đào, từ sông Sài Gòn, gần đầu rạch Cầu Sấu (nay là đường Hàm Nghi) ăn vô đến giếng nước cùng tên rồi rẽ phải ở chỗ nay là Nhà hát Thành Phố, ra rạch Thị Nghè bằng kinh Coffin. Trên bờ kinh này có ngôi chợ chuyên bán vải vóc nên có tên là chợ Vải. Năm1911, chợ này được dời về vị trí mới, chỗ vũng ao đầm vừa được lấp lại[25], tức là chợ Bến Thành hôm nay. Năm 1884, kinh được lấp phần ngọn từ vị trí nay là đường Lê Lợi đến đường Mạc Thị Bưởi, phần còn lại được cẩn đá hai bên bờ, cách khoảng có xây bậc thang để vận chuyển hàng hóa lên xuống. Đến năm 1892, đoạn còn lại cũng được lấp thành đường phố, gọi là đường Charner, dân gian gọi là đường Kinh Lấp, nay là đường Nguyễn Huệ.

Kinh Coffin nối rạch Cầu Sấu, kinh Chợ Vải và kinh Cây Cám với nhau, do đại tá Coffin chỉ huy đào, đến năm 1892 cũng bị lấp cùng với hàng loạt kinh rạch nhỏ khác. Kinh Coffin trở thành đường Bonard, nay là đường Lê Lợi. Rạch Cây Cám trở thành đường Espagne (tức Tây Ban Nha), nay là đường Lê Thánh Tôn. Rạch Cầu Sấu trở thành đại lộ De la Somme, sau đổi thành Duperré, nay là đường Hàm Nghi. Rạch Cầu Ông Lãnh trở thành đường Kitchener (1907), sau đó đổi thành Abattoir (lò sát sinh, tức xóm Lò Heo), nay là đường Nguyễn Thái Học. Rạch Cầu Kho được lấp thành đường Cầu Kho, sau đó đổi là đường Phát Diệm, nay là đường Trần Đình Xu.

Ngoài ra, còn hàng loạt kinh rạch khác cũng được lấp dần, tự phát do nhu cầu chỗ ở của người dân, như rạch Cầu Muối, rạch Bà Tiềm, rạch Bà Đô (tức rạch Xóm Chiếu), rạch Cầu Hộc, rạch Xóm Dầu, rạch Bà Tịnh, v.v. Đô thị phát triển đến đâu thì kinh rạch bị lấp đến đó.

Trong khi đó, con sông Sài Gòn lúc này là tuyến vận tải chính nhưng lại quá cong quẹo nên vận chuyển tốn kém nhiều công sức và tiền của. Vì vậy nên nhà cầm quyền Pháp quyết định cho đào kinh Thanh Đa[26], “dài 1 km, rộng 40m, sâu 6m. Đào từ 1897 đến 1898. Kinh này vừa mới được mở ra cho thuyền bè qua lại. Nó cắt vòng thắt từ Bình Lợi đến An Phú và rút ngắn được 12km theo dòng chảy của sông Sài Gòn”[27].

 

3.      Kinh rạch ở phía nam rạch Bến Nghé

Vùng phía nam rạch Bến Nghé cũng có vô số kinh rạch nhưng vì tốc độ đô thị hóa chậm hơn nên mới chỉ bị lấp gần đây. Chẳng hạn, rạch Cầu Chông ở Phường 9, Quận 4 lấp năm1997, thành đường Vĩnh Khánh. Phần ngọn rạch Ụ Cây (phía sau chợ Xóm Củi, Quận 8) được lấp dần vào khoảng cuối thập niên 1990 do những phế phẩm từ hoạt động buôn bán của ngôi chợ này. Rạch Bàng ở Quận 7, bên kia dốc cầu Tân Thuận vốn đã cạn từ lâu, đến năm 2005, khi tiến hành xây dựng cầu Tân Thuận mới, người ta lấp hẳn để làm đường mang cá cho cầu này. Ngoài ra, cùng với việc xây dựng khu đô thị mới Phú Mỹ Hưng ở Quận 7 và đường cao tốc Nam Sài Gòn, hàng loạt kinh rạch khác cũng bị lấp đi để nhường chỗ cho đường giao thông, cống hộp và nhà cao tầng.

Tuy nhiên, đáng chú ý nhất là năm 2005, người ta đã lấp đoạn đầu của rạch Bến Nghé, phần tiếp giáp với sông Sài Gòn để thi công xây dựng đường hầm Thủ Thiêm (hầm ngầm xuyên qua lòng sông Sài Gòn, sang Quạn 2) và đại lộ Đông – Tây dọc theo rạch Bến Nghé, đi về các tỉnh miền Tây. Theo dự án thì sau khi thi công xong đường hầm, sẽ khai thông rạch Bến Nghé trở lại để bảo lưu cảnh quan sông nước vốn có của vùng đất này. Do đó, toàn bộ chiều dài rạch Bến Nghé đã được giải tỏa và đang nạo vét, xây bờ kè để đảm bảo dòng chảy thông thoáng trong tương lai.

*     *     *

Điểm qua lịch sử kinh rạch ở Sài Gòn – Chợ Lớn, có thể thấy kinh rạch chủ yếu bị tác động bởi quá trình đô thị hóa (dù đào hay lấp) mà động lực của nó chính là kinh tế. Ban đầu, khi giao thông trên bộ chưa phát triển thì người ta tận dụng và đào kinh để giao thương. Đến khi phương tiện giao thông trên bộ phát triển thì kinh rạch lại được lấp đi để nhường chỗ cho đường sá và nhà cửa, công trình. Bởi vậy mà phần lớn những con đường xưa ở Sài Gòn – Chợ Lớn hiện nay trước kia chính là kinh rạch. Và đó cũng là khu vực có trình độ đô thị hóa cao, đặc biệt là luôn có chợ lớn, buôn bán tấp nập.

Tuy nhiên, quá trình lấp kinh rạch một mặt giúp cho nền đất thành phố thêm cao ráo nhất thời, một mặt lại tiềm ẩn nguy cơ ngập úng không còn xa mấy. Nguyên nhân là vì các kinh rạch xưa luôn được phân bố theo địa hình tự nhiên và thuận lợi cho dòng chảy; nay bị lấp đi, thay bằng hệ thống cống hộp vừa nhỏ vừa dễ bị tắc nghẽn, khiến nước không thoát kịp ra sông và dẫn đến ngập cục bộ. Mặt khác, do kinh rạch bị lấp quá nhiều nên mỗi khi triều cường dâng lên, dòng nước bị chặn lại nên cũng gây ngập cục bộ. Nạn ngập úng này diễn ra ở hầu hết các quận huyện, kể cả nội thành, với độ sâu từ 0,3 – 1m, nhưng nặng nề nhất là ở Quận 8 và quận Bình Thạnh. Điều này cộng với nạn khai thác nước ngầm trái phép khiến nền đất ở nội thành bị lún đều đặn mỗi năm đến vài cm. Đó chính là sự phản ứng của tự nhiên khi con người đã làm trái với nó. Và cứ theo đà này thì, nếu con người không khai thông dòng chảy, Sài Gòn – Chợ Lớn chắc chắn sẽ quay trở lại diện mạo của mấy trăm năm về trước: một khu đầm lầy.

Để khai thông hệ thống cống ngầm của thành phố thì trước hết phải giải quyết lượng rác thải khổng lồ ứ đọng trong lòng cống. Do là vùng trũng, lại nằm trong chế độ bán nhật triều nên khả năng cuốn trôi rác thải của kinh  rạch ở Sài Gòn – Chợ Lớn là rất thấp. Bởi vì khi nước triều rút đi, rác rến chưa trôi theo được bao nhiêu thì lại bị triều dâng đẩy trở lại vị trí cũ. Chính vì vậy mà ngay từ năm 1862, trong dự án “Sài Gòn – thành phố 500.000 dân”, Coffin (Đại tá Chỉ huy trưởng Công binh Pháp) đã có ý định đào một hồ lớn ở trung tâm thành phố. Từ đây chĩa đi bốn hướng bằng bốn đường cống đến sông Sài Gòn, rạch Bến Nghé, kinh Vành Đai và rạch Thị Nghè. Nhờ các cửa ngăn tự động cho phép nước chảy một chiều, hồ này có thể điều chỉnh cho nước trong mỗi đường cống chỉ chảy theo một hướng, giúp rác thải trôi ra sông[28]. Tuy đó là dự án của thành phố Sài Gòn chỉ với 500.000 dân và cách đây gần 1,5 thế kỉ nhưng chứng tỏ nhà quy hoạch đã nhìn thấy được nguyên nhân số một của hiện tượng ngập úng. Ngày nay, trong điều kiện hiện tại của thành phố thì ý tưởng trên càng nên được quan tâm nghiên cứu có cải tiến vì nó tỏ ra là biện pháp hiệu quả, ít tốn kém và rất khả thi.

Người viết : Lê Công Lý

 

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO VÀ TRÍCH DẪN

1.      Huỳnh Minh. Gia Định xưa, 1973, Nxb Thanh Niên, 2001.

2.      Huỳnh Ngọc Trảng (chủ biên). Sài Gòn Gia Định xưa, tư liệu và hình ảnh, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 1997.

3.      Lê Trung Hoa, Nguyễn Đình Tư. Từ điển địa danh Thành phố Sài Gòn  – Hồ Chí Minh, Nxb Trẻ, 2003.

4.      Nguyễn Liên Phong. Nam Kì phong tục nhơn vật diễn ca, Phát Toán, Sài Gòn, 1909.

5.      Nguyễn Thị Thanh Xuân, Nguyễn Khuê, Trần Khuê. Sài Gòn Gia Định qua thơ văn xưa, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 1987.

6.      Nhiều tác giả. Địa danh ở Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh. Nxb Trẻ, 1993.

7.      Nhiều tác giả. Sài Gòn – Thành phố Hồ Chí Minh, 300 năm địa chính, Sở Văn hoá – Thông tin Thành phố Hồ Chí Minh xb, 1998.

8.      Nhiều tác giả. Sài Gòn 1698 – 1998 kiến trúc, quy hoạch, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 1998.

9.      Nhiều tác giả. Địa chí Quận 5 – Thành phố Hồ Chí Minh, Quận ủy, UBND Quận 5, 2000.

10. Quốc sử quán triều Nguyễn. Đại Nam nhất thống chí, Lục tỉnh Nam Việt, Nha Văn hóa – Bộ Quốc gia Giáo dục xb, Sài Gòn, 1959.

11. Société des Études Indo-chinoises (Hội Nghiên cứu Đông Dương). Monographie de la province de Gia Đinh (Địa phương chí tỉnh Gia Định), Imprimerie L.Ménard, 1902.

12. Sơn Nam . Đất Gia Định xưa, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 1984.

13. Sơn Nam . Bến Nghé xưa, Nxb Văn Nghệ Thành phố Hồ Chí Minh, 1992.

14.  Thạch Phương, Lê Trung Hoa chủ biên. Từ điển Thành phố Sài Gòn – Hồ Chí Minh, Nxb Trẻ, 2001.

15. Thanh Giang. Thành phố chúng ta, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 1980.

16. Tổng lãnh sự Pháp – Viện trao đổi Văn hóa với Pháp – Công ty Air France . Regard sur le monde: Saigon 1882 (Cái nhìn về thế giới: Saigon 1882), 11/2002.

17. Trần Kim Thạch. Địa chất và môi trường Thành phố Hồ Chí Minh, Nxb Trẻ, 1998.

18. Trần Văn Giàu, Trần Bạch Đằng, Nguyễn Công Bình chủ biên, Địa chí Văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh. tập 1, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 1987. tr. 219.

19. Trịnh Hoài Đức. Gia Định thành thông chí, Bản dịch của Viện Sử học, Nxb Giáo Dục, 1998.

20. Trương Vĩnh Ký. Tiểu giáo trình địa lý Nam Kỳ, 1875, Bản dịch của Nguyễn Đình Đầu, Nxb Trẻ, 1997.

21. Trương Vĩnh Ký ghi chép, 1882. Gia Định phong cảnh vịnh, Nxb Trẻ, 1997.

22. Trương Vĩnh Ký. Ký ức lịch sử về Sài Gòn và các vùng phụ cận, 1885, Bản dịch của Nguyễn Đình Đầu, Nxb Trẻ, 1997.

23. Vương Hồng Sển. Sài Gòn năm xưa, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 1997.

(Bài nầy đã đăng trên T/c Xưa&Nay, số 282, tháng 4/2007).


[1] Ngoài ra, còn có nhiều giả thuyết khác về nguồn gốc địa danh Sài Gòn. Xem Địa chí Văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh, tr. 215 – 227.

[2] Thạch Phương, Lê Trung Hoa chủ biên, tr. 35.

[3] Trịnh Hoài Đức, tr.188.

[4] Trần Kim Thạch, tr. 16.

[5]Ký ức lịch sử về Sài Gòn và các vùng phụ cận, tr. 26.

[6] Theo Vương Hồng Sển thì nay là đường Cống Quỳnh. (Sài Gòn năm xưa, tr. 176).

[7] Con rạch này nay vẫn còn, thuộc địa bàn quận Bình Tân và Quận 8, từ phường An Lạc (quận Bình Tân) ăn ra sông Chợ Đệm.

[8] Kinh là đường thủy nhân tạo, rạch là đường thủy thiên tạo nhưng tương đối nhỏ.

[9] Ký ức lịch sử về Sài Gòn và các vùng phụ cận , tr. 21.

[10] Ở khoảng vị trí nay là ngã sáu Sài Gòn (đầu đường Nguyễn Thị Minh Khai) đến đường Cống Quỳnh.

[11] Nằm ở làng Tân Khai xưa, trung tâm ở chỗ nhà thờ Đức Bà hiện nay.

[12] Được xây lại, nhỏ hơn sau khi vua Minh Mạng ra lệnh phá thành Bát Quái. Thành Phụng  đã bị quân Pháp chiếm và san bằng vào ngày 6/3/1859 bằng 32 quả mìn. Nay ở chỗ bệnh viện Nhi Đồng 2, đường Lý Tự Trọng, Quận 1.

[13] Theo nội dung của quyết định số 873/QĐ ngày 29/3/2006 của Sở  Giao thông Công chính Thành phố Hồ Chí Minh về việc phân cấp quản lý sông rạch thì, chỉ riêng Khu Quản lý Giao thông Đô thị số 1 đã phải quản lý 93 tuyến với khoảng 142,62 km sông rạch ở vùng nội thành và vùng ven.

[14] Trịnh Hoài Đức, tr.35.

[15] Tên Phố Xếp có lẽ từ “phố xép” mà ra, chỉ phố nhỏ bên cạnh phố thị Chợ Lớn.

[16]Ký ức lịch sử về Sài Gòn và các vùng phụ cận, tr. 25.

[17] Phiên An là một trong năm trấn của vùng đất phía nam, ngày nay là Thành phố Hồ Chí Minh và một phần các tỉnh Long An, Tây Ninh, Bình Phước.

[18] Trịnh Hoài Đức, tr. 34.

[19] Tức rạch Chợ Lớn – L.C.L.

[20] 1902 – L.C.L.

[21] Chỗ Thảo Cầm Viên – L.C.L.

[22] Monographie de la province de Gia Đinh, tr. 40.

[23]Thạch Phương, Lê Trung Hoachủ biên, tr.325, 380.

[24] Theo Tổng lãnh sự Pháp – Viện trao đổi Văn hóa với Pháp – Công ty Air France . Regard sur le monde: Saigon 1882 (Cái nhìn về thế giới: Saigon 1882), 11/2002, tr.14.

[25] Gọi là ao Bồ Rệt vì nằm trên đường Boresse (viên sĩ quan đứng đầu hạt Sài Gòn, được bổ nhiệm ngày 7/1/1863), nay là đường Yersin.

[26] Nguyên tên là Thạnh Đa, sau bị đọc và viết sai thành Thanh Đa.

[27] Monographie de la province de Gia Đinh, tr. 40.

[28] Dẫn theo Sài Gòn – Thành phố Hồ Chí Minh, 300 năm địa chính, tr. 72.