Tiếng Việt tuyệt vời: Một Bài thơ có 8 cách đọc

Tiếng Việt tuyệt vời

Bài thơ này có 8 cách đọc.
Có lẽ chỉ có tiếng Việt mới phong phú như thế !

  1. Bài thơ gốc (bài 1):

Ta mến cảnh xuân ánh sáng ngời
Thú vui thơ rượu chén đầy vơi
Hoa cài giậu trúc cành xanh biếc
Lá quyện hương xuân sắc thắm tươi
Qua lại khách chờ sông lặng sóng
Ngược xuôi thuyền đợi bến đông người
Xa ngân tiếng hát đàn trầm bổng
Tha thướt bóng ai mắt mỉm cười.

  1. Bỏ bốn chữ đầu mỗi câu trong bài gốc, chúng ta được bài
    (tám câu x ba chữ) :

Ánh sáng ngời
Chén đầy vơi
Cành xanh biếc
Sắc thắm tươi
Sông lặng sóng
Bến đông người
Ðàn trầm bổng
Mắt mỉm cười.

Bài này trên Internet, không thấy trích nguồn từ đâu ? xin lổi !

Mai Tran


Cầu đường sắt Việt Nam thời Pháp thuộc và trước 1975.

Y Nguyên Mai Trần

Bài sưu khảo này ghi lại và kiểm chứng những cầu đường sắt (ponts ferroviaires, rail bridges) xây dựng trong hệ thống hoả xa VN từ thời Pháp thuộc 1856-1954 và thời VNCH đến 1975. Phần đông những cầu này được xây cất từ ngân sách của liên bang Đông Dương qua công ty công hoặc tư, thông qua phương cách đấu thầu. Sau hiệp định Genève 20/7/1954 , VNCH tiếp tục vận hành, bảo trì và tân trang hệ thống cầu đường sắt miền Nam trong tình trạng chiến tranh khốc liệt.
Tài liệu tham khảo được lấy từ Internet và thư viện Trung tâm Văn hóa Pháp và Sài Gòn.
Trong bài viết danh từ xe lửa (hỏa xa, tàu hỏa, tàu lửa) gọi chung cho các loại xe đầu máy hơi nước hay điện, cầu đường sắt là những cây cầu có đường rày xe lửa vận hành thời trước 1975.
Bài viết cũng ghi nhận các công trình của thống đốc Paul Doumer và công ty Eiffel cũng như các công ty có liên hệ với Gustaf Eiffel trong việc xây dựng hệ thống cầu đường xe lửa thời Pháp thuộc.

Tóm lược lịch sử hệ thống cầu đường sắt xe lửa theo thời gian

27/12/1881-Hệ thống Saigòn Chợ Lớn, Sai Gòn Gò Vấp-Hóc Môn được đưa vào vận hành.
20/7/1885. Tuyến xe lửa đầu tiên Saigon Mỹ Tho dài 70km được đem vào vận hành
Khoảng năm 1889, một tuyến đường sắt Decauville khổ 0.60m nối Lạng Sơn với Phủ Lạng Thương được chính quyền thuộc địa khởi công, với mục đích quân sự.
8/4/1902. Tuyến đường Hà-Nội-Lạng Sơn-Đồng Đăng-Nam Quan, qua cầu đường sắt Long Biên (Paul Doumer) bắc ngang sông Hồng. Tuyến này dài 167 km, khởi công từ năm 1898, khánh thành vào ngày 8 tháng 4 năm 1902 cho đoạn từ Hà Nội đến Đồng Đăng và vào ngày 1 tháng 1 năm 1908 cho 4 km còn lại giữa Đồng Đăng và Nam Quan
11/8/1902 Nối tuyến Hà Nội-Hải Phòng
Tuyến Hải Phòng – Hà Nội – Lào Cai khởi công năm 1901, được khánh thành thành các đoạn liên tiếp: 11/8/1902 đối với Hải Phòng-Hà Nội, 15/12/1903 đối với Hà Nội-Việt Trì, 1/5/1904 đối với Việt Trì-Yên Bái và 1/2/1906 đối với Yên Bái-Lào Cai, có tổng chiều dài 389 km. Cần lưu ý rằng việc vận hành tuyến này được giao cho Công ty Đường sắt Đông Dương và Vân Nam(La Compagnie française des chemins de fer de l’Indochine et du Yunnan (CIY)) theo Công ước ngày 5/7/1901.
1910 Tuyến Lào Cai-Vân Nam (Yunnanfu)

1903 Tuyến Hà Nội –Thanh Hóa
1905 Tuyến Thanh Hóa – Vinh Bến Thuỷ và tuyến Sài Gòn –Gia Rây
1908 Tuyến Đà Nẳng (Tourane) đến Đông Hà xây xong nhưng chỉ đưa vào vận hành sau thế chiến 1
1912 Tuyến Gia Rây-Nha Trang xây xong.

1914–1918. Tóm lược vào thời điểm thế chiến nhất , đường sắt vận hành gồm ba đoạn:

  • Tuyến ba cánh ở Bắc Bộ-Tonkin, cánh đi về phía Nam Hà Nội đến Vinh (320 km), cánh đi về phía Bắc – Hà Nội đến biên giới Lạng Sơn-Quảng Tây (170 km) và cuối cùng là tuyến di về phía Tây Bắc Hải Phòng-qua Hà Nội đến Lào Cai- Vân Nam (880 km).
    La Compagnie française des chemins de fer de l’Indochine et du Yunnan (CIY)
    Tuyến Hà Nội đến Vinh được bắt đầu năm 1900, xây ba đoạn: đoạn thứ nhất từ Hà Nội đến Ninh Bình, khánh thành ngày 9/1/1903, đoạn thứ hai từ Ninh Bình đi Hàm Dung ngày 20/12/1904 và đoạn cuối từ Hàm Rồng đến Vinh , vào ngày 17 tháng 3 năm 1905. Tổng chiều dài 326 km.
  • Một tuyến ở Trung bộ — Annam, nối Tourane (Đà Nẳng) với Đông Hà 172 km,
    được khánh thành vào năm 1902, gồm 3 đoạn: Đoạn thứ nhất từ Tourane đến Huế khánh thành ngày 15/12/1906, đoạn thứ hai từ Huế đến Quảng Trị ngày 5/9/1908 và ba tháng sau, đoạn cuối từ Quảng Trị đến Đông Hà hoàn thành ngày 10 tháng 12 năm 1908.
    Tuyến xe lửa đi từ Vinh đến Đông Hà (An Nam) dài 320 km, khánh thành tháng 10/1927;
  • Một tuyến đầu tiên ở Nam bộ-Cochinchine, nối Mỹ Tho-Sài Gòn và
    tuyến chính từ Sài Gòn đến Nha Trang và các nhánh có tổng chiều dài 467 km, công trình này bắt đầu năm 1901 và sau đó được hoàn thành trong nhiều giai đoạn liên tiếp. Đọan đầu tiên từ Sài Gòn đến Biên Hòa được khánh thành vào ngày 13 tháng 1 năm 1904 và đọan cuối cùng từ Tháp Chàm đến Nha Trang vào ngày 1 tháng 4 năm 1912. Các chi nhánh được hoàn thành vào năm sau.

Sau thế chiến nhất 1914-18, các nghiên cứu và công việc xây đựng đường xe lửa được tiếp tục

Tuyến đường Đồng Đăng – Na Cham (Bắc Kỳ) dài 17 km, khánh thành ngày 15/11/1921.
Tuyến Vinh đến Đông Hà (An Nam) dài 320km khánh thành 10/1927.
Tuyến từ Đà Nẵng đến Nha Trang dài 524 km, khởi công xây dựng năm 1931 từ phía Đà Nẵng và năm 1933 từ bên phía Nha Trang, hoàn thành tháng 9 năm 1936 ,đánh dấu sự hoàn thành của tuyến xe lửa Nam –Bắc (Transindochinoise) do Thống Đốc Paul Doumer khởi xướng từ Hà Nội đến Sài Gòn dài 1730 km với bia tưởng niệm đặt km 1221 tại Hảo Sơn, Tuy Hòa, Phú Yên (hình 1) . Một buổi lể chính thức khánh thành sau đó được tổ chức tại Sài Gòn vào ngày 2 tháng 10 năm 1936.và 12/1932 tuyến đường sắt Tourcham-Dalat (84 km) cũng được xây dựng.
Ở An Nam-Trung Kỳ có thêm tuyến Tân Ấp-Xóm Cục-Bản Na phao (59 km), khánh thành ngày 18/12/1933. Cần lưu ý rằng tuyến này được dự định sẽ kết thúc tại Lào qua ngã ba Ban-na-phao và Thakhet. Tuy nhiên, dự án này đã không được thực hiện.

Bản Đồ 1- La Vie technique, industrielle, agricole et coloniale, 1922
Khảo sát bản đồ 1 cho thấy, hệ thống hoả xa miền Nam được hoạch định kéo dài từ Saì gòn đến Mỷ Tho, Cần Thơ-Sóc Trăng-Bạc Liêu và chấm dứt ở Cà Mau. Mặc dầu luật liên quan đến mạng lưới đường sắt Đông Dương 25/11/1898 chỉ cho phép chính phủ Đông Dương vay để làm đoạn Mỹ Tho-Cần Thơ. Dầu vậy tuyến Mỹ Tho-Cần Thơ cũng bị hủy bỏ vì thiếu ngân sách và nghi ngờ về lợi ích kinh tế vì hàng hóa nông nghiệp thường vận chuyển qua hệ thống sông ngòi, kinh, rạch thời bấy giờ.
Bản Đồ 2-Bản Đồ 1936 với năm khánh thành của nhiều giai đoạn của kế hoach xây dựng đường sắt từ
Nam ra Bắc.

Bản đồ 3; Sự phát triển của mạng lưới đường sắt Đông Dương, dựa trên cuốn “Địa lý đường sắt Pháp”  Henri Lartilleux, trong hai tập do Chaix xuất bản vào đầu những năm 1950 . L’évolution du réseau ferré indochinois, d’après la célèbre et incontournable « Géographie des chemins de fer français » de Henri Lartilleux, en deux tomes parus au début des années 1950 chez Chaix.

Hình 1-Bia Kỷ niệm sự kiện hoàn thành đường sắt xuyên Đông Dương tháng 9, 1936 đặt tại Hảo Sơn, Phú Yên – trên bia có ghi từ Hà Nội đến bia dài 1221 km và từ bia về Sài Gòn 509 km. Bia này không còn nửa.
Tuyến đường xuyên Đông Dương do Paul Doumer khởi xướng, hoàn thành vào ngày 2/9/1936 tại km 1.221 trục Hà Nội – Sài Gòn, tại ga Hảo Sơn bằng việc nối hai đường ray cuối cùng. Buổi lể chính thức khánh thành được tổ chức tại Sài Gòn ngày 2 tháng 10 năm 1936.

Thời VNCH đến trước 1975

Sau thế chiến thứ hai và chiến tranh Đông Dương khoảng thập niên đoạn đường phía nam vĩ tuyến 17 vào thập niên 1950, khoảng 1/3 bị hư hại nặng, không sử dụng được.[5] Còn lại là hai khúc từ Đông Hà vào Đà Nẵng và từ Sài Gòn ra Ninh Hòa. Việc tái thiết kéo dài bốn năm dưới thời Đệ Nhất Cộng hòa Việt Nam cho đến năm 1959 thì xe lửa mới chạy được suốt từ Sài Gòn ra Đông Hà, lần đầu tiên sau 12 năm gián đoạn.
https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%C6%B0%E1%BB%9Dng_s%E1%BA%AFt_B%E1%BA%AFc_Nam#cite_note-5

Điểm tóm lược.

Khảo sát bản đồ 4. Thời Pháp, hệ thống xe lửa Việt Nam gồm

  • Tuyến xe lửa chính Nam Bắc còn gọi là xe lửa xuyên Đông Dương,từ Sài Gòn ra Hà Nội dài 1221km (Le chemin de fer transindochinois) hoàn thành 1936
  • Tuyến Sài Gòn -Mỹ Tho dài 71km hoàn thành 1885
  • Tuyến Hải Phòng-Hà Nội- Lào Cai dài 398km hoàn thành 1906
  • Tuyến Hà Nội -Lạng Sơn-Đồng Đăng dài 162km hoàn thành 1900
  • Tuyến Sài Gòn-Dỉ An-Lộc Ninh dài 141 km hoàn thành 1933
  • Tuyến Tháp Chàm-Đà Lạt dài 84km hoàn thành 1931

Hình 2: Tổng Thống VNCH Ngô Đình Diệm khánh thành đường sắt Sài Gòn –Đông Hà 1959.

Sơ lược tuyến đường sắt đầu tiên khu vực Sài Gòn-Chợ Lớn-Gia Định

Khảo sát Bản đồ 5 cho thấy Saigon có ba tuyến đường sắt xây cất và vận hành theo trình tự thời gian như sau:
Tuyến đường rầy 1 (tham khảo bản đồ 5) đầu tiên-khổ 1m, của liên bang Đông Dương (Indochine) do công ty Pháp SGTVC (Societe Generale des Tramways a Vapeur de Cochinchine) xây dựng, chuyến đầu tiên khởi hành ngày 27/12/1881 từ bến Bạch Đằng Cột Cờ Thủ Ngữ đi về Chợ Lớn dọc theo đường Marchaise bây giờ Ký Con qua đường Boresse -Yersin, hướng về Plaine des Tombeaux, route haute (Nguyển Trải-Hùng Vương…) vào Chợ Lớn

Một tuyến khác 2 do công ty CFTI Compagnie Française des Tramways de l’Indochine (CFTI) xây dựng vận hành từ mgày 14/7/1891 chạy dọc theo bến Hàm Tử-Kinh Tàu hủ Arroyo chinois ( dọc theo route basse), Cầu Ông Lảnh, Chợ Quán về Chợ Lớn.
Năm 1895, the CFTI phát triển tuyến thứ 3 về hướng Bắc từ Sài gòn Đến Gò Vấp rồi Hóc Môn và sau đó tuyến Sài Gòn –Lái Thiêu-Thủ Dầu một đi miền Đông và miền . Các tuyến khởi hành từ Ga Hàm Nghi trước sở Hoả Xa Đông Dương

Bản đồ 5- Bản đồ SAIGON 1900 với hệ thống đường sắt – Plan de Saigon, Edition John Bartholomew, vers 1896, contribution Rick Curia

Hình 3–Khánh thành tuyến xe lửa chạy bằng hơi nước Sài Gòn – Chợ Lớn ngày 27-12-1881

Hình 3b: Xe lửa khởi hành từ Chợ Lớn 1908.

Hình 4-Trạm xe lửa ở bến Bạch Đằng gần cột cờ Thủ Ngữ 1881-1915


Sau đó Tuyến xe lửa Saigon–Đakao-Bà Chiểu-Xóm Gà–Gò Vấp được tiếp tục khai thác và vận hành để thỏa mản nhu cầu vận chuyển địa phương.

Cầu sắt xe lửa Đakao nhìn từ phía cầu Bông

Hình 5: Tuyến xe lửa này qua cầu sắt xe lửa bắc qua l’Arroyo de l’Avalanche, rạch Thị Nghè, trên đường Bùi Hửu Nghỉa-trên tuyến đường Sài Gòn-Gò Vấp. Năm 1955-57, toàn bộ hệ thống hỏa xa Sài Gòn-Chợ Lớn-Gò vấp dừng vận hành, tiếp theo đó, hệ thống xe lửa Sài Gòn-Mỹ Tho cũng ngừng hoạt động năm 1958.

Hình 6: Xe lửa vừa qua cầu Sắt tiến về phiá ga Bà Chiểu, gần khu công viên Gia Định Bà Chiểu

Hình 7: Ga Bà Chiểu và công viên Gia Định-Bà Chiểu đối diện với trường Ferrando

Hình 8: Trường Marc Ferrando –Gia Định khoảng 1930, sau 1954 là trường Nam Tỉnh Lỵ Gia Định.

Sau khi hoàn thành hệ thống đường sắt cho xe lửa đầu máy điện hoặc hơi nước cho vùng Sài Gòn-Chợ Lớn-Gia Định, chính phủ thuộc địa bắt đầu xây tuyến đường sắt đầu tiên ở Đông Dương Sài Gòn – Mỹ Tho 1881 và sau đó vào cuối thập niên-đầu thập niên 1900, xây dựng đường sắt Bắc Nam(chemin de fer transindochinois), hoàn thành 1936.

Cầu đường sắt trên tuyến đường sắt đầu tiên Sài Gòn –Mỹ Tho

Đây là một phần của kế hoạch lớn hơn do Thống đốc Nam Kỳ Charles Le Myre de Vilers (1833-1918) trình bày vào năm 1880, kế hoạch này nhằm thiết lập dự án đường xe lửa xuyên Ðông Dương. Dự án bao gồm đường đi từ Sài Gòn xuống lục tỉnh, từ Châu Ðốc sẽ đi sang Nam Vang (Cao Miên) và Vạn Tượng (Lào) rồi sau cùng lên Vân Nam (Trung Hoa). Ngày 22/11/1880, kế hoạch được Hội đồng Quản hạt Nam Kỳ thông qua với 9 phiếu thuận và 5 phiếu chống sau 6 giờ tranh cãi. https://nguyentienquang-huongtram.blogspot.com/2012/11/au-may-hoi-nuoc-o-viet-nam-thoi-ky.html

Tuy nhiên dự án lại không được chính phủ Pháp chấp thuận vì theo kế hoạch đường thông thương với Trung Hoa sẽ được nối với Hải Phòng. Kết quả chỉ còn tuyến đường xe lửa Sài Gòn-Mỹ Tho. Theo nghị định của Tổng thống Cộng hòa Pháp Jules Grévy, ngày 24 tháng 8 năm 1881, thống đốc Nam Kỳ đã đồng ý giao cho ông Joret, kỹ sư xây dựng cư trú tại Paris, quyền xây dựng và vận hành tuyến đường sắt từ Sài Gòn đến Mỹ Tho. Công trình được khởi công vào tháng 11/1881 và chuyến xe lửa đầu tiên chạy ngày 20/7/1885. Năm 1884, công ty phát hành 8.936 trái phiếu được Chính phủ thuộc địa bảo lãnh. Năm 1886, sau vô số khó khăn về tài chính, công ty nhượng quyền đã đề nghị , chuyển giao quyền vận hành đường dây cho thuộc địa. Năm 1888, hoạt động này được Chính phủ Nam Kỳ và Société Générale des Tramways à Vapeur de Cochinchina tiếp quản. Tàu bắt đầu chạy từ ga Sài Gòn, vượt sông Vàm Cỏ Ðông bằng phà máy hơi nước tại Bến Lức và đến ga chót là Mỹ Tho. Tuyến đường xe lửa này dài 71 km, sử dụng khổ đường rày 0.60 m.


Vào thời điểm này ở miền Bắc Việt Nam, 1892 người Pháp đã bắt đầu xây dựng một tuyến đường sắt nhỏ rộng 0.60 m, nối Phủ-Lạng-Thương qua Kép đến Lạng Sơn cho mục đích quân sự , là đường tiếp tế cho quân đội Pháp đóng ở Đồng Đăng và Na Cham.
Có ba cầu đường sắt bắc qua ba sông Chợ Đệm, Vàm Cỏ Đông và Vàm Cỏ Tây.

Bản đồ 6. Lộ trình các ga chính của đường sắt Saigòn –Mỹ Tho

Khảo sát bản đồ, xe lửa xuất phát từ Ga Sàigòn-còn gọi là ga xe lửa Mỹ (Mỹ Tho) gần chợ Bến Thành, đối diện với Place de Cuniac thời Pháp thuộc, sau 1954 gọi là công trường Diên Hồng, xe lửa rời Sài Gòn vào Phú Lâm đến Bình chánh rồi vượt qua ba con sông tại vùng Chợ Đệm, Bến Lức và Tân An trước khi chấm dứt tại Mỹ Tho. Cả ba cầu đường sắt lần lượt xây dựng bởi Maison Eiffel.
Cũng nên biết Pháp cũng có dự định kế hoạch nối liền Mỹ Tho sang Vỉnh Long-Cần Thơ-Sóc Trăng Bạc Liêu và chấm dứt tại Cà Mau (xem bản đồ 1)

Hình 9: Cầu Bình Điền bắc qua sông Chợ Đệm , Bình Chánh
Chợ Đệm là một địa danh nổi tiếng chợ thuộc làng Tân Túc, tổng Long Hưng Trung, quận Trung Quận tỉnh Chợ Lớn; trước năm 1975 Chợ Đệm thuộc xã Tân Túc, quận Bình Chánh; sau năm 1975 Chợ Đệm thuộc xã Tân Túc, huyện Bình Chánh và từ năm 2003 đến nay Chợ Đệm thuộc thị trấn Tân Túc, huyện Bình Chánh
Gọi là Chợ Đệm vì chợ này bán những sản phẩm làm từ cây bàng như: Giỏ xách, bao đựng muối, mành thưa, nóp, đệm…cây lát như chiếu… Có câu ca dao sử dụng bốn từ cùng trường nghĩa (bàng, đệm, bị, bao) nói về nghề buôn bán và đan bàng ở Chợ Đệm năm xưa như sau:
“Chim đại bàng bay ngang Chợ Đệm
Trách ông Lưu Bị bàn chuyện chiêm bao”
Khu vực này, trước đây có Xóm Cối (nay thuộc ấp 4, xã Tân Nhựt) –Đây là làng nghề thủ công nổi tiếng đan đệm, chiếu, bàng. Hình tượng cây bàng, tấm nóp, giỏ đệm, chiếu đã ăn sâu vào ký ức của cư dân nơi đây. Chợ Đệm là nơi có buôn bán các sản phẩm chính từ đệm, bàng, cối, chiếu nhộn nhịp nhất miền Nam trước 1975. https://www.facebook.com/vuonthomquetoi/


Sau đó tàu lửa qua cầu Bến Lức

Hinh 10: Cầu Bến Lức 1920-1929 bắc qua sông Vàm Cỏ Đông

Hình 11: Cầu Bến Lức 1966-67 photo by Tom Jackson
Bến Lức là phụ lưu bên tả sông Vàm Cỏ Đông, phần lớn chảy trên địa bàn tỉnh Long An, một phần chảy vào huyện Bình Chánh, nhập với sông Chợ Đệm làm ranh giới giữa thị trấn Tân túc và xã Tân Nhựt.
Đại Nam quốc âm tự vị (1895) của Huỳnh Tịnh Của ghi: “Lứt là thứ cây lá nhỏ, hay mọc mé biển”. Còn Génibrel tác giả cuốn Dictinaire Annamite Francais (1898) định nghĩa “lứt” là tên một loại cây có lá ăn được.
Cây lứt thuộc họ cúc, tên khác là lứt cây, theo cách gọi dân dã của người dân Nam Bộ để phân biệt với lứt dây, mọc hoang ở ven biển trên các bờ kênh rạch truông gai, cửa sông, từ Nghệ An đến các tỉnh đồng bằng Nam Bộ.
Loại cây thứ hai là dây lứt, thuộc họ cỏ roi ngựa, tên khác là lứt dây, mọc hoang rải rác bãi cỏ ven đường, bờ đê, bờ ruộng, bìa rừng, có nhiều ở vùng biển. Do người Nam Bộ phát âm không phân biệt phụ âm cuối “c” và “t” nên đọc và viết sai Bến Lứt thành Bến Lức.
https://www.facebook.com/TeenLA62/posts/1078411642345365/

Hình 12: Cầu Tân An khoảng năm 1930 bắc qua sông Vàm Cỏ Tây.
Ban đầu được hình thành như một phần của kế hoạch mạng lưới đường sắt lớn ở Đồng bằng sông Cửu Long bị hủy bỏ vào năm 1874 (xem bản đồ 1), tuyến Sài Gòn – Mỹ Tho bắt đầu được xây dựng vào tháng 11 năm 1882, nhưng dự án đã bị hủy hoại bởi những tranh chấp gay gắt giữa nhà thầu và chính quyền thuộc địa – nguyên nhân chính là việc nhà thầu Maison Eiffel không đền bù được phần đường sụt lún trên vùng đất lầy, dẫn đến các vấn đề nghiêm trọng đối với đường dẫn vào của ba cầu cạn kim loại tại Bình Điền, Bến Lức và Tân An. Ngay cả sau khi chính thức khai trương vào ngày 20 tháng 7 năm 1885, các vấn đề kỹ thuật vẩn chưa được giải quyết của cầu Bến Lức và do đó vẩn phải dùng phà hơi nước để vận chuyển hành khách qua sông Vàm Cỏ Đông trong 10 tháng nữa, dịch vụ đường sắt không thể vận hành thông suốt cho đến 29 tháng 5 năm 1886.

Hai tuyến xe lửa đặc biệt Sài Gòn-Lộc Ninh 1933 và Tháp Chàm-Đà Lạt

Trước năm 1945, Sài Gòn có tuyến xe lửa đi Lái Thiêu, Lộc Ninh: tuyến này bắt đầu từ ga xe lửa Mỹ(Tho) còn gọi là ga Bến Thành-Sài Gòn chạy qua ga Đakao-Bà Chiểu-Xóm Gà-Xóm Thơm (Gò Vấp)-lên Hóc Môn qua cầu sắt Phú long đến Lái Thiêu nối dài đến Thủ Dầu Một và kết thúc ở Lộc Ninh, nơi đây, cuối tuyến có mốt mâm xoay đường kính khoảng 36m để quay đầu máy xe lửa chạy tuyến Lộc Ninh-Saigon
Tuyến quan trọng này kết nối các đồn điền cao su ở Hớn Quản, Lộc Ninh, Bù Đốp, tỉnh Thủ Dầu Một

Bản đồ 7: Tuyến Sàigòn Lộc Ninh

Hình 13: Cầu đường sắt ông Đành trên tuyến Thủ Dầu Một –Bến Đồng Sổ năm 1930–Nay thuộc huyện Phú Cường , thành phố Thủ Dầu Một.

Hình 14: Cầu Sắt Phú Long bắc qua sông Sài Gòn nối từ vùng Hốc môn qua Lái Thiêu trên tuyến đường Saigon-Gò Vấp- Lái Thiêu-sau kéo dài tới Thủ Dầu Một rồi lên tới Lộc Ninh.
Xây dựng thời Pháp năm 1913 với chiều dài 250m, hoàn thành và đưa vào sử dụng năm 1914. Cầu ban đầu được thiết kế hoàn toàn bằng sắt và sử dụng cho tuyến xe lửa Sài Gòn – Lộc Ninh. Trong chiến tranh, cầu từng bị phá hoại, và được tu sửa nhiều lần. Một phần mặt cầu sau đó được đổ bê tông, các phần còn lại vẫn giữ kết cấu bằng sắt.

Cùng với cầu Bình Lợi, đây là một trong 2 cây cầu đầu tiên bắc qua sông Sài Gòn được Công ty Eiffel Lеvallois Pеrrеt xây dựng. Đây là cây cầu huyết mạch của tuyến đường sắt dài 141km Sài Gòn – Lộc Ninh, từng được người Pháp gọi tên tuyến đường “vàng trắng”, “con đường cao su” dùng để vận chuyển mủ cao su từ vùng Lộc Ninh, Hớn Quản, Bù Đốp thuộc tỉnh Thủ Dầu Một (nay là tỉnh Bình Phước) về cảng Sài Gòn để xuất cảng sang Pháp

Năm 1927, tuyến đường này được một công ty tư nhân là Công ty Xe điện Bến Cát – Kratie đứng ra đầu tư xây dựng những đoạn đầu tiên và đến năm 1937 thì hoàn thành, kết nối vào hệ thống hỏa xa Đông Dương
Từ năm 1949 tuyến đường sắt này không còn đi qua cầu Phú Long và đến năm 1960 thì chính thức ngừng hoạt động
Đến năm 1967, cầu Phú Long được khôi phục bằng dàn sắt Bailley kiểu Mỹ, sàn lót gỗ chỉ dùng cho xe hơi, cầu được làm đi làm lại mấy lần vì bị đánh sập.

Hình 15: Cầu sắt xe lửa ở Lái Thiêu (Bình Nhâm, Thuận An, Bình Dương) trên tuyến đường sắt Sài Gòn – Lộc Ninh

Xe lửa tại ga Lộc Ninh
Tuyến Tháp Chàm đi Đà Lạt

Bản đồ 8: Tuyến đường sắt Song Pha- Tháp Chàm

Tuyến đường sắt răng cưa Tháp Chàm-Đà Lạt xây xong 1931, là một công trình độc đáo mà người Pháp đã xây dựng trong thời kỳ đô hộ Đông Dương. Tuyến đường sắt này có hai cây cầu vượt sông bằng sắt, một tại Tân Mỹ và một tại Dran. Cầu sắt Tân Mỹ được xây dựng trong giai đoạn đầu hình thành (1903-1913), kiến trúc đơn giản trong khi cầu sắt Dran là một công trình tầm cỡ với ba nhịp cầu uốn cong vắt qua dòng sông Đa Nhim được xây dựng cuối thập niên 1920.

Hình 17. Xe lửa qua cầu sông Dinh, đèo Ngoạn Mục Krong Pha (Song Pha)-Eo Gió.

Hình 18. Đường sắt răng cưa ( serrated rail track, cogwheel rail)

Hình 19. Đường sắt bắc qua sông Đà Rằng 1947.

Tuyến xe lửa Sài Gòn ra Trung
Xuất phát từ ga xe lửa Sàigòn qua ga Gò Vấp vượt qua cầu đường sắt Bình Lợi, rồi từ đó vào nam Trung phần cho đến Thanh Hóa, Vinh và sang đất Bắc.

Hình 20: Cầu Bình Lợi 1906

Hình 21: Xe lửa trên cầu Bình Lợi khánh thành 1902

Cầu Bình Lợi là cây cầu đầu tiên được xây dựng để bắt qua sông Sài Gòn, và là cầu dành cho đường sắt kết hợp đường bộ đầu tiên nối liền Sài Gòn đi Biên Hòa rồi ra miền Trung, dài 276m gồm 6 nhịp bằng kim loại, lòng cầu lót ván gỗ dày. Mỗi khi xе lửa qua cầu, xе cộ đều bị chặn lại ở hai đầu cầu. Khi được lưu thông, thì một bên dừng một bên chạy.

Do nhà thầu Lеvallois Pеrrеt xây dựng và hoàn thành năm 1902. Công ty xây dựng Lеvallois Pеrrеt chính là tiền thân của công ty Compagniе Établissеmеnts Eiffеl, thiết lập bởi Gustave Eiffel https://chuyenxua.net/cau-chuyen-ve-nhung-cay-cau-noi-tieng-nhat-sai-gon-phan-5-cau-binh-loi-va-nhung-cay-cau-sat-o-viet-nam-hon-tram-nam-truoc/

Hình 22: Cầu sắt Bình Lợi bắt qua sông Sài Gòn, nối quận Bình Thạnh và quận Thủ Đức, được khởi công từ tháng 4/2015, hoàn thành 9/2019, gồm cầu đường sắt và cầu cho các phương tiện giao thông khác

Cầu Gành và cầu Rạch Cát bắc qua sông Đồng Nai Biên Hòa

Bản đồ 9: Cầu Gành và Cầu Rạch Cát bắc ngang hai nhánh của sông Đồng Nai quanh Cù Lao Phố.

Hình 23: Cầu Gành thời Pháp-Pont du Donai khánh thành 14-1-1904

Hinh 24: Cầu Gành bắc qua sông Đồng Nai Biên Hòa

Hình 25: Cầu Gành thời Pháp thuộc ảnh chụp 1911

Hình 26: Cầu Rạch Cát trước 1975

Sông Đồng Nai – đoạn chảy qua Biên Hòa chia làm 2 nhánh. Một nhánh lớn và một nhánh nhỏ bao quanh Cù Lao Phố (phường Hiệp Hòa). Tuyến đường sắt qua Biên Hòa vượt qua hai nhánh sông này thông qua hai chiếc cầu sắt.
Cầu Rạch Cát bắc qua nhánh nhỏ có 3 nhịp, 129m, bắt đầu từ ở cuối đường Cách Mạng Tháng Tám (tên sau 1975) và nối vào đầu đường Nguyễn Tri Phương, nối vùng nội ô Biên Hòa với phường Hiệp Hòa (Cù lao Phố xưa).
Cầu Gành bắc qua nhánh lớn, nối Hiệp Hòa với khu vực chợ Đồn, thuộc phường Bửu Hòa, có 4 nhịp, dài 238m. Cả hai cầu được thiết kế bởi công ty Eiffel. Năm 1903, hai cầu Gành (hay Ghềnh) và Rạch Cát bắc xong và đưa vào vận hành 14-1-1904, đoạn đường sắt Sài Gòn – Xuân Lộc có chiều dài 71km.

Qua khỏi Biên Hoà tuyến đường sắt vào địa phận Nam Trung phần qua cầu đường sắt Phan Rang
Khởi công xây dựng năm 1901 , tuyến Saigon-Xuân Lộc được hoàn thành 1908 có chiều dài 71km. Đầu năm 1910 tuyến này được nối dài đến Mường Mán và Phan Thiết. Đến 1914 tuyến xe lửa qua Phan Thiết-Phan Rang- Ba Ngòi-Nha Trang được hoàn thành.

Hình 26-1: Cầu đường sắt Xóm Bóng Nha Trang trước 1975

Qua khỏi Nha Trang, tuyến xe lưả đến khu vực Phú Yên

Hình 27: Cầu La Hai trên sông Cái Dứa, Đồng Xuân , Phú Yên

Hình 28: Cầu La Hai ngày nay song song với cầu bê tông mới xây sau này

Hình 29: Cầu Tuy Hòa đoạn từ Nha Trang đi Đà Nẳng 1935

Hình 30: Cầu sắt Nha Trang nằm gần suối nước khoáng Po Nagar bắc ngang sông Cái

Hình 31: Cầu đường sắt bắc qua sông Lai–Bồng Sơn–Bình Định 1920-1935

Hình 31-A : Cầu đường sắt Bồng Sơn bắc qua sông Lai, Hoài Nhơn, Bình Định

Hình 32: Cầu Đà Rằng bắc qua sông Đà Rằng, Tuy Hòa

Hình 34: Cầu Kỳ Lam bắc qua sông Thu Bồn, Quảng Nam xây dựng thời Pháp 1930 , được đưa vào vận hành 1935

Hình 35: Cầu đường sắt Nam Ô, trên tuyến đường Đà Nẳng-Huế

Hình 39: Cầu đường sắt Mỹ Chánh Quảng Trị 1910.

Hình 40: Cầu đường sắt Thạch Hản, Quảng Trị 1969

Cầu Ga Quảng Trị bắc ngang sông Thạch Hản

Hình 43: Cầu Hàm Rồng được đưa vào vận hành 1904 một công trình xây dựng quan trọng lúc bấy giờ của nhà thầu Pháp Daydé và Pillé, bắc qua sông Mã, Thanh Hóa

Hình 44: Cầu đường sắt chợ Thượng, thị trấn Đức Thọ, Hà Tỉnh bắc ngang sông La.

Hình 46: Cầu Phủ Lý 1906

Phủ Lý là thành phố trực thuộc tỉnh Hà Nam nằm trên quốc lộ 1A . Thành phố nằm ở vị trí cửa ngõ phía nam Hà Nội và cũng là thành phố ngã ba sông hợp lưu lại là sông Đáy, sông Châu Giang và sông Nhuệ.

Hình 47: Cầu sắt Non Nước bắc qua sông Đáy, Ninh Bình

Một loạt cầu thép nối tuyến xe lửa này ra đời như cầu Quay (Hải Phòng), cầu Phú Lương (Hải Dương), cầu Long Biên (Hà Nội)… Năm 1901, cầu Quay bắc qua sông Tam Bạc được khởi công, sau một năm thì hoàn thành. Cầu bằng dầm thép, có 2 nhịp và 3 khoang thông thuyền, phục vụ cho cả đường bộ và đường sắt. Để không gây trở ngại cho các tàu thuyền qua lại trên sông, các kỹ sư người Pháp đã thiết kế nhịp giữa cầu có thể quay ngang 90 độ, dọc theo sông.Ban đầu, cầu được điều khiển sử dụng hệ thống ròng rọc để quay nhịp cầu dài khoảng 50m, nặng hàng trăm tấn dùng nhân công Việt. Sau một thời gian, hệ thống vận hành được nâng cấp bằng động cơ điện

Sau cuộc chiến tranh Bắc Kỳ năm 1873-1874, để thuận tiện vận chuyển hàng hóa giữa Pháp, Việt Nam, và Trung Quốc, chính quyền Pháp đã quyết định chọn Hải Phòng làm trung tâm xây dựng cảng biển và tuyến đường sắt Hải Phòng – Hà Nội – Lào Cai, kết nối với tỉnh Vân Nam (Trung Quốc).

Hình 49: Cầu quay Hải Phòng, hình chụp 1911.

Hình 50: Cầu đường sắt Việt Trì

Các cầu đường sắt từ Hà Nội- Phủ Lạng Thương đến Lạng Sơn-Đồng Đăng

Cầu Đuống ( Canal des Rapides) là một cây cầu đường bộ và đường sắt bắc qua sông Đuống , trên quốc lộ 1A cũ, nối phường Đức Giang thuộc quận Long Biên với thị trấn Yên Viên thuộc huyện Gia Lâm, Hà Nội.
Cầu Đuống được chính quyền Pháp xây vào cuối thế kỷ 19 và được thông xe vào năm 1902, cầu có 5 nhịp, 2 mố và 5 trụ.
Nhịp chính giữa là nhịp xoay, nằm trên trụ số 3 là một trụ tròn. Mỗi khi có tàu bè, nhịp này có thể xoay để tàu bè qua lại được dễ dàng. Cầu bắc chéo dòng chảy của sông một góc khoảng 45 độ.
Trong chiến tranh Việt Nam, câu Đuống đã bị hư hại. Để dùng tạm, người ta đã gia cố trụ cầu và thay nhịp cầu. Từ đó, nhịp chính giữa không còn là nhịp xoay. Sau đó cầu được xây lại ở đúng vị trí cũ. Cầu mới được thông xe vào năm 1981. Cầu này không còn các trụ số 2 và 4, nghĩa là cầu chỉ còn 3 trụ.

Hình 54; Cầu Long Biên bắc ngang sông Hồng, Hà Nội

Hình 55: Đường xe lửa Đáp Cầu trên sông Cầu, Bắc Ninh

Hinh 56: Đường cầu sắt Phủ Lạng Thương bắc qua sông Thương ở Bắc Giang.

Hình 57: Cầu Phủ Lạng Thương bắc ngang sông Thương (Bắc Giang) và cảng Phủ Lạng Thương 1914

Hình 58: Cầu đường sắt Cẩm Lý (bắc ngang sông Lục Nam, Bắc Giang)

Hình 59: Cầu đường sắt bắc ngang sông Kỳ Cùng –Lạng Sơn 1914, hậu cảnh là dảy núi đá vôi ở vùng Kỳ lừa.

Mai Tran

Phụ Lục

Gustave Eiffel

Alexander Gustave Eiffel sinh ngày 15-12-1832 tại Dijon, Pháp và mất ngày 27-12-1923 tại thủ đô Paris. Ông được biết tới là một kỹ sư kết cấu, nhà thầu và đồng thời là một nhà khí tượng học. Ông tốt nghiệp trường École Centrale des Arts et Manufactures – nơi đào tạo kỹ thuật và công nghệ châu Âu.

Công ty Eiffel được thành lập vào năm 1863 bởi Gustave Eiffel với tồn tại dưới 3  tên: công ty là Gustave Eiffel et Cie (1858-1893), Cie des Établissements Eiffel (1890) Công ty Xây dựng Levallois Perret (1893-1937) và Công ty Eiffel (kể từ năm 1937)

Công ty Eiffel thành lập văn phòng tại Nam Kỳ vào năm 1872, :

Danh sách chính thức các công trình của Eiffel do Hiệp hội Hậu duệ của Gustave Eiffel có thể tham khảo ở đây www.gustaveeiffel.com. ,  cho thấy, trong khi phần lớn thành tựu của công ty đều nằm ở Pháp, công ty cũng được giao nhiệm vụ xây dựng nhiều công trình kiến ​​trúc ở Nam Kỳ từ năm 1872 và 1889.

Trong số đó có cầu đường sắt (cầu cạn Bình Điền, Tân An và Bến Lức trên tuyến đường sắt Sài Gòn-Mỹ Tho), cầu đường bộ (Pont des Messageries Maritimes, Pont de Cholon/Pont des Malabars, Pont de Ông Núi, Pont de Rạch Lăng, cầu Bình Tây, cầu Rạch Giá, cầu Long Xuyên), chợ (Long Châu, Cao Lãnh, Ô Môn, Tân Quy Đông và Tân An), giếng lọc và đường dẫn kênh/lạch, cũng như trụ sở chính hoành tráng của Halles des Messageries fluviales bên bờ sông Sài Gòn – xem https://gustaveeiffel.com/ses-oeuvres/asie/

Đến năm 1889, năm mà Eiffel xây dựng Tháp Eiffel nổi tiếng thế giới cho Triển lãm Thế giới 1889 ở Paris, công ty đã có văn phòng tại Sài Gòn, Thượng Hải, Lisbon, Saint Petersburg và Buenos Aires, cùng các đại diện tại Madrid và Naples. Tuy nhiên, vào năm 1891-1893, vận mệnh của Eiffel đã thay đổi đáng kể khi kế hoạch Tàu điện ngầm Paris “Projet Eiffel de Métropolitain” của ông bị chính quyền thành phố Paris từ chối, và bản thân ông cũng vướng vào vụ bê bối tài chính và chính trị xung quanh dự án xây dựng một tòa nhà chọc trời thất bại của Pháp và dự án kênh đào Panama. Bị truy tố vào tháng 11 năm 1892 liên quan đến vụ bê bối Panama, Eiffel từ chức hội đồng quản trị vào ngày 10 tháng 1 năm 1893. Eiffel sau đó từ chối cho phép công ty tiếp tục mang tên mình, vì vậy một ban giám đốc mới được bổ nhiệm và công ty chính thức thay đổi tên của mình, đặt tên là Société de Constructions de Levallois-Perret (SCLP).

Charles Le Myre de Vilers 1879-1882

Ngày 15 tháng 5 năm 1879, LE MYRE DE VILERS trở thành thống đốc Nam Kỳ thay thế Đô đốc LAFONT, người từ chức kết thúc thời kỳ bổ nhiệm thống đốc có lý lịch quân sự. Sự xuất hiện lần đầu tiên một thống đốc dân sự thổi một luồng gió mới tích cực trong giới chính trị Sài Gòn.

Những dấu ấn lâu dài của ông bao gồm

1. Le Myre de Vilers giám sát các kế hoạch mở rộng ban đầu cho tuyến đường sắt từ Sài Gòn đến Mỹ Tho, một trong những dự án đường sắt khu vực đầu tiên do người Pháp khởi xướng vào những năm 1880. Tuyến này nhằm mục đích cung cấp phương tiện vận chuyển mới để vận chuyển nguyên liệu thô vào Sài Gòn.

2. Với tư cách là thống đốc thực hiện chính sách đồng hóa của Pháp, Le Myre de Vilers đã ủng hộ việc xây dựng mạng lưới đường bộ và đường sắt ở Nam Kỳ để phù hợp hơn với mục tiêu của chính quyền thuộc địa.

3. Các kế hoạch đường sắt của ông đã đặt nền móng cho đề xuất đầy tham vọng sau này của Toàn quyền Paul Doumer vào năm 1898 về một hệ thống đường sắt xuyên Đông Dương toàn diện, bao gồm tuyến đường Bắc-Nam chính nối Hà Nội và Sài Gòn.

4. Mặc dù các nguồn không cung cấp nhiều thông tin chi tiết, nhưng những nỗ lực ban đầu của Le Myre de Vilers nhằm phát triển cơ sở hạ tầng đường sắt ở Nam Kỳ đã cho phép và tạo điều kiện thuận lợi cho việc mở rộng mạng lưới đường sắt thuộc địa của Pháp trên khắp Việt Nam trong những thập kỷ tiếp theo.

5. Tuy nhiên, Le Myre de Vilers vấp phải sự phản đối từ một số khu vực đối với các dự án đường sắt, những người cho rằng nó sẽ độc quyền một phần quá lớn các nguồn tài nguyên của Nam Kỳ. Nhưng với tư cách là thống đốc thực hiện chính sách đồng hóa, ông có thể nhìn thấy giá trị kinh tế và chiến lược của vận tải đường sắt.

Ngoài ra Le Myre de Vilers  thực hiện kế họach phát triển bằng cách cải tổ  Giáo duc : Xây dưng 300 trường học ở quốc-ngử, bãi bỏ hình phạt về thể xác , thiết lập cơ chế giáo dục.

Về hành chánh Le Myre de Vilers  cải tổ hội đồng thuộc địa (8/2/1880). Từ nay Hội đồng Thành phố Sài Gòn sẽ gồm có người Pháp và người An Nam và một phó Thống đốc Nam kỳ Cochinchine.

Về cơ sở hạ tầng Le Myre de Vilers phát triển hệ thống kênh đào, biển báo và ngọn hải đăng trên bờ biển và ở Poulo-Condore và xây dựng cơ sở hạ tầng đường sắt ở Nam Kỳ ,đường sắt Sài Gòn-Mỹ Tho. Những nỗ lực ban đầu của Le Myre de Vilers tạo điều kiện thuận lợi cho việc mở rộng mạng lưới đường sắt thuộc địa Pháp trên khắp Việt Nam sau đó của Toàn quyền Đông Dương Paul Doumer, thông qua kế hoạch đầy tham vọng của ông vào năm 1898 thiết lập một hệ thống đường sắt xuyên Đông Dương toàn diện, trong đó có tuyến đường chính Bắc Nam nối Hà Nội và Sài Gòn.

Paul Doumer 1897-1902

Những thành tựu quan trọng của Paul Doumer với tư cách là Toàn quyền Đông Dương thuộc Pháp từ năm 1897 đến năm 1902 là:

Củng cố thiết lập chính quyền thuộc địa và kiểm soát của Pháp

Áp đặt sự cai trị trực tiếp của Pháp ở mọi cấp hành chính, tước bỏ quyền lực thực sự của bộ máy quan liêu Việt Nam. Bố trí các quan chức Pháp vào những vị trí quan liêu quan trọng, đẩy người Việt vào những vai trò thứ yếu với mức lương thấp. Điều này củng cố sự kiểm soát của Pháp đối với chính quyền thuộc địa.

Tiếp tục khai thác kinh tế và phát triển cơ sở hạ tầng

Nhằm mục đích khai thác nhanh chóng và có hệ thống các nguồn tài nguyên của Đông Dương vì lợi ích của Pháp, biến Đông Dương thành nguồn nguyên liệu thô và thị trường cho hàng hóa của Pháp.

Khởi động các dự án cơ sở hạ tầng lớn như đường sắt, đường cao tốc, bến cảng, cầu và kênh rạch để tạo điều kiện khai thác kinh tế. Các dự án đáng chú ý bao gồm cầu Long Biên và Grand Palais ở Hà Nội.

Thành lập các công ty độc quyền tạo doanh thu từ gạo, cao su, than đá… để tài trợ cho việc mở rộng chính quyền.

Vận động thành công để phê duyệt tuyến đường sắt Đông Dương-Vân Nam vào năm 1898 nhằm sáp nhập miền nam Vân Nam vào Đông Dương thuộc Pháp.

Giám sát việc sáp nhập Lào vào năm 1893 và bổ sung nước này vào Liên minh Đông Dương.

Doumer là một nhà quản lý quyết đoán, mạnh mẻ, giảm thiểu nguồn nhân lực địa phương, và chuyển nguồn lực cho các công ty nhượng quyền của châu Âu. Nhiệm kỳ của ông củng cố quyền kiểm soát thuộc địa của Pháp và khai thác kinh tế nhưng là người đóng góp nhiều nhất cho sự phát triển và xây dựng hạ tầng cơ sở và các toà nhà quan trọng cho thành phố.

.Thành tựu quan trọng nhất của ông là củng cố quyền lực của toàn quyền đối với các nhà quản lý đứng đầu các bộ phận khác nhau của Đông Dương và đặt nền kinh tế thuộc địa trên một nền tảng vững chắc. Mặc dù sự phát triển sau này được người Pháp hoan nghênh nhưng nó liên quan đến việc áp thuế nghiêm ngặt đối với người dân địa phương, gây ra sự phẫn nộ sâu sắc.

Công ty này từng tồn tại dưới 3 tên gọi chính là: Xưởng G. Eiffel (1858-1893); Công ty Xây dựng Levallois Perret (1893-1937) và Công ty Eiffel (kể từ năm 1937)

Referrences:

878,156 hits


Chứng chỉ và văn bằng tốt nghiệp ở miền Nam trước 1975

Chứng chỉ và văn bằng tốt nghiệp ở miền Nam trước 1975

Y Nguyên Mai Trần

Bài viết sưu khảo này dựa vào những nhận thức và kinh nghiệm của người viết sinh ra trong thập kỷ 1940s thừa hưởng môt nền giáo dục khai phóng ở miền Nam. Từ ngôi trường đơn sơ trong xóm nhỏ rồi bước sang ngưởng cửa tiểu học, trung học, đại học trong suốt một quá trình dài 15 năm, trong mổi giai đọan đánh dấu bằng sự xét nghiệm với những mảnh bằng hay chứng chỉ tôt nghiệp mà các cơ quan giáo dục cấp phát .Với những chứng chỉ mảnh bằng ấy những người tốt nghiệp đã tham gia vào đời sống kinh tế, cộng đồng xã hội giáo dục một cách hiệu quả và thành công.

Bài viết sẽ không đề cập chuyên sâu về lịch sử, khía cạnh chính trị, triết lý và hệ thống tổ chức của nền giáo dục miền Nam (Thời Pháp thuộc cũng như thời Việt Nam Cộng Hòa) vì những khía cạnh này đả được đề cập đến từ khá nhiều tài liệu trên mạng cũng như sách vở.
Ngày 21/12/1917 Toàn quyền Đông Dương Albert Sarraut ký nghị định ban hành tổng quy chế nền học chính toàn cõi Đông Dương. Văn bản được xem như bộ luật giáo dục với mục tiêu thống nhất nền giáo dục bản xứ, tiến tới xóa bỏ nền giáo dục cũ.

Hệ thống Giáo Dục Pháp Cho Người Bản Xứ (Enseignement Franco-Indigène), thường được gọi là Giáo Dục Pháp-Việt được dựa vào hệ thống giáo dục của chính quốc, đã được người Pháp ở Việt Nam điều chỉnh cho phù hợp với bối cảnh và thực tế tại Việt Nam. Tuy tiếng Pháp vẫn dùng là chính ngữ, tiếng Việt là phụ ngữ, mục tiêu tối hậu là loại bỏ Nho học và thay thế dần bằng một hệ thống giáo dục phục vụ cho người bản xứ và guồng máy cai trị.

Hệ thống giáo dục mới được hình thành sau khi Pháp chiếm Nam kỳ. Với Hòa ước Giáp Tuất 1874 Nam kỳ trở thành thuộc địa Cochinchine và Hòa ước 1883-84 Patenôtres đặt Bắc kỳ -Tonkin và Trung Kỳ-AnNam dưới quyền bảo hộ. Mặc dù triều đình Nguyễn được cai trị ở Huế, nhưng chịu sự kiểm soát chặt chẻ của Toàn Quyền Đông Dương. Tưởng cũng xin nhắc lại Liên Bang Đông Dương-L’Indochine gồm Lào, Cao Miên và ba miền của Việt Nam, cơ sở đầu não đặt tại Hà Nội, dưới quyền của Toàn Quyền Đông Dương.
Năm 1864 là kỳ thi Hương cuối cùng ở Nam kỳ tổ chức ở ba tỉnh miền Tây trước khi bị Pháp chiếm. Từ 1878 chữ Hán trong giấy tờ công văn của các cơ quan hành chánh được thay thế bằng chữ Pháp và chữ Quốc ngữ. Ở Bắc kỳ và Trung kỳ, dưới quy chế bảo hộ, sự thay đổi về giáo dục chậm hơn. Kỳ thi Hương cuối cùng ở Bắc là năm Ất Mão 1915, và ở Huế năm Mậu Ngọ 1918. Tuy vậy mãi đến năm 1932 bộ máy quan lại của triều đình mới bỏ việc dùng chữ Hán và thay thế bằng chữ Pháp hay chữ quốc ngữ.

Người viết xin ghi nhận sự đóng góp của bạn bè đồng môn khắp nơi trên thế giới. Hy vọng những tư liệu này được xem là tài liệu tham khảo quý báo cho các thế hệ sau cũng như môt chút tâm tình cuả một thời vàng son trẻ tuổi dùi mài kinh sử trong những mái trường trước 1975.

Phần A. Nền Giáo Dục ở miền Nam trước năm 1954- thời Pháp thuộc.

Trước năm 1954, tuy có nhiều biến chuyển theo vận nước nổi trôi, nhưng chương trình Pháp- Việt Franco-Indigènes căn bản là hệ thống giáo dục tại Việt Nam trong suốt thời kỳ Nam Kỳ thuộc địa, Trung Kỳ và Bắc Kỳ bảo hộ . Song song với chương trình này còn có chương trình chinh quốc Pháp áp dụng cho một số trường được mở ra để phục vụ người Pháp và những người có quốc tịch Pháp trong thời gian đầu. Điển hình như trường Chasseloup Laubat Sài gòn(1874),trường trung học Albert Sarraut ở Băc Kỳ (1908), Yersin ở Đà Lạt (1935). Cả 3 trường này bắt đầu cũng được hình thành từ bậc tiểu học trước rồi sau mới đến bậc Tú Tài.

Làm nòng cốt cho hệ thống giáo dục Pháp-Việt-Franco-Indigène phổ thông cho người Việt, người Pháp đã cho xây dựng một số trường như trường trung học Le Myre de Vilers ở Mỹ Tho (1879), Collège de Cantho (1917) trường Quốc Học Huế (1896), trường trung học Bảo Hộ (Collège du Protectorat) tức trường Bưởi Hà Nội (1908) ). Ba trường này khi mới mở chỉ có bậc tiểu học đến vài chục năm sau mới có 2 trường Quốc Học Huế và trường Bưởi giảng dạy bậc Tú Tài.

Thống Đốc  Nam Kỳ Le Myre de Vilers ̣(xem hình ̣95), người chú trọng mở mang giáo dục Pháp-Việt đã cho mở trường trung học đầu tiên và duy nhất cho cả Miền Nam vào cuối thế kỷ XIX lấy tên Collège de Mytho. Trường bắt đầu chỉ có hai năm học sau đó tăng lên bốn năm đầu thế kỷ XX được đổi tên là Collège Le Myre de Vilers.

Chương trình Pháp-Việt gồm có ba bậc học : Tiểu học, Trung học và Đại học. Ở bậc Tiểu học, lớp khởi đầu là lớp Năm hay lớp Đồng ấu (Cours Enfantin), kế đến là lớp Tư hay lớp Dự bị (Cours Préparatoire), lớp Ba hay lớp Sơ đẳng (Cours Elémentaire). Cả ba lớp này thuộc cấp Sơ học tiểu học, học xong, học sinh thi lấy bằng Sơ học Yếu lược (Certificat d’Etudes Primaire Elémentaire).
Sau cấp Sơ học là cấp Tiểu học gồm ba lớp: lớp Nhì năm thứ nhất (Cours Moyen de 1ère Année), lớp Nhì năm thứ hai (Cours Moyen de 2è Année), và lớp Nhất (Cours Supérieur). Xong lớp Nhất, học sinh thi lấy bằng Tiểu học (Certificat D’Etude Primaire Complémentaire Indochinois, viết tắt là C.E.P.C.I).
Sau bằng Tiểu học , học sinh phải học lên bốn năm nữa rồi thi bằng Cao Đẳng Tiểu học, tiếng Pháp là Diplôme d’Etudes Primaire Superieur Franco-Indigènes, còn gọi là Brevet primaires , người Việt gọi là bằng Thành Chung, bằng Diplôme.
Ai thi đậu mới được học lên bậc Trung học-còn gọi là bậc Tú Tài. Bậc này gồm ba năm, năm thứ nhất, năm thứ hai-Bac 1ere và năm thứ ba- Bac 2ème
Kể từ cuối thập niên 1920, chương trình thi bậc Tú Tài đã được Nha Học chính Đông Pháp quy định, gồm hai kỳ thi cách nhau một năm, kỳ thi lấy bằng Tú Tài I hay Tú Tài bán phần (Baccalauréat Première Partie) và kỳ thi Tú Tài II hay Tú Tài toàn phần (Baccalauréat Deuxième Partie, gọi tắt là Bac). Người dự thi Tú Tài toàn phần bắt buộc phải có bằng Tú tài bán phần
Tú Tài toàn phần –Pháp-Việt còn gọi là Certificat de Fin d’Etudes Secondaire Franco-indigènes

Tú Tài toàn phần Pháp chính thống còn có tên là Diplôme du Baccalaureat de l’enseignement du second degré.

Hình 1: Bằng cấp, chứng chỉ thời Pháp-trước 1954.

Với việc cải cách giáo dục, việc đưa chữ quốc ngữ vào tiểu học đã giúp trẻ nhanh chóng biết đọc, biết viết so với việc học chữ Hán khó nhớ. Chương trình học bao gồm cả khoa học tự nhiên và khoa học xã hội. Bên cạnh các trường phổ thông, Pháp còn lập ra trường dạy nghề để học sinh khi học xong tiểu học có thể chọn học nghề.

Thời kỳ 1945-1955, tình hình giáo dục rất phức tạp. Pháp vẫn chỉ đạo nền giáo dục tại Nam Kỳ, nhưng giữa Pháp và các nước liên hiệp Đông Dương cũng đã ký hiệp ước chuyển giao các cơ quan giáo dục và văn hóa từ năm 1949. Đa số các trường đại học, cao đẳng Pháp thành lập, đặt tại Hà Nội cho toàn các xứ Đông Dương, được dời vào miền Nam sau hiệp định Genève 1954.

Đặc biệt tại Saigon, hai trường trung học theo chương trình Pháp-Việt đầu tiên được thành lập là trường Áo Tím-Gia Long và trường Petrus Trương Vĩnh Ký.

Trường L’école des Jeunes Filles Indigènes)  Áo Tím –Gia Long  xây dựng xong năm 1915 được Toàn Quyền Ðông Dương Ernest Nestor Roume  và Thống Ðốc Nam Kỳ Courbeil cắt băng khánh thành và khai giảng khóa đầu tiên. Trường dạy hai cấp. Sơ học và Tiểu học. Cuối năm Sơ học , học sinh phải thi lấy chứng chỉ Sơ học yếu lược ( Certficat d’Etudes Primaires Elementaires Franco-Indigènes), sau đó học thêm ba năm thi bằng Tiểu học yếu lược . CEPCI (tức Certificat d’Études Primaire Complémentaire Indochinoise). Năm đầu tiên chỉ có 42 nữ học sinh trong bộ đồng phục áo dài tím. Tên trường Áo Tím bắt đầu từ đó.

Ðến tháng 9 năm 1922, trường được nâng lên cấp Cao đẳng tiểu học (tương đương với bậc Trung Học Ðệ Nhứt Cấp sau này). Toàn Quyền Albert Sarraut khai giảng lớp đầu tiên của bậc Cao đẳng tiểu học và  đổi tên trường là Collège des Jeunes Filles Indigènes .

Thời Nhật trở lại Đông Dương, năm 1940 , trường đổi tên thành trường trung học Gia Long. Tên trường tồn tại mãi đến sau năm 1975 với tên mới Nguyển thị minh Khai.

 Hình  2: Trường Gia Long, Trường Petrus Ký.

Thống Đốc Nam Kỳ B.de La Brosse ký nghị định 18-12-1927 thành lập trường trung học Pháp Việt mang tên “Petrus Ký trung-học đường”.
Tiền thân của trường Petrus Ký có tên là Collège de Cochinchine (một phân hiệu tạm thời của Collège Chasseloup Laubat (hiện nay là Lê Quý Đôn), dành cho học sinh người Việt Nam
Ngày 11-8-1928, khi trường mới xây dựng xong ở vị thế ngày nay, trường khởi đầu chỉ dạy bậc Cao đẳng tiểu học, mang tên Lycée Pétrus Trương Vĩnh Ký-Petrus  Ký trung học đường- khai giảng năm học đầu tiên tháng 9, 1927-1928 với 4 lớp học với hơn 200 học sinh chuyển qua theo học chương trình Pháp và Pháp Việt từ trường Collège de Cochinchine (Ngoại trưởng và Chủ Tịch Thượng Viên VNCH Trần Văn Lắm là một trong những học sinh khóa đầu tiên 1927-1928. Ông mất tại Canberra Úc năm 2001). Vào năm 1953, trường Trung học Petrus Trương Vĩnh Ký là ngôi trường trung học công lập duy nhứt của Sài Gòn dành cho nam sinh, dạy về văn hóa của chương trình Trung học Việt Nam
Nếu đứng ngay trước cổng chánh trên đại lộ Cộng Hòa, hiện nay là đường Nguyễn Văn Cừ vẩn còn cổng xây dựng bằng gạch kiên cố với 2 cột cao độ 4m trên có khắc 2 câu chữ Hán “Khổng Mạnh Cương Thường Tu Khắc Cốt, Tây Âu Khoa Học Yếu Minh Tâm.” Phía trên có khắc tên “Trường Trung Học Petrus Ký.”. Sau 1975, trường có tên Lê hồng Phong.

Bằng cấp chương trình chính quốc Pháp

Chương trình giáo dục Pháp chính quốc được áp dụng cho các trường dạy học trò người Pháp và những người có quốc tịch Pháp.

Hình 3: Bằng Tiểu học yếu lược (Tiểu học) chương trình Pháp-Certificat d’études primaires élémentaires” (CEPE) –cấp cho cô học trò người Pháp Colette Parlet  ở Cái Bè, Nam Kỳ, bằng cấp chính quốc Pháp của Département du Var –Academie D’Aix.

Bằng cấp chương trình Pháp-Việt Franco-Indigènes

Thời này những người tốt nghiệp với bằng Tiểu Học được xem có học thức khá, nói tiếng Pháp khá thông thạo, thường làm ” thầy thông thầy ký” .Những người có bằng Cao Đẳng Tiểu học được xem có trình độ học thức cao, thường đãm nhiệm những vai trò quan trọng trong cơ sở Pháp Việt.

A1-Bậc Tiểu học-Cao đẳng Tiểu Học

Hình 4: Văn bằng Tiểu Học cấp ở Nam Kỳ thuộc địa Cochinchine 1933

https://musee-ecole-montceau-71.blogspot.com/2019/03/lecole-dans-lalgerie-francaise.html

Hình 5: Văn bằng Tiểu Học cấp ở Bắc Kỳ Bảo Hộ -Protectorat du Tonkin 1929

Hinh 6M Bang cap tieu hoc Bao Ho ha noi

Hình 6: Văn Bằng Tiểu Học cấp ở Bắc Kỳ Bảo Hộ -Protectorat du Tonkin 1934

Hinh 7M Bang Phap

Hình 7.Bằng Sơ Đẳng Tiểu Học hay Tiểu Học Yếu Lược 1915-Certificat d’Etudes Primaires –Franco Indigènes cấp thời Đông Pháp –Liên Bang Đông Dương-Bắc Kỳ Bảo Hộ (Protectorat du Tonkin). Đây không phải là bằng Sơ Học Yếu Lược-Certficat d’Etudes Primaires Elementaires Franco-indigènes

Hinh 8m Bang tieu hoc cua tran van tuyen

Hình 8: Văn bằng Tiểu học yếu lược bản xứ Certificat d’Etudes Primaires –Franco Indigènes. thời Đông Pháp –cấp bởi Thủ Hiến Trung Kỳ Bảo Hộ (Protectorat de L’Annam)

Hinh 9M CEPCI tieu hoc Phap

Hình 9: Bằng cấp tiểu học bổ túc cấp bởi bộ trưởng Giáo Dục của Chính Phủ Đại Nam dưới thời vua Bảo Đại năm 1939. Bằng này đòi hỏi người tốt nghiệp học thêm một năm sau khi có bằng Tiểu Học ̣để đi dạy học hoặc đãm nhiệm trọng trách cao hơn.

http://trantocvinhhien.com/photos_video/dicao/dicao-ongba/

Hinh 10M certificat d'etudes primaire complimentaire indochinoise

Hình 10: .Văn bằng Tiểu Học bổ túc cấp  ở Nam Kỳ thuộc địa Cochinchine 1940s

A2-Bậc Trung Học

Hình 11:. Bằng Diplôme-còn gọi là Brevet primaires- Người Việt gọi là bằng Thành Chung. Bằng này cấp cho học sinh người Pháp ở Pháp.

hinh 12M Diplome D.erudes complementaires F-ranco -indegenes-Thanh chung Diploe

Hình 12. Văn bằng Diplôme D’Etudes Complimentaires-Franco-Indigènes- tương đương bằng Brevet-Thành Chung -cấp cho học sinh theo hệ thống Giáo Dục Pháp Việt thời Liên Bang Đông Dương 1919.

hinh 13M Bang thanh chung 1923

Hình 13: Văn bằng Diplôme D’Etudes Complimentaires-Franco-Indigènes- tương đương bằng Brevet-Thành Chung -cấp cho học sinh theo hệ thống  giáo dục Pháp Việt thời Liên Bang Đông Dương 1923

hinh 14M Diplome d'etudes primaires superieur -Jan 1945

Hình 14: Diplôme D’etudes Primaires Superieures-Cao đẳng Tiểu Học, còn gọi là bằng Thành Chung.
Văn bằng cuối cùng này cấp bởi Toàn Quyền Đông Dương ngày 31/5/1945 sau khi Nhật chiếm Đông Dương ngày 9 Tháng Ba 1945

hinh 15M Diplome du baccalaureat academie de rennes

Hinh 15: Mẩu bằng Tú Tai II chương trinh Pháp cấp bởi Academie de Rennes cho học sinh tốt nghiệp các trường như Lê Quý Đôn, Marie Curie… Saì Gòn

A3-Bậc Đại học thời Pháp Thuộc

Hinh 16M

Hình 16: Bằng tốt nghiệp Đại học Khoa học Ứng dụng chuyên ngành Công Chánh do Chính phủ Đông Dương cấp năm 1926. Người được cấp bằng này đã theo học ở trường Cao Đẳng École des Sciences Appliquées Hà Nội

Hinh 17M Read the rest of this entry »


Ai sáng tạo chữ Quốc ngữ ?

Không có “ông tổ duy nhất” của chữ Quốc ngữ.

Thời gian qua, trên các phương tiện thông tin đại chúng thảo luận rất nhiều quanh việc có nên lấy tên hai vị Linh mục Tây phương có công sáng tạo chữ Quốc ngữ đặt tên đường tại TP Đà Nẵng hay không. Liên quan đến nội dung này, nhiều người trong đó có cả các nhà nghiên cứu đã gắn cụm từ ông tổ chữ Quốc ngữ cho Alexandre de Rhodes hoặc Francisco de Pina. Đáng chú ý, trong các tham luận hội thảo và diễn đàn về lịch sử chữ Quốc ngữ gần đây tại Bồ Đào Nha, TP Hồ Chí Minh và Đà Nẵng, Linh mục Tiến sĩ Roland Jacques đều khẳng định: Francisco de Pina là ông tổ chữ Quốc ngữ.

Xác định khái niệm “ông tổ” 

  1. – Theo từ điển Đại Nam Quấc Âm Tự Vịcủa Huình-Tịnh Paulus Của, Tổ: Ông đầu hết; Ông truyền nghề nghiệp.- Theo Đại từ điển Tiếng Việt, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Nhà xuất bản Văn Hóa-Thông Tin, 1998, Tổ: Người được coi là người đầu tiên lập nên dòng họ; Người sáng lập, gây dựng nên một nghề, một ngành hay một học phái, tôn giáo.Với khái niệm trên thì ông tổ chữ Quốc ngữ là người đầu hết, là người sáng lập, gây dựng nên chữ Quốc ngữ.2. Việc sáng tạo chữ Quốc ngữ

    Vào nữa đầu thế kỷ 17, các thừa sai Dòng Tên từ Macao đã đến Đàng Trong (18.01.1615) và Đàng Ngoài (19.03.1627) của Đại Việt để truyền giáo. Vì nhu cầu truyền giáo, các vị thừa sai đã dùng mẫu tự gốc Latinh để ký âm tiếng Việt. Trong bài này chúng tôi chỉ đề cập đến giai đoạn 1615-1651.[1] Khởi đầu công việc nầy là các vị thừa sai đầu tiên đến Đàng Trong đã để lại dấu ấn liên quan đến việc sáng tạo chữ Quốc ngữ trong các tư liệu truyền giáo:- Linh mục Francesco Buzomi đến Đàng Trong năm 1615Ngày 18.01.1615, đoàn thừa sai dòng Tên do Linh mục Buzomi làm trưởng đoàn đã đặt chân lên Cửa Hàn (Đà Nẵng). Tháng 7 năm 1618, nhờ sự giúp đỡ của Khám lý Qui Nhơn, cư sở đầu tiên của các thừa sai được thành lập tại Nước Mặn. Lúc bấy giờ tại cư sở này có các Kitô hữu: Linh mục Buzomi (Ý), Linh mục Pina (Bồ), Linh mục Borri (Ý), tu huynh Diaz (Bồ) và chú Augustinô (Việt).Trong năm 1618, tại cư sở Nước Mặn, một thanh niên mười sáu tuổi, tên thánh rửa tội là Phêrô, giúp các thừa sai biên dịch sang tiếng địa phương (Nôm) một sách bổn giáo lý.[2] Năm 1619, các thừa sai Dòng Tên ở Nước Mặn là những người đầu tiên chuyên tâm nghiên cứu ngôn ngữ “địa phương” hơn bất cứ điều gì khác. Tại cư sở  này, các thừa sai đã lập một trường học và tìm được một người thầy thông thạo Hán Nôm để dạy ở trường và với mục tiêu là ông sẽ giúp các thừa sai trong việc nghiên cứu và sáng tạo ngôn ngữ, hoặc dịch các tài liệu của các thừa sai sang Hán Nôm . [3]

Cũng chính sử gia Linh mục Daniello Bartoli cho biết sau khi Linh mục Borri về châu Âu (1622),  Linh mục Francesco de Pina và Linh mục Buzomi là hai thừa sai ở Đàng Trong đã nắm bắt được ngôn ngữ thông dụng của địa phương, có thể thuyết giáo, trao đổi với các nhân sĩ và các vị Sãi, trong các việc riêng tư hay trong nơi công hội. [5]

Trong thư viết năm 1626, Linh mục Buzomi đã viết một vài chữ Quốc ngữ. Linh mục Đỗ Quang Chính nhận định về những chữ Quốc ngữ của Linh mục Buzomi trong thư nầy: “Nhìn vào những chữ Quốc ngữ của Buzomi, mặc dầu ít, nhưng đã thấy tiến triển, nếu đem so sánh với lối viết của João Roiz, C. Borri, Đắc Lộ, Gaspar Luiz và Antonio de Fontes từ năm 1626 trở về trước”. Quả vậy, Linh mục Buzomi viết một thư tại Nước Mặn đề ngày 20.05.1622, trong thư Linh mục viết Thienchu thay vì Thien Chu như thư viết năm 1626, cách viết theo lối cách ngữ (đơn âm) giống như ngày nay. [6]

buzomi-quoc ngu

 – Linh mục Francisco de Pina

Linh mục Pina làm việc tại Đàng Trong (1617-1625). Linh mục được các thừa sai đồng nghiệp đánh giá là người có kỹ năng tốt về ngôn ngữ. Báo cáo thường niên năm 1619 cho biết Linh mục Pina vừa mới nắm bắt được một số vốn từ vựng tiếng địa phương [Nôm] thay vì ngữ pháp, vì thứ chữ này [Nôm]  giống như  chữ Trung Hoa, không có ngữ pháp. [7]

Trong một bức thư được thảo năm 1623, Linh mục Pina cho biết: “Về phần con, con đã soạn một tập nhỏ về chữ viết và về các cung điệu của ngôn ngữ này; con hiện đang bắt tay vào ngữ pháp. Tuy nhiên, mặc dù con cũng đã tập hợp những câu chuyện thuộc nhiều thể loại khác nhau để ghi trích dẫn của các tác giả, hầu xác định ý nghĩa của các từ ngữ và các mẹo luật ngữ pháp, thì cho đến giờ này con vẫn còn phải nhờ một người đọc để con ghi ra bằng mẫu tự Bồ Đào Nha, hầu cho những người của chúng ta sau này có thể đọc và học thuộc lòng, như từng học Cicéron và Virgile”.[8]

Linh mục Pina qua đời vào ngày 15 tháng 12 năm 1625 tại cửa Đại, Hội An. Được an táng tại Hội An.[9]

– Linh mục Christoforo Borri

Sau khi cập bến Cửa Hàn được vài tháng, Linh mục Borri chỉ làm việc tại cư sở Nước Mặn từ tháng 7 năm 1618-1622.[10] Linh mục Borri đã để lại một số câu từ “Quốc ngữ tiền Đắc Lộ” trong tác phẩm ” Relatione della nuova missione delli PP. della Compagnia di Giesù al Regno della Cocincina – Tường trình về khu truyền giáo Đàng Trong”. [11]

Linh mục Léopold Cadière nhận định: “Dù trải qua thời gian ít ỏi ở Việt Nam, Linh mục Cristoforo Borri đã tạm nắm bắt được ngôn ngữ xứ nầy. Điều nầy được thể hiện qua những từ và những câu tiếng Việt trong bản tường trình của ông”.[12]

“Nơi bản tường trình, ông để lại cho chúng ta những tiêu bản quý báu về những hình thái tiên chinh của chữ Quốc ngữ, một thứ chữ Quốc ngữ trước thời Linh mục Đắc Lộ. Những bút tích này của Linh mục Borri quả là một bổ ích lớn lao cho những ai khi đi sâu nghiên cứu về sự hình thành chữ Quốc ngữ “. [13]

Trong khi nghiên cứu và phiên dịch tác phẩm của Linh mục Borri, dịch giả Hồng Nhuệ đã bộc bạch: “Có một vài câu chữ Quốc ngữ trong bản tường thuật của ông cho chúng ta biết: ngay từ những năm 1618-1620 đã có một khởi đầu hình thành thứ chữ nầy… “.[14]

Các thừa sai đến Đàng Trong năm 1624:

Để tăng số thừa sai cho việc truyền giáo, tháng 12 năm 1624, Tỉnh Dòng ở Macao phái thêm 06 thừa sai đến Đàng Trong:

– Gabriello de Matos, Antonio de Fontes, Manuello Gonzalez Alexandre de Rhodes, Gaspar Luiz, Girolamo Majorica. Trong số các thừa sai này, Gabriello de Matos và Manuello Gonzalez về Hội An; Alexandre de Rhodes và Antonio de Fontes học tiếng Việt với Pina tại Dinh Chiêm; Gaspar Luiz và Girolamo Majorica đến Nước Mặn học tiếng Việt với Linh mục Buzomi.[15]

Hiện nay được biết một số bút tích của các Linh mục Girolamo Majorica, Gaspar Luiz, Antonio de Fontes và Alexandre de Rhodes:

– Linh mục Girolamo Majorica làm việc tại Đàng Trong (1624-1628) và Đàng Ngoài năm (1632-1656). Linh mục là một chuyên viên Quốc ngữ Nôm. Ông đã viết khoảng 45 tác phẩm lớn nhỏ bằng chữ Nôm. Hiện nay, Thư viện Quốc gia Paris lưu trữ 15 cuốn với 4.200 trang.[16]

– Linh mục Gaspar Luiz làm việc tại Đàng Trong (1624-1629; 1632-1639). Trước khi đến Đàng Trong, Linh mục Gaspar Luiz đã viết một bản báo cáo tổng hợp đề ngày 17.12.1621 tại Macao. Trong báo cáo này có vài danh từ Việt chỉ địa danh hay chức vụ. Tuy nhiên đó là những từ sao y bản chính của các thừa sai từ Đàng Trong gởi về Macao.

Sau hai năm ở Nước Mặn, Linh mục Gaspar Luiz viết bản báo cáo đề ngày 01.01.1626 tại Nước Mặn. Trong bản báo cáo này đã có nhiều chữ “Quốc ngữ tiền Đắc Lộ” chẳng hạn:

quoc ngu-benda
(Quinhin – Qui Nhơn; Bendá-Bến Đá,
[ngày nay thuộc thôn Bình Đê, xã Hoài Châu Bắc, huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định] )
Ngoài ra khi làm việc tại Đàng Trong ông đã soạn một cuốn từ vựng tiếng Việt nhưng đã bị mất vì chiếc tàu đưa cuốn này từ Đàng Trong về Macao đã bị đắm biển.[17]

– Linh mục Antonio de Fontes làm việc tại Đàng Trong (1624-1631) và Đàng Ngoài một vài năm, sau trở lại Đàng Trong và rời khỏi Đàng Trong năm 1639). Ngày 01.01.1626, Linh mục Antonio de Fontes viết bản báo cáo tại Hội An, trong đó có một số chữ “Quốc ngữ tiền Đắc Lộ”.[18]

– Linh mục Alexandre de Rhodes làm việc tại Đàng Trong (1624-1626) ra vào Đàng Trong 04 lần (1640-1645); Đàng Ngoài (1627-1630). Linh mục Alexandre de Rhodes để lại rất nhiều bút tích về chữ Quốc ngữ. Căn cứ vào những bút tích của Linh mục Alexandre de Rhodes (Đắc Lộ) và Linh mục Buzomi, Linh mục Đỗ Quang Chính nhận xét: “Nếu chúng ta so sánh lối viết chữ Quốc ngữ của Đắc Lộ năm 1631 với lối viết của Buzomi năm 1626, thì hai lối viết gần giống nhau, nghĩa là trình độ gần như nhau”.[19]

Chữ Quốc ngữ của Linh mục Alexandre de Rhodes còn được thể hiện trong các thư báo cáo và các tác phẩm của ngài.[20] Đáng chú ý ba tác phẩm Linh mục Alexandre de Rhodes cho xuất bản tại Roma năm 1651 : Cathechismus … in octo dies diuisus (Phép Giảng Tám Ngày – một cột bằng chữ Latinh, một cột bằng chữ Quốc ngữ) và Tự điển Dictionarium Annamiticum Lusitanum et Latinum (Việt-Bồ-La), trong đó, tác phẩm “Linguae Annamiticae seu Tunchinensis Brevis Declaratio – (Mô tả ngắn gọn về ngôn ngữ Annam hay Đàng Ngoài” còn gọi là cuốn văn phạm Việt Nam đầu tiên) được in chung với Tự điển.

Các thừa sai làm việc tại Đàng Ngoài

 Ngoài các Linh mục đầu tiên làm việc tại Đàng Trong, sau đó làm việc tại Đàng Ngoài như đã nói trên, đáng chú ý hai thừa sai chỉ làm việc tại Đàng Ngoài trong giai đoạn 1629-1651:

– Linh mục Gaspar d’Amaral  làm việc ở Đàng Ngoài (1629-1630; 1631-1638). Trong bảy năm truyền giáo, Linh mục d’Amaral đã soạn cuốn từ điển Việt-Bồ (Diccionário Annamita-Português). Ngoài ra Linh mục d’Amaral còn để lại rất nhiều chữ Quốc ngữ trong hai bản báo cáo hằng năm được viết vào năm 1632 và 1636. Những chữ Quốc ngữ này đã viết theo lối cách ngữ (đơn âm), có dấu thanh điệu.[21]

– Linh mục António Barbosa đến Đàng Ngoài vào cuối tháng 4 năm 1636. Vì sức khỏe, vào tháng 5 năm 1642 ngài trở về Ma Cao. Ngài qua đời năm 1647, trên đường từ Macao đến Goa. Trong 06 năm ở Đàng Ngoài, Linh mục Barbosa đã soạn cuốn từ điển Bồ -Việt (Diccionário Português-Annamita).

  1. Vai trò người Việt trong việc sáng tạo chữ Quốc ngữ trong giai đoạn 1615-1651

 Việc khởi đầu sáng tạo chữ Quốc ngữ là một sáng kiến của các thừa sai Dòng Tên phát xuất từ nhu cầu truyền giáo cho người Việt. Công cuộc khởi đầu ấy là công việc được đóng góp từ công sức của nhiều người, trong đó thành phần chủ chốt đầu tiên là số thừa sai Dòng Tên làm việc tại cư sở Nước Mặn ở giai đoạn giữa năm 1618 đến đầu năm 1620 gồm có Linh mục Buzomi, Linh mục Pina, Linh mục Borri. Ngoài những nỗ lực của các thừa sai còn phải kể đến sự tham gia và đóng góp của những người Việt Nam.

Rất tiếc tên tuổi của người Việt cộng tác với các thừa sai trong việc sáng tạo chữ Quốc ngữ trong giai đoạn khởi đầu nầy không được lưu lại đầy đủ. Dẫu sao, chúng ta cũng nêu lên một vài chứng từ những người đầu tiên tiêu biểu ở giai đoạn đầu nầy:

* Người đầu tiên phải kể đến là Cống Quận công Trần Đức Hòa, Khám lý phủ Qui Nhơn. Ông cưu mang, đùm bọc các thừa sai tại cư sở Nước Mặn, cư sở đầu tiên của các thừa sai Dòng Tên trên đất Đại Việt. Ông lo cho những người nầy có điều kiện tốt nhất để khởi động đi tìm con chữ mà hôm nay chúng ta được thừa hưởng. Vì vậy danh tính của ông không thể thiếu trong danh sách những người đầu tiên chúng ta ghi ơn.

* Những vị Sãi như thư Linh mục Pina viết năm 1623: “Tại Pulo Cambi, Cha Buzomi có được hai hay ba ông sãi – bonzo giúp cha làm mọi việc. Như thế, nếu chuyện gì xảy ra, nếu có việc phải giải quyết hoặc những thông điệp quan trọng, cha phái người thông ngôn hoặc một trong các ông sãi; khi giờ giáo lý kết thúc, cha ra về, và họ thì ở lại hoặc để ôn tập, hoặc để chuyện trò với các dự tòng”.

* Người thanh niên mười sáu tuổi có tên thánh bổn mạng là Phêrô, người giúp Linh mục Pina dịch sách giáo lý tại Nước Mặn vào năm 1618.

* Anh Augustinô – thông ngôn người Đàng Trong của Linh mục Buzomi, một ngôi sao tại Nước Mặn.

* Chú Anrê, người đã được Linh mục Pina đào tạo và là người đã giúp Linh mục Marques học tiếng Việt tại Dinh Chiêm.

* Những người buôn bán và bà con nông dân Việt Nam ở những địa phương mà các thừa sai được tiếp xúc hằng ngày.

* Những thương nhân với vai trò thông ngôn dù chỉ biết lèo tèo một số từ cần thiết trong giao dịch thương mại.

* Cậu bé mà Linh mục Alexandre de Rohdes đã viết: “Người giúp tôi đắc lực là một cậu bé người xứ này. Trong ba tuần lễ đã dạy tôi các dấu khác nhau và cách đọc hết các tiếng. Cậu không hiểu tiếng tôi mà tôi thì chưa biết tiếng cậu, thế nhưng, cậu có trí thông minh biết những điều tôi muốn nói. Và thực thế, cũng trong ba tuần lễ, cậu học các chữ của chúng ta, học viết và học giúp lễ nữa. Tôi sửng sốt thấy trí thông minh của cậu bé và trí nhớ chắc chắn của cậu. Từ đó cậu đã làm thầy giảng giúp các cha. Cậu đã là một dụng cụ rất tốt để tôn thờ Chúa trong giáo đoàn và cả ở nước Lào, nơi cậu hoạt động trong nhiều năm với thành quả mỹ mãn, cậu rất mến  thương tôi nên đã muốn lấy tên tôi”.[22]

  1. Vấn đề Ông tổ chữ Quốc ngữ

 – Về Linh mục Alexandre de Rhodes

 Đầu thế kỷ XX, chữ Quốc ngữ bắt đầu được sử dụng chính thức ở Việt Nam. Việc  truy tìm gốc gác lịch sử của nó được chú ý. Căn cứ về mặt ngữ học, ba tác phẩm của Linh mục Alexandre de Rhodes xuất bản năm 1651 được đánh giá là một thành tựu ghi dấu sự ra đời của chữ Quốc ngữ. Từ đánh giá này, Linh mục Alexandre de Rhodes được xem như ông tổ chữ Quốc Ngữ.

Tháng Giêng năm 1961, Linh mục Tiến sĩ Nguyễn Khắc Xuyên đã viết trong Lời giới thiệu tác phẩm Phép Giảng Tám Ngày: “Khi tặng cho giáo sĩ Alexandre de Rhodes cái danh hiệu là “thủy tổ chữ quốc ngữ”, chúng ta thấy huy hiệu ấy sáng ngời hơn, phong phú hơn, bởi vì đã tan biến nhiều thành kiến cũng như nhiều sai lạc khi người ta bàn giải về sự nghiệp văn hóa của ngài“.[23]

Tuy nhiên, trong lời tựa tập sách Giáo sĩ Đắc Lộ và tác phẩm chữ Quốc ngữ đầu tiên, được Tinh Việt Văn Đoàn xuất bản tại Sài Gòn năm 1961,  Nguyễn Khắc Xuyên – Phạm Đình Khiêm ghi nhận: “Việc sáng chế chữ Quốc ngữ là một công trình tập thể của một số giáo sĩ người Âu, đa số là Bồ Đào Nha, với sự tham gia trực tiếp của một số người Việt dạy tiếng mẹ đẻ cho các giáo sĩ” và Đắc Lộ “chiếm công đầu trong việc hoàn thành và phổ biến lối phiên âm Việt ngữ bằng mẫu tự La-mã, quen gọi là Chữ Quốc ngữ”.

Quả vậy, từ đầu thập niên 60 của thế kỷ trước, các học giả đã nhìn nhận lại: Việc sáng tạo ra chữ Quốc ngữ là cả một quá trình, là công việc tập thể của nhiều giáo sĩ phương Tây cùng những người Việt. Đó là một công việc thật sự giàu tinh thần khoa học. Alexandre de Rohdes đến Đàng Trong muộn (1624), không phải là người đầu tiên dùng mẫu tự gốc Latinh ghi âm tiếng Việt, nhưng là người có công tập đại thành – tổng hợp và hệ thống hóa những kết quả sáng tạo của những thừa sai đi trước như chính ông đã nói rõ trong lời tựa của Từ điển Việt-Bồ-La: “Trong công cuộc này, ngoài những điều mà tôi đã học được từ chính người bản xứ trong suốt gần mười hai năm, thời gian mà tôi lưu trú tại hai xứ Đàng Trong và Đàng Ngoài, thì ngay từ đầu tôi đã học với cha Francisco de Pina người Bồ Đào Nha, thuộc Hội dòng Chúa Giêsu [Dòng Tên] rất mọn hèn của chúng tôi, là thầy dạy tiếng, người thứ nhất trong chúng tôi rất am tường tiếng này, và cũng là người thứ nhất bắt đầu giảng thuyết bằng ngôn ngữ đó mà không dùng thông ngôn, tôi cũng sử dụng những công trình của nhiều cha khác cùng Hội dòng, nhất là của cha Gaspar do Amaral và cha Antonio Barbosa, cả hai người đều đã biên soạn cho mỗi người một cuốn từ điển: Cha Gaspar do Amaral khởi đầu từ tiếng An Nam [từ điển Việt–Bồ], Cha Antonio Barbosa khởi đầu từ tiếng Bồ Đào [từ điển Bồ–Việt], nhưng cả hai ông đều đã chết sớm. Sử dụng công khó của hai ông, tôi còn thêm tiếng Latinh theo lệnh các vị Hồng y rất đáng kính…”

Alexandre de Rhodes

 

– Về Linh mục Francisco de Pina

 Mặc dù, việc sáng tạo ra chữ Quốc ngữ đã được các học giả xác định là cả một quá trình, là công việc tập thể của nhiều giáo sĩ phương Tây cùng những người Việt.

Thế nhưng, sau nghiên cứu của Linh mục Roland Jacques (2002, 2004, 2012), vai trò của người Bồ được đề cao trong việc sáng tạo chữ Quốc ngữ, và chính Linh mục Roland Jacques cho rằng Linh mục Francisco de Pina là “ông tổ” của chữ Quốc ngữ. Gần đây, trong cuộc Hội thảo tại Lisbon, Portugal vào ngày 24.10.2019, Linh mục R. Jacques kết thúc bài tham luận của mình: “Ngạn ngữ Việt Nam nói “uống nước nhớ nguồn”. Tất cả những ai yêu thích ngôn ngữ Việt Nam, và ngưỡng mộ những phẩm chất không thể so sánh của nó, phải biết cách tỏ lòng tôn kính đối với Francisco de Pina, ông tổ của chữ Quốc ngữ”.[24]

 

Tựu trung Linh mục Roland Jacques đã dựa vào những điểm sau để cho rằng Pina là “Ông tổ chữ Quốc ngữ”:

– Pina được các nhà truyền giáo cùng thời ghi nhận là người nói tiếng Việt giỏi nhất trong giáo đoàn truyền giáo.

Thực ra nói sành tiếng Việt với việc biên soạn ngữ pháp và từ điển là hai lĩnh vực hoàn toàn khác nhau.

– Bức thư được cho là của Pina viết năm 1623 có chép: “Về phần con, con đã soạn một tập nhỏ về chữ viết và về các cung điệu của ngôn ngữ này; con hiện đang bắt tay vào ngữ pháp…”.[25]  Dựa vào nội dung này, Linh mục Roland Jacques cho rằng “Manuductio ad Linguam Tunckinensem – Bước đầu học tiếng Đàng Ngoài” được soạn/ phát triển dựa trên cơ sở văn bản ban đầu của Pina[26] Và dựa vào bản văn Manuductioad Linguam Tunckinensem, R. Jacques xác định ” Ta đã thấy nguồn tài liệu tham khảo để viết ra tác phẩm này được quy cho là Fransisco de Pina”  . [27]  Thực ra cho đến nay, hình thức và nội dung của “tập nhỏ” được đề cập trong thư 1623 chưa hề có nhà nghiên cứu nào đã tìm thấy, ngay cả Linh mục R. Jacques .

Gần đây (2019) Tiến sĩ Phạm Thị Kiều Ly có  bài ” The True Editor of the Manuductio ad linguam Tunkinensem – Nhà biên soạn thực sự của Manuductio ad linguam Tunkinensem”. [28] Tiến sĩ Kiều Ly không chấp nhận quan điểm Linh mục R. Jacques về Manuductio ad linguam Tunkinensem, một bản thảo khuyết danh ở thế kỷ 17 hay 18 với những chứng cứ khoa học:

– Linh mục Pina chỉ làm việc tại Đàng Trong (1617-1625), học và nghiên cứu ngôn ngữ tại Đàng Trong, vùng phương ngữ có năm thanh điệu so với Đàng Ngoài có sáu thanh điệu. Như vậy Pina không thể biên soạn sáu thanh điệu cho tiếng Đàng Ngoài như trong Manuductio ad linguam Tunkinensem, một phương ngữ mà Pina chưa một lần tiếp xúc.

– Linh mục R. Jacques cho rằng Linh mục Alexandre de Rhodes biên soạn “Linguae Annamiticae seu Tunchinensis Brevis Declaratio” và tác giả “Manuductio ad Linguam Tunckinensem” biên soạn độc lập nhưng cùng dùng một bản quy chiếu là văn phạm của Linh mục Pina. Sau khi đưa ra những bằng chứng, Tiến sĩ Kiều Ly kết luận: “Tất cả các dữ liệu ngôn ngữ và lịch sử được trình bày ở trên [theo bài của tác giả] chứng minh rằng tác giả của Manuductio đặt nền tảng bản thảo của chính ông trên bản ngữ pháp của Alexandre de Rhodes. Ngoài ra, không cần thiết phải tranh luận về tình huống thiếu thuyết phục, khó có thể xảy ra rằng hai tác giả làm việc độc lập nhưng sử dụng cùng một tài liệu ngữ pháp được giả định do Francisco de Pina biên soạn”. [29]

Thật vậy, trong khi Dòng Tên chưa hiện diện ở Đàng ngoài, Pina chưa đến Đàng Ngoài, R. Jacques cho là Manuductio ad Linguam Tunckinensem (Bước đầu học tiếng Đàng Ngoài) “được soạn/phát triển dựa trên cơ sở văn bản ban đầu của Pina và nguồn tài liệu tham khảo để viết ra tác phẩm này được quy cho là Fransisco de Pina”  là không có cơ sở. Đến nay các nhà nghiên cứu vẫn chỉ đưa ra những giả định về tác giả của Manuductio ad Linguam Tunckinensem.  Hiện vẫn chưa tìm thấy bất cứ nguồn sử liệu hay bằng chứng khoa học nào để xác định bản đầu tiên là của Linh mục Francisco de Pina viết năm 1623.

  1. Kết luận     

Chữ Quốc ngữ là một thành tựu văn hóa đã bén rễ sâu rộng trong đời sống xã hội Việt Nam. Khởi đầu là sự dày công mày mò của các thừa sai Dòng Tên làm việc truyền giáo ở Đại Việt cách nay hơn 400 năm. Với sự trợ giúp của người Việt, các thừa sai sáng kiến dùng mẫu tự gốc Latinh để ghi âm tiếng Việt. Lúc khởi đầu, mỗi người ghi âm theo cách cảm nhận tự nhiên của mình, trải qua thời gian việc ghi âm ấy dần dần được chắc lọc, đi vào điển chế và hoàn thiện. Đến nay vấn đề đã ngã ngũ rằng: Chữ Quốc ngữ là một công trình tập thể, trong đó có cả người phương Tây và cả người Việt. Không thể có “Ông tổ duy nhất” của chữ Quốc ngữ.

Hội thảo khoa học Bình Định với chữ Quốc ngữ (13.01.2016), Giáo sư Phan Huy Lê đã tổng kết: “Trong buổi sơ khai, chúng ta có nêu lên đóng góp của một số người ở một số trung tâm nhất định, nhưng thật khó và không thể xác định được tên tuổi một người ở một nơi vào một thời điểm cụ thể được coi là người và nơi đầu tiên sáng tạo ra chữ Quốc ngữ. Trên quan niệm như vậy, tôi nghĩ rằng trong buổi đầu, nhiều giáo sĩ Dòng Tên, đi tiên phong là người Bồ, người Ý, đã tham gia vào quá trình Latinh hóa chữ viết của người Việt, để lại những chữ Quốc ngữ đầu tiên. Ba trung tâm đã góp phần vào quá trình này là Nước Mặn, Hội An, Dinh Chiêm với tên tuổi của Francesco Buzomi, Cristoforo Borri, Francisco de Pina trong những năm 1618-1623 rồi tiếp theo là Alexandre de Rhodes, Gaspar Luiz, Antonio de Fontes những năm 1625-1626. Có thể coi đó là ba dòng suối đầu tiên tạo nên dòng sông chữ Quốc ngữ. Nếu xem xét sâu hơn về những chứng cứ văn bản có chữ Quốc ngữ thì trong ba trung tâm đó, trung tâm Nước Mặn có phần sớm hơn với sự hiện diện của chữ Quốc ngữ trong cuốn sách của Borri viết năm 1621 và xuất bản lần đầu năm 1631”.[30]

Nguyễn Thanh Quang & Linh mục Gioan Võ Đình Đệ

http://conggiao.info/khong-co-ong-to-duy-nhat-cua-chu-quoc-ngu-d-53223

————

[1] Giai đoạn từ khi đoàn thừa sai Dòng Tên tới Đàng Trong đến khi Linh mục Alexandre de Rhodes xuất bản hai tác phẩm Từ điển Viêt-Bồ-La và Phép Giảng Tám Ngày.

[2] Xem Báo cáo năm 1618 của Francesco Eugenio đề ngày 21.01.1619 tại Macao  trong Lettere Annue Del Japonne, China, Goa, et Ethiopia, Lazaro Scoriggio, Napoli 1621, trang 400-401.

[3] Xem JOÃO RODRIGUES GIRÃO, JAP. SIN 71, ARSI,  trang 008v, hàng 493-495; Trang 009, hàng 535-540

[4] DANIELLO BARTOLI, Dell’Istoria Della Compagni Di Gesù La Cina, Vol.17,  Libro Terzo, Torino 1825, trang 125-126.

[5] DANIELLO BARTOLI, Sđd, trang 328-329

[6] Đỗ Quang Chính, Lịch sử Chữ Quốc ngữ 1620-1659, Ra Khơi, Sài Gòn 1972, trang 38.  – JAP-SIN 68,36-36V

[7]   Xem  JOÃO  RODRIGUES GIRÃO, sđd trang 002, từ hàng 22 đến 30.- Tác giả thư báo cáo cũng như các thừa sai dòng Tên đương thời có quan điểm ngôn ngữ Trung Hoa không có ngữ pháp. Điều này các vị dựa vào nghiên cứu của thừa sai Matteo Ricci. Khi nghiên cứu ngôn ngữ Trung Hoa, Lm. Matteo Ricci đã chứng minh rằng ngôn ngữ Trung Hoa không có “quán từ, cũng không biến đổi hình thức theo số, giống, thì (temps), thể (mode). Không giống như các chức năng ngữ pháp Latin, tiếng Trung Hoa không biến đổi hình thái. Do đó, ông kết luận rằng ngôn ngữ này không có ngữ pháp. [Xem Liam Matthew Brockey, Journey to the East: The Jesuit Mission to China 1579-1724, Cambridge, MA: Belknap Press of Harvard University Press, 2007, trang 247.],  

[8] Xem conggiao.info

[9] Daniello Bartoli, Dell’Istoria Della Compagni Di Gesù La Cina, Libro Quarto, Torino 1825, trang 67-68

[10] BAVH, Juillet-Déc. 1931, Annotations à la Lettre de Gaspar Luiz par Léopold Cadière, trang 414.

[11] Tác phẩm được xuất bản tại Roma năm 1631.

[12] BAVH, Juillet-Déc. 1931, Annotations à la Lettre de Gaspar Luiz par Léopold Cadière, trang 410 .

[13] BAVH, Juillet-Déc. 1931, trang 263.

[14] Cristoforo Borri, Tường trình về khu truyền giáo Đàng Trong 1631, bản dịch Hồng Nhuệ, nxb. Thăng Long, Hoa Kỳ 1989, trang 06.

[15] – Xem Daniello Bartoli, Dell’ Istoria Della Compagnia Di Gesù La Cina, Terza Parte, Delle Asia, Libro Quarto, Torino 1825, trang 61.

– Xem Thư Fernandes gởi cho Nuno Mascarenhas, ngày 02/7/1625 tại Faifo. ARSI. JAP-SIN 68, trang 11.
– Xem Wikipedia, the free encyclopedia, mục từ Jerônimo Majorica.

[16] Lm. Nguyễn Hưng, Sơ thảo Thư mục Hán Nôm Công giáo Việt Nam, lưu hành nội bộ, 2000, tr. 23. Theo Linh mục Đỗ Quang Chính, Majorica viết 48 tác phẩm. (Xem Dòng Tên trong Xã hội Đại Việt 1615-1773, Antôn & Đuốc Sáng, trang 161.

[17] Đỗ Quang Chính, Dòng Tên trong xã hội Đại Việt 1615-1773, Antôn & Đuốc sáng, USA 2006, trang 57
[18] Xem Đỗ Quang Chính, Lịch sử chữ Quốc ngữ 1620-1659, Tủ sách Ra Khơi, Sài Gòn 1972 , trang 34-37
[19] Đỗ Quang Chính, Lịch sử chữ Quốc ngữ 1620-1659, sđd, trang 39.

[20] Linh mục Alexandre de Rhodes cho ấn hành nhiều tác phẩm liên quan đến đất nước con người Việt Nam, cuốn “Lịch sử Vương quốc Đàng Ngoài” in năm 1650, tiếp đến “Hành trình và Truyền giáo” và cuốn “Cuộc tử đạo của Anrê Phú Yên” được xuất bản vào năm 1653. Tổng kết có 10 tác phẩm Linh mục A. de Rhodes đã viết và cho xuất bản liên quan tới Việt Nam 08 cuốn, Nhật và Iran mỗi nước 01 cuốn.

[21] Xem Đỗ Quang Chính, Lịch sử chữ Quốc ngữ 1620-1659, sđd, trang 54-65.

[22] Hành trình và Truyền giáo, Ủy ban Đoàn kết Công giáo TP. HCM, 1994, trang 56.

[23] Phép Giảng Tám Ngày, Tủ sách Đại Kết, Sài Gòn 1993, trang XX

[24] Bài tham luận với tựa đề “Vài suy niệm về Francisco de Pina và những bước đầu tiên trong việc hình thành chữ Quốc ngữ”. Xem tại diendan.org

[25] Được lưu trữ trong quyển sách số 49/V/7 của bộ Jesuitas na Asia tại Biblioteca da Ajuda, Lisbonne.

[26] Manuductio ad Linguam Tunckinensem, một bản văn khuyết danh  được lưu trữ  tại Thư viện Ajuda, Lisbon, Bồ Đào Nha, trong bộ sưu tập Jesuítas na Asia, Vol. 49-VI-08, 313r-323v.

[27] Roland Jacques, Những người BĐN tiên phong trong lĩnh vực Việt ngữ học, Viện NNH dịch và xb năm 2007, trang 40.

[28] Bản tiếng Anh “The True Editor of the Manuductio ad linguam Tunkinensem” tại doi.org. Journal of Vietnamese Studies, Vol. 14 No. 2, Spring 2019; trang 68-92. – Xem bản dịch Việt ngữ tại Tài liệu hội thảo 25&26.10.2019, Bốn Trăm Năm Hình Thành & Phát Triển Chữ Quốc Ngữ trong Lịch Sử Loan Báo Tin Mừng Tại Việt Nam, Hội Đồng Giám Mục Việt Nam, Ủy Ban Văn Hóa, trang 138-171.

[29] Xem Kiều Ly, The True Editor of the Manuductio ad linguam Tunkinensem, trang 84-85.

[30] UBND tỉnh Bình Định, Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam …, Kỷ yếu Hội thảo Bình Định với Chữ Quốc Ngữ, nxb. Tổng Hợp Tp. HCM, trang 617-618.

 


Hoài niệm sân bóng tròn ngày xưa trước 1975.

Hoài niệm sân bóng tròn ngày xưa trước 1975

Y Nguyên Mai Trần

Theo tài liệu, thì sân bóng tròn đủ tiêu chuẩn đầu tiên tại Đông Dương được xây dựng năm 1906 bởi câu lạc bộ Cercle Sportif Saigonnais (CSS) trong khuôn viên Jardin de la ville (Parc Maurice Long-vườn Bồ Rô) cùng một lúc với hai sân quần vợt và vòng đua điền kinh (thay thế vòng đua xe đạp có trước-Vélodrome). Sau khi học được các luật lệ và nguyên tắc kỹ thuật chơi bóng tròn, người Việt theo sau, trong khoảng 1907-1910 lập ra hai đội đầu tiên, đội Gia Định Sport và đội Ngôi Sao Xanh (Étoile Bleue). Năm 1922, hai đội này được xáp nhập lại với tên mới “Ngôi sao Gia Định” (Étoile de Gia Định) . Tuy thế mải đến giai đoạn VNCH (1954-1975) túc cầu Nam Việt Nam mới trở thành thời kỳ cực thịnh , trong khu vực Đông Nam Á, và cả làng bóng quốc tế, với những tên tuổi Phạm Văn Rạng, Phạm văn Mỹ, Đổ Thới Vinh, Phạm Huỳnh Tam Lang, Lâm Hồng Châu…
Cũng nên nhắc lại trước 1975 , VNCH dù trong hoàn cảnh khó khăn, luôn giương cao màu cờ sắc áo trong tất cả các Thế Vận Hội, các cuộc tranh hùng ở Đông Nam Á, Á Châu, World Cup . Người miền Nam vẩn còn nhớ tên tuổi sáng chói như Phan Hữu Dỏng bơi lội; anh em Vỏ Văn Thành, Vỏ văn Bảy quần vượt; Mai Văn Hòa, Lê Văn Tiết bóng bàn; Lê thành Các , Nguyễn văn Châu, đua xe đạp, Phạm Lợi Nhu Đạo, đội tuyển bóng tròn Việt Nam được giới túc cầu quốc tế kính nể . Thời này túc cầu Việt Nam ngang ngữa với Nam Hàn, Hương Cảng còn Nhật thì chỉ mới bắt đầu khởi sắc. Sân Tao Đàn và Sân Cộng Hoà là nơi chứng kiến những trận thư hùng tranh giải hay giao hửu giữa các đội banh tuyển, nổi tiếng ở Saigon và các đội banh đến từ châu Á, Anh, Pháp, Áo, Úc, Peru, Brasil, Hungary, Mỹ…
Lại cũng thời kỳ này môn bóng tròn hay túc cầu được mọi người ham mộ nhiệt thành.Nhất là lứa tuổi thanh niên, học sinh trung, tiểu học, đại học. Sau những buổi tập thể dục, thường ở lại sân để chơi thể thao mà môn thể thao dể hoà nhập với bạn bè, không tốn tiền nhiều là môn đá banh. Chính phong trào bóng tròn cuối thập niên 50s và thập niên 1960s của các trường trung học công cũng như tư trên toàn miền Nam, đã là môi trường nuôi dưỡng, trui rèn sản xuất ra cầu thủ cho nền bóng tròn huy hoàng thời VNCH.
Bài viết này dùng hai từ bóng tròn hay túc cầu thay vi bóng đá (trong miền Nam, hai từ bóng đá chỉ dùng sau 1975). Môn đá banh, bóng tròn, túc cầu , chỉ cần một quả banh tròn , một số bạn bè và một sân banh kề cận, nhiều khi cũng không cần ai chỉ bảo, dạy dổ tuổi trẻ tự do phát triển theo năng khiếu tự nhiên của từng cá nhân hay theo bước chân cha, anh, bạn bè. Ở tuổi tiểu học, những năm đầu trung học thì đá chân không, ngực trần, đôi khi có áo thun, quần đùi, lớn lên những năm cuối trung học thì đá giày, banh tùy mình mang đến sân, hoặc có thể được trường cung cấp, nhất là trong các cuộc giao đấu tranh giải học đường.

Nói chung, tuy điều kiện tối thiểu, sân banh hay khoảng đất trống, giày hay chân không, thanh, thiếu niên vẩn đam mê miệt mài đến trời chạng tối mới về. Khuyến khích bởi những phong trào thể thao học đường để đào tạo mầm non, tuổi trẻ có cơ hội phát triển năng khiếu bóng tròn đóng góp vai trò quan trọng trong thời kỳ vàng son của túc cầu Việt.

 

Hinh 1

Hinh 1: Đội banh chân không của trường trung học Mỹ Tho 1944. Inset ̣-ảnh nhỏ: tuổi thơ trong xóm.

Nhà người viết ở gần sân banh Lê Văn Duyệt ở đường Trung Dũng- quận Gò Vấp, mổi chiều chỉ cần bạn bè rủ rê là cả đám ôm banh, len lỏi theo đường mòn trong xóm ra đến sân banh, chọn một phần sân rồi chia phe nhau đá, lớn lên đá cả sân nhưng không có lưới. Khi nào bị kẹt sân thì ngồi đợi cho tới khi sân trống thì “nhào vô”.
Sân Lê Văn Duyệt còn là sân vận động thể thao, thể dục của trường trung học Hồ Ngọc Cẩn (nằm trên đường Lê Quang Định, gần chợ Bà Chiểu, bây giờ là trường tiểu học Nguyễn đình Chiểu) Sân này còn chứng kiến những trận tranh giải giữa các trường trung học và cũng là sân chủ của đội banh nổi tiếng Gò Vấp.
Cùng hoài niệm về sân banh và bóng tròn mà bạn bè dù xa nhau ngàn dặm vẩn còn nhớ, cùng nhau kể chuyện năm xưa với mối thâm tình thuở trước. Thời ấy hình như bóng tròn là bóng dáng của tuổi thơ, đi đâu cũng thấy có sân sân banh, sân vận động , đội banh này đá với đội banh kia , giới hâm mộ ngồi quanh nghe Huyền Vủ trực tiếp truyền thanh, tường trình những trận đá banh lớn , nhờ thế mà ai cũng biết đến những đội banh lớn như Quan Thuế, Tổng Tham Mưu, Đội Cảnh Sát Quốc Gia, AJS, (Association để là Jeunesse Sporttive), Không Quân, Hải Quân…
Viết thêm về Huyền Vũ, gia đình ông trước 1975, cư ngụ cùng xóm với người viết, xóm Gà, cư xá Thanh Bình 2, đường Ngô Tùng Châu, Gia định-nay là khu nhà đối diện với chùa Pháp Vân, đường Nguyễn văn Đậu, Bình Thạnh. Huyền Vũ sang định cư và mất tại Hoa Kỳ năm 2005 , hưởng thọ 91 tuổi.
Huyền Vũ tên thật là Nguyễn Ngọc Nhung, người Phan Thiết, chủ bút tạp chí thể thao hàng tuần và báo Nguồn Sống trước năm 1975, còn là một ký giả thể thao nổi tiếng qua những bài tường thuật cũng như bình luận các trận cầu quốc tế tại sân cỏ. Nghe ông tường thuật người ta cãm thấy như mình đang xem trận đấu trên sân cỏ, đây là khả năng thiên phú cộng vói sự hiểu biết về môn bóng tròn và sự theo dỏi sát sao khả năng của từng cầu thủ. Huyền Vũ là biểu tượng-icon của nền túc cầu VNCH đã đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong việc quãng bá môn bóng tròn, một thiên tài khó có người thay thế.
huyen vu
Hinh2: Ký giả Huyền Vũ

Bài viết này mời người đọc cùng đi tìm lại sân bóng tròn xưa vùng Sài Gòn Gia Định, một số tên đã chìm trong quên lảng. Dùng không ảnh và bản đồ xưa định vị sân banh cho đúng hơn, chỉnh sửa một số chi tiết thông tin không đúng trên mạng cùng gợi lại một chút hoài niệm thân thương của một thời tuổi trẻ.
Sân banh nhưng cũng gọi là vận động trường nếu sân có cả phương tiện cho những môn thể thao điền kinh,
Trước 1975, thành phố Sài Gòn và vùng phụ cận Gia Định có khoảng 12 sân bóng tròn. – Tao Đàn, Cộng Hoà, Hoa Lư, Quân Độị (Tổng Tham Mưu), Mayer (Hiền Vương) , Lam Sơn (Pétrus Ký), Lê Văn Duyệt, Chí Hoà (Hòa Hưng), Nguyễn văn Học (Viện Ung Thư Gia Định) , Sân Marine gần sát bệnh viện Saint Paul và trước 1950 có sân của Đội Saigon Sport gần trường Áo Tím Gia Long và sân Phú De hay sân Lò heo (Fourrière) trước lăng Tả Quân Lê Văn Duyệt.
Sau 1975 sân Tao Đàn , Hoa Lư giử tên cũ. Sân Cộng Hòa đổi tên Thống Nhất. Các sân khác đã bị đổi tên, biến dạng hoặc biến mất. Nói chung phần lớn, các sân còn tồn tại cũng đã biến dạng theo xu hướng thương mại hóa, chia năm xẻ bảy biến thành “mini-bóng đá” để thoã mản nhu cầu thể dục thể thao của học sinh-thanh niên . Thực tế ngày nay người Việt nói chung không hứng khởi, mặn mà, nhiệt thành với môn bóng tròn như xưa vi nhiều lý lẽ trong đó có lý do kinh tế gia đình, sân bãi thiếu thốn, không đủ tiêu chuẩn, kỷ năng nhà nghề chưa cao, cơ cấu quản trị chưa minh bạch, áp lực kinh tế lấn áp khả năng quản trị-điều hành sân cỏ-nhiều sân mini thảm cỏ nhân tạo , sân vận động biến thành khu giải trí, thiếu chiến lược nuôi dưỡng và phát triển mầm non từ các phong trào thể thao ở các học đường.

Điều này được phản ảnh qua hiện tình bóng tròn hiện nay không khởi sắc, không so bì được với nền túc cầu VNCH đã từng làm mưa gió trong những cuộc tranh tài Á Châu, Đông Nam Á.
Doi tuyen VNCH 1974
Hình 3: Đội tuyển VNCH , huy chương vàng SEAP Games 1959
doi tuyen VNCH 1974-1.jpg
Hình 4: Đội tuyễn VNCH tham gia giải vô địch thế giới FIFA World cup 1974.
VNCH được xếp vào group 1 cùng với Hương Cảng và Nhật, thua cả hai, bị loại vòng ngoài.

Vị trí các sân bóng tròn xưa trước 1975.

Thời Pháp trước 1954, các sân lớn hiện còn như Sân Tao Đàn có tên là Camp de football Jardin de la Ville, Sân Hoa Lư là Citadelle, sân Cộng Hoà- Thống Nhất là Rénault

vi tri san banh
Hinh 5. Vị trí các sân banh vùng Saigon Gia định trên bản đồ 1968

Tham khảo hình 5.
1-Sân Lê Văn Duyệt (đường Trung Dủng, Gò Vấp, nay Nguyên Hồng) bị chính quyền địa phương “biến” thành khu dân cư sau 1975.
2-Sân Nguyễn Văn Học nay không còn nữa.
Sân này xưa nằm trong khu Viện Ung Thư nằm sát bên bệnh viện Nguyễn Văn Học (sau đó người Mỹ giúp xây dựng lại đổi thành bệnh viện Gia Định). Sân banh Nguyễn Văn Học chỉ tồn tại cho tới khi sân bị trưng dụng làm bệnh viện khoảng giữa thập niên 1960s
3-Sân Fourrière nằm phia trước Lăng Tả Quân, nơi đây có khoảng đất trống, thời Pháp dùng là phú de và trại lính mã tà tập luyện. Sân này cũng là nơi “luyện tập cuả đội banh nức tiếng Ngôi Sao Gia Định của những thập niên trước 1950s,
4-Sân Citadelle (còn gọi là Hào Thành), nay Hoa Lư vẩn còn vị trí củ
5-Sân Tao Đàn-nay vẩn còn ở vị trí củ
6-Sân Quân Đội – nằm phía sau cổng chánh vào Tổng Tham Mưu- là nơi “dụng võ” của đội banh Tổng Tham Mưu- nằm trên đường Võ Tánh, Phú Nhuận trên đường lên sân bay Tân Sơn Nhứt- Hiện sân này vẩn còn với tên sân vận động quân khu 7.
7-Sân Mayer-Hiền Vương-không còn nữa
8-Sân Marine-nằm cạnh nhà thương St Paul, không còn nữa
9-Sân Saigon Sport-nằm cạnh trường Gia Long, không còn nữa.
10-Sân Cộng Hòa –sau 1975, đổi tên Thống nhất, vẩn còn.
11-Sân vận động Lam Sơn – thu hẹp lại nhưng vẩn còn
12-Sân Chí Hòa, gần khám Chí Hòa-không còn nữa.

hinh 6.jpg

Hinh 6: Vị trí sân banh Nguyễn văn Học và Fourriere (sân Lò heo ?) ngày xưa.

Sân Fourrière

Thời Pháp đi từ phía Saigon qua Cầu Bông đến Lăng Tả Quân, trước khu mặt tiền của Lăng Tả Quân Lê Văn Duyệt là khu sân tập của trại lính “mả tà” cảnh sát, phát âm trại từ tiếng Pháp matraque (dùi cui, một loại vủ khí cảnh sát đeo lủng lẳng bên hông)(14). Trước đó đây là khu phú de (tiếng Pháp fourrière, là nhà kho, chổ nhốt chó, bò vô chủ) được Pháp biến thành sân banh gọi là sân banh Fourrière là bản doanh, sân tập dượt của đội banh người Việt – Ngôi Sao Gia Định, một trong những đội banh nổi tiếng nhất miền Nam, đoạt rất nhiều giải thưởng thời bấy giờ.
Ngôi sao Gia Định được coi là một trong “tứ hùng” gồm Stade Millitaire, Cercle Sportif Saigonnais, Saigon Sport. Sau này Cercle Sportif Saigonnais và Cercle Sportif Annamite lập ra ủy ban liên câu lạc bộ gọi là Commission Sportive Interclubs (C.S.I) để tổ chức các giải như giải vô địch Nam kỳ.
Ngôi sao Gia Định đã đoạt chức vô địch Nam kỳ trong các năm 1932, 1933, 1935, 1936. Cùng lúc này có rất nhiều hội đá banh hoạt động mạnh như Cercle Sportif , Gia Dinh Sport, Commerce, Govap Sport , Cho Lon Sport, Khanh Hoi Sport, Chi Hoa Sport, Paul Bert Sport, Saigon Sport …(15)
Ngôi sao Gia Định tạm giải tán vào năm 1954, các cầu thủ gia nhập vào các đội AJS (Association de la Jeunesse Sportive) và Cảnh sát. Cuối thập niên 1950, nhiều đội banh nổi tiếng trước đây ở Sài Gòn- Chợ Lớn dần biến mất hay sáp nhập với các đội banh có nhiều tài chính hơn thuộc các cơ sở thương mại hay cơ quan chính quyền như đội Tổng tham mưu, Việt Nam thương tín, Cảnh sát, Quan thuế…( Phụ Lục 5).
hinh 7.jpg
Hinh 7: Đội banh Gia Định Sport-Ngôi Sao Gia Định
Từ lăng Ông đi về phía trường Vẽ, bây giờ là trường Đại Học Mỹ Thuật TP.HCM, quẹo phải vào đường Nơ trang long. Đi về phía ngã Tư Bình Hòa-trước khi đến khu rạp chiếu bóng và hồ tắm Đại Đồng , là Viện Ung Thư gần sát bên nhà thương Nguyễn Văn Học (sau đổi tên Bệnh viện nhân dân Gia Định), phía trước khu nhà xác. Khu đất Viện Ung Thư một thời là vị trí của sân banh Nguyễn văn Học Gia Định – vì đường Nơ trang long , thời trước 1975 có tên Nguyễn Văn Học .
Cũng nên biết ông Học sanh ra với họ Trần, là tướng thời vua Gia Long, ông được nhà vua cho phép đổi họ Trần thành Nguyễn. Đường Nguyễn Văn Học là con đường lớn chạy dài từ trường Vẻ đến hướng cầu Bình Lợi trên trục Quốc Lộ 1- Thiên Lý-đi đến Thủ Đức, Lái Thiêu, Thủ Dầu Một, Biên Hòa… Sau 1975 đổi thành đường Nơ trang long, Bình Thạnh.

hinh 8.jpg
Hinh 8: Bản đồ Trần Văn Học 1815 là bản đồ do người Việtnam vẽ đầu tiên với hiệu đính địa danh lấy từ cuốn Gia Định Thành Thông Chí của Trịnh Hoài Đức. (16)

Sân Lê Văn Duyệt

hinh 9.jpg
Hinh 9: Trường Mỹ Nghệ Thực Hành đầu đường Nguyễn Văn Học 1960
Từ trường Mỹ Nghệ đi xuống ngả Tư Bình Hòa rồi đến ngã Năm Bình Hòa, quẹo trái vào đường Phan Văn Trị , tiếp tục lần theo đường Phan văn Trị cho đến khi quẹo phải vào đường Trung Dủng trước 1975 (còn gọi là vùng chợ Cây Thị) nay có tên Nguyên Hồng, Gò Vấp.
Sân Lê Văn Duyệt cửa chính nằm trên đường Trung Dủng, sân có một khán đài nhỏ nằm bên tay phải, vòng đua điền kinh bao quanh sân banh, hai đầu sân vận động là nơi đặt phương tiện tập điền kinh, có nhà người giữ sân nằm ở góc sân. Một kỹ niệm đặc biệt cho người viết , nơi đây được nhìn thấy dung nhan của nghệ sĩ Cải Lương Thanh Nga – con gái ông Bầu Thơ chủ nhân gánh hát nổi tiếng Thanh Minh-Thanh Nga thời bấy giờ, hình như cô đến dự buổi khánh thành khán đài gì đó – trong chiếc áo dài màu hồng ,mặt hoa da phấn , rất đẹp nhưng hơi nhỏ người. Sự kiện đặc biệt xảy ra trong thời gian xảy ra cuộc đảo chánh không thành công của Đại tá Nguyễn chánh Thi và nhóm Nguyễn triệu Hồng, Vương văn Đông ngày 1/11/60 muốn lật đổ Tổng Thống Diệm

hinh 10.jpg

Hình 10: Bản đồ 1968 cho thấy vị trí của Sân Lê Văn Duyệt – nay không còn nữa
Sau 30/4/1975. Sân banh bị “quy hoạch” biến thành khu dân cư – Cư xá Nguyên Hồng

hinh 11.jpg
Hinh 11: Sân banh Lê Văn Duyệt ngày nay là cư xá Nguyên Hồng đường Nguyên Hồng.
(Trung Dũng xưa)

Sân Quân Đội

Từ trường Vẽ, theo thời gian lại có nhiều tên khác như Mỹ nghệ thực hành, Cao Đẳng Mỷ Nghệ rồi bây giờ sau 75 là trường ĐH Mỹ Thuật. Cổng chánh vào trường nằm ở đầu đường Nguyễn văn Học có hàng điệp, phượng vĩ xen lẫn với me. Đường Chi Lăng nay Phan đăng lưu nằm phía trước trường về đi về hướng Phú Nhuận . Đường Chi Lăng năm xưa có hàng cây keo, nên tên dân gian là đường Hàng Keo.
Đường Chi Lăng đi thẳng xuống ngã Tư Phú Nhuận quẹo trái vào đường Vỏ Di Nguy- đường nối dài của Hai bà Trưng (thời Pháp là đường Paul Blanchy ) sau 1975 Vỏ di Nguy đổi thành Phan Đình Phùng). Quẹo phải vào đường Vỏ Tánh nay là Hoàng văn thụ chạy thẳng lên phi trường Tân sơn Nhất . Ngã ba Vỏ Tánh và Cách Mạng ( khúc đường nối dài của đường Công Lý khi qua cầu rạch Nhiêu Lộc bây giờ là đường Nguyễn văn trổi) có cổng chính vào doanh trại bộ tổng tham mưu VNCH nằm phía mặt nếu đi từ hướng Phú Nhuận-Saigon trên đường lên sân bay Tân Sơn Nhất. Sân vận động Quân Đội-còn gọi là sân vận động Tổng Tham Mưu nay là sân vận động quân khu 7. Đây là sân chủ, nơi tập luyện của đội banh nổi tiếng Tổng Tham Mưu.

hinh 12.jpg

Hinh 12: Sân Quân Đội –Tổng Tham Mưu

Khong anh san Quan Doi 1969 by George Lane

Hinh 13 : Không ảnh Sân Quân Đội- Tổng Tham Mưu 1969 (17)
Sân chủ của đội banh Tổng Tham Mưu , một trong những đội banh nổi tiếng thời VNCH với “ lưởng thủ vạn năng” Phạm Văn Rạng là thủ môn khét tiếng miền Nam và Đông Nam Á thời bấy giờ.
hinh 14.jpg
Hình 14: Trận đấu banh bầu dục Rugby giao hữu trên sân quân Đội giữa thủy thủ Úc của chiến hạm HMAS Quiberon và đấu thủ của hội Cercle Sportif (Saigon Sports Club) trước đám khán giả cổ vỏ trên khán đài từ trại Davis-1963 (18)
hinh 15.jpg
Hình 15: Sân vận động Quân Đội -1965, lính Mỹ gọi sân này Pershing Field Ball Park (theo tên của một quảng trường nổi tiếng ở tiểu bang New Jersey- Pershing Field Park, Pershing là tên của một vị tướng nổi tiếng Mỹ.
View of Pershing Field sometime after 1965 - Saigon Bomb Blasts Kill 2 Americans - Park City Daily News - Feb 10, 1964

hinh 16

Hinh 16: trận đấu giao hữu giữa đội banh truyền tin Mỹ 69th Signal BN và đội truyền tin Quân Đội VNCH 19/11/1967
Cũng nên biết trại Davis nằm trong khu Tổng Tham Mưu ỏ Tân Sơn Nhất là nơi đặt trụ sở của hai phái đoàn đại biểu quân sự Cộng sản -Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam thi hành Hiệp định Paris 27/1/1973 về chấm dứt chiến tranh tại Việt Nam.Tuy nhiên, hiệp định này không bao giờ được thi hành vì miền Bắc quyết tâm dùng võ lực đánh chiếm Miền Nam.
hinh 17.jpg
Hinh 17: Trại Davis trong khuôn viên Bộ Tổng Tham Mưu-Tân Sơn Nhất và sỉ quan Bắc Việt trong trại 1973

Qua khỏi cầu Bông, ngày xưa có thể quẹo trái vào đường Đinh Tiên Hoàng (đường Albert 1er, thời Pháp) , bây giờ là đường một chiều, chạy đến gần ngã tư Đinh Tiên Hoàng – Hồng Thập Tự nay là Nguyễn thi minh khai, phía bên trái là sân Citadelle , còn gọi là sân Hào thành thời Pháp , thời VNCH đổi thành sân Hoa Lư.

Sân Hoa Lư-Citadelle

hinh 18.jpg
Hinh 18: Sân Citadelle-Hào Thành-Hoa Lư -bản đồ 1968.(19)

hinh 19.jpg

Hinh 19 : Khu vực sân Citadelle và công xưởng Hải Quân Ba Son và kho đạn của quân Nhật bị máy bay Mỹ ném bom tháng 4-1945 trong thời kỳ Nhật chiếm SG thời Đệ nhị Thế chiến. source:fold3.com

hinh 20.jpg

Hình 20 : Không ảnh sân Hoa Lư chụp ngày 29/3/1950

hinh 21

Hinh 21: Vị trí sân Hoa Lư, thời Pháp gọi là sân Citadelle (còn gọi là Hào Thành) nằm trọn trong khuôn viên thành Phụng -Gia đình thành (xem bản đồ của ông Trần Văn Học phụ lục 5.) (20)
Sân Hoa Lư còn là nơi hội họp và tập luyện của môn phái VOVINAM- cũng nên biết VOVINAM thời ấy có hai vỏ đường luyện tập là sân Hoa Lư và Sân Lam Sơn gần trường Petrus Ký nay là trường Lê Hồng Phong

hinh 22.jpg

Hinh 22: Môn sinh VOVINAM tại sân Hoa Lư 1966 (21)

Sân Mayer

Sân Hiền Vương – Mayer
Theo dòng lịch sử thì sân Mayer được thành lập vào ngày 19 tháng 1 năm 1929 bởi tổng cục thể thao An Nam ( la Commission Interclubs Annamite (C.I.A). Tham khảo bản đồ Pháp năm 1947 hình 23 trong bài viết, sân banh nằm trong khu vực của các đường Mayer (Hiền Vương/ Võ Thị Sáu), Lareynière (sic: Larégnère (Đoàn Thị Điểm–Trương Định), Champagne (Yên Đổ/ Lý Chính Thắng) và Pierre Flandin (Bà Huyện Thanh Quan) . Lúc đầu diện tích sân rất lớn với sức chứa khoảng 6000 người vào năm 1930 so với sân Tao Đàn khoảng 3000 người về sau bị xén cắt bớt, thay vào đó là những biệt thự, khu dân cư rồi biến hẳn luôn.

hinh 23.jpg

Hinh 23 : Vị trí sân Mayer, sân Marine, sân Saigon-Sport trên bản đồ 1947.

 

Ban do Saigon cholon 1952-1955

Hình 23a: Vị trí  Sân Mayer, Sân Marine, sân Saigon Sport trong bản đồ 1952-1955

Tham khảo bản đồ Saigon năm 1947 và 1952, sân Mayer, sân Marine nằm cạnh bệnh viện Saint Paul và sân của đội banh Saigon Sport nằm cạnh trường Gia Long Áo Tím (sau 1975 đổi thành Nguyen thi minh khai), Sân Maurice Long (Tao Đàn) và Sân Citadelle –Hào Thành (Hoa Lư thời VNCH)

hinh 24.jpg

Hinh 24: Bản đồ Sài Gòn Chợ Lớn 1960.
Tham khảo bản đồ 1960 , vị trí của sân Mayer vẩn còn nằm trong khu tứ giác –Hiền Vương, (Võ thi sáu) Đoàn Thị Điểm(Trương Định), Bà Huyện Thanh Quan và Yên Đổ (Lý chinh thắng).

hinh 25.jpg

Hinh 25: Bản đồ 1968
Tham khảo bản đồ 1968 : Sân cỏ trống, Sân Mayer và sân Marine và Sân Saigon Sport đã biến mất trên bản đồ, thế vào đó là nhà ở, chung cư hay cơ quan công lập

hinh 26.jpg

Hình 26: Không ảnh vùng sân banh Mayer 2017

Sân Mayer là nơi chứng kiến sự thành công ban đầu của nền bóng tròn Nam kỳ với trận thư hùng của hai đội nam nữ. Tuy bóng tròn xuất hiện cuối thế kỹ 19, đầu thế kỹ 20, Sài Gòn vẩn chưa có bóng đá nữ. Khoảng năm 1932, ở Cần Thơ mới xuất hiện đội bóng nữ Cái Vồn (Equipe Feminine de Cai-Von), Cái Vồn là một quận thuộc tỉnh Cần Thơ trước 1975 cũng là quê hương của hai nhân vật nổi tiếng ở miền Nam, ông Trần Văn Soái tự Năm Lửa thủ lãnh Hoà Hảo và ông Phan Khắc Sửu (quốc trưởng Việt Nam Cộng Hòa 1964-1965) . Ông Sửu là người sáng lập ra đội banh nữ Cái Vồn. Trong trận thư hùng lịch sữ nam nữ đầu tiên trong lịch sữ bóng tròn Việt, đội Cái Vồn – đã thủ hòa 2-2 với đội nam Paul Bert (Paul Bert Sport) (22) .

hinh 27.jpg

Hinh 27: Đội túc cầu nữ đầu tiên của Việt Nam –Đội Cái Vồn-Cần Thơ (28)

Theo tác giả Pháp A Larcher-Goscha (Du Football au Vietnam (1905-1949) có ba đội banh nữ ở Nam Kỳ Cochinchine là Đội Huỳnh Kỳ, Đội Thủ Dầu Một và đội Cái Vồn. (Xem Phụ Lục 2).
Hiên nay Cái Vồn là một phường thuộc quận Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long chỉ cách Cần Thơ qua chiếc cầu Cần Thơ.
Từ ngày 28 tháng 12 năm 1935 đến ngày 1 tháng 1 năm 1936, tại sân Mayer, tổng cuộc hướng đạo Nam kỳ tổ chức trại họp mặt huynh đệ quốc tế với sự tham dự của đoàn hướng đạo Bắc, Trung kỳ, Pháp, Trung Hoa, Cam Bốt nhân dịp lễ giáng sinh năm 1935 và năm mới 1936.
Năm 1957, đoàn trượt băng nghệ thuật Holiday on Ice của Mỹ cũng đã đến biểu diển tại đây.

hinh 28

Hinh 28: Holiday-on Ice souvenir program 1957- Chương trình lưu niệm 1957
Năm 1962, đoàn cirque Cộng hòa liên bang Đức (Tây Đức) cũng biểu diễn tại sân này.

Sân Marine

Từ sân Mayer băng ngang đường Hiền Vương-Vỏ thị sáu, thời Pháp đường- Mayer là sân Marine. Sân Marine nằm trong diện tích bao quanh bởi các đường Hiền Vương (rue Mayer) -Tú Xương(rue Thévenet) Nguyễn Thông (rue des Eparges) và đường bà Huyện thanh Quan (rue Pierre Flandin).

Sân Marine nằm kế cận nhà thương Saint Paul –bây giờ 2017 là bệnh viện Mắt TPHcm, sân này không còn nữa (xem ảnh 26).

Sân Tao Đàn

Bóng tròn được người Pháp du nhập vào miền Nam trước rồi sau đó mới lan ra miền Bắc và miền Trung. Sau khi sân bóng tròn được xây dựng bởi Câu lạc bộ Thể thao Sài Gòn (Cercle Sportif Saigonnais) năm 1906 (cùng lúc với hai sân quần vợt ) trong Jardin de la Ville (hay vườn Ông Thượng, nay là Công viên Tao Đàn). Sân được người ngoại quốc-phần đông là Pháp (Công chức, sĩ quan, thương gia ở Câu lạc bộ Cercle Sportif Saigonnais (CSS hay Cercle, Xẹc) đã thường xuyên chơi môn bóng tròn ở đây vì đáp ứng tiêu chuẩn và tiện nghi tối tân thời bấy giờ. Sau đó có thêm đội Infanterie gồm các lính lê dương đánh thuê (tập ở sân Hào Thành, tức sân Hoa Lư ngày nay) và đội Marine là lính thủy Pháp tham gia.(23)

hinh 29

Hinh 29 : Sân Tao Đàn trên bản đồ 1968

Sân Tao Đàn là sân duy nhất có đèn và cũng là sân banh có chiều dài lịch sử vì là sân đầu tiên được thiết lập đúng tiêu chuẩn đã chứng kiến những cuộc thư hùng giao hữu với các đội bóng tròn da trắng trên thế giới trong bầu không khí mát mẻ về đêm.
Sân tọa lạc phía sau vườn ông Thượng vườn Bồ Rô, nguyên khu đất này thuộc khuôn viên Dinh Toàn quyền của Pháp. Năm 1869, người Pháp cho xây con đường Miss Clavell tách khu vườn khỏi dinh. Ba mặt còn lại là rue Chasseloup-Laubat phía bắc, rue Verdun phía tây, và rue Taberd phía nam. Khu vườn chính thức mang tên Jardin de la Ville, nhưng người Việt quen gọi đó là Vườn Ông Thượng hay Vườn Bờ-rô
Sau đó thành phố xây dựng thêm cơ sở trong khu vườn cho Hội Hiếu Nhạc (Société philharmonique) năm 1896, Hội Tam Điểm (Franc-Maçonnerie) năm 1897, và Câu lạc bộ Thể thao Sài Gòn (Cercle Sportif Saigonnais) được thuyên chuyển vào vườn năm 1902, năm 1906 với sự giúp đở tài chính của thành phố, câu lạc bộ cho xây dựng hai sân quần vợt, sân bóng tròn và vòng chạy đua (athletics track) trên vòng chạy xe đạp (vélodrome) củ. Năm 1926 Cercle xây thêm 8 sân quần vợt nửa, và đến năm 1933, xây một hồ bơi tầm cở quốc tế thời bấy giờ. (25)

hinh 30

Hinh 30: Tuần Dương Hạm Anh Quốc King Alfred (26)

Trận đá banh đầu tiên trong thời kỳ thuộc địa là vào năm 1905 trên sân banh Parc de Maurice Long- tuy sân chưa được hoàn thành. Đó là trận đấu giữa trung đoàn thủy quân lục chiến Pháp với binh lính của tàu tuần dương Anh “Vua Alfred” sau chuyến cập bến tại Nam kỳ.

hinh 31
Hinh 31: Jardin de Ville camp de football (39).
Hình ảnh sân Tao Đàn trong thập niên 1910s, 1920s là sân vận động duy nhất có phương tiện cho những trận giao hữu giữa các đội banh ngoại quốc đến viếng Việt Nam. Ảnh trên cho thấy sân có gôn cho những trận đấu banh bầu dục (rugby) –giữa cầu thủ Pháp Cercle Sportif (Saigon Sports Club) và cầu thủ Anh.

hinh 32.jpg

Hinh 32: Trò chơi cổ truyền nhân dịp Tết trên sân Tao Đàn năm Mậu Ngọ 1918.(18)

hinh 33

Hinh 33: Sân Tao Đàn long trọng đón vua Xiêm (Siam, Thái Lan) ngày 14-16 tháng 4 năm 1930. (36)

http://anom.archivesnationales.culture.gouv.fr/ulysse/resultats?q=roi+du+siam+&coverage=Indochine&date=&from=&to=&type=Photographie&mode=list&page=4&hpp=10

hinh 34.jpg

Hinh 34: Hội tuyễn Tonkin-Bắc Kỳ dự giải vô địch Đông Dương 1940-41

hinh 35

Hinh 35 : Trận đấu giao hữu giữa Hội Tuyển Sàigòn và Thái Lan 5-6-1949 (37)

hinh 36.jpg

Hinh 36: Thủ hiến Nam Việt ông Trần Văn Hửu bắt tay cầu thủ Việt Nam trên sân Tao Đàn 5-6-1949

hinh 37

Hinh 37: Tuyển thủ hai đội Việt, Thái trên sân Tao Đàn.1949

hinh 38.jpg

Hinh 38: Sân có trang bị đèn duy nhất để đá đêm.

hinh 39

Hinh 39: Thủ Hiến Trần Văn Hửu trao Cup cho thủ quân hội tuyển túc cầu Việt Nam tại sân Ông Thượng-Tao Đàn tháng 6-1949
Kỹ niệm sân Tao Đàn không dể phai mờ trong tâm trí người miền Nam, nhất là dân Saìgòn Gia Định vì sân Tao đàn vì màu cỏ xanh mướt, chứng kiến bao nhiêu trận thư hùng giữa tuyển thủ VNCH và tuyển thủ quốc tế trong tiếng cổ vỏ vang rền trong ánh đèn, gió mát về đêm . Người viết được ba thỉnh thoảng chở trên chiếc Mobylette đi từ Xóm Gà đến sân Tao Đàn để xem những trận đá đèn, nhớ nhiều nhất và vẩn còn đeo đẳng mãi đến ngày nay là trận đấu giữa đội banh Weiner, nước Áo và đội A.J.S (Association de la Jeunesse Sportive) Trời mát về đêm, khung cảnh thanh lịch- Đội Áo cầu thủ da trắng to con, mặc áo đỏ, quần trắng, chạy nhanh, đưa banh chính xác cuối cùng khống chế đội AJS mặc áo vàng chơi như để rồi không còn được chơi nữa nhưng AJS thua, không nhớ tỉ số. Trên đường về, cha con ghé lại quán chè khuya-ăn ly Xâm Bảo Lượng-kỹ niệm xưa nhớ mấy cho vừa.

Sân Renault-Cộng Hòa-Thống Nhất

Tọa lạc trong vị trí giữa đường Tân Phước và Đào duy Từ, quận 10 Saigon. Năm 1931, sân vận động được hoàn thành và được gọi là sân Renault, theo tên của Philippe Oreste Renault, tham biện hạng nhất , chủ tịch Ủy hội Thành phố Chợ Lớn kiêm chủ tỉnh Chợ Lớn. Ban đầu, sân chỉ mới có khán đài chính, chưa có các khán đài phụ. Tất cả đều theo kiến trúc mới như các sân bên Pháp, mái che được đúc bằng xi măng, cốt thép, có trên 20 bậc ngồi , từ dưới lên cao trông rất quy mô, đó là chưa kể những hàng ghế xếp riêng trong một khu vực đẹp dành cho quan chức. Sân được xem là một công trình thể thao đồ sộ, được coi như lớn nhất Đông Dương lúc bấy giờ.

San Cong Hoa

Hinh 40 :Bản đồ 1968 Sân vẫn nằm ở vị trí củ.
Năm 1959, sân được chỉnh trang, nâng cấp lớn lại theo tiêu chuẩn quốc tế thời bấy giờ. Khán đài chính được nới rộng thêm, các khán đài phụ cũng được bổ sung, nâng sức chứa của sân lên 16.000 người, trang bị giàn đèn chiếu sáng hiện đại. Công việc cải tạo nâng cấp mãi đến tháng 10 năm 1960 mới hoàn thành. Sân cũng được đổi tên thành sân vận động Cộng Hòa. Theo nhiều tài liệu ghi nhận, trong trận cầu đầu tiên sau khi sân mới được khánh thành, nữ nghệ sĩ Thanh Nga được mời đá quả bóng đầu tiên trước khi trận thi đấu giữa hai đội bóng đá Quan thuế và AJS . Hình ảnh này sau đó được lan truyền trên các báo, được cho là góp phần làm tăng thêm danh tiếng cho nữ nghệ sĩ này.
Năm 1967, sân một lần nữa được cải tạo và nâng cấp. Suốt thời gian từ 1955 đến 1975, đây là địa điểm thi đấu của các giải khu vực, châu lục, tiếp đón nhiều đội danh cầu quốc tế đến để học tập và trao đổi kinh nghiệm. Sân cũng chứng kiến nhiều trận thi đấu lịch sử của nền bóng đá Việt Nam Cộng hòa như  giải túc cầu vô địch Thiếu niên châu Á lần thứ 6 – 1964 (từ ngày 18 tháng 4 đến 28 tháng 4)
Trận thi đấu vòng loại bóng tròn trong kỳ Thế vận hội Mùa hè 1974, đội tuyển túc cầu quốc gia Việt Nam Cộng hòa thắng Thái Lan 1-0 nhưng thua Nhật 4-0 và thua Hương Cảng 1-0 và bị loại.
Sân Cộng Hoà cũng là nơi trận túc cầu đầu tiên của 2 đội bóng nữ Nam Phương và Nhị Trưng (3-0) vào ngày 23 tháng 6 năm 1974. (38)
Năm 1966 sau khi đội tuyển Việt Nam Cộng hòa đoạt giải đá banh Merdeka ở Malaysia thì cúp vô địch bằng vàng được lưu trữ ở trụ sở Tổng cuộc Túc cầu trong sân vận động Cộng Hòa. Cúp này thất lạc sau khi sự kiện 30 tháng 4 năm 1975 , và cho đến ngày nay vẫn chưa xác định lưu lạc ở đâu.(24)
Sân Cộng Hoà cũng là nơi đội bóng Úc lần đầu tiên đem danh dự cho nền túc cầu Úc khi thắng giải Quốc Khánh 1967- Giải này có tám nước tham dự Úc (Australia), Hương Cảng (Hong Kong), Mã Lai (Malaysia), Tân Tây Lan (New Zealand), Tân Gia Ba (Singapore), Đại Hàn (South Korea) và Thái Lan (Thailand) và Việt Nam Cộng Hòa (South Vietnam)

hinh 41.jpg

Hinh 41 : Đội túc cầu Úc diển hành trên sân Cộng Hòa (4 tháng 11, 1967) (29)

hinh 42.jpg

Hinh 42: Úc đá bại Tân Tây Lan (áo đen) ở nhóm một 5-3 (5/11/1967) trên sân Cộng Hòa.(30)

hinh 43.jpg

Hình 43: Đội túc cầu Úc với chiếc Cup sau khi thắng Đại Hàn với tỉ số 3-2 trong trận chung kết. Việt Nam đứng thứ ba sau khi đá bại Malaysia 4-1 (31).
Sau giải Quốc Khánh một tháng, sân vận động Cộng Hòa vào giữa tháng 12/1967 là nơi có hai trận đấu giao hửu, giữa đội Mỹ Dallas Tornado, trận thứ nhất gặp Hội tuyển Thanh niên ngày 14/12/1967 và trận thứ nhì ngày 16/12/1967 gặp Hội tuyển Sài Gòn. Trận gặp đội tuyển có tới 20.000 khán giả đến chật kín sân vận động và kết quả 2 đội hòa nhau 1-1.

hinh 44

Hinh 44: Bích chương quảng cáo trận đấu giao hữu Việt Mỹ 12/1967 (32)

 

hinh 45.jpg

Hinh 45: Không ảnh sân Cộng Hoà 1960s.

hinh 46.jpg

Hinh 46: Vị trí sân Cộng Hòa 1960s
(https://www.flickr.com/photos/13476480@N07/24390052081)

hinh 47

Hinh 47 : Đá banh trên Sân Cộng Hoà 1970 (33)
Lần đầu tiên , đội bóng Bình Thuận, đã đoạt chức vô địch Túc Cầu toàn quốc, sau khi hạ đội Mỹ Tho với tỷ số 2-1 tại sân vận động Cộng Hoà. Đây là giải vô địch toàn miền Nam năm 1971, với sự tham dự của 43 đội từ các tỉnh thành thị và 4 quân khu.

Sân Lam Sơn

Quay về quá khứ, sân Lam Sơn vốn được người Pháp xây dựng trong khuôn viên trường Pétrus Ký (nay là Trường THPT Lê Hồng Phong) với diện tích hơn 1,5ha. Sau năm 1975, UBND Q.5 giải tỏa người dân lấn chiếm để phục hồi sân và giao sân cho Trung tâm Thể dục thể thao (TDTT) Q.5 quản lý từ năm 1978. Tuy nhiên, tranh chấp “chủ quyền” sân đã nổ ra giữa Trường Lê Hồng Phong và Trung tâm TDTT Q.5 khiến các hoạt động thể thao ở sân Lam Sơn dần trở nên manh mún.
Nỗi buồn thể thao TP.HCM. Trich http://tuoitre.vn/san-lam-son-xua-va-nay-513898.htm
>>Ở đây, chúng tôi không bàn chuyện ai đúng ai sai mà chỉ thấy đau trước thực trạng TP.HCM đang ngày càng thiếu những sân bãi dành cho hoạt động thể thao, thì một chỗ quá đẹp như sân Lam Sơn lại bị chia năm xẻ bảy. Vì diện tích bị chia cắt thành nhiều phần nhỏ, sân Lam Sơn không còn duy trì được hoạt động thể thao phong trào phong phú. Thật đáng buồn khi nơi đây từng là nguồn cung cấp cầu thủ cho nhiều đội bóng hàng đầu TP.HCM (chỉ thua Tao Đàn), nhưng giờ đây không có nổi đội bóng phong trào cho ra hồn. Các đội năng khiếu Q.5 từ lâu đã bị giải tán vì sân Lam Sơn “đóng băng” theo cuộc tranh chấp nói trên.
Cựu danh thủ bóng đá Phạm Huỳnh Tam Lang tâm sự: “Tôi xuất thân từ sân bóng đá Lam Sơn rồi may mắn có được căn hộ nhỏ nằm gần sân này. Nhưng giờ thì tôi không còn nhận ra được đó là nơi mình từng mải mê rượt đuổi theo quả bóng tròn bất kể thời gian. Thật đáng buồn khi cái sân bóng đầy ắp kỷ niệm ngày nào đã biến dạng hoàn toàn…”.
>>Tâm sự của ông Tam Lang cũng chính là câu chuyện buồn của sân Lam Sơn nói riêng và thể thao TP.HCM nói chung- hết trích

hinh 48

Hinh 48: Sân đá banh Lam Sơn trên bản đồ 1968.

hinh 49

Hinh 49: Quang cảnh trường trung học Petrus Ký trong cuối thập niên 1920s

hinh 50

Hinh 50: Không ảnh trung tâm bóng tròn Lam Sơn ngày nay.

Sân Chí Hòa – Hòa Hưng

hinh 51

Hinh 51: Không ảnh 1969 : Khám Chí Hoà và sân đá banh Chí Hòa. (34)
Đây là sân chủ của đội banh Chi Hòa -Chihoa sport. Sân Chí Hòa cũng là nơi hành quyết ông Ngô Đình Cẩn, bào đệ của Tổng thống Ngô Đình Diệm và Cố Vấn Ngô Đình Nhu, sau cuộc đảo chánh 1/11/1963. Ông Ngô Đình Cẩn bị băt sau đảo chánh và bi xử tử hình, biệt giam trong khám Chí Hoà.̃
Khi được nói lời cuối cùng là tử tội có xin ân huệ gì không thì Ngô Đình Cẩn xin rằng được quyền mặc quần trắng, áo dài đen vì ông muốn được chết trong bộ “quốc phục” Việt Nam (ngày ấy chính quyền Ngô Đình Diệm quy định “quốc phục” của Việt Nam Cộng hòa là quần trắng, áo dài đen, đội khăn xếp).
Hơn nữa ông Cẩn cũng muốn mặc bộ này đó là vì chiếc áo được thân mẫu may cho khi còn ở Huế. Rồi ông cũng nói với mọi người là ông tha thứ cho những người đã giết ông.
Yêu cầu của Ngô Đình Cẩn được đáp ứng, những viên cai ngục giúp ông thay quần áo. Rồi thiếu tá Nguyễn Văn Đức ra lệnh cho 2 nhân viên xốc nách dìu ông Cẩn ra khỏi phòng giam và xuống cầu thang. Vì Ngô Đình Cẩn không thể đi được, nên người ta phải đặt ông lên một chiếc băng ca và đẩy đi suốt hành lang này qua hành lang khác. Ra khỏi khu “lò bát quái”, Ngô Đình Cẩn được chuyển sang một băng ca khác do 4 người cai ngục khiêng, chiếc băng ca được khiêng ra giữa sân có cắm một chiếc cọc thì cả đoàn người dừng lại…
Thiếu tá Đức ra lệnh cho đám cai tù xốc nách đỡ Ngô Đình Cẩn dậy, dìu ra cột. Khi Cẩn được dìu tới cột gỗ thì một người lính trong đội hành quyết nói nhỏ với Cẩn là xin phép được trói hai tay ra đằng sau, hai tay được đặt lên một thanh ngang giống như cây thánh giá mục đích là để người bị tử hình không tụt được xuống. Một người lính cai ngục lấy chiếc khăn đen bịt mắt tử tội thì Ngô Đình Cẩn lắc đầu liên tục và nói: “Tôi không chịu bịt mắt. Tôi không sợ chết”. Nhưng người ta vẫn buộc khăn vào một cách vụng về, vì vậy không chỉ bịt mắt mà bịt gần hết khuôn mặt ông Cẩn.
Đội hành quyết có 10 người và đội mũ lính quân cảnh có in 2 chữ MP, chia làm 2 hàng. Hàng trước 5 người quỳ, hàng sau 5 người đứng. Trong 10 người thì có 1 người được sử dụng khẩu súng mà trong đó lắp 1 viên đạn mã tử (không có đầu đạn mà chỉ bịt giấy).
Đúng 18h20, phút hành quyết đã tới, Nguyễn Văn Đức giơ tay ra lệnh thi hành. Viên sĩ quan chỉ huy đội hành quyết hô lớn: “Bắn!”. Một loạt súng nổ, Ngô Đình Cẩn giũ người xuống ngay lập tức. Máu từ trên ngực chảy loang xuống chiếc quần trắng. Ngay sau đó viên chỉ huy đội hành quyết chạy đến gí khẩu súng colt 12 ly vào tai Ngô Đình Cẩn và bắn phát ân huệ. Bác sĩ pháp y chạy ra dùng ống nghe gí vào ngực Ngô Đình Cẩn nghe ngóng, vạch mắt ra xem, rồi quay lại gật gật đầu ra ý là Ngô Đình Cẩn đã chết.
Trung tá Luyện, Quản đốc Khám Chí Hòa ra lệnh cho mấy viên cai ngục cởi trói hạ xác Ngô Đình Cẩn đặt vào băng ca rồi khiêng vào Khám Chí Hòa để khâm liệm và cho thân nhân nhận xác mang về chôn cất. Xác Ngô Đình Cẩn được đưa về an táng tại nghĩa trang chùa Phổ Quang, tức nghĩa trang Bắc Việt Tương Tế gần sân bay Tân Sân Nhất. (Nguồn Internet )

Phụ lục 1.

Lịch Sữ túc cầu Việt Nam
http://bongda.choithethao.vn/lich-su-bong-da-viet-nam/

Từ năm 1906, người Pháp bắt đầu sang Việt Nam vừa phổ biến “luật bóng đá” vừa tổ chức lại câu lạc bộ đầu tiên đã ra đời trước đó là Cercle Sportif Saigonnais” theo mô hình tại “chính quốc”. Nhiều CLB khác tiếp tục ra đời: như Infanterie, Saigon Sport, Athletic Club, Stade Militaire, Tabert Club,…Các giải đấu bóng đá cũng bắt đầu được tổ chức khá thường xuyên từ đó.
Về phía người Việt, từ năm 1907-1910, sau khi học hỏi, nắm bắt được luật và kỹ thuật chơi bóng cũng như cách tổ chức từ người Âu, đã tự lập nên các đội bóng của riêng mình. Hai đội bóng đầu tiên của thuần người Việt ra đời là Gia Định Sport và Ngôi Sao Xanh. Về sau hợp nhất thành đội Ngôi Sao Gia Định. Môn bóng đá dần dần phổ biến cho người Việt ở Sài Gòn và hầu hết Nam Kỳ lục tỉnh với sự kiện ra đời hàng loạt các đội bóng khác như: Victoria Sportive, Commerce Sport, Jean Comte, Sport Cholonaise, Khánh Hội Sport, Tân Định Sport, Gò Vấp, Hiệp Hòa, Phú Nhuận, Đồng Nai, Thủ Dầu Một, Cần Thơ, Sóc Trăng, Sa Đéc, Gò Công, Châu Đốc, Mỹ Tho,… Sân bãi cũng được xây dựng thêm, như tại Sài Gòn, ngoài sân bóng đầu tiên ở Công viên thành phố (Jardin de la Ville), còn có sân Citadelle (Hoa Lư ngày nay), sân Renault (sân Thống Nhất), sân Fourière (ở Bà Chiểu), sân Mayer (góc Võ Thị Sáu-Trần Quốc Thảo), sân Marine (gần Trung tâm Mắt),…
Cho tới lúc ấy, ngoài “Tổng cuộc Bóng đá” của người Pháp, người Việt cũng thành lập một “Tổng cuộc Bóng đá An Nam” cho riêng mình và hai bên cùng hợp tác tổ chức Giải “Vô địch Nam Kỳ”. Năm 1932 giải này quy tụ 6 đội người Việt và 3 đội người Pháp tham gia. Giai đoạn từ 1925 đến 1935, và sau đó từ 1945 đến 1954, đội Ngôi sao Gia Định tiếp tục nổi tiếng và hầu như ngự trị nền bóng đá Nam bộ với thành tích 8 lần đăng quang ngôi vô địch.
Đặc biệt khoảng năm 1932, ở Cần Thơ xuất hiện đội Bóng đá Nữ đầu tiên mang tên Cái Vồn, vài năm sau lại có thêm đội Bà Trưng ở Rạch Giá – Long Xuyên. Đội nữ Cái Vồn vào năm sau đó (1933) đã lập nên kỳ tích cho bóng đá nữ Việt Nam khi thủ hòa 2-2 với đội nam Paul Bert tại sân Mayer.

Bóng đá Bắc và Trung Kỳ:

Trong khi ở Nam Kỳ, bóng đá đã xuất hiện sớm từ cuối thế kỷ 19, thì ở Bắc và Trung Kỳ mãi tới đầu thế kỷ 20, khoảng 1907-1908, tại Hải Phòng mới hình thành đội bóng lấy tên là Olympique Hải Phòng. Tại Hà Nội, năm 1912 Câu lạc bộ Bóng đá Hà Nội (Stade Hanoien) ra đời gồm cả cầu thủ người Việt lẫn Pháp. Ngoài ra còn có đội bóng của quân đội Pháp thuộc Trung đoàn Bộ binh Thuộc địa (RIC), cùng các đội khác của người Việt như Lê Dương Đáp Cầu, Lê Dương Việt Trì…
Giai đoạn 1930-1940, tại Hà Nội còn có thêm các đội bóng như: Chớp Nhoáng (Éclair), Racing Club, Lạc Long, Ngọn Giáo (La Lance), Hỏa Xa (Usaga), Trường Bưởi, Đại Học (Université Club), Ngân Hàng, Ô-tô Han (Auto Hall). Tại Hải Phòng, ngoài đội Olympique còn có thêm các đội Voi Vàng Đất cảng, Mũi Tên (La Flèche), Radium (Trung Học), Thanh niên Bắc Kỳ (La Jeunesse Tonkinoise). Tại Nam Định có đội Hồng Bàng, Phủ Lý có đội Phủ Lý Thể thao, Lạng Sơn có đội Le Semeur.
Nói chung, trong thời kỳ từ 1910 đến 1940 các đội bóng ra đời và phát triển rộng khắp trên địa bàn miền Bắc nhưng về sân bãi thì vẫn hạn chế. Ngoài sân Hải Phòng, tại Hà Nội có sân Mangin (nay là sân Cột Cờ) do người Pháp quản lý, sau này có thêm sân Nhà Dầu do đội Chớp Nhoáng và Câu lạc bộ Bóng đá Hà Nội hợp tác xây dựng. Các giải đấu cũng được tổ chức nhưng phần nhiều còn mang tính “nội vùng” và tất nhiên là vẫn mang tính “phong trào”.
Riêng tại Trung Kỳ, thời kỳ này, nơi vẫn tồn tại triều đình nhà Nguyễn ở kinh thành Huế, môn thể thao bóng đá phát triển chậm hơn và ghi nhận chỉ có các đội bóng ở Vinh (đội ASNA), Huế (đội Sept), Đà Nẵng (Tourane) và Nha Trang (đội Cheminot).
Giai đoạn lịch sử bóng đá Việt Nam từ 1954 đến 1975
Thế chiến thứ hai (1939-1945) và chiến tranh Việt- Pháp (1946-1954) đã làm gián đoạn sự phát triển của bóng đá Việt Nam. Cho đến năm 1954 với chiến thắng Điện Biên Phủ, hiệp định Genève ký kết chia đôi nước Việt thành hai miền Nam – Bắc, môn thể thao bóng đá ở cả hai miền mới được phục hồi và phát triển trở lại.
Bóng đá Miền Bắc:
Tại Miền Bắc, đội bóng Thể Công của Quân đội Nhân dân Việt Nam được thành lập từ năm 1954 đã nhiều năm liền đoạt chức vô địch. Từ năm 1956, đội tuyển quốc gia của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời (trong đó nòng cốt là cầu thủ của đội Thể Công và Trường Huấn luyện quốc gia) đã có chuyến thi đấu quốc tế đầu tiên tại Trung Quốc với sự dẫn đắt của huấn luyện viên Trương Tấn Bửu. Sau đó, từ 1956 đến 1966, đội chủ yếu tham gia các giải ở các nước xã hội chủ nghĩa và tại các giải GANEFO (Indonesia, 1963) và GANEFO Châu Á (Campuchia, 1966).

Bóng đá Miền Nam:

Tại Miền Nam, từ 1956 đội tuyển quốc gia của Việt Nam Cộng hòa đã trở thành một trong 4 đội bóng mạnh của châu Á, khi lọt vào vòng chung kết giải Vô địch châu Á 1960 cùng với Nam Hàn, Ấn Độ và Trung Hoa. Từ năm 1960 đến 1966, đội tuyển này thường được xếp hạng từ thứ ba đến thứ nhất tại các giải đấu châu Á. Đội đã lần lượt đoạt huy chương vàng bộ môn bóng đá tại SEA Games 1959, và cúp vô địch Merdeka lần thứ 10 tại Malaysia năm 1966 với 12 đội của 12 nước tham dự (do huấn luyện viên người Đức Karl-Heinz Weigang dẫn dắt).Đặc biệt, đội tuyển cũng là đại diện đầu tiên của Việt Nam tại một giải đấu cấp thế giới, khi đã tham gia vòng loại World Cup 1974, và các kỳ Thế vận hội Mùa hè 1964 và 1968.
Nói chung, mục tiêu của hoạt động bóng đá ở cả hai miền Nam Bắc giai đoạn này là giải trí, rèn luyện thân thể để duy trì và nâng cao sức khỏe cho mọi người dân. Đây chính là loại hình bóng đá phong trào, “nghiệp dư” khác với các hoạt động bóng đá “chuyên nghiệp” của các nước phương Tây cùng thời điểm.

Phụ Lục 2.

 

Du Football au Vietnam (1905-1949): colonialisme, culture sportive et sociabilités en jeux
Bài viết về Bóng tròn Việt Nam (1905-1949): chủ nghĩa thực dân, văn hoá thể thao và tính xã hội trong các trận đấu bóng tròn.
Theo tác giả bài viết này Agathe Larcher –Goscha, Đại học Montreal , Canada, có ba hội bóng tròn Nam Kỳ có 46 đội banh, Annam -miền Trung có 4 và Bắc Kỳ có 15 .
Ngoài ra có 7 đội banh mà các tác giả không chắc thuộc về hội bóng tròn nào.

du football 1

du football 2.jpg

du football 3.jpg

Nguồn: http://www.persee.fr/doc/outre_1631-0438_2009_num_96_364_4414

 

Phụ Lục 3.

Những tên tuổi lừng danh của nền túc cầu trước 1975
Đội tuyển túc cầu quốc gia Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) là đội tuyển cấp quốc gia của VNCH từ năm 1955 đến năm 1975. Đội tuyển từng lọt vào vòng chung kết hai giải Cúp Châu Á đầu tiên và thành tích tốt nhất của đội là giành vị trí thứ tư ngay lần đầu tham dự vào năm 1956. Đội cũng đoạt huy chương vàng tại SEAP Games 1959 được tổ chức tại Thái Lan. Dấu son oai hùng Năm 1959, lần đầu tiên đội tuyển túc cầu VNCH đã đoạt được huy chương Vàng tại Đông Nam Á Vận Hội (không có sự tham dự của Nam Dương và Phi Luật Tân). Đội tuyển túc cầu VNCH có Phạm Văn Rạng (thủ môn), Nguyễn Văn Cụt, Phạm Văn Hiếu, Nguyễn Ngọc Thanh, Lê Văn Hồ (Myo), Nguyễn Văn Nhung, Đỗ Thới Vinh, Há, Đỗ Quang Thách, Nguyễn Văn Tư…. Đội tuyển vào chung kết hạ đội nhà Thái Lan 3-1 và được chính tay hoàng thái tử nước Xiêm (Thái Lan) trao chiếc cúp vàng tại sân vận động

hinh 52

Hình 52: Đội tuyển VNCH 1966.

Năm 1966, đội tuyển túc cầu VNCH lập thêm kỳ tích khi đoạt cúp vàng Merdeka, tổ chức tại Mã Lai Á (Malaysia ngày nay). Tham dự lúc đó gồm có Lâm Hồng Châu (thủ môn), Lại Văn Ngôn, Phạm Văn Lắm, Văn Có, Phạm Huỳnh Tam Lang, Nguyễn Văn Chiêu, Nguyễn Vinh Quang, Nguyễn Văn Ngôn, Dương Văn Thà, Đỗ Thới Vinh, Nguyễn Văn Mộng. Trên sân cỏ, đội tuyển VNCH đã liên tiếp hạ Tân Gia Ba (5-0), Nhật (3-0), Mã Lai Á (5-2), Đài Loan (6-1) và thua Ấn Độ (0-1). Đội tuyển VNCH vào chung kết với Miến Điện và trong trận này, đối phương tấn công đội tuyển VNCH liên tục nhưng đến phút 68, trung phong Phạm Huỳnh Tam Lang đã sút tung cầu môn Miến Điện, đem về chiếc cúp vàng vô địch cho đội tuyển VNCH. Sách báo Sài Gòn thời đó miêu tả bàn thắng của trung phong Tam Lang như sau: “Chiêu dùng ngực hứng bóng, xoay người, tung quả sút hiểm hóc từ xa 25 mét bằng chân trái, bóng đi như ánh chớp vào góc thượng của khung thành trong sự ngỡ ngàng của đệ nhất thủ môn Á Châu thời bấy giờ là Tin Tin An, mở tỷ số 1-0 cho đổi tuyển VNCH”. Lần đó, HLV của đội tuyển túc cầu VNCH là ông Weigang người Tây Đức.

Tại Đông Nam Á Vận Hội năm 1967, đội tuyển túc cầu VNCH lại đoạt huy chương Bạc, khi thắng Lào 5-0, Thái Lan 5-0 và thua Miến Điện 1-2 khi vào chung kết. Năm 1973, tại Đông Nam Á Vận Hội ở Tân Gia Ba, đội tuyển túc cầu VNCH lại dành Huy chương Bạc, sau khi vào chung kết lại thua Miến Điện với tỷ số 2-3.Những cái tên không thể nào quên Nhắc đến túc cầu Miền Nam Việt Nam là phải nhắc đến những cái tên được gọi là huyền thoại bất tử mà cho đến mãi giờ đây, sau 40 năm, họ vẫn là những cầu thủ túc cầu xuất sắc không ai sánh được.
Thủ môn Phạm Văn Rạng với danh hiệu “Lưỡng thủ vạn năng”. Năm 1949, từ một trung phong của trường Việt Nam học đường cơ duyên đã đưa ông trở thành thủ môn khi thủ môn chính thức không thể thi đấu. Năm 51, thủ môn Rạng được đội Ngôi sao Bà Chiểu của ông bầu Võ Văn Ứng mời về giữ khung thành và chỉ hai năm sau được chọn làm thủ môn cho đội tuyển Thanh Niên. Năm 1953 bị động viên, ông trở thành người trấn giữ khung thành cho đội Tổng Tham Mưu. Ông được tuyển vào đội tuyển túc cầu VNCH cùng năm khi mới 19 tuổi và khoác áo đội tuyển cho đến năm 1964 thì giải nghệ. Thủ môn huyền thoại Phạm Văn Rạng đã qua đời vào tháng 11 năm

hinh 53

Hinh 53:
Thủ môn Phạm Văn Rạng bị vây quanh bởi các fan bóng hồng Nhật Bản.

Phạm Huỳnh Tam Lang sinh năm 1942 ở Gò Công. Năm 1955 lên Sài Gòn và thi đậu vào trường Petrus Ký. Người đồng hương Nguyễn Văn Tư, cầu thủ nổi tiếng của làng bóng Sài Gòn với biệt danh “mũi tên vàng đội AJS” đã đưa Tam Lang về nhà ở và dìu dắt vào nghiệp cầu thủ. Sau khi vừa học chữ vừa luyện bóng, năm 1949 Tam Lang được nhận vào đội tuyển thiếu niên Nam Việt Nam cùng với Võ Bá Hùng, Phạm Văn Lắm, Nguyễn Văn Ngôn, Quan Kim Phụng…. Từ đội tuyển thiến niên, năm 1960 Tam Lang được nhận vào đội tuyển VNCH, lúc chỉ có 19 tuổi. Đến năm 1966 khi chuẩn bị đi Malaysia dự Merdeka Cup, Tam Lang được HLV Weigang chọn làm thủ quân. Tam Lang cũng là một cầu thủ trong đội hình chính thức của đội túc cầu Cảnh Sát Quốc Gia. Trung phong Tam Lang qua đời năm 2014 tại Sài Gòn.

hinh 54

Hinh 54: Thủ quân Phạm Huỳnh Tam Lang với cúp vàng Merdeka năm 1966

Dương Văn Thà, một cầu thủ lừng danh ‘thần mã’, của đội tuyển Miền Nam từ 1967-1974, cho biết trước năm 1975 là thời kỳ cực thịnh của túc cầu VNCH, qua nghệ thuật nhồi bóng cùng với tinh thần kỹ luật, tự giác và sự luyện tập.

Ðỗ Thới Vinh sinh khoảng năm 1940 quê ở Phan Thiết và đến tuổi trưởng thành vào Sài Gòn và đầu tiên chơi trong đội bóng Quân Cụ. Sau đó đầu quân cho đội Quan Thuế. Với lối đi banh lắc léo khiến hậu vệ đối phương khó truy cản cùng với những đường banh chuyền chính xác, tài nghệ của Ðỗ Thới Vinh đã được Tổng Cuộc Túc Cầu VNCH để ý đến và có chân trong đội tuyển VNCH từ năm 1956 cho đến 1969. Đỗ Thới Vinh – có biệt danh Vinh Sói – được xem là tuyển thủ tiêu biểu của nền túc cầu VNCH với phong cách thi đấu “hào hoa và hiệu quả”, từng đứng vào đội hình đội tuyển Á Châu cùng với Phạm Văn Rạng. Sau năm 1966, với chiếc cúp vô địch Merdeka trở về, Đỗ Thới Vinh đầu quân trong đội bóng Tổng Tham Mưu. Sau này, khi được biệt phái lại ngành cũ, Ðỗ Thới Vinh trở lại Quan Thuế.

hinh 55

Hinh 55 : Tiền vệ Ðỗ Thới Vinh, trái cùng một đồng đội.

Đỗ Thới Vinh trong vai trò tiền vệ tạo được nhiều kỷ lục nhất: 13 năm liên tục là tiền vệ của đội tuyển VNCH với 118 trận đấu quốc tế. Một lần được vinh hạnh chọn đá trong thành phần đội tuyển Châu Á, 11 lần tham dự giải Merdeka từ 1957 đến 1969, 6 lần dự giải Ðông Nam Á Vận Hội (SEAP Games), 6 lần có mặt ở giải King’s Cup của Thái Lan, và 2 lần dự Á Vận Hội. Danh thủ Đỗ Thới Vinh mất tại Sài Gòn năm 1996. Ngoài ra còn có những cái tên khác như Trần Văn Nhung, Lê Văn Hồ, Cù Sinh, Cù Hè, Hồ Thanh Chinh, Phạm Văn Lắm, Nguyễn Văn Mộng, Lại Văn Ngôn…..đều góp phần tạo nên một nền túc cầu oai hùng của Miền Nam Việt Nam vang danh khắp năm châu.
Nguồn : http://vietlifestyles.com/40-nam-nhin-lai-oai-hung-tuc-cau-mien-nam-viet-nam/

Phụ Lục 4.

Gia Định Thành Bát Quái- thành Qui và thành Phụng
Được gọi là sân Citadelle- còn gọi là sân Hào Thành vì sân này nằm trong khuôn viên của thành Phụng-người Pháp gọi là Sài Gòn citadelle –sau 1954 đổi tên là sân Hoa Lư.

hinh 56.jpg

Hình 56: Bản tranh vẻ 3D của Đại úy Hải quân Pháp Favre 1881 với chú thích của người viết.
Trong bức họa này sân Citadelle chưa được xây dựng, tuy nhiên thành Phụng không thấy bị phá hủy, mặc dù Thành Bát Quái bị hủy phá khi Pháp hạ Gia Định thành năm 1859. Nên chú ý, thành Phụng nhỏ hơn được xây lại sau khi thành Bát Quái bị phá huỷ.https://nghiencuulichsu.com/2016/08/27/quy-hoach-sai-gon-gia-dinh-xua/

hinh 57

Hinh 57: Vị trí khu Gia Định thành do Ông Trần Văn Học vẻ năm 1815. Chú thích của người viết cho tiện việc tham khảo.

 

Phụ Lục 5.

Giải Vô Địch khu Nam VietNam (South Vietnam) 1961-62

Kết quả giải bóng tròn khu Nam-các đội hạng nhất muà 1961/62
1-Quan Thuế (Customs)
2-Tổng Tham Mưu (Military General Staff)
3-A.J.S (Association de la Jeunesse Sportive)

Có tất cả 13 đội banh
Công Quản Passenger Bus Club
Thương Cảng Saigon (Saigon Harbour)
VN thương tín (Commercial Credit)
Cảnh Sát (Police)
Ngôi sao Gia Định (Gia Dinh Stars)
Tham Mưu Hành Quân (General Headquarters)
Quân Cụ tiếp Liệu (Army Supply)
C.S.S. (Cercle Sportif Saïgonnais)
Bưu Điện P.T.T. (Postes, Télégraphes et Téléphones)
Không Quân (Air Force)

Kết Quả sau cùng –dựa theo hệ thống điểm 3-2-1

1. Customs 63 pts
2. E.M.G. 62 pts (État-Major Général; Military General Staff)
3. A.J.S. 61 pts (Association Jeunesse Sportive)
Other teams (13 teams in total):
Passenger Bus Club
Saigon Harbour
Commercial Credit
Police
Gia Dinh Stars
General Headquarters
Army Supply
C.S.S. (Cercle Sportif Saïgonnais)
P.T.T. (Postes, Télégraphes et Téléphones)
Air Force

“Vietnam Cup”

Third place match
1-Jul-62 A.J.S. 2-0 Saigon Harbour
Final
1-Jul-62 Customs 0-0 E.M.G.
19-Jul-62 Customs 2-0 E.M.G. [replay]
Nguồn :http://www.rsssf.com/tablesz/zviet62.html

 

Phụ Lục 6.

Giải Vô địch Đông Dương 1941

hinh 58.jpg

Hinh 58: Đội bóng Bắc Kỳ tham dự giải vô địch Đông Dương vào ngày 17 và 18 tháng Tư 1941.
Kết quả các trận đấu ngày 17.04.41 :
Nam Kỳ(Cochinchine) thắng Bắc Kỳ (Tonkin) 2-0
Trung Kỳ( Annam) thắng Cao Miên(Cambodge) 5-1
Kết quả các trận đấu ngày 18.04.41
Bắc Kỳ( Tonkin) thắng Cao Miên( Cambodge) 4-2
Nam Kỳ( Cochinchine) thắng Trung Kỳ( Annam) 4 -2

Tham Khảo-References

1. http://philippe.millour.free.fr/Photos/Indochine/pages/FBTonkin1941.htm Pierre Millour
2. http://2saigon.vn/net-xua-saigon/nhung-chuyen-chua-biet-ve-ba-chieu-xua.html (San Fourriere)
3. http://www.vietnamdaily.com/index.php?c=article&p=63209
4. soccer_QuangTruong_vff.org.vn_200
5. https://www.facebook.com/notes/nguyen-chinh/b%C3%B3ng-%C4%91%C3%A1-s%C3%A0i-g%C3%B2n-x%C6%B0a/10204791696150482/
6. http://www.namkyluctinh.com/a-thethao/ttdung-tuccauvnch.html
7. http://amvc.free.fr/Damvc/Khoa/BongDa/VIETNAM.htm (lich su bong da VietNam)
8. Archive soccer match
9. https://archive.org/details/LC-54507
10. National Archives Identifier: 32793 Vietnam: Soccer Game Between 69th Sig BN & ARVN Sig BN TSN Etc, 11/19/1967
11. http://thanhnien.vn/van-hoa/chuyen-it-biet-ve-sai-gon-xua-doi-banh-dau-tien-cua-nguoi-viet-730847.html Đội banh dau tien cua nguoi Viet
12. http://www.vietnamdaily.com/index.php?c=article&p=63209http://www.vietnamdaily.com/index.php?c=article&p=63209 WEINER Sport Club
13. https://en.wikipedia.org/wiki/1974_FIFA_World_Cup_qualification_(AFC_and_OFC) : South VietNam World Cup 1974
14. https://maivantran.com/2012/10/31/vang-tieng-mot-thoi/ Vang tiếng một thời.
15. http://www.persee.fr/doc/outre_1631-0438_2009_num_96_364_4414
16. http://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%E1%BA%A7n_V%C4%83n_H%E1%BB%8Dc
17. http://saigonkidsamericancommunityschool.com/pershing-field-ball-park/comment-page-1/#comment-164300
18. http://oldspooksandspies.org/Photos/riddle/riddle.html
19. https://www.flickr.com/photos/13476480@N07/7981942203/in/album-72157655227486183/
20. http://luongvancan.avcyber.com/D_1-2_2-136_4-12883_5-15_6-3_17-38_14-2_15-2/
21. http://kimanhl.blogspot.com.au/2014/12/ky-niem-ngay-gio-vo-su-ph-ung-manh-chu.html
22. http://thethao.vietnamnet.vn/hoso/lichsu/2004/10/285097/
23. http://plo.vn/ho-so-phong-su/doi-bong-dau-tien-670895.html
24. https://vi.wikipedia.org/wiki/S%C3%A2n_v%E1%BA%ADn_%C4%91%E1%BB%99ng_Th%E1%BB%91ng_Nh%E1%BA%A5
25. http://www.historicvietnam.com/cercle-sportif-saigonnais/
26. https://en.wikipedia.org/wiki/HMS_King_Alfred_(1901)
27. http://thaolqd.blogspot.com.au/2016/11/
28. http://bankleague.vn/newsdetail/bong-da-viet-nam-57-248.html
29. http://www.smh.com.au/sport/soccer/when-the-socceroos-won-behind-enemy-lines-20141108-11j4nk.html
30. http://theworldgame.sbs.com.au/blog/2015/04/21/remembrance-socceroos
31. https://en.wikipedia.org/wiki/1967_Quoc_Khanh_Cup
32. http://www.dcvonline.net/2014/06/24/tuc-cau-viet-nam-cong-hoa/
33. https://www.flickr.com/photos/13476480@N07/23414430335/in/album-72157659671928440/
34. https://www.flickr.com/photos/13476480@N07/8290094706/
35. https://www.flickr.com/photos/13476480@N07/14406314457/-Sân Quân Đội 1965
36. King of Siam visit to Saigon 1930http://anom.archivesnationales.culture.gouv.fr/ulysse/notice?q=cochinchine&coverage=Cochinchine&type=Photographie&mode=thumb&page=74&hpp=10&id=FR_ANOM_8Fi18-30
37. Thai Viet Football 1949http://anom.archivesnationales.culture.gouv.fr/ulysse/resultats?q=equipe+de+football+&coverage=&date=1949&from=&to=&type=Photographie&mode=list
38. https://vi.wikipedia.org/wiki/S%C3%A2n_v%E1%BA%ADn_%C4%91%E1%BB%99ng_Th%E1%BB%91ng_Nh%E1%BA%A5t#Th.E1.BB.9Di_Vi.E1.BB.87t_Nam_C.E1.BB.99ng_h.C3.B2a
39.http://scootersaigontour.com/tao-dan-park-and-bird-cafe-in-ho-chi-minh-city/

Y Nguyên Mai Trần


Xe xưa trên lối cũ: Xe chở khách miền Nam trước 1975.

Xe xưa trên lối cũ

Phần 3 :  : Xe chở khách miền Nam trước 1975.

Xe Buýt  Xe Đò Xe Taxi

Y Nguyên Mai Trần 

Xem phần 1 Xe cổ điển Pháp trước 1975
Xem phần 2 Xe cổ điển xuất xứ không từ Pháp-Mỹ-Anh-Đức-Ý-Nhật

Phương tiện chuyên chở khách bằng xe hơi ở miền Nam trước 1975 rất đa dạng. Thời Pháp thuộc-Hòn Ngọc Viễn Đông trước 1954, người Pháp đã xử dụng một số xe chở khách nhỏ lớn trong phạm vi thành phố Saigòn Chợ Lớn và các tỉnh phụ cận như Tây Ninh, Vũng Tàu, Vĩnh Long Cần Thơ. Khi miền Bắc trở thành bảo hộ, người Pháp cũng mang vào xe khách chuyên chở người và thư tín, hàng hoá đến các tỉnh chung quanh Hà Nội như Bắc Ninh, Hải Phòng…
Ở Saigon, người cần dùng phương tiện có thể đến mướn xe ở những bãi đậu – trước sở Hoả Xa (đường Hàm Nghi) (thập niên 1930s, 1940s), đường Lê Lai (Boudonnet) cạnh ga xe lửa Saigon xưa (1940s, 1950s), hoặc sau nầy dọc theo đường Nguyễn Huệ, Lê Lợi, hoặc vẫy tay dừng taxi trên đường phố. Taxi là từ đã được dùng từ khi người Pháp dùng cho xe chở khách từ thập niên 1930s-1940s. Sau đó Renault 4CV được nhập cảng vào Miền Nam cho tư dụng và dùng làm taxi vào cuối thập niên 1940s. Tuy nhiên phải đến thời VNCH sau 1954 taxi mới trở thành phổ biến – taxi phải được sơn 2 màu, phần dưới màu xanh (dương), phần trên màu bơ (màu ngà) và phải gắn đồng hồ tính tiền (taxi meter). Tuy đa số taxi thuộc dòng xe Renault 4CV, các dòng xe khác cũng được dùng làm taxi như Peugeot, Simca và Dauphine xuất hiện trên đường phố khoảng giữa thập niên 1960s.
Taxi là phương tiện giao thông nổi bật của Sài Gòn nói riêng và của cả Việt Nam nói chung từ cuối thập niên 1940s qua những thập niên 1950s, 1960s đến 1975.
Song song với Taxi , từ năm 1957 , hệ thống xe buýt thay thế xe lửa điện vận hành trong địa phận Sàigòn Chợ lớn Gia định. Từ bến xe buýt chính ở công trường Diên Hồng, các tuyến xe buýt vận hành thay thế  các tuyến xe lửa xưa với nhiều tram dừng xe hơn. Nếu đi xa hành khách có thể đến những bến xe đò đi về đi miền Đông, miền Trung hay Miền Tây. Ở các tỉnh lớn như Mỹ Tho, Cần Thơ, Vĩnh Long, Đà Nẳng-Huế…cũng có những bến xe đò địa phương đi những vùng lân cận.

Có thể phân biệt một cách tổng quát, những loại xe chở khách:

Xe đò, xe buýt: Đây là loại xe to, trung và nhỏ, nhiều hàng ghế, chở 10 người trở lên, từ buýt mượn từ phương Tây bus hay autobus thường để chỉ loại xe khách lưu hành trong nội vi thành phố lớn và thường là vận hành bởi cơ quan nhà nước (xe buýt trong thành phố) hay công ty tư nhân (xe đò). Hành khách xe buýt không cần mua vé trước, lên/xuống tại những trạm xe bus được định sẵn và cách nhau không xa. Xe đò thường để chỉ loại xe chở khách đi đến địa điểm xa hơn thành phố, đi liên tỉnh, chở hàng hoá, đồ đạt trên mui xe nói chung, thường phải nên mua vé trước tại trạm xe đò có số ghế ngồi hoặc không tùy hãng. Ở miền Nam thời ấy, xe đò đủ lọại lớn, nhỏ, trung (lỡ). Xe lớn và lỡ thường có một người lơ phụ giúp tài xế, xe buýt thì có người bán vé trên xe, giúp khách hàng lên xuống.
Phần đông các xe đò miền Nam trước 75 đều được đóng thùng (thân xe) tại VN dựa trên dàn gầm (khung chassis), động cơ, hộp số… nhập cảng từ Pháp ngoại trừ một số được nhập cảng nguyên chiếc hoặc bộ phận từ Mỹ giai đoạn 54-75.
Cũng nên biết những bộ phận nhập cảng này , tùy nhu cầu cũng được ráp làm xe cam nhông. Thời này xe cam nhông khác biệt với xe đò vì đầu máy thường nhô ra phía trước thùng xe (đầu nhọn), một số xe buýt xưa đầu máy không nhô ra phía trước mà lại thụt vào phía trong thùng (đầu bằng) và như vậy bác tài và cần sang số ngồi bên hông của đầu máy được che chở bởi một lớp da cách nhiệt.
Cuối cùng cụm từ xe đò thường gợi lại bao nhiêu hoài niệm cho những ai từng xuôi ngược miền Nam, liên tỉnh hay từ làng thôn ra thành phố.
Hoài niệm về xe đò đối với người viết là chuyến đi xe đò từ bến xe Hậu Giang (bến xe Miền Tây) từ Saigon xuống Cần Thơ với hai đêm không ngủ bên đường vì đường bị đặt mìn, xập cầu, đào hố, lấp hố ở đoạn qua Trung Lương, Cai Lậy, Cái Bè trước khi tới Vĩnh Long 1966/67 với bao nhiêu lo âu trăn trở, bất an vì sợ pháo kích trong đêm, bắt gặp những ánh mắt bâng quơ, những nụ cười gượng gạo, tiếng khóc em bé khát sữa với tiếng ru buồn của người mẹ trong đem đen với ánh đèn măng xông bên cạnh những mảnh ruộng vô tình, âm vang của xe công binh ra sức lấp hố, sửa cầu trong đêm, chưa kể vấn đề vệ sinh cá nhân phiền toái.

Den ManchonHinh 1: Đèn Măng Xông (Manchon) xưa.

Cũng nên biết ngày xưa, xe đò từ Saigon về miệt Mỹ Tho, Gò Công, về Hậu Giang mất cả ngày, phải qua hai cầu sắt Tân An và Bến Lức, hai cầu này thiết kế cho cả xe lửa Saigon –Mỹ Tho và vận hành giống như cầu Bình Lợi (đi từ Bà Chiểu xuống đường Nguyễn Văn Học để qua cầu lên Thủ Đức ăn nem hay Lái Thiêu ăn măng cụt, sầu riêng, lên núi Châu Thới Biên Hoà, hay thẳng đường ra Cấp (Vũng Tàu). Ai về miền Châu Đốc, Long Xuyên thường phải qua hai bac Mỹ Thuận và Vàm Cống còn về Hậu giang phải qua hai phà Mỹ Thuận và Cần Thơ mà thời gian đến tuỳ thuộc vấn đề an ninh và tình trạng kẹt Bac (Bac tiếng Pháp, có nghĩa là phà, hay ferry tiếng Anh )
Xe taxi: Xe nhỏ, thường chở tối đa 4-5 người, thường chạy trong thành phố, địa điểm đi đến tùy khách, tiền xe được tính dựa trên đồng hồ taxi meter. Nếu được bao thuê, giá cả thương lượng giữa người bao thuê và tài xế Taxi.
Taxi có thể được neo (máy tính tiền vẩn “nhảy”) taxi được giữ lại bởi khách cho tới khi khách không dùng dịch vụ nữa.
Xe chở khách: Những loại xe chở khách khác taxi hay xe đò. Những dòng xe của thập niên 30s hay 40s hay sau này như xe lô ca xông hay xe Hoa-Hoa Kỳ, thường chở tối đa 4-5 người, thường chạy trong thành phố, địa điểm đi đến tùy khách, tiền xe được thương lượng giữa khách và tài xế lái xe.

Xe buýt, xe đò miền Nam trước 1975.

Xe đò là loại xe chở khách số lượng nhiều it tùy loại xe lớn, trung hay nhỏ và tùy hãng vận hành. Xe nhỏ 10-15 người, lớn lên đến 50-70 người, hàng hóa thường để trên mui xe.
Xe buýt, xe đò xuất hiện từ thời Pháp thuộc để đáp ứng nhu cầu chuyên chở người, hàng hoá và thư tín. Người Pháp dùng từ autobus, autocar để chỉ một trong những dòng xe dùng làm xe đò thời bấy giờ được nhập cảng từ Pháp như Renault Latil, Saviem, Saurer, Berliet (phần đông các hãng này về sau đều xáp nhập vào hãng Renault) hoặc những dòng xe Mỹ, sau 1954, gồm những nhản hiệu như De Soto, Chevrolet, International Harvester, Fargo, Ford , GMC hay xe Nhật Toyota .
Hành khách đi xe đò có thể đến các bến xe nằm rác khắp nơi trong thành phố như bến xe An đông, bến xe Lục tỉnh Petrus Ký, bến xe Chợ lớn Bình Tây, bến xe Nguyễn cư Trinh, bến xe Nguyễn thái Học . Sau cuối thập niên 1950s đầu 1960s thì lần lượt chuyển về bến xe Petrus Ký, xe khách đi các tỉnh thành phố miền Đông, miền Trung, hay Tây thường sơn màu khác nhau để cho khách dể tìm xe.
Bến xe Petrusky trở nên quá tải, để giải toả áp lực xe đi miền Tây (được gọi là bến xe Miền Tây) được dời ra Phú Lâm (Bình Chánh) đổi thành Xa cảng Miền Tây (bến xe Hậu Giang) khoảng 1965, xe đi Miền Đông vẩn còn ỏ đường Petrus Ký đổi thành xa cảng Miền Đông. Sau năm 1976 xa cảng miền Đông dời về quận Bình Thạnh với tên củ Bến xe Miền Đông.

Hinh 2 Ben xe Pertus Ky

Hinh 2 : Bến xe đò lớn trên đường Trương Vĩnh Ký (Petrus Ký) năm 1950, gần Ngã sáu Sài Gòn có tượng Phù Đổng thiên vương ( Ảnh Donald F. Harrison Collection – The Vietnam Centerand Archive)

Hinh 3 Ben Xe do Luc Tinh

Hinh 3: Bến xe đò Lục Tỉnh (miền Tây) với xe đò lỡ (lỡ cở=không lớn không nhỏ=trung)

Hinh 4 Be xe do Petrus Ky 2M

Hinh 4: Saigon, August 1955 – Bến xe đò lục tỉnh đường Trương Vĩnh Ký với xe đò nhỏ thường thấy như – Renault Goelette, Estafette, Volkswagen Kombi, Toyota, Ford –cho khách đi Vũng Tàu, Biên Hoà, Bình Dương, Long Khánh – François Guillemot Collection- Source Báo Tiếng Dội Miền Nam https://www.flickr.com/photos/97930879@N02/15326931012
Hinh 5
Hinh 5: Bến xe Petrus Ký 1960.
http://tuoitre.vn/tin/ban-doc/20160116/duong-petrus-ky-o-sai-gon-voi-ben-xe-lay-lung-mot-thoi/1039267.html

Hinh 6 -Nguyen cu trinh
Hinh 6 : Xe đò Ford tại bến xe Nguyễn cư Trinh 1965

Quang cảnh nhộn nhịp của những bến xe đò-người, hàng hoá, âm thanh, màu sắc…không nơi nào bằng bến Petrus Ký. Những chiếc xe đò mang tên như Á Đông, Tân Á,Đông Á, Thuận Thành và Ngọc Châu chạy tuyến Saigon Mỹ tho. Các hảng Tam Hữu, Thành Long, Công Tạo- Thuận Thành chạy tuyến SG-Châu Đốc .Xe đò đi miền Tây (Thuận Thành, Lộc Thành, Nhan Nhựt, Quang Minh, Đại Hưng, Thuận Hiệp, Vĩnh Phát, Thuận Lợi, Liên Hiệp, Nhơn Hòa, Phi Long, Hiệp Hưng, Kim Long, Nam Thành, Hữu Phước, Quang Minh, Hiệp Thành,Tam Hữu … phục vụ nhu cầu đi lại và chuyên chở hàng hoá của người dân khắp miền Nam Việt Nam, đặc biệt là những chuyến xe thơ chở thơ tín và hàng hoá cho bưu điện nhà nước.
Những chiếc xe đò nầy thường chạy sớm khoảng 4 hay 5 giờ sáng và có quyền ưu tiên qua phà…

Xe đò miền Đông (Bình Dương, Phước Long, Long Khánh), Đông Bắc (Vũng Tàu), Cao nguyên (Đà Lạt), và miền Trung như Thuận Hiệp, Liên Hiệp, Hiệp Thành, Nam Thành Kim Long (Tuyến SG-Thủ Dầu Một (QL 13) …. thì hầu như là hãng xe đò duy với các điểm dừng ở Dầu Tiếng, Bến Cát, Đôn Luân (Đồng Xoài), Phước Bình, Lộc Ninh, v..v… Nói tóm lại thì toàn là vùng “xôi đậu” .. có khi vừa gửi “tờ báo” cho ông “Trưởng đồn Bảo an” ở Lai Khê … thì chạy khoảng 10 phút sau đã ghé “đóng Thuế” cho “trạm Giải Phóng” ở Lai Uyên rồi …. Cái thế “hai hàng” này có lẽ đã là lợi thế cạnh tranh mà hãng này giữ lâu dài nhất … và gần như độc chiếm …. trong hoạt động vận tải hành khách trên con lộ Tử thần ấy của các hãng xe đò đối thủ … Rất hiếm khi dân SG nghe nói “xe đò của hãng Kim Long bị mìn trên QL 13” so với các tin tương tự trên các tuyến đường khác …

Miền Trung thì gần như chỉ có hãng Phi Long chọn hướng vận tải xa nhất : SG-Huế-Quảng Trị … Hành khách trên tuyến này có khi ăn ngủ luôn trên xe trong suốt hành trình … Ngày xưa, chỉ cần thấy trên xe đò có một chiếc gà-mên lớn, bằng inox … cao bằng đứa bé 12 tuổi … trên mui có một cái bồn nước … loại dùng trong quân đội .. Người ta biết ngay đó là xe đò miền Trung … Thỉnh thoảng cũng có tin “xe đò bị mìn” trên tuyến này … Nhưng là những hiệu khác .. không phải Phi Long …
Trich từ
http://memory2010blog.blogspot.com.au/2011/02/269-sai-gon-xua-phan-3.html

Xe đò xưa trước 1954.

Hinh 7
Hinh 7: Xe đò Renault mẫu 1927 của hãng STACA trên quai Courbet 1950,, trước trụ sở của hãng Liên hiệp thương mại Đông Dương và Phi Châu (L’U.C.I.A) lập năm 1904- Về sau là trụ sở Tổng lãnh sự Hoa Kỳ trước 1975 – Ngày nay là khách sạn Indochina River side .

http://ktsdanang.vn/Default.aspx?PageId=706

Hinh 8
Hinh 8 : Xe đò băng qua cầu trên đường Saigon-Mỹ tho 1950s.

Hinh 9
Hinh 9 : Xe đò Renault chạy tuyến từ Huế qua An Lỗ rồi đến Sịa –trung tâm huyện Quảng điền ngày nay. Hinh chụp 1964. Nguồn Lonnie M. Long Collection – Vietnam Center and Archive
Trích”
Một điều nữa là trừ Huế ra, Sịa ngày xưa cũng là một vùng đất trù mật, buôn bán sầm uất của cả một vùng ngoại vi kinh thành, không thiếu thứ gì, lại còn mang chút dáng vẻ văn vật đất thần kinh. Từ những sản vật địa phương như bánh tráng, bánh ướt, tôm chua, cá chột nưa, vô số hải sản… vừa ngon vừa hấp dẫn, đến cả những sản phẩm văn hóa như chơi đu tiên, đua ghe, hội vật, hò giã gạo, hò mái nhì, mái đẩy. Cái gì cũng có, cũng không thua chi Huế cả…”
http://tapchisonghuong.com.vn/tap-chi/c271/n10945/Mat-Tam-Giang.html

Hinh 10

Hinh 10 : Xe buýt ISOBLOC của hảng COSARA (1954) là loại mẫu DP 648 102 trang bị động cơ diesel Panhard, 4 xi-lanh 6.8 lít.
Isobloc là một thương hiệu xe buýt cổ điển do Joseph Besset thành lập năm 1930 tại vùng Ardèche, Pháp (8). Isobloc chuyên thiết kế thân xe với công nghệ cao thời bấy giờ thân không khung, áp dụng khí động học và vật liệu nhẹ –sàn xe phẳng, máy nằm phía sau, xe rộng thoáng bên trong.

ISOBLOC type 648 DP 102 (1954)

Hinh 11
Hinh 11 : Lên xe buýt Hàng không Việt Nam ra phi trường 1965 . Hinh anh Bill Eppridge .

Hàng Không Việt Nam (Air Vietnam) được thành lập năm 1951 tại Saigon.Trước đó COSARA là một công ty hàng không và vận tải tư nhân được thành lập tháng 9 1947, bởi Maurice Loubière cùng với một người bạn Việt Nam COSARA (Comptoirs Saigonnais de Ravitaillements) có văn phòng đặt tại 5-13, đường Turc bây giờ Hồ Huấn Nghiệp Sài Gòn.
Mục đích lúc đầu của công ty là cung cấp vận chuyển hàng hoá cho các đơn vị quân trú đóng của Pháp nằm rải rác khắp nơi ở Việt Nam bằng cách sử dụng các sân bay được xây dựng bởi người Nhật trong Thế chiến II.
Sau Hiệp định Genève (20/7/1954) phân chia Nam Bắc, COSARA ngừng hoạt động năm 1955. Loại phi cơ Dakota (Douglass DC 3) chở hàng hoá và hành khách bán lại cho Hàng Không Việt Nam (Air Vietnam).
Cosara có một đội xe buýt dùng đưa đón hành khách từ văn phòng ở Saigon ra sân bay, tuy thế Cosara có tuyến đi Châu Đốc, những chỉ được vận hành 1,2 năm rồi ngưng. Đội xe buýt Cosara, trở thành xe buýt của Hàng Không Việt Nam với biểu hiện con Rồng nằm trên lá cờ vàng ba sọc đỏ. Maurice Loubière trở về Pháp sau khi công ty ngưng hoạt động.

Hinh 12
Hinh 12 : Xe đò Renault Goelette của hãng SITA đưa đón khách phi trường Tân Sơn Nhất, đậu trước trụ sở SITA, 5 Bến Chương Dương (Le Myre de Villers Quay) năm 1952.
Indochina Air Transport Company (Société Indochinoise để Transports Aériens) thành lập 1950 chuyển vận tải hàng hoá và hành khách.

Hinh 13
Hinh 13 : Dòng xe Toyota Coaster mẫu 1969 được dùng làm xe đò chuyên chở từ 15-25 khách trên tuyến đường Saigon Vũng Tàu đầu thập niên 1970s

Hinh 14

Hinh 14 : Xe đò “lỡ” Renault Goelette biến chế với thùng dài hơn của hảng Hiệp Hoà chạy đường Bình Dương Saigon 1959.

Hinh 15

Hinh 15 : Trong khoảng năm 1960, Renault Goelette được mang về Việt Nam, lmodel 1400 (được ra đời năm 1956) và được tận dụng để chở hành khách và hàng hóa. Trong bức ảnh trên là chiếc xe đò lỡ Renault Goelette thân dài u6 hãng Tân Mỹ chạy tuyến Tân An – Mỹ Tho.

Những chiếc Renault Goelette xuất hiện ở Việt Nam chủ yếu là phiên bản Renault Goelette 1400 (được ra đời năm 1956). Xe có dung tích động cơ 2.383cc sử dụng dầu hoặc xăng tùy loại. Kích thước của xe là 4.540 x 1.920 x 2.250m (dài x rộng x cao).
http://www.quehuongngaymai.com/forums/showthread.php?201785-Xe-%C4%90%C3%B2-X%C6%B0a

Hinh 16
Hinh 16 : Xe Renault Goelette trong thành phố Qui Nhơn 1966.

Hinh 17

Hinh 17 : Xe đò Renault Goelette Cam Ranh-Nha Trang 1969-70
Hinh 18
Hinh 18 : Xe đò Renault Goelette Đà Nẳng Quảng Ngãi 1966-67?

Hinh 19
Hinh 19: Xe đò Dodge mẫu 1954 – Tuyến đường Sai Gon –Vũng Tàu hình chụp 1970 Vũng Tàu

Hinh 20

Hinh 20 : Xe đò Dodge 1970 tuyến đường Saigon Cần Thơ Rạch Giá.

hinh 21
Hinh 21 : Xe đò Dodge Vũng Tàu Saigon 1968

hinh 22
Hinh 22: Xe đò Mercedes tuyến đường Saigon Vũng Tàu, hình chụp 1968 Stan Middleton

Hinh 22a
Hinh 22a: Xe đò Ford tuyến đường Saigon – Ba Rịa, Phước Lể.Photo Bob Cogan 1967/68
Hinh 23
Hinh 23 : Xe đò Desoto trên đường Saigon Tây Ninh. Hình chụp 13/2/1967 Sully Francoise

Hinh 24

Hinh 24 : Xe đò Desoto Ngọc Minh tuyến Saigon Bình Định Quy Nhơn.
Hinh 25
Hinh 25 : Xe đò Desoto mẫu 1959 tuyến đường Saigon Tây Ninh– hình chụp 1967

Hinh 26

Hinh 26: Xe Dodge trên tuyến đường Saigon – Tây Ninh 1965 Photo John Hansen.

Hinh 27

Hinh 27 : Xe đò Desoto trên tuyến Saigon Bảo Lộc
Hinh 28

Hinh 28 : Xe đò Desoto tuyến đường Saigon Rạch Giá Hà Tiên 1968

Hinh 29
Hinh 29 : Xe đò Desoto Saigon Mỹ Tho hinh chup 1968
Hinh 30
Hinh 30 : Xe đò Chevrolet, Vỉnh Long 70-71. Hình Frank Effenberger

Hinh 31
Hinh 31 : Xe đò Hiệp Thuận-Chevrolet 1964

Hinh 32
Hinh 32 : Bến xe Cần Thơ 1970, xe Desoto tuyến Cà Mau – Cần Thơ. Hình Douglas Pike Photograph Collection

Hinh 33
Hinh 33 : Desoto 1970

Hinh 34

Hinh 34: Xe đò Hotchkiss PL25 –Qui Nhơn 1965-66 . Hình Dave Glenn

Hinh 35
Hinh 35 : Xe đò Huỳnh Long hiệu Hotchkiss biến chế, khoảng đầu năm 1950s chạy liên tỉnh. Hình chụp năm 1964 Chris Newlon Green

Hinh 36

Hinh 36 : Xe đò Hotchkiss còn gọi là “xe đò mỏ nhọn” 1968.

Hinh 37

Hinh 37 : Xe đò Hotchkiss (phía trái) và xe Renault Goelette cải biến (bên phải), bùng binh Cây Gỏ, Saigon 1969, tên chính là công trường Duy Linh và tượng Lê Lợi trên đường ra xa cảng miền Tây–photo by George Lane

Hinh 38
Hinh 38 : Xe đò Citroen U-23 xưa chạy tuyến Phước Tuy – Bình Giã 1968

Xe buýt: Theo Tim Doling, một nhà nghiên cứu về Saigon gốc Anh, do sự tranh chấp giữa công ty CFTI (Compagnie des tramways de l’Indo-Chine ) và chính quyền Saigon từ năm 1955 thì đường xe điện tramway ở Saigon, kể cả đường Saigon-Gò Vấp ngưng hoạt động, bỏ hoàn toàn vào năm 1957 và được thay thế bằng hệ thống xe buýt.
(http://www.diendan.org/phe-binh-nghien-cuu/he-thong-xe-lua-cong-cong-tramway-o-sai-gon-thoi-phap)
Xe buýt chạy trên các tuyến đường trong thành phố Sàigòn-Chợ lớn-Gia định, mà trước đó là lộ trình của xe lữa điện (electric tramway system) theo một lộ trình định sẵn, khách chỉ trả tiền vé khi lên xe.Các xe buýt của CFTI được nhượng lại cho công quản chuyên chở công cộng Đô thành Sàigòn 1957. Vào thời thịnh nhất 1960/61 công quản khai thác thêm các tuyến đường mới , tăng cường số xe buýt từ 119 với 12 tuyến lên 224 chiếc. Chi phí cao vận hành không hiệu quả, cộng với sự cạnh tranh khốc liệt của các xe lam ba bánh tư nhân, công quản xe buýt được nhường lại cho tư nhân khai thác qua sắc lệnh của Thủ Tướng Trần Văn Hương tháng 12 năm 1968 (9). Bến xe chính xe buýt Saigon, trước đó là ga Cuniac của tuyến đường xe điện chạy từ đầu đường De la Somme-Hàm Nghi giáp ranh với Bến Chương Dương đến đường Bonhour –Hải Thượng Lãn Ông –Chợ Lớn. Gọi là ga Cuniac vì ga này nằm đối diện với Place Cuniac-Công trường Diên Hồng-bây giờ Quách Thị Trang. Eugène Cuniac là Đô Trưởng Saigon ( Maire de Saigon) người xưa gọi là người Xã Tây, người có công san lấp vùng ao cạn đầm lầy (ao Bồ Rệt- Marais Boresse) để xây dựng chợ Bến Thành.
Hinh 39
Hinh 39 : Công quản xe Buýt góc đường Lê Lợi Pasteur

Xe buýt/xe chở khách xưa trong thành phố Saigon
Hinh 40

Hinh 40 : Trong hình có 2 chiếc Citroen Type A (10CV) tourer và một Citroen C4 (1928)
Xe Citroen mẫu đầu 1930s chạy ra từ Autohall garage và xe bus renault 1910s chạy về hướng nhà hát Thành Phố. Phòng trưng bày AutoHall nằm ở góc đường Bonard/ Lê Lợi và Charner/Nguyễn Huệ. Đây là địa điểm cũ của Autohall , trước khi được Emile Bainier chuyển qua lại tòa nhà Garage Bainier+ AutoHall xây cất mới, cùng nằm trên góc đường Lê Lợi /Nguyễn Huệ phía bên trái của tấm ảnh này.

Hinh 41
Hinh 41 : Xe buýt Citroen C4 biến chế trước “nhà dây thép Saigon”

Hinh 42

Hinh 42 : Xe buýt Renault 6C-2 1951 trên đường Bonard (Lê Lợi), Saigon cùng với Peugeot 203 ?
Trong ảnh này, phía sau xe buýt là nhà hát Tây –trước 1975 là Hạ Viện thời VNCH – là công trình xây cất của kiến trúc sư người Pháp Eugene Ferret năm 1897.
hinh 43
Hinh 43 : Xe buýt Renault chạy quanh công trường Diên Hồng (bên phải) cuối thập niên 1950s, bên trái là bến xe buýt bùng binh chợ Bến Thành –sau được đặt tên Công quản chuyên chở công cộng Đô thành.

Hinh 44

Hinh 44 : Xe buýt Latil type M 1B chuyên chở từ 12 đến 15 người, bến xe công trường Diên Hồng

Hinh 45

Hinh 45 : Xe buýt Renault-Saurer
hinh 46

Hinh 46: Bến xe buýt Sài Gòn đối diện Công trường Diên Hồng thời đệ nhất Cộng Hòa (thời Pháp, Place Eugène Cuniac) phía bên phải.
Xe buýt trong ảnh là những dòng xe Renault 215 D hay Renault Saviem. Tên công trường Quách Thị Trang chỉ xuất hiện sau 1964.
Trước 1954, xe buýt của hãng CFTI (Compagnie Francaise Tramwayélectric Indochine) chạy tuyến Sài Gòn – Gò Vấp qua Dakao, Bà Chiểu Lăng Ông, Bình Hòa, Xóm Gà, chợ Gò Vấp ; tuyến Sài Gòn – Chợ Lớn (dọc theo đường Galliéni, nay là đường Trần Hưng Đạo), Sài Gòn – Chương Dương (quai de Belgique), Sài Gòn – Hóc Môn – Bà Điểm.
Tuyến đường Saigon- Phú nhuận qua đường Lê Lợi (Bonard) Hai Bà Trưng qua cầu Kiệu chấm dứt ở chợ Phú Nhuận
Sau khi Chiến tranh thế giới thứ hai, sản xuất xe buýt lại tiếp tục với dòng 215 D. Hầu hết các thân (body) xe được sản xuất bởi Scemia, một công ty mà Renault đã họp tác trước chiến tranh. Sự cạnh tranh ráo riết trên đưa đến chuyện Renault bị truất ngôi từ vị trí đứng của mình bởi Chausson. Renault chuyễn theo xu hướng mới đặt động cơ ở phía sau và cửa sau cho hành khách lên xuống. Trong tháng 11 năm 1955, Renault tổ chức lại việc sản xuất xe buýt, phân chia chức năng công nghệ bằng cách hợp hợp nhất với Latil và Somua, tạo thành công ty mới SAVIEM LRS (Society Anonymous của công nghiệp xe và Cơ học Thiết bị). Năm 1957, SACA (Hợp nhất giữa hai công ty Floriat và Isobloc) gia nhập Saviem. Năm 1959, Saviem tóm thâu luôn Chausson. Từ tháng 12 năm 1961, thương hiệu Floriat ngừng sản xuất và biến mất. Qua sự liên kết Chausson -Saviem thừa hưởng một nhà máy xe buýt hiện đại ở vùng Annonay. Nhanh chóng, thương hiệu mới Saviem trở nên quen thuộc trên thị trường dành cho xe buýt và xe chở khách. Tên Renault biến mất trên những dòng xe hạng nặng (xe tải và xe buýt) nhưng vẫn còn hiện diện trên xe thương mại hạng nhẹ, như Renault Goelette. Dòng xe khách nhỏ phổ biến, chẳng hạn như Saviem SG2 và Super Goelette và sau đó là l’Alouette, được giao cho các thuộc địa cũ của Pháp. Năm 1978 Saviem hợp nhất với công ty đối thủ Berliet trở thành Renault Véhicules Industriels.(10,11)

Hinh 47

Hinh 47 : Xe buýt Saigon Gò vấp chạy trước Hạ Viện đầu thập niên 1960s

Hinh 48
Hinh 48 : Hành khách trên tuyến Saigon Binh Tây Chợ Lớn lên xuống bến xe buýt Saigon

Hinh 49
Hinh 49 : Xe Buýt Renault trên đường Lê Lợi- Công trường Lam Sơn 1967
Hinh 50
Hinh 50 : Saurer buýt trên đường Paul Blanchy –Hai Bà Trưng- Hình chụp tháng 7 1949 (http://www.panoramio.com/photo/16497279)
Tuyến đường Saigon- Phú nhuận qua đường Lê Lợi (Bonard) Hai Bà Trưng qua cầu Kiệu chấm dứt ở chợ Phú Nhuận.

Hinh 51
Hinh 51 : Renault Bus 1960-61 SAIGON 1961 – by John Dominis

Hinh 52

Hinh 52: Bến xe buýt Công Quản Chuyên Chở Công Cộng bùng binh Công trường Diên Hồng.

Hinh 53

Hinh 53 : Xe buýt Renault chết máy ngang bồn phun nước trên giao lộ Lê Lợi-Nguyễn Huệ, trước tòa Đô Chánh cuối thập niên 1960s

 

xe buyt xanh cam 1965-CTDH

Hinh 53a : Xe buýt Renault màu xanh và IH màu cam -công trường Diên Hồng 1965
Hinh 54
Hinh 54: Xe buýt Hàng Không Việt Nam đưa đón khách đến sân bay Tân Sơn Nhất 1965.

Hinh 55
Hinh 55 : IH (International Harvester) buýt phía sau bến xe buýt Sài Gòn, hướng về đường Hàm Nghi.

Hinh 56

Hinh 56: Xe buýt Dodge Mỹ trên đường Hai Bà Trưng đi phi trường Tân Sơn Nhất
Hinh 57
Hinh 57: IH( Internatiọnal Harves̀ter) Loadstar , phi trường Phú Bài Huế,1960s
http://www.vnafmamn.com/AirVN_Photo/pages/AirVN-Bus2.htm

IHinh 58
Hinh 58 : Xe đò Renault-Saviem của Hàng Không Việt Nam chở khách ra phi trường
http://www.vnafmamn.com/AirVN_Photo/index.htm

hinh 58a

Hinh 58a: Xe đò Mercedes của Hàng Không Việt Nam đưa/rước khách phi trường Tân Sơn Nhất 1968.

Xe Taxi
Đây là một nét văn hóa đặc trưng của miền Nam – thành phố Saigon Chợ Lớn –Gia Định. Taxi chạy khắp mọi nẻo đường, hành khách muốn đi phải vẫy xe ngừng lại vì thời ấy taxi không có tổng đài để giao dịch, khách vào là bẻ cờ cho đồng hồ tính tiền chay. Bến xe taxi là những nơi các bác tài kinh nghiệm có nhiều khách vãng lai như Bến Bạch Đằng, công trường Mê Linh, chợ Bến Thành, vùng Lăng Ông Bà Chiểu…Ban đêm thì các rạp hát bóng (cinema), nhất là rạp hát cải lương hay đại nhạc hội.
Những chiếc Renault 4CV đầu tiên được nhập cảng vào Việt Nam vào cuối thập niên 1940, sau đó xe được dùng thành xe taxi vì giá rẻ, dể bảo trì đáp ứng nhu cầu vận chuyển cho khách vùng Saigon , Chợ lớn, Gia định.
Đến cuối năm 1968, đô thành Sài Gòn – Gia Định 7.400 taxi, 2.440 xích lô máy (nguồn: Đoàn Thêm – 1969 Việc từng ngày). Đến năm 1971, xe Lam là phương tiện vận chuyển quan trọng nhất Sài Gòn cũng như các tỉnh miền Nam vì hệ thống xe buýt đã ngưng hoạt động và chưa phục hồi. Theo báo chí lúc đó thì toàn miền Nam có 30.668 chiếc, số xe Lam lưu hành gấp 7 lần xe taxi.

Hinh 59
Hinh 59 : Renault Juvaquatre 4CV- Berline trên đường Saigon 1968. Juvaquate sản xuất lần đầu tiên 1939 và chấm dứt 1955.

Hinh 60

Hinh 60 : Taxi mẫu 1952, lúc này taxi chưa phải sơn hai màu.
http://saigon-vietnam.fr/gendarmerie-indochina.php

Hinh 61
Hinh 61: Taxi 1956 sơn màu xanh dương và ngà.
http://kienthuc.net.vn/ta-tay/anh-mau-hiem-va-dep-ve-sai-gon-nam-1956-230636.html

Hinh 62
Hinh 62: Taxi Saigon 1958 đường Trần Hưng Đạo

Hinh 63
Hinh 63: Taxi 1968 dừng cho người đi bộ góc đường Lê Lợi và Pasteur.

Hinh 64
Hinh 64: Taxi trên đường Hồng Thập Tự Saigon 1971

Hinh 65
Hinh 65 : Taxi trên đường phố khoảng 1960.
http://hid0141.blogspot.com.au/2013/10/taxis-em-saigon-vietna-1960.html
Hinh 66
Hinh 66 : Taxi Dauphine 1965 trên đường Nguyễn Huệ, công trường Lam Sơn.
http://cj3b.info/Military/VietnamStreets2.html
Dauphine sản xuất từ năm 1956 đến 1967 , loại xe thông dụng máy đặt phía sau , thân khung liền vỏ , hộp số tự động có ba số, không tự động có 3 hoặc 4 số , 4 cửa, động cơ 845 phân khối. Dauphine được đưa ra thị trường nhằm thay thế cho dòng xe rất thành công trước đó 4CV
Một số lớn Dauphine được nhập cảng vào VNCH qua chương trình hữu sản hoá 1968 làm taxi. Cùng thời với Volkswagen Beetle, Morris Minor, Mini and Fiat 500, đây là những dòng xe đi đầu trong chiến lược sản xuất xe thông dụng, giá phải chăng ở Âu Châu thời bấy giờ
Xem thêm chương trình hữu sản hoá
https://www.facebook.com/notes/nam-r%C3%B2m/h%E1%BB%AFu-s%E1%BA%A3n-h%C3%B3a-tr%C6%B0%E1%BB%9Bc-75-v%C3%A0-qu%E1%BB%91c-h%E1%BB%AFu-h%C3%B3a-sau-75-/483065861887422/

Hinh 67
Hinh 67 : Xe Peugeot 203 được dùng làm Taxi trên đường phố Saigon

Hinh 68

Hinh 68 : Một loại đồng hồ taxi Pháp BB được sửa thành đồng hồ cho taxi VNCH (phía trái) . Một loại nữa, đồng hồ có “cây cờ”, khi có khách vào thi cờ được quay để khởi động đồng hồ tính tiền.

Dong ho taxi 1
Hinh 68a : Đồng hồ Taxi có “cây cờ” thịnh hành thập niên 1960-70.(12)

Xe khách xưa

Xe do di tay ninh 1906

Hinh 69: Xe chở thư và chở khách Sài Gòn Tây Ninh  1906

Hinh 69
Hinh 69a : Xe khách Nha Trang 1904-1907 – loại chế biến của dòng xe Peugeot 33 -1901
Mes trois ans d'Annam - Gabrielle-M. Vassal - préface de M. Le Dr Roux.
https://www.flickr.com/photos/13476480@N07/albums/7215766195
0864426

Hinh 70
Hinh 70: Xe chở khách đến tháp Đồng hồ trường đua Phú Thọ-1905-1912 , phu xe pousse-puosse đứng trên bệ tháp nhìn vào trường đua.

Hinh 71
Hinh 71 : Xe chở khách trước sở Thuế bến Chương Dương-phiá sau dáng hình cầu Mống và Nhà Rồng thập niên 1940s

Hinh 72

Hinh 72: Xe chở khách Citroen Rue Schroder, nay là đường Phan Châu Trinh phía bên trái chợ Bến Thành.

Hinh 73

Hinh 73 : Bến xe khách Taxi Renault 1920s, Berliet 1920s and Hotchkiss 1930s trước sở Hỏa Xa Đông Dương, đối diện bùng binh chợ Bến Thành Dãy nhà nhiều tầng phía trái nằm trên đường Bonard (Lê Lợi). Con đường phía sau sở Hỏa Xa (đường Hàm Nghi) và cũng là đường phía sau nhà Thương Saigon (nằm trên đường Lê Lợi, gần bót Lê Văn Ken) mang tên đường Hamlin thời Pháp-sau đổi là Đỗ Hữu Vị và bây giờ là Huỳnh Thúc Kháng

Hinh 74
Hinh 74 : Bến xe khách ở đường Lê Lai (Boudonnet) bên hông tường ga xe lửa Saigon khoảng 1950 (bây giờ là khu khách sạn New World), nằm đối diện rạp hát xưa Aristo.
Xe lô ca xông -Traction Avant 11.
Phần đông sơn màu đen , Loại xe traction avant-Front wheel drive-xe kéo bằng hai bánh trước một đột phá trong công nghệ xe hơi thời bấy giờ-đầu thập kỷ 1930s- được nhập càng vào Miền Nam từ khoảng 1936/37 qua một số đại lý xe hơi ở Saigon (xem phần 1 , xe cổ điển Pháp trước 1975).
Dòng xe này rất thông dụng ở Miền Nam. Về sau khoảng thập niên 1960s , nhiều chiếc traction được biến cải để chạy xe khách trong thành phố, hay những vùng gần như Biên Hòa, Thủ dầu Một, nhất là loại traction 11 familial bên trong rộng hơn loại Legere Berline. Bên trong những chiếc xe Lộ cả xong nầy, vị trí hàng ghế ngồi được thay đổi , có khi có cả 1 hàng ghế giua, không có lưng dựa, phần đông khách đi phải đợi cho đủ số người , sau đó xe sẽ chạy suốt đến địa điểm mà ít ngừng ở dọc đường.

Hinh 75
Hinh 75 : Citroen đậu tại bến xe lô-ca-xông đường Phạm Ngũ Lăo gần Chợ Bến Thành năm 1969.

Phụ Lục

Xe buýt/xe đò Hà Nội xưa

Có lẽ xe đò là từ dụng trong Nam để phân biệt với xe buýt, còn ở Bắc ít nhất trước năm 1975 ? chỉ dùng từ thông dụng là xe Buýt- người Pháp gọi xe chở hành khách là autobus, autocar hay nói chung là voitures des voyaguers thời xưa . Taxi là tiếng chỉ dùng sau này du nhập từ Âu Mỹ khoảng đầu thập kỷ 1900, từ khi taximeter (taximetre) đượ xữ dụng trên xe chở khách.

Hinh 76
Hinh 76 : Xe buýt/Xe đò Latil của hãng M.M.Chapelon & Cie ở bến Clemenceau 1928

Hinh 77
Hinh 77 : Cammionette Latil ltype B, năng xuât 14CV, hộp số có 4 số và số de, tốc độ tối đa là 44km/giờ. Sản xuất giữa khoảng 1923-1930.

Hinh 78

Hinh 78 : Bến xe buýt gần cột đồng hồ- bến Clemenceau 1920s

Hinh 79
Hinh 79 : Một điểm đón trả khách của xe buýt ở phố Clemenceau (nay là đường Trần Nhật Duật) Hà Nội năm 1928.
http://belleindochine.free.fr/Automobile.htm
MM CHAPELON & Cie, doanh nghiệp vận tải, cư trú tại tỉnh Bắc Ninh, được phép đưa vào lưu thông xe được mô tả dưới đây, đăng ký ngày 13 Tháng 1 năm 1926 theo số 2386 T và thực hiện vận chuyển hành khách công cộng 1 °) Hà Nội-Đáp Cầu, 2) Hà Nội 7 chùa .
Latil thương hiệu xe tải cơ thể.
Mặt bánh lốp 955 x 155 bánh sau lốp 955 x 155.
Tổng số tare 2.050 kg. : Trục trước 880 kg, trục sau 1170 kgs
Việc ủy quyền này là tùy thuộc vào các điều kiện sau đây:
Trọng lượng của chiếc xe trong toàn bộ chi phí sẽ không vượt quá 2.950 kg, chia ra như sau:
Tare Trọng lượng: 2,050 kg.
Mọi người: 18 x 50 = 900 kg kg. Hành lý: 0 kg. Mặt hàng: 0 kg.
Phân phối của các tải trọng trục tối đa: 1.180 kg trước. phía sau 1,770 kg.
Số lượng tối đa của người vận chuyển, bao gồm cả nhân viên của nhà thầu là cố định tại mười tám (18)
Các tuyến đường có sự cho phép được cấp là:
1) Hà Nội đến Đáp Cầu với điểm dừng cố định tại Rive Gauche, Gia Lâm, Yên Viên, Phú Từ Sơn, chùa Lim, Bắc Ninh.
2) Hà NộiTừ tháng chín ngôi chùa Hà Nội với các điểm dừng cố định ở Bắc Ninh, Đại Tràng, Cầu Ngã (Tư Sở], Phương Mao, Chai-Lai, Quế Dương, Đồng Du…

Ngoài công ty Chapelon một số doanh nghiệp khắp mọi miền cũng dùng loại xe này để đi xe khách, hay chở hàng hoá như Thanh Hoá, Vinh, Đà Lạt, Phan Rang, Sài Gòn.
http://www.avant-train-latil.com/hanoi.php
http://www.avant-train-latil.com/camionnette_B.php

Hinh 80

Hinh 80 : Renault buýt ở Hà Nội 1940 đổ xăng gần cầu Doumer –Long Biên

Hinh 81

Hinh 81 : Renault autocar khoảng 1934 trước đại lý Renault (STAI) ở Hà Nội.

Hinh 82
Hinh 82: Xe chở khách Delhorme Bernard Six Reybier 1930s
http://www.fondationberliet.org/ressources-documentaires/archive-article-dossier/carrosserie-camion-autocar/

Hinh 83
Hinh 83: Khu vực cột đồng hồ, nơi đặt bến xe buýt đầu tiên của Hà Nội (điểm giao nhau của đường Trần Quang Khải, Trần Nhật Duật, Hàng Muối, Nguyễn Hữu Huân) hiện nay nằm dưới đường dẫn của cầu Chương Dương.

Tham khảo :

Ghi nhận: Hinh ảnh sưu tầm từ các trang Blogs,albums manhai , flickr.com, Tommy Japan
1-http://www.historicvietnam.com/tim-doling/
2-http://saigoneer.com/
3-http://bellindochine.free.fr
4-http://yeudoi.net/2011/08/xe-cho-khach-mot-thoi-truoc-75.html
5-http://mytour.vn/location/6801-hoai-niem-mot-sai-gon-xua-hon-ngoc-vien-dong-cua-chau-a-ky-i.html
6-http://saigon-vietnam.fr/cosara_fr.php.
7-http://thaolqd.blogspot.com.au/2014/10/mot-vai-con-uong-cua-ky-uc-uong-tran.html
8 https://fr.wikipedia.org/wiki/Isobloc
9 http://thanhnien.vn/van-hoa/xe-lam-chieu-690300.html
10 http://www.renaultoloog.nl/bussen-francais.htm
11 http://www.entreprises-coloniales.fr/inde-indochine/STACA.pdf
12 http://hoangkimviet.blogspot.com.au/2014/02/renault-4cv-xe-taxi-sai-gon.html- Bài khảo cứu về Renault 4CV.

Y Nguyen Mai Tran

 


XE XƯA TRÊN Lối CŨ: Xe hơi cổ điển không xuất xứ từ Pháp ở Miền Nam trước 1975.

XE XƯA TRÊN Lối CŨ

Phần 2: Xe hơi cổ điển không xuất xứ từ Pháp ở Miền Nam trước 1975.

Y Nguyên Mai Trần

Sau hiệp định Geneve 20/7/1954, miền Nam trở thành Việt Nam Cộng Hoà. Trong nỗ lực ngăn chặn làn sóng Cộng Sản từ phương Bắc, Người Mỹ thay Pháp hỗ trợ VNCH-được xem như là tiền đồn của thế giới tự do- viện trợ tài chính, kinh tế và quân sự, quốc phòng.
Trên các tuyến đường Saigon người ta nhìn thấy ngoài những xe thời Pháp trước 1954, nhiều loại xe nhập vào từ Mỹ, Anh, Đức, Nhật… xuất hiện ngày càng nhiều, nhưng phần đông là loại xe của người Mỹ nhập vào xử dụng đa số với tính cách riêng (dân sự cũng như tư, quan chức nhà nước Mỹ), một số xe khác được nhập vào từ nhân viên làm việc thuộc khối đồng minh South East Asia Treaty Organization (SEATO) như Anh, Pháp, Úc, Đại Hàn, Phi, Tân Tây Lan, Thái Lan và Hồi Quốc (Pakistan) và Uỷ ban giám sát đình chiến Hiệp Định Geneve 1954 như Ấn, Ba Lan và Canada. Khoảng cuối thập niên 1960s, tất cả nhân viên thuộc công ty quân sự hay công ty có khế ước quân sự Mỹ đều được nhập cảng xe cũ hoặc mới vào miền Nam không trả thuế nhập cảng, có khi được đem xe vào miễn phí .Dọc đường Nguyễn Huệ và Lê Lợi có cái mà dân Saigon thời ấy gọi là bến xe hoa, là những loại xe Hoa Kỳ thường có vây đuôi dài (tail fins), thường được mướn làm xe đám cưới, đưa dâu có trang trí treo hoa. Một số xe thì được tư nhân ngoại quốc, dân buôn bán, người giàu có, dân chịu chơi, có máu mặt ở Saigon yêu thích. Người Việt khá giả thường sắm xe Pháp, nhỏ hơn và ít hao xăng, hay được truyền lại từ đời ông cha trước, hoặc mua rẻ lại của người Pháp về nước.

Bạn đọc lưu ý, bài viết chi đề cập các loại xe xuất hiện ở Vietnam –được mang vào Vietnam thời trước 1975. Riêng về loại xe Mỹ, phần đông là loại xe thường được sản xuất từ ba công ty lớn nhất thời bây giờ.
Hãng General Motors sản xuất xe thông thường mang nhãn hiệu: Chevrolet (Chevy), Buick, GMC, Cadillac, Pontiac, GTO, Oldsmobile
Hãng Ford với nhản hiệu Fairlane, Falcon, Rebel, Mercury, Edsel, Thunderbird…
Hãng Chrysler có Plymouth, Belvedere,Baracuda, Jeep,Dodge, De Soto…

American logos

Những biểu tượng xe Mỹ thông dụng thời bấy giờ

Hinh 1

 

 

Đôi dòng về Lịch sữ các xe và hãng xe Mỹ.

Cadillac

Công ty Cadillac được hình thành ở Detroit. Michgan vào tháng 8 năm 1902 bằng cách sử dụng các tài sản còn lại khi công ty Ford Henry ngắn ngủi ngừng giao dịch đầu năm đó.
Chiếc xe đầu tiên, 10 hp hai chỗ ngồi, sản xuất trong tháng 10 năm 1902, gần như giống hệt với Model T Ford.

Cadillac 1902
Quảng cáo xe Cadillac đầu tiên dựa trên Ford T2.
Năm 1909, General Motors mua Cadillac  và một năm sau đó sản xuất Model 30..
Dòng xe thường thấy ở Saigon là Cadillac Deville, Cadillac Coup de Ville và dòng xe “ 59 caddie” nổi tiếng với vây đuôi dài (tail fins).
Sau đó là dòng Eldorado, được sản xuất từ năm 1953.

Chevrolet
Chevrolet được thành lập vào năm 1911 bởi Louis Chevrolet và William Durant. Năm sau đó công ty giới thiệu các xe 4,9 lít, sáu xi-lanh mẫu Classic 6.

chevrolet classic 6

Năm 1912, công ty đã bán được gần 3.000 xe.
Năm 1917, Chevrolet đã trở thành một bộ phận của General Motors.
General Motors sản xuất những loại thường nghe thấy như Corvette, Chevy, Impala, Camaro, Bel Air

Chrysler
Chrysler được thành lập vào năm 1925 bởi Walter P Chrysler từ tài sản của Công ty xe hơi Maxwell có từ năm 1904.
Chiếc xe đầu tiên mang tên Chrysler là Chrysler 6 ra mắt vào năm 1924 (khi công ty vẫn được gọi là Tổng công ty Maxwell).
Chiếc xe đầu tiên được sản xuất bởi tập đoàn Chrysler 4 vào năm 1925, Tiếp theo là 80 kiẻu xe Imperial vào năm 1926.

chrysler four 1925

Các dòng xe Plymouth và DeSoto được giới thiệu vào năm 1928. Ngoài ra Chrysler mua lại Dodge Brothers Motor Company năm 1928, một công ty đã được thành lập bởi John và Horace Dodge năm 1914.
Trong khoảng thời gian 1954 đến 1987 Chrysler tiếp quản AMC (American Motor Company) lúc đó là đã tiếp quản những công ty sản xuất xe hơi như Hudson, Rambler, Nash, Willys Overland Motor Company, Kaiser Motors và Kaiser-Jeep.

Năm 1998, tập đoàn Chrysler đã được mua bởi Daimler-Benz của Đức và trở thành các Daimler Chrysler Motors Company.

Ford

Năm 1896, Henry Ford xây dựng đầu tiên “cỗ xe ngựa kéo-horse carriage”, tiền bán được đầu tư vào một mô hình được cải thiện sau này. Đến giữa 1898, ông đã xây dựng tổng cộng ba chiếc xe, bao gồm một chiếc xe chở hàng.
Tháng 7 năm 1898, được hỗ trợ bởi một nhóm nhà đầu tư, Henry Ford sản xuất khoảng 25 xe nguyên mẫu cho các công ty xe hơi ở Detroit. Vào tháng Hai năm 1901, do thiếu vốn, công ty đã giải thể.
Chín tháng sau đó, vào tháng 11 năm 1901, ông thành lập Công ty Henry Ford, nhưng công ty này lại bị giải thể vào năm 1902. Tháng Sáu năm 1903 Henry Ford thành lập công ty Ford Motor.
Ford Model T (thường được biết đến như là Tin Lizzie, T-Model Ford Model T, hay T) là một chiếc hơi được sản xuất bởi Công ty Ford Motor từ tháng 10 năm 1908, đến tháng 26, 1927. Nói chung được coi là dòng xe hơi giá cả phải chăng đầu tiên, đã trở thành phổ biến với dân Mỹ, đem đến một cách mạng giao thông- người Mỹ trở thành di động khấp nơi-từ thôn quê đến thành thị. Sáng tạo sản xuất dây chuyền-lấp ráp bộ phận, , hiệu năng sản xuất cao , bảo trì giản di và rẻ tiền cho phép hạ giá thành thấp.

ford T

Hinh bên phải là Model T sedan 1919 và bên trái các bộ phận cần để lấp ráp xe Ford Model T touring 1923.
Hinh chụp tại Viện bảo tàng Ford Company ở Dearborn, Michigan 2015 ̣(photo by maivantran).

Sau model T , Ford bắt đầu sản xuất thế hệ thứ hai Model A vào tháng 10 năm 1927 và tiếp tục cho đến tháng 12 năm 1931.
Model A cũng đã được sản xuất tại Liên Xô do công ty GAZ là “NAZ A” từ năm 1932 đến năm 1936.
Model A đã được thay thế bằng các Model B được sản xuất giữa năm 1932 và 1935.
Model C được sản xuất tại Hoa Kỳ năm 1904-1905
Năm 1922, Ford mua lại công ty Lincoln (đã được thành lập năm năm trước đó).

Lincoln

Công ty Lincoln được thành lập vào năm 1917 bởi Henry M Leland và con trai của ông. Trong năm 1902, ông là một trong những người đồng sáng lập Cadillac, sau đó trở thành một trong những đối thủ cạnh tranh chính của Lincoln.
Năm 1922, Lincoln đã được mua lại bởi công ty Ford Motor.
Giữa năm 1920 và năm 1930, công ty sản xuất Lincoln L-series. Trong năm 1931, K-series được giới thiệu, các trong đó có một động cơ 6.3 lít dựa trên động cơ V8 được trang bị cho L-series.
Các mô hình Zephyr đã được giới thiệu vào tháng 11 năm 1935, ban đầu là một chiếc sedan 2 hoặc 4 cửa. Một chiếc coupe mui trần đã được giới thiệu vào năm 1938. Sản xuất kết thúc vào năm 1942.
Năm 1932 Lincoln bắt đầu thiết kế một chiếc xe trở nên nổi tiếng như continental

Lincoln Sunshine

Lincoln sunshine special 1939 cho Tổng Thống Mỹ Franklin D Roosevelt
lincoln bubletop
Chiec Lincoln Bubbletop 1950 cho Tổng Thống  Mỹ D.Eisenhower

Continental.

Chiếc xe Lincoln Continental đầu tiên được sản xuất vào năm 1939 đặc biệt cho con trai của Henry Ford, Edsel (lúc đó là Chủ tịch của công ty Ford Motor). Chiếc xe là một hit với bạn bè, Edsel quyết định cho sản xuất hai loại sedan và convertible. Hai mươi bốn chiếc được xây dựng năm đó, tiếp theo là bốn trăm trong năm 1940

lincoln 1939

Licoln Continental mẫu 1939 cho contrai của Henry Ford, Edsel

Các dòng xe Ford cũng được sản xuất tại Anh Quốc thời kỳ từ 1940 đến 1980 bao gồm các Anglia, Prefect, Consul, Zephyr, Zodiac, Granada, Capri, Escort and Cortina.
Ford cũng đã được sản xuất tại một số quốc gia khác, bao gồm Argentina, Australia, Brazil, Trung quốc, Hà Lan, Mexico và Nam Phi.
Mô hình sản xuất tại Mỹ từ năm 1946 đến năm 1990 bao gồm các dòng xe như Crown Victoria, Custom, Deluxe, Escorti, EXP, Fairlane Skyliner, Falcon, Fiesta, Galaxy, Maverick, Mustang (1964,  xe hơi bán chạy nhất thế giới ), Pinto, Tempo và Thunderbird giới thiệu vào năm 1955.

General Motors

General Motors được thành lập năm 1908 như là một công ty cổ phần cho Công ty xe hơi Buick.
Dưới sự lèo lái của William C. Durant , từ hãng xe Buick sang, General Motors nhanh chóng mở rộng công ty bằng cách mua lại các nhà sản xuất xe khác.
Oldsmobile (1897) trở thành một phần của GM vào năm 1908. Năm sau, 1909, General Motors mua Cadillac (thành lập 1902), Elmore (1893), Oakland (1907), cộng với một số công ty nhỏ khác.
Durant rời GM năm 1910 và gia nhập với Louis Chevrolet, thành lập công ty Chevrolet vào năm 1911.
Năm 1916, Durant đã nắm giữ phần lớn cổ phần của GM và quay trở lại công ty làm chủ tịch vào năm 1917. Chevrolet trở thành một phần của GM năm đó.
Các công ty khác tiếp quản bởi GM bao gồm Vauxhall (1903) vào năm 1925 và Opel (1902) vào năm 1929.
Năm 1953 GM tung ra Chevrolet Bel-Air , rất phổ biến thời bấy giờ.
Cũng nên biết từ 2007 GM bao gồm: Buick, Cadillac, Chevrolet, GMC, Holden, Hummer, Opel, Pontiac, Saab, Saturn và Vauxhall cũng như liên kết với tập đoàn GM Daewoo, Suzuki và Wuling.

Hinh 2

Hinh 2: Đủ loại xe đậu trước Hạ Viện (nhà hát Thành Phố)

Hinh 3.jpg
Hinh 3: Cadillac series 62 -1955

hinh 3a.jpg
Hinh 3a: Chevrolet Bel Air đầu 1950s

hinh 4.jpg

Hinh 4: Plymouth Fury Star 1958, Dodge Kingsway Delux 1958, Chevrolet Bel Air 1959.
Hình này chụp đường Nguyễn Huệ hướng từ bến Bạch Đằng chụp vào , nhìn phía cuối con đường có cái chóp nhà , đó là Toà Đô Chính ” UBNDTP ” bây giờ . Toà nhà cao nhất bên phải bức hình này là toà nhà Imexco có lần bị cháy tháng 10 năm 89 cạnh bên có tòa nhà thấp hơn một chút có mái màu đỏ ngày đó là cục đăng kiểm 6, kế bên là đường Ngô Đức Kế bây giờ . Tiếp theo cao ốc thứ 2 là Khách sạn Hữu Nghị bây giờ là Palace , đối diện với tòa nhà SUNWAH ” đồng hồ 4 mặt “, trước 1975 là Tòa Hoà Giải Sàigòn

hinh 5

Hinh 5 : Cadillac De ville 1962

hinh 6.jpg
Hinh 6 : 1958 Cadillac Coupe de Ville

hinh 6a
Hinh 6a: 1957 Chevrolet Bel Air 4 Door

hinh 7a.jpg

Hinh 7: Chevrolet Bel Air 1958

hinh 8

Hinh 8: Chevrolet Bel Air 1965 hình chụp Saigon 1966 – Đường Công Lý, gần Ngã tư Yên Đổ-Công Lý . Photo by Donald MacKinnon

hinh 8a.jpg
Hinh 8a: 1957 Chevrolet Bel Air 4 Door, bên ngoài Câu lạc bộ thể thao Sài Gòn đường Hồng Thập Tự (1968-70) nay là Cung Văn hóa Lao động TP HCM, đường Nguyễn Thị Minh Khai) Photo by Charles F. Rauch.

hinh 9.jpg

Hinh 9: Chevy 1952

hinh 9a

Hinh 9a: Chevy 1952

hinh 10.jpg
Hinh 10: SAIGON 1967 – Chevrolet Bel Air -1955 Đường Hồng Thập Tự Saigon- Photo by Nathan Meek

hinh 11.jpg

Hinh 11: 1955 Chevrolet Bel Air đậu trên đường Đồng Khánh

hinh 12.jpg
Hinh 12 : Chevrolet Bel Air -1955 , Taxi 4CV, Autobus Renault-Saviem 1960s bến xe buýt , trước công viên Quách thị Trang-Chợ Bến Thành.

hinh 12a
Hinh 12a : Chevrolet Bel Air Base Sedan 3.8L 1955 đường Lê Lợi

hinh 13

Hinh 13 : Chevrolet Impala 1966

hinh 14.jpg
Hinh 14: Đường Lê Lợi 1964, 1956 Fairlane (chiếc thứ tư từ trái), Buick Electra 1959 (thứ ba) 1958 Ford Fairlane 500 Skyliner (thứ hai), Mercury Turnpike (cuối 1950s)(chiếc đầu từ trái)

hinh 15
Hinh 15 : Taxi Renault 4CV and Chevrolet Bel Air 1955 trên đường Tự Do 1961.

hinh 16.jpg

Hinh 16 : Ford Fairlane 500-1957 , Chevy Impala 1960 (General Motors) Buick Electra 1960 (General Motors) trên đường Lê Lợi, gần thương xá Tax.
hinh 17.jpg
Hinh 17 : Chevrolet impala 1958-60 góc Hai Bà Trưng – Lam Sơn
hinh 18
Hinh 18 : Chevrolet Impala 1960 flat top (màu đỏ) , đường Nguyễn Huệ.

hinh 19.jpg
Hinh 19: Pontiac Tempest trên đường Trần Quý Cáp năm 1967 – Photo by Nathan Meek

hinh 20.jpg
Hinh20: Oldsmobile super 88 -1958.

hinh 21.jpg

Hinh 21: Oldsmobile model late 1950s đường Lê Lợi , gần thư viện Abraham Lincoln 1960. Thư Viện Abraham Lincoln (tên vị Tổng Thống Hoa Kỳ trong thời Nội Chiến) trực thuộc Cơ Quan Thông Tin (USIS – United States Information Service) của chính phủ Hoa Kỳ, thư viện nầy lúc đầu tọa lạc tại trung tâm thành phố Sài Gòn, bên cạnh rạp chiếu bóng Rex, trước Toà Ðô Chánh, sau dời về số 8 đường Lê Quý Ðôn, và sau cùng dọn về bên trong trụ sở của Hội Việt Mỹ, ở số 55 đường Mạc Ðĩnh Chi, thuộc Quận I.
Trước năm 1953, địa chỉ này cũng là nơi tọa lạc của Công Ty Bainier-AutoHall, một trong những đại lý xe hơi lớn nhất ở Vietnam trước 1954.

hinh 22.jpg
Hinh 22: Năm 1951. Thủ tướng Quốc gia Việt Nam Trần Văn Hữu và Tổng Tham mưu trưởng Quân đội QG Việt Nam, Thiếu tướng Nguyễn Văn Hinh, trong lễ duyệt binh trên chiếc Plymouth Special Delux convertible 1946-48.
http://oldiesfan67.canalblog.com/archives/2012/11/13/25556445.html

Ford

hinh 23.jpg

Hinh 23 : Xe cổ xưa 1912 Ford Model T trên đường Catina St (Tự Do-Đồng Khởi) Photo Studio của Paul Gastaldy (136-138) cạnh Hotel Continental 132-134 Catinat St. Hinh chụp khoảng đầu thập niên 1920s.
http://saigon-vietnam.fr/saigon_en2.php
hinh 24.jpg
Hinh 24: Henry Ford I với chiếc Ford Model T (Tin Lizzie) – khoảng 1910 – Photo of Ullstein Bild
http://www.gettyimages.com.au/detail/news-photo/cars-henry-ford-i-with-his-ford-model-t-undated-probably-news-photo/542426247

hinh 25.jpg
Hinh 25 : Ford Prefect, VW beetles đường Tự Do 1968, xe thứ ba, lề phải

hinh 26.jpg
Hinh 26 : Ford Prefect đậu trên đường Trần Quang Khải 1966
(https://www.facebook.com/photo.php?fbid=920373314678254&set=g.865130223501356&type=1&theater)

hinh 27.jpg

Hinh 27: Ford Corvair V4 -1498 cc sản xuất ở Anh giai đoạn 1963-1970. Cảnh sát giao thông mặt đồng phục đứng trên bồn giao thông tại các ngã tư.

hinh 28

Hinh 28. Ford Falcon 1964 SAIGON 1965 – đường Hàm Nghi

Hinh 29.jpg

Hinh 29 : Ford Falcon đang chạy trước chợ Bà Chiểu-Ngả tư Lê Quang Định- Chí Lãng 1968 hướng về rap Cao Đồng Hưng trên đường Hàng Xanh.
Ford Edsell

 

Mustang 1967

Hình 29a: Ford Mustang 1967  được tân trang với bảng số sau  1975.

Hinh 30.jpg

Hinh 30: Ford Edsel 1958-1960 chạy trên xa lộ Saigon –Biên Hoà

Nhãn hiệu Edsel đã được lên kế hoạch, phát triển và sản xuất bởi công ty Ford Motor cho năm mẫu (models-mô hình) từ 1958-1960. Với Edsel, Ford đã dự kiến xâm nhập đáng kể vào thị phần của cả General Motors và Chrysler và thu hẹp khoảng cách giữa Ford và GM tại thị trường xe hơi nội địa của Mỹ. Ford đã đầu tư mạnh vào một chiến dịch quảng cáo, tiếp thị nhưng khi tung ra thị trường Edsel được coi là không hấp dẫn, đắt đỏ, và được thổi phồng quá đáng. Edsel không bao giờ trở nên phổ biến, ế ẫm và bán không chạy. Ford mất 250 triệu $US một số tiền lớn, cho sự phát triển, sản xuất và tiếp thị Edsels, từ “edsel” trở thành biểu tượng (symbol) phổ biến của sự thất bại thương mại
Bài học Edsel cho thấy trường hợp chính trị của công ty có thể giết chết một ý tưởng. Tuy việc thiết kế và lập kế hoạch sản xuất là những lý do được trích dẫn thường xuyên nhất cho sự thất bại , biên bản nội bộ của Ford Motor Company cho thấy rằng Edsel có thể thực sự đã là một nạn nhân của sự chia rẽ trong hàng ngũ quản lý của Ford.
Sau Thế chiến II, Henry Ford II giữ Robert McNamara là một trong những “Whiz Kids” để giúp Ford cắt giảm chi phí, tăng năng xuất tránh sự sụp đổ của công ty sau chiến tranh. Kết quả là, McNamara cuối cùng tích lũy được nhiều quyền lực trong công ty. McNamara đã cam kết sản xuất dòng xe Ford gần như loại trừ các sản phẩm khác của công ty như Continental, Lincoln, Mercury và Edsel.
McNamara phản đối sự hình thành của các bộ phận công ty riêng biệt cho Continental, Lincoln, Mercury, và Edsel, bằng sự củng cố Lincoln, Mercury, và Edsel vào bộ phận M-E-L. Cuối cùng huỷ bỏ dòng Continental , sáp nhập với dòng Lincoln năm 1958. Thay vào đó, thiết kế lại Edsel sử dụng cấu trúc cơ thể bên trong của Ford năm 1959. Năm 1960, Edsel xuất hiện ít hơn so với xe Ford với trang trí khác nhau. McNamara cũng di chuyển để giảm ngân sách quảng cáo Edsel cho năm 1959. Đến năm 1960, ông hầu như loại bỏ nó. Cuối 1959, khi McNamara thuyết phục Henry Ford II và quản lý của Ford rằng Edsel đã bị tiêu diệt và đã đến lúc phải kết thúc sản xuất trước khi Edsel chảy máu khô của công ty. Năm 1961, McNamara rời Ford khi ông trở thành Bộ trưởng Quốc phòng của Tổng thống John F. Kennedy.

Hinh 31.jpg

Hinh 31: Ford Taurus 1960-1964
Ford Taurus nổi bật khác lạ bên cạnh những chiếc xe Pháp giao thông trên đường phố Sài Gòn trong những năm 1960 và 1970. Có nguồn tin chiếc xe của bà Ngô Bá Thành, sinh năm 1931 và  chết  2004, một trong những luật sư hàng đầu của Sài Gòn thời VNCH.

Hinh 32.jpg
Hinh 32: Ford Fairlane 500 (1957) Peugeot 404 và Renault 12TS (1970s)

Hinh 33
Hinh 33: Ford Fairlane model 1967-đường Pasteur
http://www.yesterdaysweapons.com/phpBB3/viewtopic.php?f=54&t=12244&start=0

hinh 34
Hinh 34: Two Ford Falcon Futura 1969 đậu bên hông tòa nhà USIS (US information Services) và thư viện Abraham Lincoln (trước là khách sạn Rex do ông Nguyễn Phúc Ưng Thi xây cất năm 1959, đường Nguyễn Huệ, trước tòa Đô Chánh.

Hinh 34a
Hinh 34a : Khách sạn Rex góc đường Nguyễn Huệ-Lê Lợi đầu thập niên 1960s

In Search of Saigon’s American War Vestiges

hinh 35.jpg

Hinh 35: Ford Cortina Mark 1 GT 1963

hinh 36.jpg
Hinh 36 : Ford Anglia trước Bưu Điện cạnh nhà thờ Đức Bà.

hinh 37
Hinh 37: Ford Anglia chạy trước Casino Dakao–đường Đinh Tiên Hoàng 1967-1968

hinh 38
Hinh 38: Mercury Turnpike Cruiser 1957-58

hinh 39.jpg
Hinh 39: Mặt trước xe Mercury Turnpike Cruiser

hinh 40.jpg
Hinh 40: Xe hoa Mercury Turnpike Cruiser trên đường Thống Nhất

Chrysler-Jeep cars

hinh 41.jpg

Hinh 41: American Willys MB jeep
Dòng xe jeep (GP, General Purpose) này dùng trong quân đội thời Pháp ,Mỹ và VNCH trước 1975 , đây là loại xe nhẹ băng đồng, 4 wheel drive dùng trong công việc thị sát, di chuyển nhanh trong các đơn vị/cơ quan quốc phòng hay ngoài mặt trận. Đây là tiền thân của những loại xe SUV 4-wheel trên thị trường hiện nay.

hinh 42.jpg

Hinh 42: Quân cảnh trên xe Mitsubishi Jeep gần phi trường Tân Sơn Nhất 1972

hinh 43.jpg
Hinh 43 : 1958 Dodge Coronet (chrysler) trên đường Catinat –Tự Do (nay Đồng Khởi) năm 1960.

hinh 44.jpg

Hinh 44 : Dodge Kingsway trên đường Tự Do 1961

hinh 45.jpg
Hinh 45 : Dodge Kingsway 1958 và xe Thổ Mộ.

hinh 45a
Hinh 45a : Dodge Coronet 1958 trên đường Trần Hưng Đạo – góc Đề Thám. Ngã tư kế tiếp phía sau xe hơi màu đỏ là ngã tư Đề Thám – Bùi Viện, còn có tên khác là “Ngã tư Quốc tế”

hinh 46.jpg
Hinh 46 : Citroen traction 11 và Dodge Royal 4-Door Touring Sedan 1939

 

Dodge mayfair 1958

Dodge Mayfair 1958

hinh 47.jpg
Hinh 47 : Saigon 1961 –Dinh Độc Lập-1957 DeSoto Firedom (Chrysler)

hinh 48.jpg
Hinh 48: 1957 Desoto Firedom

hinh 49.jpg
Hinh 49: De Soto 1958 Fireflite (trái) và Simca Aronde màu đỏ tím đậu trên
đường Nguyễn Huệ.

hinh 50.jpg
Hinh 50: Peugeot 203, VW Kombi, Peugeot 404, Simca Aronde

hinh 51.jpg

Hinh 51: 1950 – Photo by Harrison Forman.
Quang cảnh xe đậu phía trước nhà hát Thành phố đối diện với công trường Garnier, xe cộ lưu thông trên đường Tự Do

Hinh 52.jpg
Hinh 52: Photo by Charlotte 1969
Volkswagon Beetles, taxi Renault 4 CV, Jeep, Ford, VW van chen chúc trên đường Công Lý .

Xe Anh Quốc -English Cars

hinh 53.jpg
Hinh 53: Vauxhall Victor 1950 and Morris Minor 1000s 1950, gần góc đường Hai Bà Trưng và Hiền Vương (vỏ thị sáu) 1968

Hinh 54.jpg
Hinh 54: Vauxhall Victor and Morris Minor

Hinh 54a.jpg

Hinh 54a: Hinh dáng của Morris Minor cổ điển
http://www.morrisminorclubeastsussex.co.uk/id22.htm

 

Morris Minor Traveller  Early 1960s
hinh 55.jpg
Hinh 55 : Standard Eight Deluxe and Misubishi Jeep trên đường Tự Do, 1971

Hinh 56
Hinh 56: Morrris Minor trên đường Hàm Nghi chạy về hướng bến Chương Dương 1968-70 (photo Charles F. Rauch)

hinh 57.jpg
Hinh 57 : Mini Cooper 1966/67 và VW kombi van

hinh 57a.jpg
Hinh 57a : 1970 Austin Mini 1000cc

Hinh 58.jpg
Hinh 58 : Austin Westminster A95 trên đường Phan đình Phùng

Hinh 59.jpg

Hinh 59: Austin Westminster A95 -1957 trưng bày ở chùa Thiên Mụ Huế http://baodansinh.vn/canh-dep-chua-co-thien-mu-xu-hue-d2967.html

Hinh 60.jpg
Hinh 60: Austin Westminster A95 mẫu 1957 dùng xe chở Thích Quảng Đức đến chổ tự thiêu xem hình ̀ 58.

hinh 61.jpg

Hinh 61: Ford Prefect 100E, 1956

hinh 62.jpg
Hinh 62: Ford Prefect 100E, 1956 và Taxi 4CV

hinh 62a.jpg
Hinh 62a: Ford Anglia 105E Delux . 1960.

hinh 63

Hinh 63: Ford Anglia station wagon

hinh 64

Hinh 64: 1967 Mini Cooper

hinh 65
Hinh 65 : Austin Healy 3000 Mark 3 , 2912cc, cung cấp 150 hp (112 kW) engine
Loại xe thể thao rất được ưa chuộng của công ty Austin Healy với 3 loại xe Austin Healy 3000 từ năm 1959-1967. Loại Mark 3 bắt đầu từ năm 1963 ngưng sản xuất thương mại năm 1967.

hinh 65a
Hình 65a: Morris 1100 mẫu 1960s (màu trắng) trước khách sạn Caravelle, công trường Lam Sơn 1967

Xe Ý-Italian Cars

hinh 66.jpg
Hinh 66: Fiat 1960-600 đậu trên đường Nguyễn văn Thinh 1967 (nay Mạc Thị Bưởi)

hinh 67.jpg

Hinh 67: Fiat Sport Spider 1967-69
http://songmoi.vn/otoxemay-xe-cua-ban/xa%CC%89-xi%CC%80-tre%CC%81t-noi-ho%CC%A3i-qua%CC%81n-xe-co%CC%89-%E2%80%9Cvu%CC%80ng-sau-vu%CC%80ng-xa%E2%80%9D-sa%CC%81t-na%CC%81ch-sa%CC%80i-go%CC%80n

Fiat 1100-1955

Hình ̉̃67a:  Fiat 1100 mẫu 1955

Xe Nhật-Japanese cars

hinh 68.jpg
Hinh 68: Nissan Datsun 240K GT -1973

hinh 69.jpg
Hinh 69 : Honda N360-1967
hinh 70
Hinh 70 : Honda 360 mẫu 1967
Một trong những chiếc hơi mini đầu tiên của Honda tung ra thị trường năm 1967. Chỉ sau một năm (1968), dòng mini trở thành dòng xe bán chạy nhất trên thị trường Nhật Bản. Giai đoạn từ năm 1967-1970 là thời điểm cực thịnh của mẫu xe này. Sự thành công cho chiến lược chiếm lĩnh thị trường tiêu thụ xe hơi của Nhật bằng cách tập trung phát triển những mẫu xe hơi thực sự hữu ích và tuy nhỏ nhưng thoải mái, hình dáng gọn kèm trọng lượng nhẹ.

 

hinh 71

Hinh 71: Hino Contessa  1964 trên đường Tự Do năm 1967, bên phải Simca Rallye 1.3 (simca 1000) Các Simca 1000 là một nhỏ, động cơ phía sau , bốn cửa saloon được sản xuất bởi hãng Simca Pháp giai đoạn 1961-1978.
Hino bắt đầu ra trong việc xây dựng thị trường xe hơi Renault của 4CV theo giấy phép tại Nhật Bản. Khát vọng để xây dựng chiếc xe riêng của mình, Hino nhập vào Contessa 900 cc, loại xe với động cơ đặt phía sau xe. Về cơ bản dựa trên bí quyết từ việc sản xuất 4CV Renault, Hino bắt đầu theo hướng riêng của họ với các kỹ thuật mới. Năm 1964, Hino tuyển Giovanni Michelotti để thiết kế lại chiếc xe với động cơ mạnh 4 xy lanh-1251 cc đặt phía sau và ổ đĩa phía sau (rear wheel drive ) và cho ra đời chiếc Contessa 1300. Contessa làm mát máy bằng nước thay vì bằng gió với tốc độ hơn 130km, nhiên liệu 6.5L / 100km tại 75km / h. Xe Hino Contessa 1300 tương đối hiếm trong nước Nhật, thậm chí hiếm hơn ở thị trường ngoài Nhật. Hino Motors sản xuất Hino Contessa trong khoảng thời gian từ 1961 đến 1967 với loại coupe và sedan.

hinh 72Xe Toyota tren duongMinh Mang
Hinh 72 : Toyota corona mẫu 1967-̉́1968, Toyota trên đường Minh Mạng

 

hinh 73.jpg
Hinh 73: Toyota Sports 800 1962 siêu xe một thời của danh ca Chế Linh
http://vietbao.vn/vi/O-to-xe-may/Toyota-Sports-800-1962-sieu-xe-mot-thoi-cua-danh-ca-Che-Linh/150511165/350/

hinh 74
Hinh 74 : Mitsubishi CJ3B-J4 made in Japan , viện trợ  quân sự cho VNCH. Giá  rẻ hơn xe Willys Jeep sản xuất từ Mỹ.

German Car Logos
hinh 75.jpg

Hinh 75: German car logos

hinh 76.jpg

Hinh 76 : Auto Union DKW F94 1957-60

Hinh 77.jpg

Hinh 77 : Mercedes Benz 600 1967 trên đường Lê Lợi, đây là mẫu xe Mercedes đắt tiền nhất thời bây giờ, được tung ra thị trường năm 1963.

Hinh 78.jpg
Hinh 78: Ponton 190, năm 1953 tại viện bảo tàng Mercedes-Benz ở Stuttgard là tiền thân của các dòng Mercedes hiện tại như dòng C, E, S thiết kế theo công nghệ khung vỏ (unibody).

Hinh 79.jpg

Hinh 79: Black Mercedes Benz Type 300d (W 189) dùng chuyên chở lãnh đạo Tổng Thống VNCH trong khi hành sự công vụ (presidential limousine). Dòng xe độc quyền thanh lịch, mạnh mẽ và đắt giá này được nhiều lảnh đạo các quốc gia trên thế giới xữ dụng, được sản xuất từ năm 1957 đến năm 1962. Động cơ có 6 xy lanh, 2996cc , hộp số tay có 4 tốc độ và hộp số tự động có 3 tốc độ, nhưng vượt trội về hiệu suất với đối thủ cạnh tranh thời ấy như Rolls-Royce Silver Cloud (Anh) và BMW501 (Đức).

Hinh 80

Hinh 80: Mercedes 200 (W110) 4 cửa, 4 xy lanh vẩy đuôi Fintail lòng máy 2.0L , sản xuất từ năm 1965 đến 1968. Được biết là của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu VNCH từ năm 1965 đến khi từ chức 21, tháng 4, 1975. Ông rời Saigon 5 ngày sau bỏ lại hầu hết của cải và chiếc xe Mercedes.

hinh 81
Hinh 81 : Mercedes 1960 Type W120 180b sedan with Right Hand Drive (RHD) chạy trên đầu đường Chỉ Lăng(ngã Tư Phú Nhuận) hướng về tòa Hành chánh tỉnh Gia Định, Chợ Bà Chiểu, và Lăng Tả Quân Lê Văn Duyệt, các xe jeep quân đội đang rẽ vào đường Võ Tánh (nay Hoàng Văn Thụ) hướng về bộ Tổng Tham Mưu QLVNCH-phi trường Tân Sơn Nhứt

Hinh 82
Hinh 82 : Mercedes-benz model 190 (W 121) 1958

Hinh 83
Hinh 83: Mercedes-Benz 190 ( W121) 1959 Sedan . Lần đầu tiên tung vào thị trường 1956.

hinh 84

Hinh 84 : Mercedes Ponton 220S (W180) model 1957 có 8 xy lanh, thân xe với ba phong cách sedan, coupe và convertible sản xuất từ 1954 đến 1959.

Hinh 85

Hinh 85: 1961 Mercedes-Benz 190 SL Roadster

hinh 86

Hinh 86 : Audi 60 RD between 1965-74

Volkswagen

hinh 87
Hinh 87 : Công ty KYXACO , đại lý công ty volkswagen 1957-1975
Công ty này do Ông Chí Tín ( Lê Văn Ba) và hãng East Asiatic Đan Mạch lập ra, hãng Kyxaco nhập cảng độc quyền xe Wolks Wagen ở Việt Nam. Trụ sở 155 đường Nguyễn Huệ, bên cạnh rạp REX.
http://antruong.free.fr/damdaiganhdao2.html

Hinh 88
Hinh 88 : 1953 Panel Van,1966 21 Window Samba; 1970 Microbus; 1978 Kombi L

Hinh 88a
Hinh 88a : Hình dáng xe cổ điển Volkswagen Beetles

Hinh 89
Hinh 89 : VW 1953 Panelvan, VW van barn door 1959-60 và Toyota Corona 40 RT 1970, trước nhà hàng Maxim trên đường Tự Do nay là Đồng khởi

Hinh 90
Hinh 90 : 1971 Peugeot 404 and 1966 Volkswagon 21 Window Samba

Hinh 91
Hinh 91: Tổng hành dinh của Lực lượng thế giới Hỗ Trợ Quân Sự tại Sài Gòn. Một Land Rover 1/4 xe tải tấn Úc và ba Volkswagen Vans (với con chuột túi (kangaroo) màu đỏ) đang đậu trong bãi đậu xe. (1967-68)
https://www.awm.gov.au/collection/P05317.012

volkswagen floride tren duong le loihinh 41

Hinh 92: 1968 VW Loại 3 Fastback, trên đường Lê Lợi, hình bên phải môt chiếc xe khác với 2 quân nhân Úc và một người phụ nữ trong FWO.
Trụ sở lực lượng thế giới Hỗ Trợ Quân Sự (FWO) ở Sài Gòn từ năm 1965 cho đến năm 1973, văn phòng liên lạc quốc gia khác nhau cho các hoạt động đồng minh chiến tranh Việt Nam, bây giờ là khách sạn ba sao Kỳ Hoà sạn tại 238 Ba Tháng Hai (trước đây là 12 Trần Quốc Toản) quận 10 .

Tru so Dong Minh

Hinh 92a: Trụ sở lực lượng thế giới Hỗ Trợ Quân Sự (FWO)
.

http://www.historicvietnam.com/us-vestiges/Saigon

Hinh 93

Hinh 93 : VW beetle gần khu vực ga xe lửa xưa Saigon, đầu thập niên 1950s.

Hinh 94

Hinh 94: Volswagon Beetle 1970s trên đường Công Lý , SAIGON 1968 by Sue Ellen‘s father

Hinh 95
Hinh 95 : VW Beetle 1966, Ford Vedette và Plymouth Valiant 1964 ? đậu trước hotel Continental năm 1966
http://www.pbase.com/tombriggs/image/78214034

DKW

hinh 96
Hinh 96 : DKW F102 Saloon 1963-1965 chạy trước chiếc taxi 4CV. DWK ngừng sản xuất chiếc này năm 1966 và thay thế bằng dòng xe F103, 4 xy lanh tung ra thị trường dưới nhản hiệu Audi

Hinh 97

Hinh 97 : Opel Olympia Rekord mẫu 1955 trên đường Tự Do , đầu thập niên 1960s

 

Hinh 98.jpg

Hinh 98 : Opel GT 1900 model 1969-based on Open Kadett.

hinh 98a

Hinh 98a : Chevrolet Corvett 1968 ̣bên trái, Opel GT 1900 trên đường phố Saigon

Opel GT là loại xe thể thao hai chỗ ngồi ra mắt ở Paris và Frankfurt Motor Show năm 1965. Tung ra thị trường lần đầu cuối năm 1968, xe được thiết kế, xây dựng căn bản dựa trên chiếc Opel Kadett, trông đầu xe có nhiều nét tương đồng với Chevrolet Corvette 1968. Xe được trang bị động cơ 1.1 lít, 4 xy-lanh thẳng hàng, công xuất 67 mã lực tại 6.000 vòng/phút. Tuy nhiên, hầu hết người mua lựa chọn phiên bản thể thao dung tích 1.9 lít, công suất 102 mã lực trong dải vòng tua từ 5.200 đến 5.400 vòng/phút. Opel GT được thiết kế theo phong cách fastback. Nội thất xe rộng , khoảng không bên trong đủ thoải mái cho những người cao trên 1m80.
Năm 1971, do quy định khí thải, Opel cắt giảm tỷ lệ nén của động cơ 1.9 lít, khiến công suất giảm còn 83 mã lực. Ngoài ra, Opel GT còn có phiên bản rẻ hơn chỉ bán tại châu Âu. Phiên bản tiêu chuẩn đi kèm hộp số tay 4 tốc độ. Hộp số 3 tốc độ tự động có sẵn trên bản 1.9 lít.
Opel GT sử dụng thân đơn bằng thép, động cơ đặt trước và truyền động trục sau. Hệ thống phanh trợ lực sử dụng đĩa phía trước, tang trống phía sau.
Một đặc điểm khác thường của Opel GT là hệ thống đèn pha kiểu mắt ếch. Nó được vận hành bằng tay bằng một đòn bẩy đặt cạnh tay lái. Trong khoảng thời gian từ 1968 đến 1973, tổng cộng 103.463 xe đã được bán. Tuy nhiên tại Việt Nam, mẫu xe này khá hiếm, chỉ có khoảng 1-2 chiếc.

(http://news.zing.vn/xe-co-opel-gt-hang-hiem-xuat-hien-o-sai-gon-post617176.html)
.

Phụ lục.

Volkswagen Beetle và Volkswagen van, microbus (tham khảo hình 88).
Năm 1950, Volkswagen sản xuất xe Volkswagen Beetle, mở rộng thị trường sản phẩm bằng cách tung ra chiếc van (microbus), chính thức gọi là loại Volkswagen 2 (Beetle là loại Volkswagen 1)
Bắt nguồn từ sáng kiến của doanh nhân Hoà Lan Ben Pon (một nhà nhập cảng VW Beetle vào Hoà Lan), nhìn thấy một thị trường cho một chiếc xe buýt nhỏ, năm 1947 đã phác thảo ra ý tưởng của mình. Kỹ sư Volkswagen tiếp tục phát triển ý kiến ấy cho đến tháng 3 năm 1950, chiếc xe, với hình hộp, giản dị thực dụng với động cơ đặt phía sau đi vào sản xuất. Microbus Wolkswagen trở thành phổ biến nhanh chóng được tặng một số biệt danh như “Combi” (combined-use vehicle-xe sử dụng hỗn hợp) và “Splitty” ( chia kính chắn gió, xem hinh 88), ở Đức còn được được biết đến như là “Bulli.”
Cũng nên nhắc lại lịch sử của công ty VW, năm 1933, Adolf Hitler trở thành thủ tướng của Đức, ông muốn xây dựng hệ thống đường xá mới và sản xuất xe hơi giá cả phải chăng, tiện dụng cho người dân Đức. Tại thời điểm đó, kỹ sư gốc Áo Ferdinand Porsche (1875-1951), trong thời gian “Đại suy thoái kinh tế thế giới”  đã thiết kế chiếc xe nhỏ cho quần chúng, ông gởi cho Hitler các bảng vẽ. Hitler và Porsche sau đó gặp nhau và ông được giao sứ mệnh sản xuất hàng loạt (mass production) Volkswagen cứng cáp, dể sửa , chạy nhanh tiện lợi , giá phải chăng rẻ hơn 1000 Đức kim cho dân Đức (được gọi là people car-Volkswagen). Ông sang Mỹ học cách sản xuất dây chuyền, mua dụng cụ máy móc cần thiết và bắt đầu sản xuất trên các nhà máy Volkswagen tọa lạc vùng Wolfsburg từ năm 1938 đến nay , tuy thế sản xuất quy mô chỉ bắt đầu sau thế chiến II.
Cuối năm 1939, Volkswagen sản xuất được 20000 chiếc – máy 4 xy lanh, mát bằng gió, 1131 cc , công xuất 24 Hp (17.8 kW) với 3000 rpm.
Trong những năm 1950, Volkswagen đến Mỹ, trở nên phổ biến vì là sản phẩm dính dáng tới Đức Quốc Xã trong quá trình thành hình của chiếc xe cũng như kích thước nhỏ và hình dạng tròn khác thường (mà sau này được mệnh danh là “Beetle”) VW trở thành xe nhập khẩu bán chạy nhất tại Mỹ. VW Beetle mang tính biểu tượng như xe bán chạy nhất thế giới hơn cả Ford Model T, tiếp tục sản xuất cho đến 1978 với 19.200.000 chiếc xe.

Hinh99

Hinh 99: Cha đẻ xe Porsche (Ferdinand Porsche) trình mẫu xe Volkswagen Beetle with Adolf Hitler năm 1935

Tham Khảo:

http://classiccars.com/http://www.historicvietnam.com/https://en.wikipedia.org/wiki/Mercedes-Benz_Type_300
http://www.carhistory4u.com/the-last-100-years/car-manufacturers-by-country/united-states
http://www.britsinternational.com/oldbootsales.htmlhttp://www.asialifemagazine.com/vietnam/classic-cars-in-saigon/
http://www.erclassics.fr/voitures-francaises-de-collection.php/
http://saigon-vietnam.fr/menu-indochine.php
http://belleindochine.free.fr/sommaire.htm
http://www.entreprises-coloniales.fr/inde-et-indochine.html#transportsterrestres
Martin Buckley and Chris Rees .The Complete Illustrated Encyclopedia of Classic Cars
David Lillywhite et al. The Encyclopedia of Classic Cars
Michael Allen. British family cars of the fifties.

Y Nguyen Mai Tran tháng tư 2016

Xem phần 1-Xe cổ điển Pháp ỏ miền Nam trước 1975

Xem phần 3-Xe chở khách miền Nam trước 1975


Xe xưa trên lối cũ -Xe cổ điển Pháp ở Miền Nam trước 1975.

XE XƯA TRÊN Lối CŨ 

Phần 1 : Xe cổ điển Pháp ở Miền Nam trước  1975.

Y Nguyên Mai Trần

Hoài niệm Saigon một thời là Hòn Ngọc Viễn Đông với những con đường hai bên là hàng me, hàng sao, lác đác cành phượng vỹ, thấp thoáng tà áo tung bay. Những thập niên giữa thế kỷ 19 đến giữa thế kỷ thứ 20, Pháp chiếm miền Nam và biến thành thuộc địa của họ với tên Cochinchine, bảo hộ miền Bắc và Trung. Vì nhu cầu phát triển kinh tế và chính trị cũng như khai thác tài nguyên, người Pháp đã đem vào Việt Nam và nhất là vào Cochinchine -Miền Nam hàng ngàn máy móc, xe buýt, xe vận tải và xe hơi. Sau Hiệp định Geneva 20 tháng 7, 1954, người Mỹ thay Pháp hổ trợ miền Nam không cộng sản, thành lập thể chế Cộng Hòa, viện trợ quân sự, kinh tế, giao thông, phát triển cơ cấu kinh tế thị trường. Từ đó Saigon xuất hiện những loại xe hơi,to, dài, nhiều mầu-mà người ta gọi chung là xe Hoa Kỳ, xen lẫn với các dòng xe thời Pháp, lưu thông trên khắp thành phố, tỉnh thành trước tháng 5 , 1975.
Bài sưu khảo này dựa vào tài liệu từ Internet, hình ảnh, postcards của các nhiếp ảnh gia, thư viện Pháp, Anh, Mỹ, của những người ngoại quốc đã từng đến thăm hoặc làm việc, của quân nhân Mỹ-Úc đã phục vụ trên chiến trường Việt Nam trước 1975 và manhhai albums cùng với tư liệu của người viết một thời lang thang trên các nẻo đường xưa Sài Gòn –Chợ Lớn-Gia Định, có dịp chiêm ngưỡng “xe hoa-xe Hoa Kỳ”, xe “lô ca xông citroen traction-avant””, xe taxi “con cóc, 4 ngựa”,xe “nhà binh-xe quân sự GMC”, xe “díp (jeep)”… cũng như có dịp tiếp cận xe Ford, Renault và Opel trong thập niên 60.
Mặc dù cố gắng tìm tòi, nghiên cứu hình ảnh xưa, đối chiếu với tài liệu trong thư viện, internet và kỹ niệm xưa, sự thiếu xót và nhằm lẩn có thể xảy ra, không tránh khỏi.
Bài viết nhằm giúp người đọc nhận diện, tham khảo các loại xe cổ xuất hiện ở miền Nam từ thời kỳ Pháp thuộc đến trước 1975 (tạm gọi là classic cars, xe cổ điển), cùng nhau tìm lại một thoáng hương xưa, hoài niệm phút giây lang thang trên phố củ với những ước mơ thầm lén-người viết không bàn về lịch sử hay quá trình phát triển chi tiết của các loại xe từ cổ xưa (antique) cố cựu (đầu những thập niên 1900s-veteran) và cổ điển (classic) theo quan điểm của sử gia về xe hơi, cũng như bối cảnh kinh tế xã hội chính trị thời bấy giờ.
Cũng nên lưu ý, người viết sẽ dùng danh từ xe hơi (thay vì ô-tô) cho tất cả các loại xe sedan-chạy xăng (petrol powered), để phân biệt với các loại xe chạy điện (electric powered) chạy bằng hơi nước (steam powered) hay xe đua (racing cars), cũng như không đi sâu vào chi tiết kỹ thuật công nghệ của những loại xe. Người viết xin lưu ý người đọc từ CV (chevaux vapeur)-tax horsepower-liên quan đến thuế má dùng trong kỹ nghệ xe hơi của Pháp đánh giá sức mạnh của các dòng xe, trong khi các xứ nói tiếng Anh dùng  horsepower-hp. Nếu cần xin tra tài liệu trên Internet để biết rõ ràng hơn.

Thống kê xe cộ ba miền Việt Nam trước 1945

Năm Loại Trung Kỳ Nam Kỳ Bắc Kỳ
(An Nam) (Cochinchine) (Tonkin)
1922 Xe Hơi 308 2230 1126 Automobiles
1929 Xe Hơi 1392 8712 4129 Automobiles
Xe Vận Tải 214 671 325 Trucks
Xe Bus 495 643 390 Buses
Xe Gắn Máy 156 1099 901 Motorcycles
Tổng cộng 2257 11125 5745 Total
1937 Xe Hơi 1600 6000 4300 Automobiles
Xe Vận Tải 300 620 440 Trucks
Xe Bus 300 560 300 Buses
Xe Gắn Máy 50 260 620 Motorcycles
Máy Kéo 20 260 200 Tractors
Tổng cộng 2270 7700 5280

http://www.departments.bucknell.edu/history/projects/BeaucarnotDiary/documents/Ryan_Mayfield_Paper.pdf

Tính đến năm 1974 VNCH có 35.384 xe vận tải nặng và 64.229 chiếc xe hơi chạy trên hệ thống đường xá  21.000 km, trong đó gần 12.000 km là đường trải nhựa, đi được quanh năm. (https://vi.wikipedia.org/wiki/Vi%E1%BB%87t_Nam_C%E1%BB%99ng_h%C3%B2a#Giao_th.C3.B4ng)

So về số lượng xe hơi ở ba kỳ, Cochinchine Miền Nam thời ấy có nhiều nhất, hơn phân nữa tập trung vào khu vực Saigon-Chợ Lớn-trung tâm Gia định (Statistique Générale, Moyens de Transport et de Communication (Averages of Transportation and Communication), 1936-37, p. 115.

ĐẠI LÝ XE HƠI Ở SAIGON-TỪ THỜI PHÁP THUỘC ĐẾN 1975

Saigon là nơi đặt trụ sở chính của Hội vận tải và xe hơi của Đông Dương Indochine. Saigon là nơi có nhiều công ty đại lý buôn bán, sửa chửa, bảo hiểm xe du lịch, chở khách, taxi cho mướn. (Claudie Beaucarnot, Adieu Saigon, Au Revoir Hanoi: The 1943 Vacation Diary of Claudie Beaucarnot, (David Del Testa, 2002), p.14. 27 Société des Transports et Automobiles de I’indochine, Grand Rallye des Hauts Plateaux (pamphlet), (1954), p.p 22,32,34,40,41).
Những loại xe thông dụng giai đoạn 1900-1930 là xe Pháp, Renault, Peugeot, Citroen, Panhard, Berliet, Hotchkiss, và một số ít xe Mỹ của hảng Ford, Chrysler và GM (General Motors).
Công ty xe hơi đầu tiên ở Saigon Ippolito et Cie -Maison V. Ippolito- thành lập năm 1900, đại lý xe Peugeot và cung cấp dịch vụ chuyên chở công cộng (public courier service)- thư tín và khách hàng- đầu tiên giữa Saigon-Tây Ninh (24 tháng 10, 1901), sau đó đến Biên Hòa , Bà Rịa và Vũng Tàu (Cap Saint-Jacques). Trụ sở nằm ở góc Nguyễn Huệ và Lê Thánh Tôn, trước tòa Đô Chính (bây giờ UBNDTPHCM). Quyền đại lý xe Peugeot sau được chuyển qua công ty Le Comte, 34 Norodom (đường Thống Nhất) năm 1931.

Công Ty Bainier

Garage Bainier, công ty nổi tiếng nhất nằm ở góc đường Bonard (Lê Lợi) và Charner (Nguyễn Huệ) được thành lập năm 1914.

hinh 1.jpg

Hình 1: Công ty Bainier với Auto Hall góc đường Lê Lợi và Nguyễn Huệ, từ năm 1920.

Hinh 2.jpg

Hinh 2: Vị trí AutoHall đối diện với nhà hàng Pancrazi (trước 1975, tòa nhà thương mại Eden)
Khảo sát hình, có hai chiếc Citroen Type A tourer và một Citroen C4 (1928) chạy ra từ Bainier-AutoHall garage, chiếc xe chở khách Citroen chạy về hướng Auto Hall, Auto Hall nằm đối diện với nhà hàng Pancrazi trên đường Bonard và nằm xéo góc với Garage Bainier.Từ năm 1920 Ông E Bainier thành lập SOCIÉTÉ ANONYME DES ÉTABLISSEMENTS BAINIER, dời trụ sở về gốc đường 21 Bonard và 100-102 Nguyễn Huệ, cho xây lại AutoHall với công nghệ hiện đại thời bấy giờ (hình 1), mở rộng phạm vi thượng mãi làm đại lý cho nhiều hiệu xe như Unic,Dodge, Darracq và Citroen.
Garage Bainier được xây dựng dùng công nghệ cao, tận dụng ánh sáng và không gian, được xem như một phòng trưng bày xe hơi đẹp nhất vùng Viễn Đông (http://www.entreprises-coloniales.fr/inde-indochine/Bainier-Auto-Hall-Saigon.pdf)
Ông Emile Bainier đến Saigon làm trường thợ máy (mechanic foreman), năm 1911 ông làm Giám đốc cho công ty Ippolito. Sau đó ông rời Ippolito thành lập công ty riêng SOCIÉTÉ ANONYME DES ÉTABLISSEMENTS BAINIER năm 1914 địa chỉ số 40 Bonard.
Ông Emile Bainier mất năm 1941 ở Saigon, gia đình ông tiếp tục kinh doanh cho đến năm 1953 thì trở về Pháp. Vợ chồng hoàng tử Nguyễn Phúc Ưng Thi và Nguyễn Thị Nguyệt Nga mua lại tòa nhà Bainier và phá đi để xây lên khách sạn Rex, rạp chiếu phim Đại Nam năm 1958.
Công ty Bainier lúc đầu làm đại lý cho Citroen (xem Hình 1) nhưng đến năm 1931, quyền đại lý giao cho Mr Henri Hospital chủ Garage Citroen, 37 đường D’ Espagne (Lê thánh Tôn) đến năm 1936 trở thành công ty trực thuộc Citroen với tên Công ty Xe hơi Viển đông (Société Automobile d’Extrême-Orient)

Công Ty Garage Citroen

hinh 3

Hinh 3:  Quảng cáo Garage Citroen

Hinh 4

Hinh 4: Garage Citroen của ông Henri Hospital số 37 đường D’Espagne (Lê thánh Tôn) .Năm 1936, Garage Citroen trực thuộc công ty Citroen với tên Công ty Xe hơi Viển đông (Société Automobile d’Extrême-Orient).The SAEO đổi thành Xe Hơi Citroën Công Ty (Société
des Automobiles Citroën) năm 1969.

Hinh 4a

Hinh 4a: Xe Citroen được trưng bày tại Garage Aviat ở Hànội năm 1952, Garage Aviat đại diện cho Garage Citroen ở Bắc (Tonkin ) và Trung (An Nam).

Công Ty Garage Charner

hinh 5

Hinh 5: Hinh chụp 1953, Peugeot 202 Cabriolet (1939-1949) chạy ngang qua Garage Charner 131-133 Nguyễn Huệ. Garage Charner được thành lập năm 1923, đại diện chính thức cho xe Renault (bây giờ là khách sạn Kim Đô-Royal City Hotel ).

hinh 6

Hinh 6: Garage Charner là đại lý độc quyền bán các xe hơi Delage, Renault, Panhard, Monet-Goyou…
Toà nhà Garage Charner nằm gần thương xá GMC (Grand Magasin Charner) bị cháy tháng 6 năm 1929, được xây lại.

hinh 7

Quảng cáo xe Renault của Garage Charner năm 1931

hinh 8b

Hinh 8: Renault Monasix model RY2 -1930

hinh 9

Hinh 9 : Garage Renault 231, Bến Chương Dương (thời Pháp Quai de Belgique), phòng trưng bày xe Renault tai 59 đường Lê Thánh Tôn.

Công Ty Saigon Garage đại lý Simca (S.E.I.C)

hinh 10

Hinh 10: Công ty Saigon Garage thành lập năm 1936, góc đường Nguyễn Huệ và Công trường Garnier (công trường Lam Sơn thời VNCH-công viên nằm đối diện với Hạ Viện-bây giờ Nhà Hát Thành Phố)

hinh 10a

Hình 10a: Saigon Garage S.E.I.C năm 1961

Công ty Olympic đại lý xe Anh Mỹ trên đường Hồng Thập Tự

hinh 11

Hình 11: Ảnh chụp 1953 Cinéma (nằm giữa) và Garage Olympic tọa lạc tai số 97-99 đường Hồng Thập Tự (Chasseloup Laubat) sau này là rạp cải lương Kim Chung. Trong ảnh có thể nhìn thấy xe Citroen 11 và xe Vauxhall Velox 1952-53.

Công Ty xe hơi Jean Comte-Etablissements Jean Comte

Tọa lạc tại địa chỉ 34 đường Norodom (Thống Nhất-Lê duẩn), được thành lập năm 1911 bởi hai ông Laroche và ông Le Comte.

Click to access Comte-Saigon-Pnom-Penh.pdf

hinh 12

Hình 12 – Ảnh chụp 1952-53. Etablissements Jean Comte, số 34 Boulevard Norodom (Thông Nhất (VNCH) và Lê duẩn) nằm sau nhà thờ Đức bà. Sau 1975 tòa nhà công ty bị phá bỏ để xây trung tâm thương mại Diamond Plaza). Công ty Jean Comte hoạt động ở Cochinchine từ năm 1920, đại lý các loại xe Peugeot, Hotchkiss, Dodge, Packard, Saurer và xe Vélo Solex.

hinh 13
Hình 13-Phòng trưng bày xe hơi Công Ty Jean Comte-Dãy xe Peugeot 202s và một chiếc Hotchkiss vị trí cuối cùng của dãy xe, bên phải là xe Peugeot 203.

hinh 14

Hinh 14. Năm 1960 Etablissements Jean Comte trở thành Saigon Xe hơi Công Ty, trụ sở chính thức của công ty Citroen (Société Automobile d’Extrême-Orient) được thiết lập năm 1936. Sau khi lấy lại quyền đại lý Citroen từ công ty Bainier (xem hình 1) để giao cho ông Henri Hospital –Garage Citroen số 37 đường D’Espagne (Lê Thánh Tôn), (xem hinh 4). Công ty Citroen mua lại Etablissements Jean Lecome thành lập Saigon Xe hơi Công Ty.
Hình chụp 1964 (ref manhhai’s album), Saigon Xe hơi Công ty là trưng bày và buôn bán dòng xe hơi đầu tiên của Việt Nam –xe La Dalat.

http://www.ddth.com/showthread.php/399458-La-Dalat-v%C3%A0-c%C3%A1c-lo%E1%BA%A1i-xe-th%C3%B4ng-d%E1%BB%A5ng-c%E1%BB%A7a-ng%C6%B0%E1%BB%9Di-S%C3%A0i-G%C3%B2n-tr%C6%B0%E1%BB%9Bc-1975#ixzz42NEwmey6

Công ty SCAMA Đại lý cho xe Ford (Mercury, Lincoln…)

hinh 15

Hinh 15: SOCIÉTÉ COLONIALE D’AUTOMOBILES ET DE MATÉRIEL AGRICOLE (SCAMA) đăng ký 1928, trụ sở 41 đường Tôn Thất Đạm (Chaigneau).
Năm 1936 công ty mở thêm tại địa chỉ 23-39, Boulevard Bonard (Lê Lợi), Saigon. Công ty đại diện cho hảng xe Ford, Mercury, Lincoln-hinh chụp 1952 với 3 chiếc Ford Vedette đậu phía trước
Thời Cộng hòa , công ty SCAMA có trụ sở tại số 9 đường Phạm Hồng Thái , đối diện với hội Kỵ Mã (bây giờ là nhà thi đấu Nguyễn Du?) cũng là đại lý cho xe Đức Opel, Mercedes, GMC

Click to access SCAMA-Ford.pdf

SIT Societe Indochinoise de transports

hinh 16

Hinh 16: Đại lý cho xe DeLahaye

hinh 17

Hình 17: Quảng cáo SIT Siege social -4 Filippini (đường Nguyễn Trung Trực)
Công ty khởi thuỷ nằm ở đường Nguyễn Trung Trực , thời VNCH dời về đường Ngô Tùng Châu (Lê thị Riêng). Đại lý cho xe Mỹ và Anh.

Click to access Indoch._de_transports.pdf

KYXACO Đại lý độc quyền Volkswagen VNCH

Công ty này do Ông Chí Tín (Lê Văn Ba) và hảng East Asiatic Đan Mạch lập ra. Kyxaco nhập cảng độc quyền xe Volkswagen ở Việt Nam. Trụ sở 155 đường Nguyễn Huệ, bên cạnh cinema REX góc Lê Thánh Tôn. http://antruong.free.fr/damdaiganhdao2.html

hinh 18

Hinh 18: Công ty KYXACO, 155 Nguyễn Huệ, góc Lê Thánh Tôn.
Đại lý độc quyền xe Volkswagen 1957-1975.

hinh 19

Hình 19: Công ty xe hơi Kim Long trên đường Lê Lợi, gần thương xá Tax, đại diện hãng xe Ford của Mỹ. Photo by Bruce Baumler, 1965

NHỮNG CÔNG TY XE HƠI LỚN VẨN HỌAT ĐỘNG Ở SAIGON CHO ĐẾN GIỮA 1975.

Saigon Grarage, 100 Nguyễn Huệ
Garage Charner, 131 Nguyễn Huệ
Kyxaco, 155 Nguyễn Huệ
Olympic 97-99 Hồng Thập Tự
Renault 231 Bến Chương Dương
SCAMA 9 Phạm Hồng Thái
SIT 102 Ngô Tùng Châu (Lê thị Riêng)
SàiGòn xe hơi công ty 2-B Duy Tân-34 Thống Nhất
Kim Long Garage 70 Le Loi
Lucia, Fiat Garage 11 Đổ Thành Nhân, Khánh Hội

Xe xưa trên lối cũ.

Khảo sát ảnh xưa, số lượng xe lưu thông nhiều nhất trên các tuyến đường như Tự Do, Nguyễn Huệ, Lê Lợi, Hai Bà Trưng, Trần Hưng Đạo, Bến Bạch Đằng, Võ Di Nguy, Chi Lăng, …những đường thuộc quận 1, quận 3, quận 5 (Chợ Lớn) những địa điểm có nhiều du khách và quan chức Pháp Việt, ngoại quốc cùng với thương nhân khá giả, giàu có. Phần đông là xe có biểu tượng (logos) nhập từ Pháp và các xứ Âu Châu.
Sau khi Hiệp định Genève 20/7/1954 chia đôi Việt Nam. Miền Nam xây dựng thể chế Việt Nam Cộng Hòa với sự giúp đỡ của Mỹ và Đồng Minh. Đặc biệt thủ đô Saigon trở nên sầm uất, nhộn nhịp với đủ loại xe cộ có từ thời Pháp đến những loại xe du nhập từ Mỹ, Anh, Đức, Ý, Nhật…Lần đầu tiên người Saigon nhìn thấy những loại xe to, dài, nhiều màu, kiểu cách do người Mỹ đem vào mà họ gọi chung là xe Hoa Kỳ.

Bài viết gồm ba phần

Phần 1 –Xe cổ điển Pháp ở miền Nam trước 1975
Phần 2 -Xe cổ điển không xuất xứ từ Pháp ở miền Nam trước 1975.
Phần 3- Xe chở khách, xe buýt xưa – trước 1975

                                                PHẦN 1 -XE CỔ ĐIỂN PHÁP Ở MIỀN NAM TRƯỚC 1975

.Phần lớn các công ty xe hơi đầu thế kỷ 20 có trụ sở trong địa hạt quận 1 trước 1954, một số có công ty đại diện ở các tỉnh lớn, Hà Nội Hải Phòng, làm đại lý cho hãng xe Pháp Peugoet, Citroen, Renault, Simca, Packard, Panhard, hãng xe Mỹ như Ford, Chrysler, General Motors, xe Anh như Vauxhall, Austin, Morris và xe Đức như Opel, Volswagen, xe Ý như Fiat, Nhật như Toyota, Honda..

Biểu hiệu xe Pháp (logos) thường thấy ở Việt Nam

hinh 19ahinh 20

Hinh 20: Ảnh chụp khoảng đầu thập niên 1940s, có thể nhận được loại xe peugeot 202, Traction 11 L (Legère) và xe buýt Renault. Có người lính ″mã tà ″ đội nón cối trắng điều khiển lưu thông.

hinh 21

Hinh 21. Xe Panhard, Austin 1100, Chevrolet, Renault , Volswagen, Simca, Peugeot, Jeep, Dauphine… chen chúc trên đường một chiều trung tâm quận nhất Saigon năm 1967.

hinh 22

Hinh 22: Xe đậu vị trí trước nhà hát Tây (thời VNCH là trụ sở Hạ Viện), đầu thập niên 1950s

Khảo sát hình 22, bãi xe đậu trước nhà hát Tây – trước tháng 5/1975 là Hạ Nghị Viện, sau 1975 mang tên nhà hát Thành phố. Tiệm Nouveautés Catinat của ông Lucien Barthet (Khởi thuỷ xây cất năm 1887 là tiệm Bách hóa department store, nằm ở góc đường Catinat và Bonard, đến thời VNCH trở thành Phòng thông tin triển lãm Quận 1 (hình 23, bây giờ Louise Vutton 2015).

hinh 23

Hinh 23: Phòng thông tin trước Hạ Viện 1972 (nhà hát Thành Phố sau 75)
Đường Catinat trước 1975 là đường Tự Do và Bonard là Lê Lợi
Trên bải xe ̣ (hinh 22) , các loại xe hơi có thể nhận dạng gồm có Citroen Traction Avant, Renault 4CV, Traction 11, Peugeot 202, Peugeot 203, possible Land Rover, Panhard Dyna X 1953, Peugeot 203.
Đây là quang cảnh điển hình thời Pháp, nói chung xe xuất xứ từ Pháp chiếm đa số, đi đâu cũng thấy phần đông Renault 4 CV, rồi đến Simca, Dauphine, Renault, Peugeot, Citroen và một số xe từ các nước ở Âu Châu như Đức, Ý, Anh… Cuối thập niên 1950s, và thập niên 60s, khi người Mỹ và đồng minh cùng các công ty ngoại quốc bắt đầu vào miền Nam họ mang vào các loại xe sản xuất từ Mỹ-mà người Nam gọi là xe Hoa Kỳ, đặc điểm chung là kích thước lớn, dài, kiểu đột phá táo bạo, bumper (cây cảng-hãm xung) mạ kền, đuôi vẩy cá (fintail), sơn hai ba màu. Trên đường phố Sàigòn, cuối thập kỷ 40 và bắt đầu thịnh hành từ thập kỷ 50 có nhiều loại taxi xuất hiện- xe Renault 4CV, Simca Dauphine loại xe khách như Citroen Traction và cùng các loại xe Hoa Kỳ (thường được mướn làm xe “hoa” hay cho những cơ hội đặc biệt).
Người đọc chú ý, từ taxi dùng trong bài viết cho những loại xe chở khách có gắn taximetre (taximeter) để tính tiền. Trong hình kế tiếp 24, bức ảnh cho thấy loại xe khách mà người Pháp gọi là taxi đã xuất hiện ở Saigon năm 1905-12? bên cạnh xe lôi pousse-pousse (có người kéo mang bảng số 1100 )

hinh 24

Hinh 24: Xe chở khách năm 1912 ? –Saigon –chạy ngang tháp đồng hồ-hai phu xe pousse-pousse đứng trên thềm đá tháp đồng hồ- nổi tiếng thời bấy giờ -nhìn vào trường đua Phú Thọ.

Panhard cars

Công ty Panhard và Levassor đã được thành lập vào năm 1887, một thời nổi tiếng là một trong những công ty xe hơi tiền phong sớm nhất và quan trọng hơn bao giờ hết với chiếc xe đầu tiên sản xuất vào năm 1891 dựa trên một giấy phép của các bằng sáng chế của Daimler. Nhưng thay vì động cơ đặt phía sau như xe Daimler Benz, Panhard đặt động cơ và bộ tản nhiệt radiator- ở phía trước, điều khiển bánh xe phía sau, và một truyền trượt bánh răng thô. Cách cấu tạo này trở thành và được biết đến như là “Système Panhard”
Nhưng sau Thế chiến II, Panhard quyết định thay đổi, sản xuất xe cho tầng lớp trung lưu và phát triển một loại xe nhẹ, chi phí sản xuất thấp nhằm đáp ứng như cầu dùng xe phổ quát trong xã hội thời kỳ hậu chiến, dự kiến loại xe nầy sẽ trở thành phương tiện thông dụng di chuyển của mọi người. Đây cũng là chiến lược mà Citroen đã áp dụng để sản xuất 2CV, được biết như Panhard Rod thời bây giờ.

hinh 25

Hinh 25: Panhard Model X 86 Saloon 1952. Máy đặt phía trước (traction-avant), 2 cylinder car.

Hinh 25a

Hinh 25a: Panhard Model X 86 Saloon 1952 và Traction 11 trên đường Tự Do năm 1955
Dyna Panhard X, sedan 4 cửa , nhẹ, gọn là công trình thiết kế có tầm nhìn xa của kỹ sư Jean Albert Grégoire, đầu tiên được trưng bày Dyna AFG Paris Motor Show 1946. Sản xuất thương mại bắt đầu từ cơ xưởng Panhard ở Ivry (Paris) năm 1948 và trở thành xe mẫu (pattern) cho những loại xe Panhard khác, cho đến khi ngừng sản xuất năm 1967.
Dyna X còn được gọi là Dyna 110, Dyna 120 và Dyna 130 dựa theo tốc độ 110, 120 hay 130 km/giờ do sự tăng tiến của ỗ máy
Dyna X bị thay thế bởi loại xe lớn hơn, mạnh hơn Dyna Z năm 1954.

hinh 26.jpg

Hinh 26: Panhard dyna model Z (1963). Panhard xáp nhập (absorbed) với Citroen năm 1965.

http://www.thetruthaboutcars.com/2010/03/an-illustrated-history-of-panhard/

hinh 26a

 

Hinh 26: Panhard dyna model Z (1963). Panhard xáp nhập (absorbed) với Citroen năm 1965.

Simca cars

Tên SIMCA (Société industrielle để Méchanique et Carrosserie). Công Ty thành lập bởi Henry- Théodore Pigozzi năm 1934 sản xuất xe Fiat (của Ý) cho thị trường Pháp. Khởi thủy Piozzi là đại diện phân phối xe Fiat trong nước Pháp công ty SAFAF (Société Anonyme Franais des Automobiles FIAT), dần dà bắt đầu nhập càng các bộ phận và được phép (under license) lắp ráp xe Fiat bán trên thị trường nội địa Pháp. Sau đó, cơ hội đến, ông mua lại cơ xướng cũ ở Nanterre và bất đầu sản xuất Simca tự do.
Mẫu Fiat 500 Topolino được sản xuất từ năm 1937, loại xe nhỏ, 569cc với 85km/giờ, máy đặt phía trước, ổ bánh phía sau ( rear wheel drive), 2 cửa. Fiat 500 Topolino được biến đổi thành SIMCA 5 (Cinq), và loại Fiat sinh sau Fiat 1100 được thay thế bởi SIMCA 8 (Huit.)
Sau thế chiến thứ hai, Simca cho ra mắt Aronde năm 1951, với thiết kế công nghệ monocoque (unitary body) của Simca, Simca Aronde được cho ra đời để cạnh tranh trực tiếp với Peugeot 203. Trong năm đầu tiên đã là xe bán chạy nhất so với Simca 8. Năm 1959 trở thành công vượt bực cho Simca, sản xuất 200,000 chiếc. Năm 1954, SIMCA mua lại cơ xưởng Poissy của Ford Pháp-vào thời này đang sản xuất Ford Vedette. Sau đó Simca sản xuất Vedette nhưng vẫn giữ bảng hiệu cũ. Cơ xưởng nầy thành cơ xưởng chính của SIMCA trong khi cơ xưởng cũ ở Nanterre bán lại cho Citroen năm 1961.
Sự thành công lớn của SIMCA cho phép Simca thâu tóm hãng xe Talbot (Từ đó Talbot biến mất trên thị trường), để trở thành món mồi ngón cho Chrysler sau này.

hinh 27
Hinh 27: Simca 1000 Rallye model năm 1963

Simca 1000 là loại sedan 4 cửa, máy đặt phía sau. Ổ máy 4 cylinders .9L sản xuất 43 Bhp ($3.6PS/32.1 kW) với tốc độ tối đa là 116km/giờ. Xe cân nặng 700kg

hinh 28

Hinh 28: Mẫu xe Simca 9 Aronde-1300 sản xuất đầu tiên năm 1951-55

hinh 29

Hinh 29: Sản xuất trong khoảng 1951-1963 SIMCA Aronde –thiết kế Pháp với nhãn hiệu Aronde/hirondell/chim nhạn. Trong suốt 12 năm với bốn kiểu xe Simca 8, 9 , 1300 và P69 Simca thành công nhất với các dòng xe này- Xe được sản xuất từ Pháp và Úc.
Simca 9 Aronde thấy ở Saigon sản xuất khoảng 1951-55, không phải là traction avant nhưng máy cũng đặt phía trước, năng xuất khoảng 1.2L. The Aronde rất phổ biến ở Pháp, giúp Simca trở thành hãng sản xuất xe hơi lớn thứ hai bên Pháp vào khoảng cuối thập niên 1950s, Simca ngừng sản xuất Arondecuối năm 1963.

hinh 30

Hinh 30: Simca trên đường Nguyễn Huệ

hinh 31

Hinh 31: Simca Aronde chết vì bị đặt chất nổ .

Hinh 32

Hinh 32: Simca 6-1947-50 đậu trên đường quê.
Simca 6 là một chiếc xe nhỏ sản xuất và bán nội địa (Pháp) giữa năm 1947 và 1950. Simca trước đó đã được thành lập như là một công ty con của công ty Fiat (Ý), Simca 6 được phát triển dựa vào mẩu Simca 5. Simca 5, bản thân chính là loại Fiat Topolino và sản xuất tại Pháp được bán dưới nhản hiệu Simca.

Với sự ra mắt, tại 1947 Paris Motor Show, của Simca 6 thể hiện tư thế thiết kế độc lập cho một mô hình sản xuất Simca. Các Simca được tách từ nguồn gốc của nó bởi độ Mỹ hoá xe Fiat, mở rộng đặt hạ lưới tản nhiệt thấp, phía trước, hai bên là đèn pha được lên tích hợp(integrated) vào các tấm cánh (wing panels), tương tự như các dòng xe Peugeot 203 và Renault 4CV thời bấy giờ.

hinh 33

Hinh 33: Simca Aronde 1968 trên đường Lê Lợi, phia sau International Havester Scout 800-1967

hinh 34

Hì̀nh 34: Simca 5-2 cửa-569cc (Fiat 500- Topolino đổi huy hiệu (rebadged)-động cơ phía trước (front engine) ổ bánh sau (rear wheel drive). Đừng lầm lẩn với Peugeot 202 là phiên bản cải tiến dựa trên lọai xe SIMCA 8 -4 cửa

hinh 35

Hinh 35: The Fiat 500, thường được biết là “Topolino”, loại xe nhỏ sản xuất ở thành phố Topolino ở Ý từ 1936 đến 1955.

hinh 36

Hinh 36: Simca 1000 Ralye

Simca Rallye 1.3 (Simca 1000), xe sedan 4 cửa, máy đặt phía sau Simca Pháp sản xuất từ năm 1961 đến 1978. Thuộc loại xe hạng nhẹ, cân 700kg, đạt tốc độ tối đa 116km/giờ

hinh 37

Hinh 37: Xe cộ trên đường Trần Hưng Đạo 1969 – picture Bob Carolan

Renault cars

Sản phẩm trí tuệ của một kỹ sư nhiệt tình tên là Louis Renault , công ty Renault được thành lập cùng với hai người anh em của ông ở Pháp vào năm 1899 , những người em lo về tài chính , trong khi ông chú trọng về cơ học, máy móc” . Thành lập cơ xưởng cạnh sông Sein năm 1899. Louise Renault sản xuất loại xe đầu tiên từ 1898-1903, loại xe nhỏ Renault Voiturette.
Khủng hoảng kinh tế 1929-31, cũng như các hảng xe hơi khác đều phải giảm giá, cắt nhân công, tăng hiệu quả năng xuất, mang giá thành sản xuất xe xuống thấp, công ty Renault trở thành công ty đa dạng sản xuất xe buýt, xe chở hàng trucks, xe lửa điện electric railcars, máy cày và cả động cơ cho máy bay.
Do nhiều cuộc đình công gây rắc rối cho các nước trong khu vực, Renault đã được quốc hữu hoá năm 1945 để tránh phá sản như Citroen đã làm trước đó vài năm. Các dự án đầu tiên được thực hiện bởi công ty mới sản xuất 4CV nhỏ, nhưng bị hoãn lại cho đến sau Thế chiến II. Đối với thị trường châu Âu, xe nhỏ là tương lai vì giá rẻ, dể mua và duy trì. Sau khủng hoảng kinh tế và thế chiến, sự cách biệt giữa Âu Châu và Mỹ càng ngày càng lớn. Louis quyết định tối tân hóa cơ xưởng, bắt chước lối sản xuất dây chuyền của hảng Ford (Ford dùng công nghệ này bắt đầu năm 1912 sản xuất hàng loạt Ford T2)
Ngày nay Renault hòa hợp với Nissan (công ty xe hơi lớn của Nhật) trở thành một trong 4 hãng sản xuất xe hơi lớn nhất trên thế giới.

hinh 38

Hinh 38: Xe 4 bánh Renault đầu tiên-Renault Voiturette 1989-1903

Dòng xe 4CV, được giới thiệu vào năm 1946, là một thành công lớn so với dự kiến ban đầu. Với sự thành công này công ty thực hiện bán, mua lại và phát triển máy móc hạng nặng để giúp gia tăng sản xuất. Renault sau đó quay trở lại với lĩnh vực chế xe hạng nặng và qua việc sáp nhập với hai công ty hiện có Latil và Somua-cả hai là công ty sản xuất xe tải chở người và hàng hoá- họ và tạo ra một công ty mới, hoàn toàn dành riêng để làm xe tải, buýt với tên Saviem.
Dòng 4CV được thay thế bằng dòng xe Dauphine xuất hiện vào năm 1956. Đây là dòng xe thành công lớn kể cả trên thị trường Mỹ. Dauphine ngừng sản xuất năm 1961, được thay thế bởi hai dòng xe Renault 4 va Renault 8
Renault bắt đầu những năm 70 với những dòng xe thành công khác, thể thao hơn và nhanh nhẹn hơn nhưi dòng xe Renault 5, vì xe xài tiết kiệm nhiên liệu nhất là trong thời gian khủng hoảng dầu trong thập niên 1970s

Cũng trong những năm 70s, Renault bắt đầu mở rộng ảnh hưởng của mình và mở ra các nhà máy ở Đông Âu, châu Phi, Úc cũng như hợp tác với công ty Mỹ AMC đến năm 1979. Vào đầu những năm 80, Renault gặp rắc rối tài chính một lần nữa nên công ty ra khỏi hoạt động đua xe hoàn toàn, cũng như bán tất cả các phi tài sản và giảm chi mọi mặt.
Năm 1987 công ty bắt đầu biến cán cân nghiêng về lợi nhuận, do đó, vào đầu những năm 90, một loạt xe mới được phát hành trên thị trường và tất cả các mô hình đều thành công: Clio Espace, Twingo và Laguna. 1995 Renault Megane là chiếc xe đầu tiên để đạt được Euro NCAP (New Car Assessment Program) đánh giá bốn sao về an toàn .
Cũng trong những năm 90, Renault trở lại Formula 1 racing đua thành công, sau khi giành chức vô địch năm 1992, 1993, 1995, 1996, 1997. Trong năm 1996, Công ty chuyển hướng, cho rằng một tình trạng nhà nước sở hữu công ty sẽ không được hưởng lợi lâu dài nên công ty đã được tư nhân hóa một lần nữa. Renault đã đầu tư hơn nữa tại Brazil, Argentina và Thổ Nhĩ Kỳ.
Sau năm 2000, tuy thất bại với một loạt xe kém thành công như Avantime và Vel Satis, nhưng cũng tiếp tục thành công với hàng loại xe cũ như Clio, Laguna và Megane.

Read more: http://www.autoevolution.com/renault/history/#ixzz44kGHFLHk

hinh 39

Hinh 39: Renault Floride-Caravelle

Floride, còn được biết đến với cái tên Caravelle, là dòng xe thể thao 2 cửa, 2 + 2 chỗ ngồi của hãng xe Pháp Renault, được sản xuất trong giai đoạn từ 1958 – 1968.
Renault ghen tị với sự thành công phát triển ở Bắc Mỹ của dòng xe Volkswagen / Beetle quyết định tìm kiếm những phương cách để Renault có được sự thành công như hãng Volkswagen-Đức. Renault quyết định thay đổi xe Renault Dauphine của mình. Tại một hội nghị của các nhà phân phối ở Bắc Mỹ diễn ra ở Florida, người kinh doanh Renault ở Hoa Kỳ kêu gọi thành lập một Dauphine coupe / cabriolet sẽ cải thiện hình ảnh của Renault tại thị trường quan trọng của Mỹ. Chủ tịch Renault, Pierre Dreyfus đồng ý, và kể từ khi khái niệm đã được sinh ra tại một hội nghị đó ở Florida cho đến lúc nổi tiếng trong công ty gọi xe là “Renault Floride”. Tuy nhiên tên “Floride” được coi là không phù hợp với các tiểu bang khác của Hoa Kỳ, nên một tên khác, “Caravelle”bắt đầu được sử dụng cho khu vực Bắc Mỹ và các thị trường lớn khác (bao gồm cả Anh)

hinh 40

Hinh 40: Renault Caravelle sản xuất khỏang 1947-1961

hinh 41

Hình 41: Dáng hao hao giống Renault Caravelle, 1968 VW Type 3 Fastback của nhân viên Úc trong khuôn viên Tổ chức hỗ trợ quân sự của thế giới tự do ( Free World Military Assistance Organization (FWMAO), hiện nay là địa chỉ khách sạn Kỳ Hoà 238 ba tháng hai (trước 1975 Trần Quốc Toản) thuộc quận 10.

Hinh 42

Hinh 42: Xe buýt Renault 6C-2 vào năm 1951 trên đường Bonard (Lê Lợi), Saigon ?.
Trong ảnh này, phia sau xe bus, tòa nhà hát Tây –sau là Hạ Viện trước 1975 – là công trình xây cất của kiến trúc sư Pháp Eugene Ferret năm 1897.

hinh 43

Hinh 43: Renault Juvaquatre -4CV- berline trên đường Saigon 1968. Juvaquate sản xuất đầu tiên 1939, chấm dứt 1955.

hinh 44

Hinh 44: Renault Juvaquatre ảnh chụp 1969 chạy trên đường Pasteur 1969 , bên trái phía xa là Saigon xe hơi công ty, bên phải qua hàng cây cao là Vương Cung Thánh Đường –nhà thờ  Đức  Bà. Xe được sản xuất vào khoảng 1936-1948, loại xe sedan 4 chổ. Đến năm 1947-48 Juvaquatre được thay thế bằng loại xe 4CV cho đến năm 1961. Juvaquatre được hồi sinh 1950-1960 biến chế thành panel van hay station wagon với nhãn hiệu Renault Dauphinoise

hinh 45

Hinh 45: Renault Dauphinoise fourgonnette là loại xe panel van hay station wagonwagon, sản xuất từ năm 1950-1960.

hinh 46

Hinh 46: Renault Novaquatre mẫu YN2 1934, ảnh chụp 1946

Renault Novaquatre (4CV) kiểu 1934 đậu trước trường Chasse Loup-Laubat 1946 (bây giờ Lê Quý Đôn) – so với Juvaquatre, hai đèn phía trước nằm trên 2 vành bánh xe, phía sau chiếc Renault là loại xe Jeep thời thế chiến hai 1941-45.

hinh 47

Hinh 47: Renault Monaquatre 1934

hinh 48

Hinh 48: Bến Taxi ở đường Lê Lai (Boudonnet) bên hông tường ga xe lửa Saigon (bây giờ là khu khách sạn New World). Rạp hát xưa Aristo năm đối diện bến xe taxi khoảng 1950

Taxi – Renault 4CV

Renault 4CV mà người Việt gọi là xe 4 ngựa- quatre cheveaux, xe con cóc, sản xuất khoảng 1946-61 là thối thân của xe Juva Quatre và tiền thân của Renault Dauphine . Rất thông dụng thời bấy giờ và được dùng làm taxi vì xe nhỏ, nặng 620kg, rẻ tiền, thiết kế giản dị, dể sửa ,4 chỗ ngồi, máy đặt phía sau, ổ bánh phía sau, phía trước có đặt đồng hồ tính tiền. Đầu thập niên 1960s , chính phủ với chương trình “Hữu Sản Hoá” người nghèo, nhập cảng loại xe mới Renault Dauphine, bán góp cho người muốn chạy xe taxi làm kế sinh nhai. Thành phố Saigon lại xuất hiện nhiều taxi Dauphine, bên cạnh taxi Renault 4CV 750 và 760 phân khối.
Chiếc xe này cho người viết cảm giác đi taxi đầu tiên vào khoảng năm 1952-53,người tài xế cũng là người thân vừa mua xe để chạy taxi làm nghề sinh sống, cũng muốn chạy quanh thành phố cho quen nên người viết được tháp tùng. Thời VNCH, thân xe sơn hai màu-màu bơ và xanh lá cây, có mui trần được mở, nhìn lên bầu trời như chạy đua với trăng sao lùa những luồng gió mát thổi vào xoa dịu cái nóng của thành phố vừa ngả về đêm.

hinh 49

Hinh 49: Taxi Renault 4CV chạy quanh bồn nước góc đường Nguyễn Huệ và Lê Lợi khoảng thập niên 1960

Hinh 49a

Hinh 49a : Taxi mẫu 1952.

hinh 50

Hinh 50: Bến Taxi Renault CV (mẫu 1957), 2 chiếc taxi Renault 750 (747cc), bên cạnh là xe La Dalat chiếc xe hơi sản xuất đầu tiên ở Việt Nam.
Những ai đã từng đặt chân đến Sàigòn trước 1975 mà không nhớ đến những chiếc taxi Renault chạy khắp nẻo đường Sài Gòn, Chợ Lớn, Gia Định,miền Nam, chứng kiến bao nhiêu cảnh vui buồn, thương hận trước 1975. Có thể nói taxi quatre cheveaux là một thứ văn hóa của dân Saigon, miền Nam là một cái gì mới, xa lạ với người miền Bắc trước 1975.

hinh 51

Hinh 51: Renault 760 (760cc) trên đường Tự Do

hinh 52

Hinh 52: Renault 4 R4 1961, phía sau là Taxi Renault 4CV 750 (747cc)

hinh 53

Hinh 53 : Renault 4 R4

http://www.taringa.net/posts/autos-motos/11752930/Entra-Autos-Que-Quedaron-En-La-Historia-Argentinaa.html
Renault 4, còn được gọi là 4L (phát âm là “Quatrelle”) hay 4R, là loại xe không đắt, tiết kiệm (economy) mở ra phia sau (hatchback ) được sản xuất bởi hãng Renault từ năm 1961 đến 1992
Renault 4 là một thiết kế xe nhỏ sản xuất hàng loạt đơn giản nên rất phổ biến, thông dụng trong đô thị và vùng phụ cận. Đây cũng là ứng dụng đầu tiên kỹ thuật lực kéo áp dụng trên chiếc Renault chở khách Estafette vào năm 1958 (máy đặt phía trước, ổ bánh xe phía trước (front engine, front wheel drive) Cũng la kết quả sau khi khảo cứu, khai thác những ưu điểm và nhược điểm của xe Citroën 2 CV 1948 .
Xe được bắt đầu sản xuất từ tháng 8 năm 1961 đến cuối năm 1992 tại 28 quốc gia

Renault Dauphine

Dauphine sản xuất từ năm 1956 đến 1967 , loại xe thông dụng máy đặt phía sau , thân khung liền vỏ , hộp số tự động có ba số, không tự động có 3 hoặc 4 số , 4 cửa, động cơ 845 phân khối. Dauphine được đưa ra thị trường nhằm thay thế cho dòng xe rất thành công trước đó 4CV
Một số lớn Dauphine được nhập cảng vào VNCH qua chương trình Hữu Sản Hoá 1968 làm taxi. Cùng thời với Volkswagen Beetle, Morris Minor, Mini and Fiat 500, đây là những dòng xe đi đầu trong chiến lược sản xuất xe thông dụng, giá phải chăng ở Âu Châu thời bấy giờ

hinh 54

Hinh 54 Tem thư phát hành khuyến khích phong trào Hửu Sản Hóa.
Chương trình Hửu Sản Hóa
https://www.facebook.com/notes/nam-r%C3%B2m/h%E1%BB%AFu-s%E1%BA%A3n-h%C3%B3a-tr%C6%B0%E1%BB%9Bc-75-v%C3%A0-qu%E1%BB%91c-h%E1%BB%AFu-h%C3%B3a-sau-75-/483065861887422/

hinh 55

Hinh 55: Xe nhà Dauphine chạy gần dinh Độc Lập.

hinh 56

Hinh 56: Taxi Dauphine –góc Nguyễn Huệ và Lê Lợi, Tòa nhà trắng bên trái là thư viện Abraham Lincoln, phía sau là Tòa Độ Chính 1967.

hinh 57

Hinh 57: Renault –Dauphine mẫu 1956

hinh 58

Hinh 58 : Taxi Dauphine trên đường Công lý, phia sau là chiếc Chevrolet 1950s

hinh 59

Hinh 59 : Renault Fregate model 1951 trên đường Norodom (bây giờ là lê duẩn) năm 1953.

hinh 60

Hinh 60: Renault Fregate 1954 (NBF 338), Renault 4CV Taxi (NBI 992) và Volswagen Beetle NBP… trên đường Tự Do 1961.

hinh 61

Hinh 61 : Renault Fregate đường Nguyễn Cư Trinh, bùng binh Cống Quỳnh quận Nhì (giờ là Q1), phía sau xe van Renault Goelette dừng lại cho người qua đường.

hinh 62

Hinh 62: Renault 8 (mẫu 1962) Saigon 1969-70 – Ngã tư Trần Hưng Đạo-Đề Thám.

hinh 63

Hinh 63: Renault 8 Gordini -4 đèn pha phía trước , sản xuất khoảng 1964-1970

hinh 64

Hinh 64: Renault Estafette trên đường Tự Do năm 1965, phía trước van Estafette là đuôi xe Citroen DS

hinh 65

Hinh 65: Xe Van Renault Estafette được sản xuất từ năm 1959 đến năm 1980 với tổng số 533,209 chiếc- Estafette là loại xe van đầu tiên ra mắt của công ty với công nghệ ổ diã xe đặt phía trước (front wheel drive)
Thiết kế thân xe có 3 cửa phía sau (three-part tailgate) cửa trượt bên hông (sliding side door) dựa vào sự thành công của Type H van Citroën.

hinh 65a

Van estafette có ba cửa mở ra phía sau.
Sau khi xe Van Estafette tung vào thị trường năm 1959, Renault là hảng chế tạo xe hơi duy nhất trên thế giới sản xuất các loại xe với 3 kỷ thuật công nghệ khác nhau:
Má đặt trước với ổ dỉa xe đặt phía trước ( the front engined front wheel drive ) như Van Estafette, máy đặt sau với ổ dỉa xe đặt phía sau (rear engined rear wheel drive ) như dòng xe Dauphine và máy đặt trước với ổ dỉa xe đặt phía sau (front engined rear wheel drive ) như dòng xe Fregate.

hinh 66

Hinh 66: Renault Estafette và bến xe buýt Renault-Saviem màu xanh-ngà, bùng binh chợ Bến Thành 1961

hinh 67

Hinh 67: Renault Goelette fourgon 1950 của trường nữ trung học Áo tím Gia Long

hinh 68

Hinh 68: Renault Goelette chở khách hàng trên quốc lộ 1 –Saigon Mỹ tho 1968 (photo Lance Nix)

hinh 69

Hinh 69: Renault Goelette Bien Hoa 1968 và Volswagen Van có cửa sổ., phía sau cùng xe Citroen Ami 6.

Peugeot cars

Peugeot là một trong số hãng sản xuất xe hơi lâu nhất, tuy nhãn hiệu lúc đầu- không phải đó làm xe hơi- bắt đầu năm 1842 (buôn bán máy nghiền cà phê, muối và tiêu). Người đầu tiên quan tâm đến chuyện làm xe hơi là ông Armand Peugeot và sau khi gặp ông Gottlieb Daimler, chiếc xe Peugeot đầu tiên được sinh ra – loại xe ba bánh- chạy bằng hơi nước vào năm 1889 .

hinh 70

Hinh 70: the Serpollet-Peugeot, xa ba bánh với động cơ bằng hơi nước ( steam powered tricycle) 1889
Năm sau, máy chạy bằng hơi nước được thay thế bằng xe bốn bánh với máy chạy xăng của Daimler.
Sau thế chiến thứ nhất, xe hơi trở thành phương tiện cần thiết và không được xem như hàng đắt giá, công ty khá thành công với hàng loạt dòng xe chạy xăng sản xuất từ hàng Societe Anonyme Des Automobiles Peugeot , xưởng sản xuất ở Adincourt. Công ty này là công ty tách ra từ công ty mẹ đó bà anh em Peugoet thành lập. Năm 1929 dòng xe Peugeot 201 được tung ra cùng với cách định mẫu các dòng xe độc đáo về sau bằng 3 con số, với số không nằm ở giữa.

Trong thời gian thế chiến 2, Peugoet bị ảnh hưởng nặng phải sản xuất các loại xe hơi và dụng cũ chiến tranh cho Đức. Khí thế chiến 2 chấm dứt hầu hết cơ xưởng Peugeot bị phá hủy cần phải được xửa chữa vì thế đến năm 1948 Peugeot mới cho ra dòng xe mới, dòng xe 203. Thời nầy Pháp trở lại ViệtNam và cho nhập cảng loại xe này rất nhiều!
Read more: http://www.autoevolution.com/peugeot/history/#ixzz44dNoqRG9
Các dòng xe Peugeot và năm được tung ra trên thị trường
• 104 (1972), 106 (1991), 107 (2005), 108 (2014)
• 201 (1929), 202 (1938), 203 (1948), 204 (1965), 205 (1983), 206 (1998), 207 (2006), 208 (2012)
• 301 (1932), 302 (1936), 304 (1969), 305 (1977), 306 (1993), 307 (2001), 308 (2007), 309 (1985), 301 (2012)
• 401 (1934), 402 (1935), 403 (1955), 404 (1960), 405 (1987), 406 (1995), 407 (2004), 408 (2010)
• 504 (1968),
Nhung dòng xe thường thấy ở Viet Nam , nhất là Miền Nam.
Peugoet 202, 203, 302, 403, 404 and 504

hinh 71

Hinh 71: NHA TRANG 1904-1907 – Gabrielle Vassal dans une voiture – Bà Gabrielle Vassal ngồi trên xe hơi ở Nha Trang. Có thể là biến thể của dòng xe Peugeot 33 -1901

https://www.google.com.au/#q=Gabrielle+Vassal+dans+une+voiture

hinh 72

Hinh 72 : Peugeot 202 và xe vận tải nhỏ Renault trên đường Charner 1950s

hinh 73

Hinh 73: Peugeot 202 thùng, chở hàng hóa (đầu 1950s)

hinh 74

Hinh 74: Taxi renault 4 CV, Jeep, Toyota Corona, Peugeot 404 , xe Hoa Kỳ trên đường Nguyễn Huệ.

hinh 75

Hinh 75: So sánh Peugeot với Simca
Đừng nhầm lẩn Peugeot với Simca 5 hoặc 8 (1946-50) –Peugeot 202 thiết kế với hai đèn trước nằm sau vỉ sắt tản nhiệt-radiator grill.

hinh 76

Hinh 76: Simca 5 hoặc 8, hai đèn trước nằm bên trong vỉ sắt
Peugeot 202 được sản xuất từ giữa năm 1938 -1942 và rồi sau đó bắt đầu sản xuất lại cuối năm 1945 , được bán trên thị trường đến năm 1949, thì được thay thế bằng Peugeot 203.
Peugeot 202 được trang bị động cơ làm mát bằng nước 1133 cc , cho tối đa là 30 PS (22 kW) tại 4000 rpm và tốc độ tối đa khoảng 100 km / h (62 mph).
Máy gắn phía trước tới bánh sau thông qua hộp số 3 tốc độ . Nhiên liệu được dẩn qua van trên cao , tại thời điểm đó đối thủ cạnh tranh rõ ràng nhất là Renault tung ra chiếc Renault Juvaquatre, vẫn cung cấp nhiên liệu qua van bên cạnh máy.

hinh 77

Hinh 77: Peugeot 302. Để ý sự khác biệt bên hông xe và kính trước.

Peugeot 302 là tiền thân của 202. Được giới thiệu tại Paris Motor Show 1936 và chỉ sản xuất trong 18 tháng, cho đến tháng tư năm 1938. Động cơ bốn xi lanh 1.758 cc làm mát bằng nước , tương tự như động cơ được trang bị cho peugeot 402, với tốc độ tối đa 105 km / h (65 mph).

hinh 78

Hinh 78: Peugeot 402 B.E 1939

hinh 79

Hinh 79 : Peugeot 203 , VW Kombi, Peugept 404, Simca Aronde góc đường Tự Do và Lê Lợi, bên hông khách sạn Continental Saigon 1968 – Photo by John F. Cordova – Café Givral bên trái và Continental Palace Hotel bên phải

Peugeot Taxi

Hinh 79a : Peugeot 203 taxi

hinh 80

Hinh 80: Peugoet 203 có thùng, dùng làm xe cứu thương và chở hàng nằm trong kho thương cảng Saigon 1951.

hinh 81

Hinh 81: Peugeot 203 Familiale khoảng đầu thập niên 1950s, 3 hàng ghế, chở đến 6 người.

hinh 82

Hinh 82: Peugeot 203-1955

hinh 83b

Peugoet 203 (late 1940s) Peugeot 1950s và Traction Legere 11
Hinh 83: Peugeot trên đường quê, thời Pháp thuộc trước 1954

hinh 84

Hinh 84: Peugeot 403 sản xuất từ 1955 đến 1966, với kiểu Pininfarina với 1468cc. Chiếc xe này hiện được trưng bày trong phòng triển lãm ở Saigon.

hinh 85

Hinh 85: Peugeot 403- 1960

hinh 86

Hinh 86: Peugeot 403 trên đường Tự Do, trước Hạ Viện 1968 (bây giờ nhà hát Thành phố)

hinh 87

Hinh 87: Peugeot 403 trên đường Thống Nhất, trước dinh Độc Lập

hinh 88

Hinh 88: Peugeot 403 trước Vương Cung Thánh Đường 1966 (Tom Briggs)

hinh 89

Hinh 89: Peugeot 404 trên đường Nguyễn Huệ

hinh 90

Hinh 90: Peugeot 404 SAIGON 1971 – Ngã tư Đoàn Thị Điểm – Phan Đình Phùng
Nay là ngã tư Trương Định – Nguyễn Đình Chiểu – Photo by Dick Leonhardt

hinh 91

Hinh 91: Peugeot 404 station wagon

hinh 92

Hinh 92: Peugeot 404-1964 hiện được trưng bày trong bảo tàng viện xe cổ ở Saigon.

http://www.thetruthaboutcars.com/2012/09/no-credit-no-problem-uncle-hos-used-cars-has-a-low-mile-zis-for-you/#comments

hinh 93
Hinh 93: Ford Fairlane 500 model 1957, Peugeot 404 1960 and Renault 12TS (1970s) hay Peugeot 504 trên đường Tự Do trước Hạ Viện (bây giờ Nhà hát thành phố)

hinh 94

Hinh 94: Peugeot D3A Camionette 1954 trên đường Phan Đình Phùng.

Citroen cars

hinh 94a

SOCIÉTÉ ANONYME DES ÉTABLISSEMENTS BAINIER
21, bd Bonard và 100-102, bd Charner
Traction Avant, tiếng Anh là front-wheeled drive –FWD-lực kéo xe đặt ổ bánh phía trước được thiết kế bởi hai ông André Lefebvre và Flaminio Bertoni khỏang cuối năm 1933, đầu năm 1934. Tuy không phải là những người sản xuất FWD đầu tiên (xe Alvis được thiết kế FWD năm 1928 ở Anh, L29 từ năm 1929-1932 tại Hoa Kỳ và DKW F1 năm 1931 tại Đức) Traction Avant áp dụng công nghệ FWD vào khung liền vỏ – unitary body. Cùng với dòng xe DKW 1930s của Đức, Traction tiên phong trong công nghệ FWD được tung lên thị trường sản xuất xe khối ở Âu Châu (European mass car market).
Trong năm 1930, hãng Citroen đã đấu tranh để cạnh tranh với các hảng đối thủ như Peugeot và Renault. Andre Citroen nhìn thấy công ty của ông cần một thiết kế mới với tiềm năng cách mạng hóa ngành công nghiệp xe hơi. Ông sang Mỹ và tìm được cảm hứng ấy sau khi thăm viếng Tổng công ty Budd tại Hoa Kỳ. Nơi đây ông chứng kiến xe hơi được thiết kế theo kiểu khung liền vỏ (vỏ xe ̣không phải là vỏ bánh xe -tiếng Anh Unitary Body or Unibody), kết cấu thân xe và khung xe (chassis) vào một đơn vị nhẹ. Thiết kế của công ty Budd bao gồm sáng kiến mới, đặt máy xe (engine) và bộ phần truyền tải (transmission) phía trước của xe, lợi thế công nghệ này làm nội thất xe rộng hơn, trung tâm trọng lực gravity thấp hơn và như vậy giúp cho việc xử dụng xe hoàn hảo (superior) hơn.
Cấu trúc Traction Avant dựa trên khung và vỏ sườn hàn lại với nhau-gọi chung là khung vỏ như đã nói trên. Hầu hết các xe khác của thời đại này dựa trên một khung riêng biệt (chassis) và vỏ (thùng) xe được hàn vào. Công nghệ khung vỏ –unibody or unitary body thân đơn nhất- đưa đến kết quả sản xuất xe nhẹ hơn, và vì thế công nhiệp này được sử dụng cho hầu như tất cả các công trình xe sedan về sau.
Mẫu Traction Avant ban đầu là một saloon nhỏ với 2.910 mm (115 in) chiều dài và 1.303 cc (79.5 cu in) động cơ, mô hình này được gọi là 7A. Chỉ sau 2 tháng, với khoảng 7.000 xe được sản xuất, 7A được nối tiếp trong tháng sáu năm 1934 bởi dòng xe 7B với động cơ 1.529 cc với hai cần gạt nước (screen wipers) thay vì một gạt nước duy nhất của dòng xe 7A . Dòng xe 7Bs được thay thế bởi dòng xe 7C mạnh hơn với động cơ 1628cc
Mẫu xe về sau dòng 11 (tung ra tháng 11, 1934) với 1,911 cc (116.6 cu in) bốn xy lanh và dòng 15 (tung ra khoang tháng 6, 1938), với 2,867 cc với 6 xy lanh. Dòng 11 có hai kiểu 11BL (“légère”, or “light”), có cùng kích thước với dòng 7 CV, và 11B (“Normale”, or “normal”) với bánh xe (wheel) to hơn và bề ngang bánh xe rộng hơn.
Nhin qua, không thấy sự khác biệt to lớn giữa 7CV và loại sinh sau 11CV và 15CV, tuy vậy những dòng xe này được thiết kế hài hòa, thú vị, được ham chuộng thời ấy, mặc dù không phải là loại xe có chiến lược viễn kiến Traction Avant trở thành một trong những dòng xe đặc biệt nhất, mở màn cho những loại xe sinh nửa thế kỷ sau-dòng xe “cách mạng” Citroën DS.

Các dòng xe Citroen và thời gian sản xuất

Citroen 7CV –1934-41
Citroen 11CV -1934-57
Citroen 15CV-1938-56
Citroen DS 19-1955
Citroen DS 21-1970
Citroen DS 23-1973

hinh 95

Hinh 95: Citroen cổ xưa AC4 model 1927-đậu trước hảng xăng dầu Shell , góc đường Norodom-Luro (Thống Nhất Cường Để thời VNCH sau nầy Lê duẩn-Tôn đức thắng), công ty được thành lập đầu thập niên 1930s với tên Companie Franco Asiatique des Petroles

hinh 96

Hinh 96 : Xe xưa Citroen, Peugeot và Renault, góc đường Catinat (Đồng Khởi ) và Bonard ( Lê Lợi) phía trước nhà hát Thành Phố-bên hông là công viên Garnier trước 1954. (Manhhai photo albums)

hinh 97

Hinh 97: Traction 11B Cabriolet RHD 1937 và Traction 11B Sedan 1937

hinh 98

Hinh 98: Traction Avant 11B –cabriolet 1937 tân trang đậu trên đường phố Saigon

hinh 99

Hinh 99: Traction Onze BL 11 (Legere=nhẹ) bên phải và Traction 11 màu trắng bên trái với thùng xe phía sau to gấp đôi được giới thiệu với kiểu xe 1952 (Ra mắt vào tháng năm 1934), 1.911 cc , động cơ bốn xy-lanh.

hinh 100

Hinh 100: Citroen traction-avant 11 model 1953.

hinh 101

Hinh 101: Xe Citroen và Vedette đậu ở góc đường Lê Lợi và Pellerin (Pasteur) ngày xưa có khu giải trí và rạp hát Casino Saigon

hinh 102

Hinh 102: Traction 15 ra mắt tháng 6 năm 1938 với 2,867 cc, sáu xy lanh

hinh 103

Hinh 103: Chiếc xe Traction 11 đậu trước nhà hàng Sing Sing, phía sau xe Traction là ngã tư Phan Đình Phùng & Đoàn Thị Điễm.

hinh 104

Hinh 104: Traction 11 xưa trên đường phố Saigon 1969

hinh 105

Hinh 105: Traction 11 kiểu sau 1935, chỉ có một ống bơm xăng và có thể mở cóp sau để chứa đồ. Traction sản xuất trước 1935 có 2 ống bơm xăng 2 bên.

hinh 106

Hinh 106: Traction Onze BL (legere) mẫu 1937

hinh 107

Hinh 107: Citroen đậu tại bến xe lô-ca-xông đường Phạm Ngũ Lăo gần Chợ Bến Thành năm 1969.Người Saigon một thời dùng xe này như xe khách, gọi là xe lô-ca- xông (location).

hinh 108

Hinh 108: Xe traction đậu trên đường Bonard (Lê Lợi)  năm 1953- Chiếc đầu là custom-made (làm theo kiểu đặt hàng) traction avant  Onze 11, sau đó là chiếc traction 11, kế tiếp là Renault Monaquatre.

Citroen DS
Citroen tung vô thị trường loại xe DS thay thế Traction Avant 11.Mẫu đầu tiên DS 19 được tung ra năm 1955, trong khi dòng ID rẻ hơn, máy yếu hơn được tung ra năm 1957. Dòng xe DS và ID luôn luôn được cái thiện trong suốt quá trình sản xuất 20 năm. Đầu tiên DS 19 với 1911 phấn khối- mang qua từ Traction Avant, sau đó được thay thế bởi DS 19a với 1985 cc (phấn khởi) năm 1965 (còn gọi là DS 20 từ năm 1969). Cùng năm DS 21 được tung ra với 2175 cc, máy mạnh hơn nhờ bộ phận phun nhiên liệu cửa hãng Bosch được gắn vào xe đầu tiên năm 1970. DS 21 trở thành một trong những loại xe đầu tiên bán trên thị trường khối (mass market) với bộ phun nhiên liệu điện tử năm 1970.
Sau cùng dòng DS 23 được giới thiệu vào năm 1973 với lòng máy 2347 cc, với 2 lựa chọn với bộ máy hòa khí (carburator) hay bộ máy phun nhiên liệu điện tử. Dòng DS 23 với bộ máy phun khi là dòng xe mạnh nhất sản xuất 141 hp (105 kW). Cũng nên biết 1Hp=.7457Kw

hinh 109

Hinh 109: Hinh quảng cáo DS 19, năm 1957, trước cổng Lăng Tả quân Lê Văn Duyệt
http://www.dsinasia.com/Vietnam/history.html

hinh 110

Hinh 110: Citroen DS 19 trên Bến Bạch Đằng (Tôn đức thắng) góc đường Hàm Nghi, tòa nhà là trụ sở Tổng Cục Quan thuế trước 1975- Trong ảnh có thể nhìn thấy cả xe taxi Dauphine và Peugoet 203. Ảnh chụp khoảng cuối thập niên 1960s.

Khi Citroen tung DS 19 năm 1955 vào thị trường báo chí thời bấy giờ ca ngợi chiếc xe này như được thiết kế từ một hành tinh nào đó trong vũ trụ.
Hệ thống nhúng treo thuỷ khí (Hydro-pneumatic suspension), Hệ thống phù trợ cho tay lái (assistance systems for the steering), thằng –phanh (brakes) và cần đổi số (gearshift lever), and inboard đĩa thắng trước (inboard front disc brakes) là những tiến bộ tiền phong của loài thiết kế đặc biệt-khác thường này.

hinh 111

Hinh 111: Citroen DS 19 series đậu trước hội trường Diên Hồng- trụ sở Thương Nghị Viện thời Việt Nam Cộng Hoà (bến Chương Dương)-bây giờ là Sở Giao dịch Chứng khoán ( 45-47 Bến Chương Dương, Quận 1)- trong thời gian hội nghị Colombo.

hinh 112

Hinh 112: DS 19 đậu trước khách sạn Continental

hinh 113

Hinh 113 : DS 19 trên quốc lộ 1 Saigon–Trung Lương 1968 (Lance Nix)

hinh 114

Hinh 114: DS 21 and DS 19 tại Càphê 30/4 trong khuôn viên Định Độc Lập (Hội trường Thông Nhất bây giờ) đường Huyền Trân Công Chúa.

hinh 115

Hinh 115: DS 23 là loại xe DS hiếm thời bấy giờ, chiếc nầy được đồn đại là của Tổng Thống Thiệu, Đệ Nhị Cộng Hoà, sau lọt vào tay tướng Trán văn trà.

Những tính năng như hệ thống nhúng treo tự cân bằng, đèn pha hướng, phanh trợ lực( power brakes) và trợ lực tay lái- power steering (tất cả được điều khiển bởi hệ thống thủy lực treo ( hydraulic suspension) xác nhận vị trí Citroen một lần nữa ở đỉnh cao của sự sáng tạo xe hơi thời bấy giờ.

DS 21 (1968-1975)
DS 21 đến thị trường 16 năm sau DS19, về cơ bản là một cải thiện quan trọng của dòng xe DS. Sự khác biệt kỹ thuật chủ yếu là động cơ công suất lớn hơn DS 19 và là một trong những Citroëns đầu tiên với hệ thống phun nhiên liệu.
DS 23
Với động cơ 2347cc đến trong cả hai hệ thống phun nhiên liệu fuel injection và các hình thức dùng bộ chế hòa khí carburetor. Các mẫu xe dùng hệ thống phun nhiên liệu điện tử đã sản xuất DS mạnh nhất mọi thời đại, với 143 HP. Các dòng DS biến thể (variant) mới nhất này đi kèm với sự lựa chọn loại hộp số: một bốn số tự động gọi là “HYDRAULIQUE” (four-speed automatic called “Hydraulique”), một ba số tự động từ Borg-Warner và hai không tự động (manuals) với hộp số gồm 4 hoặc 5 tốc độ (4 or 5 speeds)
(http://www.autoevolution.com/cars/citroen-ds23-1973.html#aeng_citroen-ds23-1973-23-117-hp)
Chú ý Citroen tung lên thị trường dòng xe DS bên cạnh dờng ID được tung ra thị trường nội địa Pháp với giá rẻ hơn. Tuy bề ngoài khó phân biệt, ID có lòng máy nhỏ hơn nên công xuất yếu hơn cộng với bộ thằng đĩa không tân tiến.

Citroen 2 CV (citroen deux cheveaux)-xe con coc

Citroen 2CV (tiếng Pháp: “deux chevaux” tức là “deux chevaux-VAPEUR” (dịch nghĩa “hai con ngựa hơi”, hay tax hores power “hai thuế mã lực”) là một FWD (Front Wheel Drive) ổ đĩa bánh trước , máy mát bằng không khí, xe được giới thiệu tại hội chợ 1948 Paris Mondial de l’Automobile , Citroën sản xuất năm mẫu xe trong khoảng thời gian 1948-1990.
Được thai nghén bởi Phó Chủ tịch Pierre Boulanger nhằm cơ giới hóa số lượng lớn nông dân vẫn còn sử dụng ngựa và xe ngựa kéo trong năm 1930 Pháp, 2CV được ghi nhận từ sự kết hợp tối đơn giản về kỹ thuật sáng tạo và tiện dụng, đơn giản thân xe bằng kim loại – khởi thủy uốn như tôn vượn sóng làm tăng thêm sức mạnh cho thân xe mà không cần thêm trọng lượng. 2CV đặc trưng với giá bình dân, chi phí thấp, bảo trì và vận hành, một động cơ làm mát bằng gió ,tiêu thụ nhiên liệu thấp, và một hệ thống nhúng treo, nhẹ nhàng off-road, sàn xe cách cao mặt đất , và điều chỉnh chiều cao hệ thống nhúng bằng cách kéo dài / rút ngắn của thanh kéo (tie rods) . Thường được hóm hỉnh, thân mật gọi “một chiếc ô-dù trên bánh xe”. 2CV có điểm nổi bật là mui trần có thể mở cuốn lại (canvas, rolled back sun roof) kéo dài tới gần cản sau của xe, cho phép xe tải vật dụng quá khổ.
Sản xuất tại Pháp giữa năm 1948 và 1989 (và cuối cùng hai năm ở Bồ Đào Nha 1989-1990), hơn 3,8 triệu 2CVs đã được sản xuất, cùng với hơn 1,2 triệu xe tải thùng nhỏ giao hàng 2CV được biết đến như Fourgonnette. Citroen cuối cùng đưa ra một số dòng xe biến thể giống nhau về cơ học bao gồm cả dòng Ami (hơn 1,8 triệu chiếc); các Dyane (hơn 1,4 triệu chiếc); các Acadiane (trên 250.000 chiếc); và Mehari (hơn 140.000 chiếc ). Tổng cộng, Citroën sản xuất hơn 8,8 triệu “A Series” xe, gồm các biến thể 2CV được biết đến.
Một đánh giá kỹ thuật 1953 của tổ chức Autocar (Anh) mô tả “sự khéo léo phi thường của thiết kế này, mà chắc chắn là độc đáo nhất kể từ Model T Ford của Henry Ford ở Mỹ”. Năm 2011, The Globe and Mail (Canada) gọi đó là một “chiếc xe độc nhât không có đối thủ”.

hinh 116

Hinh 116: Citroen 2CV Mẫu 1959 và mẫu 1962.

hinh 117

Hinh 117: Citroen mẫu 1970 và Citroen mẫu 1955.

hinh 118

Hinh 118: Citroen 2CV mẫu 1955 chạy trên Bến Chương Dương–đầu đường Tự Do

hinh 119

Hinh 119:Citroen 2 CV fourgonnette AU 1951-1962

hinh 120

Hinh 120: Citroen 2 CV sedan và Citroen 2CV fourgonnette AU 1951-1962 chạy phía trước góc Tự Do và công trường Lam Sơn.

hinh 121

Hinh 121: 1966 Citroen Ami 6 Berline Sedan

hinh 122

Hinh 122: Ami 8 1971

Citroen Ami được tung ra thị trường ngày 25 tháng 4 năm 1961, bốn tháng trước Renault 4 R 4 (xem hinh 50). Cả Renault 4 và Citroen Ami đáp ứng nhu cầu thị trường cần một chiếc xe hơi cỡ lớn hơn và it mộc mạc hơn 2CV. Ami là một 2CV với thân xe được làm lại , máy lớn hơn so với 1950 2CV), để bù đắp cho trọng lượng tăng thêm. Lúc tung ra trên thị trường, xe được trang bị máy làm mát bằng không khí với 602 cc hai xy-lanh động cơ phẳng.
Bộ khung chính và hệ thống nhúng treo tương tự như 2CV. Ghế của Ami dễ dàng tháo rời. Citroen Ami loại xe siêu nhỏ (supermini) được sản xuất từ năm 1961 đến năm 1978, là một trong số năm mẫu xe bán chạy nhất tại Pháp. Sản xuất đạt 1.840.396 đơn vị. Amis được thay thế bằng Visa Citroen từ năm 1978.
Cũng nên biết, ở Pháp biệt danh 3CV còn được dùng cho dòng xe Ami 6, nhưng không bao giờ được áp dụng cho dòng Ami 8.

hinh 123

Hinh 123: Citroen Ami 6 trên đường Lê Lợi –công trường Lam Sơn 1971

Xe La Dalat-Xe hơi sản xuất đầu tiên ở VietNam.

hinh 124

Hinh 124: Xe La Dalat-xe hơi sản xuất từ Việt Nam lần đầu tiên với sự yểm trợ công nghệ từ Citroen. Ảnh chụp “Saigon June 1974 – Hàm Nghi boulevard” by Jack Garofalo-Paris Match via Getty Images, và giao lộ Tôn Thất Đạm) (https://www.facebook.com/photo.php?fbid=872558386132787&set=g.865130223501356&type=1&theater)

hinh 125

Hinh 125: Các kiểu xe La DaLat
http://saigoneer.com/saigon-technology/3129-made-in-vietnam-la-dalat

Sau thế chiến thế nhất, công ty Ford tung ra loại xe hơi thực dụng – rẻ tiền, để đáp ứng nhu cầu di chuyển của dân Mỹ- Ford Model T2. Sự thành công của Ford Model T2 do tài sáng tạo thiên tài của Henry Ford qua công nghệ sản xuất dây chuyền. Ford Model T được bầu là xe có ảnh hưởng nhất của thế kỷ 20 trong cuộc thi Car of the Century-Xe hơi của thế kỷ năm 1999, trước các dòng xe BMC Mini, Citroën DS, và Volkswagen Type 1
(https://en.wikipedia.org/wiki/Ford_Model_T)
Cũng thế, để đáp ứng nhu cầu về phương tiện di chuyễn của dân Pháp sau thế chiến 2 , Citroen đã tung ra thị trường chiếc xe 2CV, sau khi gặt hái thành công trong việc sản xuất một chiếc xe rẻ tiền, bền bỉ, bảo trì và sửa chửa dễ dàng, thực dụng cho dân chúng thời hậu chiến. Citroen tiếp tục tung ra Citroën Dyane 6 và Méhari sản xuất cuối thập niên 50 và đầu thập niên 60. Xe Citroën La Dalat sản xuất ở Việt Nam là loại xe căn bản dựa trên kiểu Citroën Baby Brousse sản xuất ở Côte d’ivoire, dựa theo kiểu xe Méhari.
Như đã biết Citroen đã xuất hiện ở Đông Dương (Indochine) từ đầu thập niên 1930s qua các đại lý, nổi tiếng nhất là Công Ty Bainier ở góc đường Bonard và Charner. Từ năm 1937, quyền đại lý cho Citroen chuyển qua cho Công Ty Saigon-Citroen của ông Henri Hospital ở 37 Lê Thánh Tôn.

hinh 126

Hinh 126: Cơ xưởng sản xuất La Dalat ở Bến Vân Đồn 1971.

Từ năm 1971 Xe La Dalat được lắp ráp sản xuất tại Bên Vân Đồn (đường Tôn Thất Thuyết) nơi tọa lạc của hãng thuốc lá Bastos ngày xưa.
Xe hơi Citroen Công Ty đổi về địa chỉ Establishments Le Comte ở đường Thống Nhất (bây giờ Diamond Plaza) rồi biến thành Saigon Xe hơi Công Ty là nơi trưng bày, bán sản phẫm Citroen và xe La Dalat.
Đầu tiên Citroen nhập cảng vào Việt Nam những bộ phận chính như máy, tay lái, bộ nhúng, bộ thắng… Phần còn lại như đèn, kèn báo hiệu, ghế, giàn đồng, mui xe được chế tạo tại Việt Nam. Lúc tung ra thị trường vào năm 1970, tỷ lệ cơ phận nhập cảng so với cơ phận nội địa là 75/25 cho đến năm cuối cùng khi hảng Citroen đóng cửa vào năm 1975 là 60/40. Có tất cả là 4 kiểu La Dalat: loại 4 chổ ngồi hoặc 2 chổ ngồi với thùng chở hàng (hinh 122).

hinh 127

Hinh 127 : Citroen Mehari

Delahaye cars

hinh 128

Hinh 128: Quảng cáo xe Delahaye của công ty Bainier, Saigon

hinh 129

Hinh 129: Delahaye 235 mẫu 1951-54

Hãng xe hơi Delahaye do Emile Delahaye thành lập từ năm 1894 tại Tours, Pháp. Năm 1896, xe Delahaye tham gia cuộc đua Paris–Marseille–Paris và đứng hạng 8 với tốc độ trung bình 20 km/giờ. Một thành tích đáng nể vào thời đó.
Hiệu xe Delahaye chấm dứt hoạt động năm 1954 nhưng đã để lại một tiếng vang khá lớn trong giới yêu xe cổ. Nổi bật nhất là ca sĩ Elton John với chiếc Delahaye 178 Drophead Coupé được sản xuất năm 1949.
Không thấy dấu vết của loại xe này tồn tại ở Vietnam.

hinh 130

Hinh 130: Xe Delahaye của ca sĩ nổi tiếng người Anh, Sir Elton John.

Phụ Lục:

Bằng cấp lái xe của người viết 1968.

Bang Cap lai xe hoi 1968

Citroen 11

Citroen, xe hơi đầu tiên thiết kế với ổ bánh lái phiá trước (Front Wheel Drive FWD), năm 1934 là chiếc xe Citroen Traction Avant (FWD) nguyên mẫu (prototype) với máy 1300 cc trên thân khung liền vỏ (unibody). Mặc dầu thành công với Citroen 7, Andre Citroen yêu cầu kỹ sư của ông cưa chiếc 7 ra làm đôi và làm bề ngang rộng thêm khoảng 12 cm . Dòng xe thứ nhất ra đời vẫn với 1300cc cho công xuất 23,5kW (32 Hp), so với trọng lượng xe 1000kg, máy hơi yếu. Dòng xe thứ hai ra đời máy mạnh hơn với công xuất 26.5 kw (36hp) 1628 cc và cuối cùng với 1911 cc cho ra công xuất 34 Kw (46 hp) cho đến hết đời của traction 11 năm 1957.

Đặc điểm công nghệ, máy, bộ hợp ly (clutch) và bộ hộp số có thể tách rời ra bộ phận riêng làm cho việc bảo trì, sửa chữa dễ dàng, ổ bánh trước (FWD) với nhúng treo độc lập, chiếc xe có chiều dài nên trọng lực thấp, sàn thấp làm cho xe dễ lái và bắt đường (road holding).

Vì khả năng dễ lái và chạy nhanh Traction 11 rất được yêu thich và phổ biến trong giới xã hội đen(gangster), nên còn được mệnh danh là xe của dân xã hội đen.
Citroen hầu hết sản xuất loại sedan 4 cửa, nhưng cũng có một số ít mẫu Coupe và roadster.

hinh 131

Hinh 131: Trái, Traction 7; Giữa, Traction 11 ; Phải, Traction 15

Renault 2CV

Trích từ http://hoangkimviet.blogspot.com.au/2013/05/xe-con-coc-citroen-2-cv.html
Cuộc phiêu lưu Paris-Tokyo bằng 2 CV

hinh 132

Thập niên 50 có hai người pháp gốc Lyon tổ chức một chuyến đi từ thủ đô Pháp Quốc, Paris đến Tokyo, nước Nhật Bản băng qua 2 lục địa, châu Âu và châu Á. Chuyến đi khởi hành ngày 2 tháng tám 1956 và đến Tokyo ngày 19 tháng tư 1957 với đường về không ngưng nghỉ trong một tháng trên một chiếc xe Citroën 2 CV kiểu A sản xuất năm 1939.

hinh 133.jpg

Với 9 tháng thám hiểm trên các nẻo đường. Jacques Cornet và Georges Kim đã chứng kiến từng khuôn mặt thay đổi trên những chặng đường đi qua. Vừa có tính cách mạo hiểm đầy thể lực mà cũng là kinh nghiệm cho con người. Họ đã quan sát và nhìn tận mắt những phong tục tập quán, những chế độ chính trị, những phong cảnh của Á châu đầy cảm xúc. Mổi một quốc gia mà họ đi qua, để lại hàng lớp những bất ngờ, điều tốt và xấu, những tai nạn năng nề hoặc dí dỏm nhẹ nhàng.

hinh 134.jpg

Họ đã chống chỏi với thiên nhiên, vượt qua những chặng đường chưa có xe cộ lưu thông hoặc những chặng đường biến mất trong những cơn lũ dưới những cơn mưa tầm tã của vùng nhiệt đới.

hinh 135.jpg

Họ cũng hưởng được những sự tiếp đón nồng hậu của các sắc dân á châu, chia xẽ cuộc sống với những dân du mục trên sa mạc và củng hưởng những xa hoa tráng lệ của những nhà triệu phú.

hinh 136.jpg

Trên đường về, thật là một cuộc chạy đua với thời gian đã đưa họ về đến Paris dưới 1 tháng, sự hư hỏng máy móc nhiều khi làm họ khốn đốn trên sa mạc. Khi họ khởi động lại được cổ máy để tiếp tục con đường, nhờ vào trí thông minh tháo vát và năng động, họ vẫn thành công bắt chiếc xe phải hoạt động và đưa họ trở về nhà.

hinh 137.jpg

Đại lý hảng xe hơi ỏ Hà Nội.

Nguồn :https://36hn.wordpress.com/2015/07/24/xe-hoi-va-cac-hang-xe-o-ha-noi-xua/

ha noi auto hall

ha noi sim ca

(http://tranthanhnhan1263.blogspot.com.au/)

ha noi hang peugeot

Tham Khảo:

http://saigon-vietnam.fr/
http://stubs-auto.fr/
http://www.hemmings.com/

Citroën 2 CV

http://www.avant-train-latil.com/hanoi.php
http://www.antiqbrocdelatour.com/
http://www.dsinasia.com/Vietnam/history.html
http://www.flickriver.com/photos/photiste/8169524851/
http://motoburg.com/549-citroen-type-a-tourer.html
1949 Delahaye Type 178 Drophead Coupe - Elton John car - rvr
http://belleindochine.free.fr/Automobile.htm
http://www.renaultoloog.nl/autos-francais.htm
https://en.wikipedia.org/wiki/
http://www.entreprises-coloniales.fr
http://www.erclassics.fr/voitures-francaises-de-collection.php
https://www.flickr.com/photos/13476480@N07/albums (manhhai albums)
British family cars of the fifties . Michael Allen
Martin Buckley and Chris Rees .The Complete Illustrated Encyclopedia of Classic Cars
David Lillywhite et al. The Encyclopedia of Classic Cars

http://hoangkimviet.blogspot.com.au/2013/05/xe-con-coc-citroen-2-cv.html

Y Nguyen  Mai Tran 4/2016

Xem phần 2-Xe cổ điển không phải từ Pháp ở miền Nam trước 1975

Xem phần 3-Xe chở khách miền Nam trước 1975


Việt Nam và Thế Vận Hội trước 1975

Việt Nam và Thế Vận Hội trước 1975

Mai Trần –Y Nguyên

 

Việt Nam tham dự Thế Vận Hội lần đầu tiên năm 1952 tại Helsinki, Phần Lan.  Phái đoàn lực sĩ Việt Nam mang chuông đi đánh xứ người dưới quốc kỳ cờ vàng ba sọc đỏ.  Tưởng cũng nên nhắc lại cờ vàng có từ thời Hai bà Trưng (40) thời Gia Long (1802).

Sau khi được Nhật trả lại độc lập, vua Bảo Đại cử Trần Trọng Kim (1), vị thủ tướng Việt Nam đầu tiên (từ 17  tháng 3,1945 – 23 tháng 8, 1945)  chọn cờ quẻ ly, quốc kỳ của Đế Quốc Việt Nam, mặc dù  Nam kỳ (Cochinchina) vẩn còn là thuộc địa của Pháp.

Cờ Quẻ LY

Cờ quẻ ly (Trần Trọng Kim 8 tháng 5 – 30 tháng 8, 1945)

Đến năm 1948 thủ tướng Nguyễn văn Xuân ra sắc lệnh ngày 2/6/1948 qui định “Biểu hiệu Quốc Gia là một lá cờ nền vàng, chiều ngang bằng 2/3 chiều dài, giữa có ba sọc đỏ đi suốt lá cờ, rộng bằng 1/15 chiều dọc và cũng cách bằng nhau chừng ấy” trong khung cảnh đang đàm phán Hiệp ước  Elysée (Elysée Accords) trao trả độc lập cho Việt Nam.  Hiệp định này được ký kết ngày 8/3/1949 tại điện Elysée, Paris  giữa vua Bảo Đại và Tổng Thống  Pháp Vincent Auriol.  Sau hiệp định Geneve (Geneva Accords) 20 tháng 7 1954 chia đôi đất nước, cờ Việt Nam nền vàng ba sọc đỏ trở thành cờ Việt Nam Cộng Hoà.

Cờ Vàng ba sọc đỏ

Cờ vàng 3 sọc đỏ từ tháng 2, 1948 – 30 tháng 4, 1975

Việt Nam  tham dự Thế Vận Hội dưới màu cờ vàng ba sọc đỏ lần đầu tiên năm 1952 tại Helsinki , thủ đô Phần Lan và các Thế Vận Hội tiếp theo –Melbourne, Úc 1956; Rome, Ý 1960; Tokyo, Nhật Bản 1964;Mexico, Mễ Tây Cơ 1968  và Munich, Tây Đức 1972.

Việt Nam và Thế Vận Hội Helsinki, Phần Lan 1952

Khai mạc: 19 tháng 7 1952
Kết thúc: 3 tháng 8 1952

Tuyên bố độc lập ngày 6/12/1918 từ Nga, Phần Lan được uỷ quyền tổ chức Thế Vận Hội 1940, nhưng vì chiến tranh thế giới hai, phải hoản lại đến 1952.  Việt Nam lần đầu tiên tham dự Thế Vận Hội tổ chức tại thủ đô Helsinki, Phần Lan. Tuy tình hình chính trị và chiến tranh vẩn còn xôi động, chính phủ Nguyễn Văn Tâm  gởi một phái đoàn nam lực sỉ gồm có 8 người tranh tài trong các bộ môn bơi lội, điền kinh (athletics), quyền Anh (boxing) và đua xe đạp (cycling).

Tuy với dân số hơn 4 triệu, Thế Vận Hội đã thành công trong bầu không khí “Chiến Tranh Lạnh” với 4932 (4411 Nam, 521 nữ) lực sỉ tham dự từ 69 quốc gia/lảnh thổ.

Bản Đồ Phần Lan

http://www.sports-reference.com/olympics/summer/1952/

Cờ VN Helsinki

Cờ VN phất phới tại Thế Vận Hội Helsinki 1952

Vận Động Trương va Huy Chuong Helsinki

Bieu tương và đuoc Helsinki 1952

Cờ VN canh My và Phan Lan

Cờ Việt Nam bên cạnh cờ Mỹ và Phần Lan

 

Thành phần lực sỉ tham dự

Tên Giới Tính Tuổi/Ngày Sanh Bộ Môn
Lê Văn Phước Nam 22/15  tháng 10 1929 Đua xe đạp Đường trườngCá nhân 190.4kmĐồng đội 190.4km
Châu Phước Vinh Nam 25/8  tháng 5 1927 Đua xe đạp Đường trườngCá nhân 190.4kmĐồng đội 190.4km
Lưu Quần Nam 27/19 tháng 6 1925 Đua xe đạp Đường trườngCá nhân 190.4kmĐồng đội 190.4km
Nguyễn đức Hiền Nam 27/14 tháng 11 1925 Đua xe đạp Đường trườngCá nhân 190.4kmĐồng đội 190.4km
Nguyễn văn Phan Nam 23/30 tháng 6 1929 Bơi lội 100m tự do;400m tự do
Tiến Vinh Nam 31 Quyền Thuât Quyền Anh hạng gà (bantamweight)
Tôn Thất Hải Nam 16/16 tháng 7 1935 Kiếm thuật Epée (kiếm ba cạnh)
Trần văn Lý Nam 25/20 tháng 2 1927 Điền kinh Chạy 10.000m

 

Việt Nam không được huy chương nào (cả 4 cua rơ đều bỏ cuộc) nhưng phái đoàn Việt Nam được hoan nghinh nhiệt liệt khi diển hành trong lễ khai mạc tại vận động trường The Olympiastadion Helsinki.

Tôn That Hải 1952

Tôn Thất Hải, lực sỉ trẻ nhất phái đoàn (16 tuổi), tranh tài bộ môn Kiếm ba cạnh (epée)

Cua rơ  Nguyễn Đức Hiền sinh năm 14/1/1925 tại Châu Đốc. Năm 20 tuổi, Nguyễn Đức Hiền lên Sài Gòn làm thư ký bưu điện và đầu quân cho đội URAGO, sau đó là các đội STELLA, Độc Lập… Trong những năm từ 1949 đến 1956, ông là một trong những tay đua luôn có thứ hạng cao trong các cuộc đua ở Sài Gòn. Đặc biệt, Nguyễn Đức Hiền cùng các cua rơ  Châu Phước Vĩnh, Lê Văn Phước và Lưu Quần đã được vinh dự tham gia Thế Vận Hội Hensinki năm 1952 bô môn đua xe đạp đường trường cá nhân và chung đội. Năm 1982, ông còn đoạt chức vô địch giải đua xe đạp lão tướng tại Sài gòn trước khi vế hưu.

(http://vncycling.org/modules.php?name=Event&file=print&sid=39)

 

 Việt Nam (VNCH) và Thế Vận Hội Melbourne, Úc 1956

Khai mạc: 22 tháng 11, 1956
Kết thúc: 8 tháng 12, 1956

Lực sĩ tham dự 3314 (376 nữ và 2938 nam) đến từ 72 quốc gia.

Map of  Australia

Ngày 20/7/1954 Hiệp Định Genève phân chia VN thành hai nước từ vỉ tuyến 17 tại Cầu Hiền Lương, sông Bến Hải, thuộc tỉnh Quảng Trị , miền Nam theo chế độ Cộng Hoà, miền Bắc theo chủ nghĩa cộng sản Marx-Lenin-Mao.

Tuy Hiệp Định có đề cập đến chuyện Tổng Tuyển Cử thống nhất đất nước sau hai năm ký hiệp Định (1956), Mỹ  và phái đoàn  không cộng sản  Viêt Nam  (đứng đầu là vua Bảo Đại và thủ tư ớng Ngô Đình Diệm)  từ chối không ký Hiệp Định này vì cho rằng “không thể đảm bảo bầu cử tự do ở miền Bắc”, tổ chức chánh trị miền Nam còn phân tán, thiếu đoàn kết, không thể thắng cộng sản  được sự giúp đỡ của bộ máy cộng sản quốc tế đứng đầu với “đồng chí “ Nga và Trung Cộng , cũng như cơ hội biến miền Nam, dưới sự ủng hộ của Mỹ, thành một nước cộng hòa, tự do, dân chủ thânTây phương. Ngày 7/7/1954 Ngô Đình Diệm, với tư cách thủ tướng tuyên bố thành lập chính phủ mới gởi quan sat viên đến Geneva và bác bỏ đòi hỏi Tổng Tuyển Cử.

26/10/1955, thủ tướng Ngô Đình Diệm qua cuộc Trưng Cầu Dân Ý, bải bỏ chế độ Quân Chủ, thiết lập nền Cộng Hoà, tổ chức Quốc Hội Lập Hiến, soạn thảo Hiến Pháp

Ngày  26/10/1956, thủ tướng  Ngô đình Diệm tuyên bố Hiến Pháp mới, bải bỏ Chế độ Quân Chủ, truất phế vua Bảo Đại và thành lập nền Đệ Nhất Cộng Hoà. Ngô đình Diệm là vị Tổng Thống đầu tiên. Miền Bắc sau hiệp Định Geneve 20/7/1954 theo chế độ Cộng sản dưới sự lảnh đạo của Hồ chi minh.

Cũng nên biết Việt Nam dân chủ cộng hoà (VNDCCH ), sau khi đánh chiếm miền Nam, chỉ gởi lực sỉ tham dự  lần đầu tiên tại Thế Vân Hội  Montreal Canada  1980.

Phái đoàn Việt Nam có sáu nam lực sỉ tham dự bộ môn đua xe đạp, trong đó có 4 người tham dự môn xe đạp đường trường

Van Đông trương MCG 1956

Bieu tương và đuốc Melbourne 1956

olympic Australia

olympic Australia1956

Phái đoàn Việt Nam (VNCH) trong buổi lể khai mạc tại vận động trường MCG

Thành phần lực sỉ tham dự

Tên Giới Tính Tuổi/Ngày Sanh Bộ Môn
Lê Văn Phước Nam 27/15  tháng 10 1929 Đua xe đạp Cá nhân , rút (sprint)  1000m
Ngô thành Liêm * Nam Đua xe đạp Đua đường trường 187.7Km- đồng độiĐua đường trường 187.7Km-Cá  nhân
Nguyễn Hửu Thoại Nam Đua xe đạp Đua đường trường 187.7Km- đồng độiĐua đường trường 187.7Km-Cá  nhân
Nguyễn văn Nhiều Nam Đua xe đạp 1000m Tính giờ (time trial)
Trần Gia Thu Nam Đua xe đạp Đua đường trường 187.7Km- đồng độiĐua đường trường 187.7Km-Cá  nhân
Lê Trung Trung Nam 31 Đua xe đạp Đua đường trường 187.7Km- đồng độiĐua đường trường 187.7Km-Cá  nhân

Phái đoàn không nhận được huy chương nào (4 tay đua đường trường bỏ cuộc).

Tay đua Ngô Thành Liêm người Cần Thơ. Ngay từ lúc 14 tuổi, Ngô Thành Liêm đã tập môn xe đạp do sự dìu dắt của người anh trai là Ngô Bá Tạo, cũng là một cựu cua rơ thời bấy giờ. Năm 1949, ông lên Sài Gòn gia nhập đội URAGO và đến năm 1950 thì đầu quân cho đội A.J.S. Năm 1952, tay đua trẻ Ngô Thành Liêm đã giành được chiến thắng đầu tiên, Hạng Nhất trong cuộc đua Sài Gòn – Mỹ Tho – Sài Gòn. Từ năm 1952 – 1956, ông là một trong những tay đua xuất sắc và luôn giành được thứ hạng cao trong các cuộc đua lớn ở miến Nam. Ông chính thức giã từ đường đua năm 1974 và mất năm 1980 tại TP. Hồ Chí Minh.

URAGO là đội đua xe đạp dưới sự bảo trợ của hảng làm xe đạp URAGO Pháp, trụ sở chính ở Nice, miền Nam nước Pháp,  Urago giải thể thập niên 1980s.

AJS (Association de la Jeunesse Sportive) là hiệp hội thể thao có nhiều bộ môn, nổi tiếng nhất là bóng tròn.  AJS nổi tếng với những trận đá đèn giao hữu với các đội từ Âu Châu sang tại sân Tao Đàn phiá sau dinh Độc Lập (bây giờ là Hội trường Thống Nhất).

Một vài đặc điểm cuả Thế Vận Hội Melbourne 1956

-Các môn thể thao có dính dáng với Ngựa được tổ chức tại Thụy Điển  (tháng 6, 4 tháng trước lể khai mạc chính thức Thế Vận Hội ) để tránh những khó khăn vì  luật cách ly kiễm dịch (quarantine) của Úc.

-Trung cộng không tham gia Thế vận Hội vì sự có mặt cuả Đài Loan (Taiwan, Trung Hoa Dân Quốc).

– Sự kiện tẩy chay Thế  Vận Hội lần đầu tiên vì lý do thuần túy chính trị (Nga xăm lăng Hung, một số nước Á Rập vì Anh Pháp can thiệp vào chuyện kinh đào Suez)

Việt Nam (VNCH) và Thế Vận Hội Rome, Ý 1960

Thế Vận Hội được tổ chức tại Vận động trường Stadio Olimpico Rome, thủ đô Ý.

Khai mạc: 25 tháng 8 1960
Kết thúc: 11 tháng 9  1960

Lực sĩ tham dự 5338 (611 nữ và 4727 nam) đến từ 83 quốc gia.

map of Italy

 

 Van Đông trương Rome 1960

Bieu tương và đuốc Rome 1960

Phái đoàn Việt Nam có 3 người tham dự môn bơi lội và đánh kiếm nhưng không đoạt được huy chương nào. Lực sĩ trẻ nhất là Trương Kế Nhơn (21 tuổi) và lớn nhất Trần Văn Xuân 26 tuổi

Cờ VN Rome 1960

Cờ Việt Nam trong buổi lể khai mạc Thế Vận Hội Rome.

Danh sách lực sĩ tham dự:

Tên Giới Tính Tuổi/Ngày Sanh Bộ Môn
Phan Hữu Dõng Nam 21/14/11/1038Bến Tre Bơi Lội 100m Tự Do
Trần Văn Xuân Nam 25/6/9/1934 Đánh Kiếm Kiếm Ba cạnh (epée)Kiếm Chém(sabre)Kiếm Liểu

(foil)

Trương Kế Nhơn Nam 21/1/1/1939
Bạc Liêu
Bơi Lội 200m lội ếch

Trước  khi được cử tham dự Thế Vận Hội, Trương Kế Nhơn đoạt huy chương vàng tại Đông Nam Á vận hội  (SEAP) tổ chức ở Bangkok, Thái Lan từ 12-17 tháng 12, 1959.

Sau Thế Vận Hội , Phan Hữu Dõng, vô địch bơi lội Việt Nam (miền Nam) thời bấy giờ, đoạt được huy chương vàng SEAP tổ chức lần thứ hai ở Rangoon, Burma (now Myanmar) từ  11-16 tháng 12, 1961.

Cờ VN Seap 1959

Trương Kế Nhơn đoạt Huy Chương vàng với môn lội ếch 100m tại Đông Nam Á vận hội SEAP 1959 Bangkok.  

 Trần văn Xuân 

Kiếm sĩ tham dự hai Olympics 1960 và 1964 Trần văn Xuân 2005

Trần Văn Xuân sanh ngày 6 tháng 9 năm 1934.  Ông theo học trường Yersin (Đà Lạt) từ năm 1948 đến 1952 và học tập môn đấu kiếm nơi đây. Ông vừa làm công chức và tập luyện kiếm và được cử tham dự Thế Vận Hội Rome 1960 và Thế  Vận Hội Tokyo 1964. Ở thế vận hội Rome 1960, ông tranh cả ba loại kiếm (kiếm liểu (foil), kiếm ba cạnh (epée) và kiếm chém). Ở Tokyo 1964 ông chỉ tham dự kiếm ba cạnh và chém (Sabre).

Môn đấu kiếm phương Tây (fencing) du nhập vào Sài Gòn từ những năm đầu thế kỷ 20. Khoảng thập niên 50 đến giữa thập niên 70, Kiếm thuật được tập luyện tại Câu lạc bộ Thể thao Sài Gòn (C.S.S cũ), CLB Phan Đình Phùng, trụ sở Phong trào Phát triển Sinh viên Học sinh, các trường Taberd, Trưng Vương, Gia Long… thu hút khoảng vài trăm người và hàng năm đều diễn ra một số giải thi đấu khá sôi nổi.

Trên thao trường quốc tế, kiếm sĩ Tôn Thất Hải đã tham dự Olympic Helsinki (1952) rồi Trần Văn Xuân dự Olympic Rome (1960), Olympic Tokyo (1964), Asian Games Teheran (1974).

http://www.sggp.org.vn/thethao/nam2005/thang9/68346/

Vài đặc điểm của Thế Vận Hội Rome 1960

-Nhạc chính thức của Olympics (Olympics Anthem) được chấp nhận và được phát thanh. Bản nhạc này cũng là bản nhạc được phát thanh ở Thế VẬn Hội đầu tiên ( I Olympiad) ở thủ đô Athens, Hy lạp năm 1896

-Cấm Nam Phi (South Africa) tham dự vì chính sách kỳ thị chũng tộc (Apartheid)- South Africa trở lại tham dự Thế Vận Hội năm 1992.

-Truyền Hình trực tiếp (live)  đến 18 nước  Âu châu, Mỹ, Gia Nả Đại và Nhật vài giờ sau đó.

-Người Phi Châu da đen đoạt huy chương vàng đầu tiên. Lực sĩ Abebe Bikila chạy marathon bằng chân không. Bốn năm sau ông cũng đoạt huy chương vàng tại thế vận hội Tokyo 1964 nhưng lần này ông chạy mang giầy.

Việt Nam (VNCH) và Thế Vận Hội Tokyo, Japan 1960

Vận động trường chính: Tokyo, Japan

Lể khai mạc: 10 Tháng 10, 1964
Lể bế mạc: 24 Tháng 10, 1964

Lực sĩ tham dự 5151 (678 nữ và 4473 nam) đến từ 93 quốc gia.

map of japan

Van Đông trương tokyo 1964

Vân động trường Kokuritsu Kasumigaoka Rikujō Kyogijō, Tokyo và huy chương cho Thế Vận Hội Tokyo 1964

Bieu tương và đuốc tokyo 1964

 

Cờ VN Tokyo 1964

Phái đoàn lực sĩ Việt Nam gồm có 16 nam lực sĩ, đây là phái đoàn đông nhất tham dự Thế Vận Hội trước 1975 tham dự nhiều bộ môn.

Người trẻ tuổi nhất Nguyễn đình Lê -Bộ môn bơi lội tự do (freestyle) 15 tuổi, 156 ngày.

Môn Nhu Đạo (Judo) lần đầu tiên được đưa vào Thế Vận Hội. Việt Nam gởi một phái đoàn nhu đạo với ba người mà người lớn tuổi nhất là Thái Thúc Tuấn 37 tuổi 208 ngày.

Viêt Nam không được huy chương nào.

Phái đoàn Việt Nam (VNCH) diển hành trong buổi lể khai mạc Thế Vận Hội Tokyo 1964

Danh sách lực sĩ trong phái đoàn:

 

Tên Giới Tính Tuổi/Ngày Sanh Bộ Môn
Hồ Thành Chinh Nam 22/21/2/1941 Điền Kinh  Chạy nước rút 100m
Huỳnh Anh Nam 31/16/10/1932 Đua xe đạp 100 km  tính giờ
Huỳnh Văn Hải Nam 24/28/8/1940 Bơi Lội 200m lội ếch
Lê Bả Thành Nam 29/12/10/1934 Nhu Đạo Hạng trung (middleweight)
Nguyễn Thế Lộc Nam 29/5/9/1935 Đánh Kiếm Kiếm chém
Nguyễn Văn Bình Nam 24/1/1/1939 Nhu Đạo Hạng nhẹ(Lightweight)
Nguyễn Văn Châu Nam 24/24/8/1940 Đua xe đạp Đua rút 1000m
Nguyễn Văn Khôi Nam 29 Đua xe đạp Cá  Nhân 100kmĐội 100km
Nguyễn Văn Lý Nam 22/30/5/1942 Điền Kinh
marathon
5000m43km
Nguyễn Văn Ngân Nam 21/20/9/1943 Đua xe đạp Cá  Nhân 100kmĐội 100km
Nguyễn Ðình Lê Nam 15/9/5/1949 Bơi Lội 100m Tự Do
Phạm Văn Sáu Nam 25/6/7/1939 Đua xe đạp Cá  Nhân 100kmĐội 100km
Phan Hữu Dõng Nam 25/14/11/1938 Bơi Lội 100m Tự Do
Thái Thúc Tuấn Nam 37/28/3/1927 Nhu Đạo Hạng trung (middleweight)
Trần Văn Nên Nam 37/6/8/1927 Đua xe đạp Cá  Nhân 100kmĐội 100km
Trần Văn Xuân Nam 30/6/9/1934 Đánh Kiếm Kiếm ChémKiếm Ba Cạnh

 

Kết quả đua xe đạp

  1. Nguyễn Văn Châu – Đua rút 1000m – đừng nhì vòng 1 nhóm 1 (gồm 3 người), vòng 1 vớt vát (round 1 repêchage) đứng nhì nhóm 3 (gồm 3 người) và sau đó bị loại.
  2. Huỳnh Anh – hạng 31/33 100 km  tính giờ  với thời gian là 3 giờ  08 phút  35 giây ( tay đua về hạng nhất  2g 26ph 31.19gi)
  3. Nguyễn Văn Khôi , bỏ cuộc môn đường trường, đua tính giờ đồng đội 100km xếp hạng 31/33 (3 giờ 08 phút  35 giây, tay đua về hạng nhất  2g 26ph 31.19gi)
  4. Nguyễn Văn Ngân bỏ cuộc đường trường, nhưng đua tính giờ đồng đội 100km xếp hạng 31/33 (3 giờ  08 phút  35 giây, tay đua về hạng nhất  2g 26ph 31.19gi)
  5. Phạm Văn Sáu – Road race – hạng 76, thua về 1 đúng 20 giây
  6. Trần Văn Nên.Đường trường 194.8 Km – hạng 90, thua tay đua về nhất ( 4-39:51.63) đúng 20 giây (4-40:11.63)

Tính giờ 1000m – hạng 25/27 (1:21:58 so với tay đua về đầu 1:09:59 khoảng cách 12.1 giây)

Theo đưổi cá nhân (Individual Pursuit) , 4,000m – bị loại vòng 1 do bị bắt kịp (overtaken)

Tính giờ đồng đội Team Time Trial 100km – hạng 31/33, với thời gian là 3h 08m 59.35s ( tay đua về nhất  là     2h 26m 31.19s)

Lực sĩ Nguyễn Văn Lý đã đoạt huy chương đồng chạy 10.000m, với thành tích 36 phút 12 giây 8 (Somnuek Srisombat, Thái Lan đoạt huy chương vàng, với 35 phút 7 giây 8 tại vận hội SEAP 1959 tổ chức tại Thái Lan.

Kiếm Sĩ  Nguyễn Thế Lộc tham dự  Thế Vận Hội Tokyo 1964 và Mexico 1968 trong môn kiếm chém

Gặp lại cua rơ vô địch Nguyễn Văn Châu (xem phụ lục 1)

http://www.sggp.org.vn/thethao/2007/11/130547/

Lực Sĩ Nhu Đạo

http://books.google.com.au/books?id=B9kDAAAAMBAJ&lpg=PA10&ots=7YLum65FqQ&dq=%22le+ba+thanh%22+judo&pg=PA10&redir_esc=y#v=onepage&q=thanh&f=false

Một vài đặc điểm Thế Vận Hội Tokyo 1964

-Môn Nhu Đạo và môn Bóng Chuyền (nam và nữ) được đem vào thi đua lần đầu tiên và Việt Nam gởi 3 nam lực sĩ nhu đạo.

-Th ế Vận Hội đầu tiên được tổ chức ở Á Châu.

 

Việt Nam (VNCH) và Thế Vận Hội Ciudad de México, Mexico 1968

Thế Vận Hội Mexico được tổ chức tại thành phố Mexico-Ciudad de México

Lể Khai Mạc: 12 tháng 10, 1968
Lể Bế Mạc:  27 th áng 10, 1968

Lực sĩ tham dự 5116 đến từ 112 quốc gia.

map of mexico

 

Van Đông trương Mexico 1968

Bieu tương và đuốc Mexico 1968

Olympic mexico

Cờ VNCH phất phới buổi lể khai mạc tại vận động trường Estadio Olimpico Universitario

Phái đoàn Việt Nam gồm có 9 lực sĩ-7 nam và lần đầu tiên 2 nữ- tham dự 5 bộ môn –Đua xe đạp, Điền Kinh, Bơi Lội, Bắn Súng và Đánh Kiếm.

Lực sĩ trẻ nhất Trương Kim Hùng 16 tuổi bộ môn xe đạp (đường trường và cá nhân 196km) và lực sĩ lớn tuổi nhất Vũ văn Danh 42 tuổi, môn bắn súng ngắn. Phái đoàn không được huy chương nào.

 

Tên Giới Tính Tuổi/Ngày Sanh Bộ Môn
Bùi Văn Hoàng Nam 25/13/12/1943 Đua xe đạp Đường Trường  cá nhân  196Km
Dương Văn Dần Nam 30/20/12/1937 Bắn Súng 50m súng ngắn tự do nam
Hồ Hạnh Phước Nam 28/26/8/1940 Đi ền KinhDecathlon Mười môn thể thao
Hồ Minh Thu Nam 39/15/6/1929 Bắn Súng 50m súng ngắn tự do nam
Nguyễn Minh T âm Nữ 18/26/8/1950 Bơi  Lội 100m Tự Do
Nguyễn Thế  Lộc Nam 33/5/9/1935 Đánh kiếm Kiếm Chém(Sabre)
Nguyễn thị Mỹ Liên Nữ 17/31/7/1951 Bơi  Lội 100m Bơi Ngữa
Trương Kim Hùng Nam 16/tháng 2 1951 Đua xe đạp Đường  trường  cá nhân  196Km
Vũ Văn Danh Nam 42/17/4/1926 Bắn Súng 25 m súng ngắn bắn nhanh nam

Lực sĩ  Hồ Hạnh Phước ,điền kinh Decathlon-mười môn điền kinh -được chọn đi Thế Vận Hội Mexico dựa vào thành tích của ông –Huy chương đồng môn này tại Đông Nam Á vận hội SEAP 1967 tổ chức tại Bangkok từ 9-16  tháng 12, 1967.

Trương Kim Hung

Hai cua rơ Trương Kim Hùng (áo vàng) và Bùi văn Hoàng

Hai nữ lực sĩ Việt Nam (VNCH) đầu tiên tham dự Thế Vận Hội

Minh Tam My Lien

Hai nữ lực sĩ bơi lội-Nguyễn Minh Tâm và Nguyễn Thị Mỹ Liên diển hành ngày khai mạc

https://www.youtube.com/watch?v=pwRYsVl3z8c

Một vài đặc điểm Thế Vận Hội Mexico 1968.

-Phản kháng về chủng tộc-Quyền công dân cho nguời da đen (Black power salute)

http://life.time.com/culture/black-power-salute-tommie-smith-and-john-carlos-at-the-1968-olympics/#1

-Lần đầu ViệtNam (VNCH) gởi 2 nữ lực sĩ (trong số 9 lực sĩ tham dự nhiều bộ môn thể thao như đua xe đạp, bắn súng, điền kinh, bơi lội và đánh kiếm) Nguyễn Minh Tâm bơi 100m tự do (free style) và Nguyễn thị Mỹ Liên 100m bơi ếch (breaststroke)

-Bấm giờ bằng đồng hồ điện tử số (digital timer) được chính thức công nhận 

Độ cao (altitude) 2300m của thành phố Mexico tạo lợi thế cho lực sĩ những môn thể thao ngắn nhưng và bất lợi cho những môn đòi hỏi sức dai, chịu đựng dài hơn 2 phút.

 

Việt Nam (VNCH) và Thế Vận Hội Munich, West Germany, 1972

Được tổ chức tại Munich, thủ phủ và thành phố lớn nhất ở tiểu bang Bavaria, thuộc Tây Đức.  Có 121 nước tham dự với 7170 lực sỉ (6075 nam và 1095 nữ).

Lể Khai Mạc: 26 tháng 8 1972
Lể Bế Mạc:  10 tháng 9, 1972

map of germany copy

 

Van Đông trương Munich 1972

Bieu tương và đuốc Munich 1972

Biểu Tượng Munich Olympics 1972

 

Tuy trải qua biến cố  Tổng công kích đẩm máu Tết Mậu Thân 30/1/1968 và mùa Hè Đỏ Lửa  từ 30 tháng 3 đến 31 tháng 1 năm 1973, Viêt Nam Cộng Hoà tham gia Thế Vận Hội lần cuối với một phái đoàn  gồm 2 nam lực sỉ.

Phái đoàn lực sĩ tham dự:.

 

Tên Giới Tính Tuổi/Ngày Sanh Bộ Môn
Hồ Minh Thu Nam 43/15/6/1929 Bắn Súng 50m súng ngắn tự do nam
Hoàng Thi  Hưong Nam Bắn Súng 50m súng ngắn tự do nam

Cờ VN Munich 1972

Hồ Minh Thu người cầm cờ diển hành trong buổi lể khai mạc.

Một vài đặc điểm Thế Vận Hội Munich 1972.

-11  lực sĩ Do Thái bị giết bởi nhóm Á Rập “Black September”.

-Môn Bắn cung (Archery) trở lại Thế vận Hội sau 52 năm vắng bóng.

-7 huy chương vàng- 7kỷ lục thế giới cho lực sỉ bơi lội Mỹ Mark Spitz

 

Người viết xin ghi ơn sự cố gắng và quyết tâm vượt bực của các lực sĩ, cũng như của Chính Phủ Việt Nam Cộng Hòa, dù trong hoàn cảnh khó khăn của chiến tranh tàn khốc, đại diện Việt Nam, mang màu cờ sắc áo, đem chuông đi đánh xứ người, góp mặt tranh tài trên thao trường thế giới. Trong suốt thời gian này 1952-1975, VNDCCH không cử phái đoàn nào tham dự Thế Vận Hội!

Xem video Việt Nam tham gia Thế Vận Hội trước 1975 nơi đây.

Vận động trường Olympics đầu tiên Olympia, Hy lạp (Greece)

Mai Tran Y Nguyên

 

 

Tham khảo:

 

 

 

Phụ Lục 1:

 Cựu Vô Địch Xe Đạp Nước Rút Châu Á và Đông Nam Á.

Thần tượng một thời thơ ấu của tôi  Nguyễn Văn Châu .

Kính dâng lên anh hồn các cua rơ quá cố đã làm rạng danh môn đua xe đạp Việt Nam trên các thao trường quốc tế.
Kính tặng đến những ai đã từng một thời yêu mến môn đua xe đạp.

Trần Đình Phước

Mỗi người trong chúng ta. Có lẽ ai cũng có một thần tượng để tôn thờ cho chính mình. Riêng tôi, cựu vô địch xe đạp nước rút Châu Á tại Đông Kinh, Nhật Bản, và Đông Nam Á Vận Hội tại Ngưỡng Quang, Miến Điện ( Myamar ), năm 1961: “Cua rơ Nguyễn Văn Châu là Thần Tượng Thời Thơ Ấu của tôi.”

Vào môt buổi trưa cuối tháng Bảy, năm 2014, trong chuyến về thăm gia đình ngắn ngày, tôi cố gắng dành chút thời giờ thả bộ từ phía Cầu Kiệu đi về hướng chợ Tân Định. Thời tiết rất nóng bức và khó chịu. Mới rảo vài bước mà quần áo đã ướt đẫm mồ hôi. Khi đi ngang qua nhà bác sĩ Kính, bác sĩ chuyên trị về mắt trước năm 1975, tôi tình cờ gặp một người đàn ông khoảng ngoài bảy mươi tuổi đang đứng trông chừng xe cho khách trước tiệm “Bánh Tằm Bì 370 – Đặc Sản Bạc Liêu.” Tiệm này trước kia là nhà của ông Lang Sách, chuyên bắt mạch, cho thuốc Đông Y gia truyền.

Sau vài giây định thần, tôi hỏi ông ta: ”Có phải ông là cua rơ Nguyễn Văn Châu đã từng làm rạng danh nền đua xe đạp VNCH trước năm 1975 không?”

Ông ngạc nhiên hỏi sao tôi lại biết tên ta. Sau đó, ông trả lời: Đúng! chính ông là cua rơ xe đạp Nguyễn Văn Châu. Nói xong ông mời tôi nếu có rảnh, thì thử thưởng thức đặc sản của tiệm, do chính con trai thứ của ông làm chủ và trực tiếp đứng nấu. Còn ông thì chỉ giữ nhiệm vụ coi chừng xe cho khách, để khách an tâm thưởng thức và không sợ khi trả tiền xong đi ra ngoài tự nhiên thấy xe không cánh mà bay thì “Buồn ơi! Chào mi!” Mỗi khi quán thiếu gì, ông liền xách xe đạp chạy ngay ra chợ Tân Định gần đó để mua thêm.

Đang đói bụng và thèm một ly trà đá lạnh, nên tôi đi thẳng vào quán và chọn bàn cuối cùng ngồi. Tôi gọi một tô Bánh Tằm Bì, vì tôi nghĩ chắc là món chiến lược của quán, và không quên kêu thêm một ly trà đá lạnh.

Lúc này đã quá trưa, quán chỉ còn tôi là khách. Ông đến ngồi bên cạnh tôi và nói: ”Bao nhiêu năm nay, ít có ai hỏi đến tên tôi.” Đây là lần đầu tiên có người nhắc đến tên ông.
Tôi xin phép được gọi ông bằng anh và cho biết hồi nhỏ tôi rất mê môn đua xe đạp, nhưng không theo đuổi được, vì lý do sức khoẻ. Hôm nay gặp đươc ông, người mà tôi coi như thần tượng lúc còn nhỏ, thật là một điều may mắn và bất ngờ đối với tôi.

Tôi hỏi ông: ”Nếu có thể, xin anh cho tôi được có vài câu hỏi.” Ông cười vui vẻ với cái miệng móm xọm rất có duyên, rồi nói: ”Em cứ tự nhiên. Anh sẵn sàng trả lời các thắc mắc của em.”

– Anh có thể cho em biết sơ lược qua về anh.

Nguyen van Châu

Tay đua Nguyễn Văn Châu

Anh sinh ngày 24 tháng 8, năm 1940, tại Phú Nhuận – Gia Định. Gia đình gồm Ba Má và sáu anh em, hai trai và bốn gái. Lúc đầu gia đình ở Phú Nhuận. Năm 1952, dọn về Tân Định, hẻm 392 đường Hai Bà Trưng. Bên trái hẻm là tiệm chụp hình Văn Hoa, kế bên có tiệm nhuộm Tô Hồng, Thuốc Lào Vĩnh Bảo. Bên phải hẻm có Billards và Phở Vạn Lợi, sát bên có con hẻm nhỏ sửa giày dép và tiệm Cà Rem Hoàn Kiếm. Nhìn sang bên kia là đường Nguyễn Văn Mai, có nhà thuốc Tây Trần Ngọc Tiếng, Pháp Hoa Ngân Hàng, tiệm may Thái Lai, nhà thuốc Bắc của ông Thần Bút.

Hồi nhỏ anh và em trai theo học tại trường Hoà Bình, gần nhà thờ Đức Bà. Lúc mười hai tuổi thì chuyển sang học trường La San Đức Minh. Còn các em gái thì theo học trường Thiên Phước.

– Nguyên nhân nào anh đến với môn đua xe đạp?

Lúc đầu anh rất thích môn bóng tròn. Nhưng Ba anh nói ”Con đá banh có một cẳng thì chán lắm!” Sao con không chọn môn đua xe đạp? Chơi môn này con có thể dùng cả hai chân, hai tay và cả cái đầu. Nghe theo lời ba anh đốc thúc. Anh tập đạp thử chiếc xe đạp cà tàng của ba anh. Tình cờ, hai cua rơ đàn anh là Trần Gia Thu và Trần Văn Nên thấy anh chạy có nét, nên khuyến khích anh tập chạy đua nước rút. Hai đàn anh ra sức hướng dẫn một mầm non sẽ có nhiều triển vọng trong tương lai.

Thấy con mình đam mê, miệt mài tập tành. Thế là ba anh hy sinh bỏ ra một tháng lương để sắm cho anh một con ngựa sắt chiến đấu vào thời đó.

– Khi nào thì anh chính thức bắt đầu sự nghiệp đua xe? Chạy dưới màu áo nào?

– Anh bắt đầu chập chững chạy cho Đội Liên Hiệp Công Nhân lúc mười sáu tuổi. Năm sau chạy cho Thủy Quân Lục Chiến. Năm 1959, vào lính thì chạy cho đội Quân Vận. Trong thời gian này không có huấn luyện viên chính thức, mà chỉ có các đàn anh dìu dắt đàn em. Cá nhân anh, lúc nào anh cũng kính trọng và thương quý hai đàn anh: Trần Gia Thu và Trần Văn Nên về tư cách, đạo đức và nhất là hết lòng chỉ dạy tận tình cho đàn em, mà không bao giờ than thở hay nặng lời.

– Xin anh cho biết anh sử dụng xe đạp hiệu nào? Phụ Tùng thay thế khi cần thiết mua ở đâu?

– Anh chạy xe đạp hiệu Bernard. Khi cần phụ tùng ngoại quốc của Ý, Pháp thay thế, thì nhờ tiệm chuyên bán xe đạp và phụ tùng Đoàn Văn Thẩm, nằm trên đường Hai Bà Trưng, đối diện với đường Yên Đổ và trường Trung Học Vạn Hạnh đặt mua giùm.

Mỗi lần tham dự cuộc đua, thì trước đó vài ngày, anh phải tháo hết xe ra từng bộ phận, vô dầu mỡ cho thật kỹ. Chạy thử tới, lui nhiều lần. Kiểm soát mọi bộ phận thật bảo đảm và chắc chắn. Săn sóc chiếc xe còn hơn đứa con cưng của mình.

– Trong cuộc đời đua xe đạp. Xin anh cho biết đã đạt được bao nhiêu thành tích.

– Anh không nhớ hết! Tuy nhiên, anh đã đoạt chín lần vô địch nước rút trong nước. Đặc biệt, hai lần trong cùng năm 1961, mà cho đến bây giờ vẫn còn in đậm trong tâm trí của anh.

Lần thứ nhất “Vô Địch Nước Rút Á Châu” ở Đông Kinh. Trước khi đến Nhật Bổn, anh chỉ vỏn vẹn có ba ngày thực tập tại vòng chảo ở Huế rất thô sơ. Khi tới Tokyo với hơn bốn mươi vòng chảo hiện đại hơn, anh thấy choáng ngộp, và hoàn toàn xa lạ nên cũng rất lo lắng. Do đó, anh ra sức tập luyện ngay. Anh thầm nói: “Vì danh dự tổ quốc, vì màu cờ sắc áo, vì đồng đội đặt nhiều tin tưỏng, anh quyết tâm phải thắng cuộc đua này bằng mọi giá.”

Nguyen van Châu 2

Người Nhật phải chảy nước mắt vì anh

Và anh đã làm được điều ước nguyện này, khi bánh xe đua của anh cán mức trước tay đua nổi tiếng của Nhật tên Ywanmato, trong cuộc đua nước rút 200 mét lòng chảo chỉ đường tơ, kẽ tóc, với thời gian 11 phút 4 giây, khiến cả vận động trường nín lặng. Nhiều người Nhật đã bật khóc, khi đứa con cưng của họ bị thua đau đớn, mà trước đó họ tin rằng tấm “Huy Chương Vàng” chắc chắn sẽ nằm trong tay nước chủ nhà dễ dàng.

Nguyen van Châu 3

Vô Địch Đông Nam Á Vận Hội

Lần thứ hai ”Vô Địch Đông Nam Á Vận Hội” tại Ngưỡng Quang – Miến Điện. Cuộc đua nước rút lần này không phải chạy trên lòng chảo, mà chạy trên đường bình thường. Anh đã thắng không mấy khó! Vì đó là sở trường của anh. Anh cười và nói thêm ”Nghề của chàng mà em.”

– Xin anh kể cho biết vài tên tuổi cua rơ nổi tiếng cùng thời với anh.

Thú thật, bây giờ anh không thể nào nhớ hết! Có thể kể những cua rơ đàn anh có thành tích như: Lê Thành Các với biệt danh là Phượng Hoàng. Ông ta xuống đèo mà vẫn tiếp tục đạp hết tốc lực, dù trong đêm tối, với bất cứ mọi thời tiết. Ó đen Bùi Văn Hoàng được xếp sau ông. Tiếp theo, Ngô Thành Liêm, Lưu Quần, Trần Văn Nên, Huỳnh Anh, Trần Gia Thu, Trần Gia Châu, Trương Tỷ, Huỳnh Ngọc Chánh, Tô Hiếu Thuận, Võ Vĩnh Thời, Nguyễn Hữu Thoại, Nguyễn Văn Hoà, Nguyễn Văn Kỉnh, Trần Hữu Tuấn… Về hướng dẫn, dìu dắt và giúp đỡ hết mình cho phong trào đua xe đạp có Cựu Đ/T Trần Văn Xồi, Phạm Văn Cự, Nguyễn Văn Tạo.

– Xin anh cho biết lúc nào anh giải nghệ hẳn?

Sau năm 1975, anh vẫn còn tiếp tục đua xe đạp. Năm 1976, đoạt giải nhì trong một cuộc đua chạy ra Vũng Tàu. Sau đó anh chuyển sang làm Huấn Luyện Viên cho các đội: Cửu Long, Quận 3, Quận 5, Tân Bình, Quân khu 7. Có lúc phải ra ngã bảy sửa xe đạp và môi giới mua bán xe đạp. Chiếc xe đạp đã làm nên tên tuổi anh cũng phải bán để mưu sinh, mà thời giá lúc đó bằng giá trị chiếc xe Honda. Về sau hai vợ chồng mượn vốn để chuyển sang bán “Bánh Tằm Bì” và các món Đặc Sản Bạc Liêu. Chiếc bàn nhỏ, vài chiếc ghế ngồi chồm hổm nằm trên đường Hai Bà Trưng, trước Billards Vạn Lợi, gần hẻm nhà anh. Sau này bị dẹp lòng lề đường, nên hai vợ chồng anh thuê được căn nhà số 459B đường Hai Bà Trưng, để mở tiệm. Tiền thuê hàng tháng rất cao, vì nằm trên điạ điểm thuận lợi. May mắn được thực khách thương quý anh đến ủng hộ rất đông. Lúc này anh không còn vương vấn với nghiệp xe đạp, để tập trung cho việc buôn bán.

– Hiện nay tình hình kinh tế gia đình anh thế nào?

Anh im lặng trong chốc lát và cho biết: “Thoi thóp qua ngày nào, mừng ngày đó em ơi!” Sức khoẻ càng ngày càng yếu đi vì đủ thứ tật bệnh của tuổi già. Hiền thê của anh chẳng may mất đột ngột lúc vừa đặt chân đến Hoa Kỳ, khi viếng thăm người em. Một trong ba người con trai ra đi vì tai nạn giao thông. Hiện còn hai con trai đều đã lập gia đình. Con trai lớn đang hành nghề tài xế và con trai thứ đang làm chủ cửa hàng ăn uống mang tên “Bánh Tằm Bì 370.” Hiện anh sống cùng với người con thứ ở căn nhà hẻm 392 và phụ giúp con anh trông coi tiệm.

Nguyen van Châu xưa va nay

Nguyễn Văn Châu ngày xưa và bây giờ!

Tôi xin lỗi anh vì đã đặt câu hỏi làm khơi lại nỗi buồn của anh. Bắt tay xin chào từ giã anh. Bước chân ra khỏi tiệm mà trong lòng nặng trĩu. Tràn dâng lên một nỗi buồn cho một nhân tài bị bỏ quên. Cơn mưa bất chợt cùng lúc xuất hiện, càng làm tôi thấy thương mến anh hơn. Tôi hứa sẽ cố gắng viết vài hàng về anh và xin được trân trọng giới thiệu cùng bà con khắp nơi “Bánh Tằm Bì 370” với các món Đặc Sản Bạc Liêu. Điạ chỉ số 459B, đường Hai Bà Trưng, phường 8, Quận Ba, Sài Gòn.

Nếu ai còn quý mến anh. Người đã tạo nên kỳ tích có một không hai trong lịch sử đua xe đạp nước nhà, mà từ trước đến nay chưa có cua rơ Việt Nam nào thực hiện được. Anh đã làm đã làm rạng danh hai chữ Việt Nam trên các thao trường quốc tế.

Xin bà con hãy đến ủng hộ tiệm ăn của con trai anh, với các món ăn đặc sản quê hương của miền sông nước Bạc Liêu. Thức ăn ngon miệng, giá cả vừa phải và tiếp đón lịch sự. Thực khách sẽ có dịp chuyện trò, hàn huyên với nhà vô địch, thể tháo gia tên tuổi đã từng làm say mê giới trẻ yêu xe đạp vào đầu thập niên sáu mươi, bảy mưoi. Chúng ta sẽ cùng anh nhắc lại một thời để nhớ và không bao giờ quên.

Xin được chào anh: “Cua Rơ Vô Địch Nước Rút Nguyễn Văn Châu.” Người con yêu của vùng đất hiền hoà Tân Định và Đa Kao. Thần tượng của nhiều người yêu môn đua xe đạp, và cũng là thần tượng thuở còn ấu thơ của riêng tôi.
Trần Đình Phước

Theo Trần Đình Phước (5)

 

Phụ Lục 2Nói thêm về môn đánh kiếm (Olympics fencing)

Các loại kiếm

Hình dáng và kích thước các loại kiếm

 

  • Foil: (Kiếm Liểu) – Loại kiếm để luyện tập cuả gìới quý phái thời xưa, lưởi kiếm mềm dẻo dài 1.10m, lưởi hình chử nhật, nhẹ khoảng 450g. Thắng điểm bằng mủi kiếm đâm vào thân (torso), không được đâm vào tay, chân, đầu, cổ. Vì động tác xảy ra nhanh, nên hệ thống chấm điểm bắng điện chỉ ghi nhận nếu mục tiêu bị đâm trúng-đầu kiếm có lò xo khi chạm phần thân áo giáp (nguời đánh kiếm phải mặc áo giáp gọi là lamé) máy chấm điểm sẽ bật đèn đỏ, nếu đánh trật mục tiêu (đánh trúng những phần thân thể không có áo giáp che) thì đèn trắng bật lên giây lát nhưng không bị trừ điểm, rồi hai đối thủ bắt đầu đánh tiếp.
  • Epee – (kiếm ba cạnh) The epee (pronounced “EPP-pay” – literally meaning “sword” in French) thối thân của loại kiếm được dùng trong những cuộc đọ kiếm tay đôi ngày xưa, lưởi kiếm cứng và dày hơn kiếm liểu và có cán che tay. Không giống như kiếm liễu, đối thủ được điểm khi đánh trúng bất kể phần nào của cơ thể từ đầu đến chân và vì thế không cần phải mặc áo giáp lamé.
  • Sabre (or saber) (kiếm chém.) – The sabre is the modern version of the slashing cavalry sword. Sự khác biệt gìữa loại kiếm này với hai loai liểu và ba cạnh là kiếm dùng để đâm và chém bất cứ điểm nào trên cơ thể từ lưng trở lên để ghi điểm. Vì thế mặt và tay, cổ cũng phài che bằng áo giáp kim loại -lamé. Khi đánh trật mục tiêu máy không ghi nhận nên không phải dừng ngằt khoảng

Phụ Lục 3: Huy chương Vàng, hoài niệm túc cầu trước 1975.

Đội tuyển túc cầu Việt Nam

Các tuyễn thủ của đội banh đoạt Huy chương vàng vô địch túc cầu Đông Nam Á vận hội (SEAP 1959). Huy chương quốc tế duy nhất từ trước đến nay .

 

Huy Chương vàng túc cầu

Mặt trước và mặt sau Huy Chương Vàng duy nhất cho làng túc cầu Việt Nam, SEAP 1959

Dưới thời VNCH , Đội tuyển túc cầu quốc gia VNCH tham dự Asia Cups, Asia Games, Seap Games và cuối cùng World Cup 1974. Thành tich đáng kể cuả môn Túc câu trước 1975

1 huy chương vàng (1959), 2 bạc (1967 và 1973) và 2 đồng (1965 và 1971) ở Đông Nam Á Vận Hội. (11)

Phụ Lục 4: Vòng Cộng Hoà năm 1959:

Mời xem phim đua xe đạp Vòng Cộng Hòa

Tiếp theo những thành công của Vòng Cộng Hoà năm 1957 và 1958, Tổng nha Thanh niên tiếp tục phối hợp với Tổng cuộc Xe đạp tổ chức Vòng Cộng Hoà lần III gồm 20 chặng đua có tổng chiều dài là 2.846 km. Mặc dù lần này quãng đường ngắn hơn so với 2 lần trước nhưng lại lớn hơn về số lượng VĐV tham gia với tổng số 78 tay đua của 11 đoàn cùng 24 tay đua độc lập đăng ký thi đấu trong đó phải kể đến Đoàn Đại biểu Việt Nam và Đoàn Đại biểu Đại hàn dân quốc. Lần đầu tiên góp mặt nhưng đoàn Đại hàn dân quốc đã tỏ ra rất mạnh với chiến thắng của Sang Ho Rin ở chặng nhỏ Bến Hải – Quảng Trị. Tuy nhiên, ngay sau khi chiến thắng ở chặng này Đoàn Đại hàn dân quốc đã bất ngờ bỏ cuộc sau khi đưa ra một loạt các yêu sách. Các tay đua Đại hàn dân quốc đã bỏ cuộc ở chặng 2 nhưng lại tiếp tục tham gia từ chặng 3 nhưng chỉ với tư cách khán giả. Trước tình thế đó, Ban Giám đốc đã quyết định giải tán Đoàn Đại biểu Việt Nam và trả các tuyển thủ về với Đoàn của họ. Nhờ vậy mà lực lượng của một số đoàn đã tương đối mạnh hơn trước, cuộc đua vì thế mà ngày càng quyết liệt và hấp dẫn hơn. Vòng Cộng Hoà lần III một lần nữa chứng kiến sự xuất sắc của Ngô Thành Liêm, tay đua cũ của Thanh niên Thể thao nay khoác áo của Đoàn Công An. Anh là người mặc áo vàng từ chặng 8 cho đến hết chặng 19, chặng áp chót của cuộc đua. Lúc này Ngô Thành Liêm đang ít hơn Nguyễn Văn Hoà 18 giây và Trần Gia Châu 1 phút 18 giấy. Tuy nhiên ở chặng cuối cùng Vĩnh Long – Sài Gòn, Nguyễn Văn Hoà đã xuất sắc về nhất, được thưởng 1 phút, qua đó thắng ngược Ngô Thành Liêm, đoạt áo vàng Vòng Cộng Hoà lần III năm 1959.

Sai khi Vòng Cộng Hoà lần III kết thúc thành công, chỉ tổ chức được duy nhất một cuộc đua nhỏ Sài Gòn – Mỹ Tho – Sài Gòn vào ngày 29/05/1960. Năm 1961, Chủ tịch Tổng cuộc mới nhận chức và một số cuộc đua được tổ chức thành công như: Vòng Tiểu Cộng Hoà (7 chặng), Tiền Thế Vận (12 chặng), Vùng I Chiến Thuật 65 và  66 (4 chặng), Vòng 6 Chặng Miền Nam (6 chặng), 4 Chặng Miền Tây (4 chặng), Tiền Á Vận (5 chặng)… Bên cạnh đó, Tổng cuộc Xe đạp còn duy trì được hệ thống thi đấu hàng năm bao gồm: Vô địch đường trường, nước rút, bán tốc độ, tính giờ đồng đội… qua đó tuyển chọn đội tuyển tham dự các cuộc đua quốc tế như: Giải Vô địch châu Á, Đông Nam Á, Thế vận hội… và đã đạt được những giải thưởng lớn như: Huy chương vàng giải Vô địch châu Á năm 1961 của Nguyễn Văn Châu, Huy chương đồng giải Vô địch châu Á năm 1965 ở nội dung 200 km đồng đội nam, Huy chương đồng tại ASIAD Games năm 1966 tại Philippines ở nội dung 100 km đồng đội nam, Huy chương vàng SEA Games 1965 (Malaysia) ở nội dung 200 km đồng hành của Trần Văn Nên…

Có thể nói, thời kỳ 1954 – 1975 là thời kỳ mà phong trào xe đạp thể thao ở Việt Nam rất phát triển (ở miền Nam) với hàng loạt các cuộc đua lớn, tạo được tiếng vang không chỉ ở trong nước và quốc tế. http://www.vncycling.org/modules.php?name=Event&file=print&sid=24

 


Xếp loại Bưởi Cam Quýt

   Xếp loại Bưởi Cam

     Mai Tran – Y Nguyên

 

Bài sưu khảo viết dựa vào tư liệu riêng với tài liệu tham khảo thu thập qua từ mạng nhằm hy vọng giúp người đọc giảm thiểu nhầm lẩn khi nhận diện hoặc tiêu thụ loại trái cây thông dụng nhất trên thế giới-cam, quýt, bưởi, tắc, chanh…thuộc chi họ Cam Quýt (Genus Citrus). Cảm hứng bắt nguồn từ hoài niệm xưa trong khu vườn phía trước nhà có nhiều loại cây ăn trái như bưởi, hồng quân, thanh long, mảng cầu, lucuma, cà phê, ổi, sa bô chê bên cạnh vú sửa, hồng nhung, mít mật, tố nử. Tuổi thơ của người viết thường quanh quẩn ngoài vườn vì tàn cây che bóng mát quanh một ngôi miếu thiết kế kiểu xưa thờ Đức thánh Trần, bên trong miếu có tượng và nhiều loại kiếm cung có cả bao chạm trỗ công phu bằng gổ. Vẩn theo tập tục của Cố, miếu thờ lung linh nhang khói trong ánh đèn dầu cho đến ngày “ai giải phóng ai”.

Miểu Xưa

Hình 1: Miểu xưa 1950

Bạn bè trong xóm hay đến chơi, trưa hè hay trăng sáng, “thăm” cây trái trong vườn, hoặc học bài, tập tành làm văn thi sĩ, hoa bưởi trắng tỏa hương thơm ngào ngạt, hè có hoa nắng, ve kêu, xuân có hoa mai, cúc, vạn thọ. Trưa hè trèo lên cây ổi, vừa hái ăn vừa đọc sách, lớn lên thì rũ nhau đạp xe đi Thủ Đức , Lái Thiêu thăm măng cụt, sầu riêng.

“Trèo lên cây bưởi hái hoa

Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân”

“Đầu năm ăn quả thanh yên
Cuối năm ăn bưởi cho nên đèo bòng
Vì cam cho quýt phải lòng
Vì em nhan sắc cho lòng anh thương” (Ca dao)

Đầy vườn hoa bưởi hoa cam rụng

Ngào ngạt hương bay, bướm vẽ vòng

…         (Xuân về, trong tập thơ Tâm Hồn Tôi, Nguyễn Bính 1940)

Hoài niệm về bưởi, chanh không phải là ca dao mà là mùa hoa bưởi thơm tỏa trong vườn, và những trái bưởi da xanh, dày, ăn hơi đăng đắng và những đêm sáng trăng quay quần trước sân trò chuyện, ăn bánh, trái, khoai mì, khoai lang, khoai từ, đậu phộng nấu, củ ấu… hoặc gọi chè bán rong thoang thoáng mùi khói bưởi. Nội bảo lột bưởi phải cho đúng cách, lấy vỏ bưởi phơi khô để dành đốt đuổi muổi.  Không biêt muổi có sợ mùi khói bưởi bao nhiêu, nhưng hương thơm tỏa ra cũng làm người dể chịu.

Củ Ấu

Hình 2: Củ Ấu

Trên dĩa quả tử (loại dĩa xưa, có vẻ trang trí màu xanh) trưng bày trên bàn thờ gia tiên  “ba ng ày Tết”  lúc nào cũng có bưởi cam quýt, loại cam sành và quýt đường to gần bằng cam hòa lẩn với vú sửa đu đủ, khóm, mẳng cầu ta(na), thanh long cho đủ màu…kiểu ngủ quả!

Bưởi nhà cho nhiều trái, ăn không hết làm quà cho hàng xóm, vị cũng ngọt nhưng hơi đắng không như bưởi Biên Hòa, ngọt thanh, hạt nhỏ-mà đặc biêt là bưởi ổi Biên Hòa, trái to bằng gấp đôi trái ổi xá lị lớn.

Bưởi được trồng nhiều nhưng phần đông chỉ thấy loại da xanh, mãi về sau mới thấy nhiều loại da xanh vàng, ruột hồng đỏ hoặc trắng, vàng rất thông dụng ở miền Nam.

Ở miền Tây, cam Sành da xanh, nhiều nước, nhiều hột, cam Xoàn da ửng vàng, quýt da vàng,  quýt đường da xanh khi chin ửng vàng, dể lột vỏ,nhiều nước nhưng không ngọt lắm, cũng là vùng trồng cam, buởi, quýt nhiều nhất Việt Nam, tựu trung vùng Bến Tre, Vĩnh Long, Cần Thơ. Đây là loại cây xanh lá quanh, trái, thân, lá có hương thơm, lá có dầu nên dể bốc cháy, mùa ra hoa thơm nứt mũi. Rải rác ở những vùng địa phương khác cũng có bưởi như Đồng Nai-Biên Hoà, Huế, Hà Tỉnh và các giống bưởi Đoan Hùng ngoài Bắc. Ở Mỹ Úc, Âu Châu nhiều vườn cây ăn trái trồng Cam Quýt, hoặc trồng trong sân vườn, hay cả hai bên lề đường. Chi họ Cam Quýt, tên khoa học là Citrus là một trong số nhỏ họ thực vật công dụng nhất, trồng nhiều nhất vì có khả năng thụ phấn lẩn nhau (interfertile), tự lai giống và từ sự nghiên cứu khoa học, công nghệ  đã sản sinh nhiều giống lai ( cultivars) do sự kết hợp nhân tạo hay biến hóa ngẩu nhiên, tạo ra nhiều thay đổi về hình dáng (shape), màu ruột bưởi, có hạt hay không, cũng như vị thơm (fragrance), ngọt chua (taste)

Nên biết trong chi họ Citrus có nhiều giống (Species) loại (varieties).

Cũng nói thêm là variety (loại) cũng được phân định loại thiên nhiên (nature variety) và loại không thiên nhiên (non-nature cultivars) Cultivar là từ hai chử cultivated varieties có nghiã là loại thảo mộc , thực vật có sự can thiệp của người (lai giống, genetic engineering, artificial intervention hoặc tự biến thể (mutation).

Giống Bưởi da xanh (nature varieties), bưởi Diển, Đoan Hùng (ngoài Bắc) sau này (non-nature cultivars).

Một đặc điểm chi họ Cam quýt (Citrus) vì là loài cây ăn trái trồng nhiều nhất trên thế gìới nên trái thường mang tên thương mại hay  xuất xứ địa phương vì tính đặc thù của giống (cultivars) như bưởi Thanh ( gốc Huế ) bưởi Long cổ cò ( gốc Tiền Giang), bưởi

Năm  Roi ( gốc Cần Thơ, Vĩnh Long ) , bưởi Tân Triều (Biên Hòa), Vinh…hoặc bưởi đường hồng , bưởi đường núm , bưởi da láng , bưởi da xanh , bưởi da cóc , bưởi chùm , bưởi ổi… cam  Mỹ , Úc, Tây Ban Nha, Ba Tây …quýt Tàu, Tứ Xuyên, Quảng Đông…Chanh Tây, Ta vân vân …

Sự phân định thực vật của các giống này sẽ phải được dựa vào quá trình phân loại khoa học (taxomony), tuy có tính cách lý thuyết nhưng là kiến thức giáo dục cần phải có.

Citrus Taxo Chart

Hình 3:  Bản phân loại chi họ Cam quýt (Genus Citrus).

Hầu hết các loại bưởi trồng ở Vietnam là bưởi thiên nhiên, kích thước tùy giống, bưởi  Năm Roi (Vĩnh Long), bưởi Tân Triều (Biên Hòa) bưởi da xanh (Bến Tre) và nhiều loại bưởi khác thường gặp ở Việt Nam có đường kính khoảng 18–20 cm, trong khi bưởi Đoan Hùng (ngoài Bắc) chỉ có đường kính độ 15 cm. Cây ra hoa, kết quả hầu như quanh năm, thường mùa hoa từ tháng 3 đến tháng 5 và mùa quả từ tháng 8 đến tháng 11.

Bưởi- Pomelo- Citrus Maxima (Merr,Burn.f.)

 Các giống bưởi thường thấy ở Vietnam có tên khoa hoc là Citrus Maxima (Merr,Burn.f.) or Citrus grandis, tiếng Anh gọi chung là Pomelo. để phân biệt với giống bưởi chùm, tiếng Anh gọi là Grapefruits-tên khoa học Citrus Paradisi không thấy nhiều ở Việt Nam. Bưởi Pomelo có nguồn gốc ở Việt Nam, Đông Nam Á. Bưởi chùm Grapefruits cho là có nguồn gốc ở vùng Caribbean

Có nhiều loại bưởi da xanh, cơm trái bưởi có màu từ vàng nhạt tới hồng và đỏ, độ ngọt, đắng, có hột hay không, tùy nơi địa phương trồng mà biến thể.  Tuy nhiên loại bưởi da xanh được trồng vùng Bến Tre, hơi the không đắng trái nhỏ, ngọt nhưng cũng có loại trái to, ngọt ruột hồng đỏ, trồng bằng cách chiết nhánh có nguồn gốc ở Mỏ Cày (Bến Tre)

Bưởi Da xanh

Hình 4 : Bưởi Da Xanh tìm thấy nhiều nơi ở miền Nam.

Da Xanh Ruột Hồng Bến Tre

Hình 5 : Bưởi da xanh-ruột hồng Bến Tre

Bưởi Năm Roi.

Được thấy trồng nhiều ở Vĩnh Long (Bình Minh, Tam Bình), Bến Tre, Cần Thơ…

Trái hình quả lê (pears), lúc chưa chín màu xanh, gần chín đổi màu vàng, vị ngọt, không the đắng, múi có khá nhiều nước, hương thơm, không hột.

Năm Roi

Hình 6 : Bưởi Năm Roi- Tam Bình, Vĩnh Long

Năm Roi Tân Triều

Hình 7: Bưởi Năm Roi –Tân Triều Biên Hoà

Bưởi Biên Hoà tên chung cho các loài bưởi đặc sản nổi tiếng từ lâu trồng vùng Đông Bắc Sàigòn, nhất là vùng Tân Triều như Bưởi đường, Da láng, Da xanh ruột đỏ, bưởi Thanh  (Thanh Long, Thanh Trà, Thanh Dây và bưởi Ổi).

Bưởi Thanh Long nhiều nước, màu trắng ngà, ngọt thanh, hột nhỏ. Bưởi Thanh Trà ruột trong trắng, ngọt. Bưởi Ổi là loại bưởi qúy hình dáng giống ổi xá lị to, trái rất thơm, múi dể lột, giữ càng lâu- da khô lại, hơi nhăn- ăn càng ngọt và thơm.

Những loại bưởi không ngọt, hơi chua cũng thấy trồng ở Biên Hòa như Bưởi Xiêm, Bưởi da cóc (vì da nhăn) vị chua, nhưng không được chuộng lắm

Bưởi Xiêm

Hình 8 : Bưởi Xiêm

Bưởi ổi Tân Triều

Hình 9:  Bưởi Ổi Tân Triều

Bưởi Long Cổ Cò

Hình 10 : Bưởi Lông Cổ Cò

Bưởi lông cổ cò là giống bưởi đặc sản của huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang.

Có hình dáng quả lê (pears) da ngoài có lớp lông trắng, sờ tay hơi nhám, lớp lông này sẽ mất dần. Khi chín vỏ đổi từ xanh sang xanh vàng có phủ lớp lông mịn.

Vỏ quả khá mỏng, trong quả bì màu trắng hồng, thịt quả bưởi lông cổ cò màu vàng đỏ, dễ lột, vị ngọt hoặc ngọt chua nhẹ, nhiều nước, mùi thơm.

Thanh trà Huế

Hình 11: Thanh Trà Huế

Đặc sản Huế, nổi tiếng từ lâu, quả nhỏ khá tròn, da xanh láng, vỏ mỏng, tép bưởi nhỏ, thơm dòn không nhiều nuớc, ngọt thanh,  Mùa Thanh trà Huế khoảng tháng 7, 8

Cơm Thanh trà Huế

Ngoài Thanh Trà Huế có loại bưởi Thanh trà ở Biên hoà

Thanh Trà Biên Hoà

Hình 12 : Bưởi Thanh Trà Biên Hòa.
Người Huế không ai gọi Thanh trà là Bưởi Thanh trà cả. Tiếng gọi bưởi Thanh Trà dành cho loại bưởi Thanh trồng ở Biên Hoà. Cũng là giống bưởi da xanh, nhưng hương thơm có vẽ khác nhau vì trồng ở điạ thổ khác nhau. Dòng Bưởi Thanh Biên hoà  gồm Bưởi Thanh long, Bưởi Thanh trà, Bưởi Thanh dây. Không nên lầm lẩn bưởi Thanh Trà với trái Thanh trà ở miền Nam, một loại trái nhỏ như trái quất, có vị chua, thanh và thơm.

Phân biệt Thanh Trà
Hình 13 : Phân biệt giữa Thanh trà Huế (trái) và trái Thanh trà của miền Nam (Cần Thơ)

Bưởi  Phúc Trạch

Phúc Trạch là giống bưởi đặc sản trồng nhiều ở Hương Khê (Hà Tĩnh) https://www.youtube.com/watch?v=5G7aGIG2rLg

Phúc Trạch

Hình 14 : Bưởi Phúc Trạch

 

Bưởi Phúc Trạch có hình cầu tròn, bề ngang và chiều cao gần bằng nhau, cuống quả không lồi, đế quả hơi lõm, vỏ không trơn không ráp, màu sắc vỏ quả xanh vàng, cơm màu hồng nhạt hoặc màu trắng trong, quả nặng hơn  1kg, số múi 14-16 múi/quả, khoảng 50-70 hạt/quả, có mùi thơm nhẹ, có vị ngọt hơi thanh chua.

Bưởi Vinh, quả to có núm, ngọt, ít nước, trồng nhiều ở Hương Sơn (Hà Tĩnh)

 

 Đoan hùng

Hình 15 : Bưởi Đoan Hùng- Vỉnh Phú-Phú Thọ

Đoan Hùng Lai

Hình 16 : Bưởi Đoan Hùng lai

http://nongnghiep.vn/nongnghiepvn/vi-vn/25/24366/khuyen-nong/giong-buoi-doan-hung-lai.html

Bưởi Đoan Hùng cũng như bao nhiêu đặc sản khác, chỉ có đất Đoan Hùng mới cho những trái bưởi thơm ngon được, và trên đất Đoan Hùng cũng chỉ có 2 vùng mà ở đó bưởi trở nên thơm ngon nhất, đó là bưởi Chí Đám và bưởi Bằng Luân.

Bưởi Sửu Chí Đám phát triển phù hợp trên đất phù sa sông Lô, sông Chảy. Về nguồn gốc, giống bưởi này được nhân dân xã Chí Đám nhân ra từ cây bưởi ngon của nhà lão nông có tên là Sửu cách đây trên 200 năm. Từ đó tên ông được đặt cho giống bưởi.

Bưởi Bằng Luân có cách đây 200 đến 300 năm là giống có nhiều nhất ở Đoan Hùng, hầu hết các xã trong huyện, đặc biệt là Bằng Luân và Quế Lâm đều trồng giống bưởi này.Bưởi Bằng Luân có dạng lá nhỏ, quả nhỏ có hình cầu dẹt hoặc dạng hình lá to, quả to, tròn đều. Khi chín có màu vàng rơm, màu thịt quả trắng, trục quả đặc, dễ tách múi, tép mềm mọng nước có màu trắng xanh, ngọt đậm, vị thơm.

http://trenguonresort.com/buoi-doan-hung-dac-san-phu-tho/

Grapefruits- Bưởi Chùm

Bưởi chùm grapefruit, tên khoa học là Citrus Paradisi-là một giống cây lai tự nhiên giữa cam (Citrus Sinensis ) và bưởi Pomelo (Citrus Maxima) được cho là có nguồn gốc ở Barbados từ thế kỹ 18.  Cây lá xanh không rụng l á thường cao khoảng 5-6m nhưng cũng có loại cao đến 13-15m, lá xanh đậm láng, cho trái nhiều đường kính khoảng 10-15cm, mọc chùm như chùm nho, trái giống cam nhưng to hơn, vỏ xanh khi chín trở vàng cam, vỏ mỏng, láng,không lột vỏ được, vị đắng, ít ngọt. Cơm bưởi (pulp) có thể có màu hồng, đỏ, trắng, thường cơm đỏ ngọt hơn tuỳ giống lai (cultivars). Năm 1929 Mỹ lần đầu tiên đăng ký (patent) loại grapefruit ruột đỏ US Ruby Read (giống RedBlush). Thông thường người ăn phải dùng dao cắt đôi và dùng muỗng múc để ăn hoặc ép lấy nước uống.

Một trái bưởi cỡ ở trung bình cung cấp khoảng 200 calori. Bưởi chua có nhiều acid, có vitamin C, A, chất sơ hoà tan pectin, và nhiều khoáng chất như Kalium calcium, phosphore, sắt, folate. Bưởi mầu đỏ và hồng còn có thêm beta carotene chống oxy hóa mà cơ thể chuyển hóa thành vitamin A

Grapefruit trắng vàng

Hình 17: Grapefruit -ruột trắng vàng

Grapefruit ruột đỏ

Hình 18 : Grapefruit-ruột đỏ

 

Cam-Oranges

Hầu hết các giống cam quýt được chọn lọc từ những đột biến lai giống tự nhiên (interfertile, mutation) và chỉ một tỷ lệ nhỏ được tạo ra từ lai giống công nghệ (hybridization).

Cam có nhiều kích thước và hình dáng từ tròn đến bầu dục, thường có 10 múi và có đến 6 hạt, bì trong trắng xốp. Khi chin vỏ ngoài (rind) trở màu từ màu cam rực rở đến vàng. Ở vùng khí hậu nhiệt đới khi chin da có thể vẩn có màu xanh. Những loại cam đột biến tự nhiên không hột

Cam đường (sweet orange) tên khoa học Citrus sinensis) trái nhỏ hơn bưởi, vỏ mỏng, khi chín thường có màu cam (vì chất carotene) hoặc vàng rực, có vị ngọt hoặc hơi chua. Cam sành miền Tây khi chín vẩn da vẩn còn màu xanh vì được trồng ở vùng nhiệt đới.  Loài cam có thể lai giống giữa loài bưởi Pomelo (Citrus maxima) và quýt (Citrus reticulata). Cây cam nhỏ, cao đến khoảng 10 m, có cành gai và lá thường xanh dài khoảng 4-10 cm. Cam bắt nguồn từ cổ xưa vùng Đông Nam Á, có thể từ  Ấn Độ , Việt Nam hay  miền nam Trung quốc.  Người Tây Ban Nha đem giống này vào Mỹ Châu khoảng giữa thế kỷ 16.

Cùng chi họ nhưng trái Citrus sinensis được phân loại là cam đường trong khi loại cam the Citrus aurantium được gọi là loại cam đắng (bitter orange)

Thống kê từ 1987, cam đươc trồng nhiều nhất trên thế giới từ vùng nhiệt đới (tropical) đến bán nhiệt đới (sub tropical). Cam được ăn hoặc ép lấy nước, tinh dầu thơm trong vỏ cam. Kể từ 2012 cam đường chiếm 70% tổng số chi họ Cam quýt (Citrus) sản xuất trên thế gìới, nơi sản xuất nhiều nhất là Ba Tây và Mỹ (California và Florida).

 (source-http://en.wikipedia.org/wiki/Orange_%28fruit%29)

 Cam rốn (Navel oranges)

Loài cam này có thể diển tả như có một cam thứ hai nhỏ nằm trên đỉnh đầu của quả cam, nhô ra như cái rốn (rúng)

Navel orangeNavel orange Cơm

Hình 19: Cam rốn (navel oranges)

Loại thông dụng gọi là Cam rốn Washington  có lẻ là ngẩu biến tự nhiên, hay thụ phấn lẩn nhau từ loài cam ngọt , phát hiện đầu tiên ở Ba Tây (Brasil) khoảng 1820, phát triển sang vùng Florida (Mỹ) chỉ trong vòng 15 năm.

Trái cam chín màu vàng, cơm vàng , rất ngọt, nhưng it nước, không có hột, vỏ dể lột.

Cam thích hợp vùng nhiệt đới, bán nhiệt đới với nhiều ánh nắng. Cây lùn khoảng 6-8ft (như Dwarf  Wahington Navel) hoặc như  Washington Navel cao đến 20 ft có lá xanh, bóng láng.

Loài cam này rất phổ thông và rất thành công về phương diện thương mại trên thị trường cam quốc tế.

Trovita

Cam Mỹ Trovita là loại cam lai giống công nghiêp ở California, mùi vị không bằng Cam Rốn (Navel) , cam không có rốn,  nhiều hạt nhưng có thể thích ứng cao với thời tiết khô, nóng. Cam có nhiều nước, trái nhỏ hơn loại Navel.

Cam Trovita

Hình 20: Cam Trovita

Valencia.

Đây là một giống lai có nguồn từ California (Santa Ana). Cam Valencia ngọt, hương vị thơm và nhiều nước. Được trồng nhiều vùng nhiệt đới và bán nhiệt đới, trái nhỏ, vỏ khá mỏng và ít hột.

http://www.survival.org.au/fruit_oranges.php#sthash.xFSP9khJ.dpuf

 

Cam Valencia

Hình 21 : Cam Valencia

 

 Cam Đỏ

 Cam Đỏ Moro

Hình 22: Cam Đỏ -Moro (Blood) Oranges

Vỏ cam màu vàng , cơm màu đỏ đậm vì có chứa nhiều pigment anthocyanin, múi cam thơm, thoang thỏang hương vị dâu mâm xôi (rasberry).

Cam Sành

Cam Sành

Hình 23 : Cam sành chưa trưởng thành da xanh đậm miền Tây (Tam Bình, Vỉnh Long)

 

Cam sành và quýt đường thích nghi tốt vùng đồng bằng sông Cửu Long,  cây cho năng suất cao, phẩm chất ngon, nước nhiều, vỏ khá dể lột. Trái có nhiều hột đã hạn chế phần nào việc tiêu thụ trái tươi. Có tài liệu nghiên cứu đã ghi nhận được nhiều trường hợp có trái không hột hay ít hột (nhỏ hơn 5 hột).

Cam Xoàn

Cam Xoàn là loại cây ít bệnh, ăn rất ngọt, vắt nước uống rất thanh, cơm màu vàng nhạt, vị ngọt đậm, mùi thơm, chắc múi hơn so với các loại cam sành, cam mật. Lúc chưa chín da láng màu xanh, lúc gần chín chuyển sang màu vàng.

Cam Xoàn có tác dụng giải khát, nhiều vitamin như vitamin C, vitamin B9. Cam Xoàn là giống cây ăn trái được trồng nhiều và lâu đời ở một số tỉnh đồng bằng sông Cửu Long. Cây sinh trưởng và phát triển mạnh, thích nghi với nhiều vùng đất cao ráo thoát nước tốt, đất không quá nhiễm phèn- mặn. Cây chống chịu khá tốt với bệnh vàng lá Geenning và một số dịch hại khác.  Sau 30 tháng trồng cây cho trái. Từ khi ra hoa đến khi thu hoạch khoảng 8 tháng.

Cam Xoàn

Hình 24. Cam Xoàn

Cây Cam Xoàn

Hình 24a: Cây cam Xoàn.

Múi Cam Xoàn

Hình 24b: Múi cam Xoàn.

 

Cam mật Phong Điền Cần Thơ

Cam mật ở Phong Điền được phát triển từ những năm 1950 – 1960, và trở thành sản vật đặc trưng làm nền văn minh miệt vườn Phong Điền, sánh vai cùng các xứ vườn nổi tiếng khác.

Cam mật là loại đặc sản nổi tiếng trong và ngoài nước, hương vị thơm ngon, vỏ sáng óng ánh, màu xanh tự nhiên, múi to hạt nhỏ, năng suất cao.

Cam Mật Phong Điền

Hình 25:  Cam mật

Cam Đường

Cam đường chính là một giống quýt, vỏ mỏng và bóc dễ nhưng vỏ lại dai nên có nơi còn gọi là cam giấy, được trồng nhiều ở Lào Cai, vùng Canh-Diễn (Từ Liêm, Hà Nội) nên có tên là cam đường Canh. Quả hình cầu hơi dẹt, nhẵn, khi chín có màu đỏ gấc rất tươi. Cam chín vào trước Tết khoảng 1 tháng nên được giữ để bày mâm ngũ quả cúng tổ tiên. Cam đường Canh lại thích nghi trồng được ở mọi nơi. Điều kiện trồng thuận lợi, cam cho năng suất cao.

Cam đường

Hình 26: Cam đường

Cam Đắng –Bitter Orange –Citrus Aurantium

 Cam Đắng

Hình 27: Cam đắng

Cam đắng (Bitter Orange), cam  Seville (Tây Ban Nha), cam chua, cam làm mức được gọi cho  loài cam có tên khoa học là Citrus  aurantium. Loài cam này là giống lai từ bưởi Citrus Maxima( Pomelo) và Quýt  Citrus Reticulata (Mandarin Orange). Da không láng, ít nước vị chua, những loại cam này thường được dùng lấy tinh dầu, pha trong dầu thơm, làm tăng mùi vị trong thức ăn hoặc làm mức. Cam đắng dùng trong thuốc Bắc, Nam như chất kích thích (stimulant) và chống thèm ăn (appetite suppressant).  http://en.wikipedia.org/wiki/Bitter_orange

 

Cam đắng Bergamot-Citrus Bergamia

Cam Bergamot

Hình 28: Cam Bergamot                                                                        Chanh Limetta

Cam Bergamot (Citrus bergamia) là loại cam có nguồn gốc Ý vùng Bergamo, da màu vàng khi trưởng thành, giống màu chanh, được cho là giống lai từ Citrus Limon Limetta và Citrus Aurantium.

Cam Bergamot vi chua đắng, được dùng trong công nghệ tinh dầu ở miền Nam Pháp hay làm mức ở  vùng Antalya Thổ Nhĩ Kỳ

Citrus Bergamia cũng đã được phân loại là Citrus aurantium subsp. bergamia (tức là một phân loài của cam đắng.

(http://citruspages.free.fr/lemons.html#limetta)

Quýt-Madarin Orange-Citrus reticulata

Quýt Ngọt

Hình 29:  Quýt ngọt

Cây Quýt (Citrus Reticulata Blanco.) thuộc chi họ Cam Quýt (Citrus), họ Rutaceae, có nguồn từ Trung Quốc,  Ấn Độ. Ở Việt Nam, quýt được trồng khắp nơi với nhiều giống và chủng loại khác nhau.

Cây thân gỗ nhỏ có dáng chắc và đều, thân và cành có ít gai.  Lá đơn, mọc so le; phiến lá hình ngọn giáo hẹp có khớp, trên cuống lá có viền mép. Hoa nhỏ, màu trắng, ở nách lá. Quả hình cầu hơi dẹt, màu vàng da cam hoặc ững đỏ, vỏ mỏng, láng hay hơi sần sùi, múi không dính nên dễ bóc, cơm dịu, thơm. Đơm hoa tháng 3-4, quả tháng 10-12.

Thân cây quýt chịu đựng khô dể hơn trái, trái dể bị hư hỏng do khí hậu khô hoặc lạnh quá nên chỉ thường trồng ở vùng nhiệt đới hay bán nhiệt đới. Nghiên cứu về phân tử học cho biết Quýt, Chanh Tây (Citron), Bưởi (Pomelo) là tổ tiên của những giống và chủng loại thuộc chi họ Cam Quýt (Citrus) qua cách thụ phấn lẩn nhau (interfertile, natural hybridization) hay lai giống công nghệ (hybrid).

Quýt bán trên thị trường thường được gọi tên theo vùng đia phương trồng, hoặc theo hình dáng và độ ngọt- quýt mật Nam phong, quýt Tàu ( Tứ Xuyên, Quảng Đông…) , rồi quýt đường, tiêu, quýt tuyết, quýt lô v.v..

Vỏ quýt thường xốp hơn cam, dễ bóc, múi có thể dễ dàng tách từng múi, trái nhỏ hơn cam.

 

Tangerines

 

Quýt Tangerine

Hình 30: Quýt tangerine

Loại tangerine (C. tangerina) liên hệ gần với quýt ngọt (C. reticulata), trái nhỏ hơn cam, da mỏng vàng đậm, dể lột hơn cam . Ngọt và hương vị mạnh hơn hương vị của cam, múi có hạt.  Lúc chín trái chắc và mềm hơn cam. Rất phổ thông ở Mỹ, tên tangerine được đặt tên từ loại quýt ngọt đươc giới thiệu qua phương Tây qua cảng Tangiers ở Morroco.

http://www.wisegeek.org/what-is-the-difference-between-mandarins-and-tangerines.htm

Clementines

Là một chủng loại từ lai giống của giống quýt ngọt.  Clementines ( C. Clementina) là loại quýt không hột , khác với tangerines có hột. Da láng, dể lột vỏ, trong có 7-14 múi, ngọt, nhiều nước, ít acid hơn cam.

Quýt Clementine.

Hình 31: Quýt Clementine

Satsuma tên khoa học Citrus Unshiu, giống quýt có nguồn từ Nhật vùng Satsuma thuộc đảo Kyushu, trái dể lột, da vàng khi trưởng thành, vị ngọt và không có hột.

Quýt Satsuma

Hình 32: Quýt Satsuma

Cây thân nhỏ chịu lạnh, mọc chậm, tàn lá rậm, thân rất it gai, da mõng nhiều tuyến dầu. Trái chin có 10-12 múi, dể tách, ruột rổng. Trái chín dể rụng nên thường phải hái trước, giữ chứa được lâu.

Satsuma thường bị lẩn với tangerine hay Clementine vì là các giống lai liên hệ trong giống quýt.

Chanh

Citron – Chanh da nhăn – Citrus Medica

Chanh Da nhăn

Hình 33: Chanh da nhăn.

Chanh da nhăn – Citrus Medica  là một trong ba giống khởi nguồn cuả chi họ cam quýt ( hai giớng kia là Buởi Citrus Maxima hay Paradisi và Quýt Citrus Reticulata). Tất cả các giống Citrus khác là do lai giống thiên nhiên (natural hybridization, interfertility) hay nhân tạo (artificial hybridization).

Chanh da nhăn ít nước, múi khô, phần chính là vỏ trong dày màu trắng (white rind) dính liền với các múi khó tách ra được- Không lột vỏ được như cam quýt .

Thường được dùng lấy mùi thơm (fragrance) hay vỏ ngoài cùng được cạo ra (zest) dùng trong salad hay nấu ăn. Ngày xưa được dùng như y dược trị say sóng, bệnh phổi, dầu từ lớp da ngoài cùng được xem là anti-biotic.

Nước (juice) của chanh nhăn (citron) chứa nhiều Vitamin C  được dùng pha chế dược phẩm chống thấp khớp (rheumatism), nôn mửa (vomiting) , hơi trong dạ dày (flatulence) , trỉ ( haemorrhoids), bệnh da , mắt yếu hay ngay cả lợi ích cho tim mạch (cardiovascular benefits)

(http://en.wikipedia.org/wiki/Citron)

 

Phật Thủ (chanh Phật Thủ)

Chanh Phật Thủ

Hình 34: Chanh Phật Thủ

Có tên khoa học là Citrus Medica (Citrus medica varsarcodactylis), tiếng Anh gọi là Chanh ngón tay (fingered citron) hay bàn tay  Phật (Buddha’s hand). Loại thân cao khoảng  2.5 đến 4.5m, thân nhánh có gai , hoa nở vào mùa Xuân, thích nơi có nhiều ánh sáng mặt trời.  Trái có vỏ dày, nhăn nhíu, cũng giống như các loại chanh Tây vỏ cạo ( Zest) trộn làm salad, hoặc làm gia vị nấu ăn vì hương thơm, làm bánh (cake, biscuit) hoặc làm jam hay marmalade .

Chanh Phật Thủ không chua nhiều, ít nước và nhiều khi không có hạt.

 

Chanh Tây-Lemon-Citrus Limon

Chanh tây hay chanh vàng, là tên khoa học Citrus Limon. Loài này được Carl Von Linné, Laurens Burman cùng các cộng sự miêu tả khoa học đầu tiên năm 1768.

Thanh yên hay chanh yên Citrus limonimedica hay Citrus medica ssp. bajoura hoặc Citrus medica L. var. ethrog Engl., Citrus medica L. cv. Ethrog) là cây ăn quả thuộc chi Cam Quýt. Là loài bản địa của Ấn Độ, Myanmar và vùng Địa Trung Hải, tại Việt Nam, giống cây này được trồng từ Lạng Sơn đến Lâm Đồng. Tên tiếng Anh của loài này là Citron.

Cây thanh yên là cây gỗ nhỏ, cao từ 2.5 m đến 5 m. Hoa thơm, màu trắng pha tím đỏ. Quả ra vào tháng 6, khá to, kích thước (12 – 20) x (8 – 12) cm hình bầu dục, màu vàng chanh khi chín, vỏ sần sùi, dày, mùi dịu và thơm; cùi trắng, dịu, nạc, tạo thành phần chính của quả, thịt quả ít, màu trắng và hơi chua (5-6% citric acid).

Vị chua đặc trưng của chanh làm tăng hương vị cho món ăn, nước uống (lemonade, lemon drink).

Về mặt thực vật học, đây là loài lai giữa C. medica và C. aurantium. Mặc dù các tác giả khác cho rằng chanh tây là kết quả lai giữa Citrus medica và Citrus aurantifolia

Chanh Tây

Hình 35: Chanh Tây

 

Chanh Ta – Key Lime- Citrus aurantifolia

Chanh hay còn gọi là chanh ta vỏ xanh (Citrus aurantifolia) để phân biệt với chanh tây (Citrus Limon), quả hình cầu, đường kính từ 2,5 cm – 5 cm (1–2 inch), khi chín có màu vàng rực (nhưng thường được khai thác khi quả còn xanh). Quả chanh ta có kích thước nhỏ hơn chanh Tây, nhiều hạt hơn, lượng axít cao hơn, mùi vị nồng hơn và vỏ mỏng hơn so với loại chanh không hạt (Citrus latifolia). Chanh ta được ưa chuộng vì mùi vị đặc trưng của nó so với các loại chanh khác – cụ thể là vị chua và đắng nồng hơn.

Chanh Ta

Hình 36: Chanh Ta

Chanh Ta -Lime

Hình 37: Chanh ta-Lime- Citrus Latifolia

Chanh ta vỏ mỏng, tiếng Anh gọi là Lime- tên khoa học Citrus Latifolia. Còn gọi là Persian hoặc Shiraz Limoo , Tahiti lime hoặc Bearss lime.  The Persian lime, chanh Trung đông là giống lai giữa key lime (Citrus aurantiifolia) với lemon (Citrus limon) hay citron (Citrus medica).

Chanh không hạt-ít gai là giống chanh được nhập vào Việt Nam trong thời gian gần đây, rất được ưa chuộng, do dễ trồng, cho năng suất cao. Có thân và quả gần giống chanh giấy truyền thống (chanh vỏ mỏng) của Việt Nam, khi cành ở giai đoạn trưởng thành thì các gai bị thoái hoá, cây cho sai quả, một chùm cho 7-8 quả. Năng suất rất cao từ 150-200kg quả/cây/năm, quả to, tròn, cơm màu trắng xanh, không hạt, nhiều nước, chua, thơm

Chanh Kaffir lime

Chanh Kafir Lime

Hình 38: Chanh Kafir Lime

Kafir Lime Citrus hystrix, tên Anh kaffir lime, là giống chanh bản địa (native) của bán đảo Đông Dương (IndoChina), cũng tìm thấy ở  xứ nhiệt đới như India, Nepal, Philippines, Bangladesh, Indonesia,Malaysia và Thái Lan. Da chanh sần sùi không láng, lá xanh đậm, láng, cơm thơm nhưng ít nước, lá và trái được dùng nấu ăn.

 

Chanh lai giống Úc

Úc có 6 giống Citrus bản địa (native), nhưng giống Chanh ngón tay được biết và trồng nhiều nhất. Được tìm thấy trong rừng nhiệt đới ở những dảy núi giữa tiểu bang Queensland và Bắc New South Wales, đây là loại cây thân bụi, có gai, cao không quá 6m, trái có hình dạng ngón tay dài đến 12cm, da màu xanh, lá cây xanh có chút vàng. Cơm chanh gồm bởi những túi nhỏ mọng nước (vesicles) vị chua. Cơm được dùng trong công nghệ làm nước xốt (sauces), mức (jam), thạch (jellies)

Click to access growing-australian-native-finger-limes.pdf

Chanh Ngón Tay

Hình 39:  Chanh Ngón Tay-Finger Limes

Loại Chanh ngón tay đỏ là một giống lai tự nhiên, cấu trúc bên trong trái cũng giống như giống chanh vỏ màu xanh vàng nhưng cơm có màu đỏ hồng, tên khoa học là Citrus australasica var sanguina

Chanh ngón tay đỏ

Hình 40:  Chanh ngón tay đỏ-Citrus australasica var. sanguinea (the red finger lime)

Chanh Đỏ

Hình 41: Chanh đỏ

Chanh đỏ là giống lai giữa giống chanh ngón tay đỏ với giống chanh Rangpur (Rangpur lime *) tên khoa học là Citrus Limonia. Trái màu đỏ đến đỏ thẫm. Tàn cây bụi thấp đến 2-3m, lá bầu dục, láng màu xanh đậm khoảng 25-25mm và rộng khoảng 15mm, nách lá (axils) có kim cứng và nhọn gây khó khăn lúc hái. Trái chanh hình bầu dục , da màu vàng (gold) với đốm đỏ, đến đậm đỏ, kích thước khoảng 30-50mm chiều dài và 20-30mm chiều rộng, có thể thay đổi tùy muà và nơi trồng cũng như thòi gian thu họach. Hạt chanh nhỏ, nước chanh chua.

*Rangpur Lime loại chanh vỏ mỏng, giống lai giữa chanh Tây (lemon) và quýt (mandarin) , thịt thơm và cho nhiều nước, hơi chát, còn gọi là chanh Quảng Đông.

 

 Tắc, Hạnh

Quất ở Đông Nam Bộ Việt Nam gọi là tắc, Tây Nam Bộ là hạnh, tên khoa học là Citrus japonica ‘Japonica’; là một giống kim quất, và là giống hay được trồng nhất trong các giống kim quất.

Quất là loài cây xanh cũng thường trồng làm cảnh trong sân hay trong nhà. Cây quất ra đầy trái hay được trưng bày vào dịp Tết vì được xem là biểu tượng của may mắn.

Quất có nguồn từ Châu Á, Trung Quốc và Nhật được xếp vào chi họ Cam Quýt (Citrus) cho đến năm 1915 thì được xếp vào chi họ Fotunella theo sự nghiên cứu của Dr Walter T Swingle. Tên Fortunella (đặc theo tên nhà khoa học người Anh Robert Fortune) đã đem giống này về Âu Châu 1846. Có 4 loài tắc (kumquat), the Hong Kong Wild (Fortunella hindsii), Marumi loài tắc được trồng nhiều ở VN trái vàng tròn (Fortunella japonica), Meiwa (Fortunella crassifolia), and Nagami- trái vàng bầu dục vị thơm hơn Marumi (Fortunella margarita). Loài thông dụng nhất được trồng nhiều nơi là ‘Nagami’ and the ‘Meiwa’. Tắc có thể ăn luôn cả trái nhưng chua, ăn vỏ có vị ngọt.

Cây Tắc, thân dẽo, nhỏ cao độ khoảng 1-2m, màu xanh xám, nhiều cành nhánh, lá đơn hình bầu dục, cuốn có cánh rất nhỏ, lá màu xanh thẫm, hoặc có viền trắng như Nagami. Hoa thường đơn độc, nở xòe 5 cánh trắng, rất thơm, chùm nhụy rất ngắn. Đậu thành trái hình cầu hoặc bầu dục (oval như loài Nagami), lúc còn non màu xanh bóng, khi già chín đổi thành màu vàng cam, rất đẹp. Bên trong ruột có nhiều múi màu vàng nhạt, chứa nhiều nước chua gắt , nên thường dùng để làm nước uống với đường rất đã khát hoặc làm mứt (marmalade) để ăn…

Tắc Cây

Hình 42: Tắc (Quất, KumQuat, Kim Quat)

 

Tắc Nagami

Hình 43: Tắc Nagami Citrus japonica ‘Margarita’

Tăc Murami

Hình 44: Tắc Murami Citrus Japonica or Fortunella japonica

Tangelo (Citrus tangelo) là giống lai từ Quýt Tangerine (Citrus Tangerina) với giống bưởi chùm grapefruit (Citrus Paradisi).

Trái dể lột vỏ hơn cam, nhiều nước có mùi vị giống tangerine, đặc điểm có núm (nipple) nơi trái dính vào cành.

Tangelos
Hình 45: Tangelos

Minneolas cũng là giống lai giữa tangerine và grapefruit , tựa như tangelos dể nhận ra vì cũng có mủi nhỏ trên đầu trái

 Minneolas

Hình 46: Minneolas

Lai giống ở Florida ,trái hơi to hơn quýt có vị ngọt cuả quýt pha lẩn với vị chua chát cuả bưởi chùm (grapefruit), Đường kính trung bình 7-8cm, vỏ dể  lột như quýt hay tangerine, it hột.

Trái thanh trà

Bouea macrophylla (Bouea macrophylla Griff) loại trái có nguồn gốc ở Vietnam Đông Nam Á., thuộc họ Anacardiaceae lien hệ với giống Xoài (mango).

Thanh trà Vỉnh Long

Hình 47 : Trái thanh trà Vỉnh Long

Thanh Trà

Hình 48: Thanh Trà

Nếu có dịp về miền Tây vào mùa này, khi ngang qua xã Đông Thành (thị xã Bình Minh, Vĩnh Long), du khách sẽ ngỡ ngàng khi nhìn thấy nhiều khu vườn trái thanh trà chín vàng rực rỡ dưới nắng hè.

Cây thanh trà trông giống như cây xoài, trái tương tự quả chanh, vỏ màu xanh, chín có màu vàng cam bóng láng, cơm mềm vị chua, ngọt rất hấp dẫn mọi người – nhất là trẻ con. Trái chín vào khoảng tháng giêng đến cuối tháng 3 âm lịch.

Thanh trà có 2 loại: thanh trà chua và ngọt (thanh trà chua trái tròn, vỏ mỏng, chín có màu vàng sậm, dễ giập; còn thanh trà ngọt trái dài, vỏ dày, cứng, có lớp phấn trắng phủ bên ngoài, trái chín có màu vàng nhạt).

Có nhiều cách thưởng thức hương vị của thanh trà: ăn chín, làm mứt và làm gia vị trong việc chế biến các món ăn (nấu canh chua, kho).

Cách thông thường mà giới ưa chuộng ăn thanh trà chín chấm muối ớt.  Vị chua, ngọt, thơm của thanh trà; vị mặn, cay của muối ớt và những cái “hít hà” vì cay nồng lên tận mũi, thật thú vị!

Riêng những người lớn tuổi, thư thả hơn khi về nhà, có cách thưởng thức như: thanh trà chín cho vào rổ rửa sạch. Dùng dao bén gọt bỏ vỏ, cho vào ly (khoảng 2 trái) cùng vài muỗng đường cát, một tí muối bọt (cho có hương vị đậm đà). Lấy muỗng cà phê dầm cho cơm thanh trà nhừ ra với đường. Cho thêm tí nước vào khuấy hòa tan. Cuối cùng, bỏ vài viên đá vào là ta có được món thanh trà dầm đá giải nhiệt tuyệt hảo!

Cũng còn có cách chế biến khác nữa là làm mứt tuy hơi nhọc công một chút. Chọn mua vài ký thanh trà chua, chín (nhớ lựa những trái cứng thịt, màu sáng, không giập) về nhà rửa sạch, gọt vỏ, xắt thành từng miếng như miếng xoài, bỏ hạt.

( http://dacsanmientay.vn/am-thuc-mien-tay/am-thuc-vinh-long/qua-thanh-tra/)

Chanh Dây-Passion Fruit-Passiflora Edulis

 Chanh Dây

Chanh dây là loài dây leo giàn tên khoa học là Passiflora Edulis thuộc chi họ Passiflora, họ Passifloraceae, không phải là loài chanh tuy vị có chua.

Có nguồn gốc ở Nam Mỹ, được trồng vùng nhiệt đới và bán nhiệt đới, Úc , Mỹ, Trung, Nam Mỹ, vùng West Indies, Phi Châu, Hawaii.

Trái xanh trở thành vàng hoặc tím tùy chủng loại, trong có nhiều hạt, vị chua. Ở VN gọi là chanh dây , dùng để giải khát như uống chanh đường. Trên thế giới Passionfruit được pha chế làm nước ngọt (soft drink), nước trái cây (fruit juice) hoặc trong kem hay làm bánh để làm tăng hương vị thơm.

 

Mai Trầnn-Y Nguyên- Hè 2015

 

Tham Khảo:

1-http://buoidaxanh.vn/

2-http://kimanhl.blogspot.com.au/2014/09/trai-buoi-va-dung-no-buoi-o-t-en-khoa-h.html

3- https://dokmaidogma.wordpress.com/2012/08/25/a-tasty-hardy-and-ornamental-calamondin-orange/ pure and crossed species

4- http://www.diggers.com.au/shop/product/WPLRL/RANGPUR%20LIME.aspx

5- http://dacsanmientay.vn/am-thuc-mien-tay/am-thuc-vinh-long/qua-thanh-tra/

6- http://www.dpi.nsw.gov.au/__data/assets/pdf_file/0016/320272/growing-australian-native-finger-limes.pdf

7- http://www.3tvietnam.vn/vn/tin-san-pham/nhung-tac-dung-cua-vo-cam-quyt.html

 

 

 

 


Kể chuyện kinh cầu xưa vùng Sài Gòn Chợ Lớn trước 1975 (P2)

Kể lại chuyện kinh cầu xưa vùng Sài Gòn Chợ Lớn trước 1975 (P2).

Phần 2

Y Nguyên Mai Trần

Xem Phấn I

3- Cầu trên rạch phiá Nam-rạch Bến Nghé, Kinh Bải Sậy, Kinh Đôi, Kinh Tẽ

Sông Sài Gòn (Bến Nghé) chạy qua  quận 1 thành phố Sài Gòn quẹo sang trái biến thành rạch Bến Nghé. Sau đó vì lý do kinh tế vận chuyển thương mại , kinh Tẽ lại được đào thêm năm 1905.

Rạch Bến Nghé, còn gọi là kinh Chợ Lớn, thời nhà Nguyễn còn gọi là sông Bình Dương. Thời Pháp thuộc, người Pháp gọi là Arroyo Chinois  (Kinh Người Tàu). Tưởng cũng nên biết rằng người Tàu từ miền Cù lao Phố chạy về đây lập nghiệp, xây dựng cơ nghiệp dọc hai bờ rạch, ghe thuyền tấp nập thu hút dân thương hồ miền Tây, tứ xứ, tụ hợp về đây kể cả người ngoại quốc, họ gọi vùng này là Đề Ngạn, người Việt gọi là kinh Tàu Hủ.

Rạch Bến Nghé chạy dài từ Bến Nhà Rồng-Cột cờ Thủ ngữ đến kinh Lò Gốm, đường nước thiên nhiên. Hợp lưu dọc theo rạch Bến Nghé có những hệ thống kinh tự nhiên, mà hai rạch quan trọng là rạch Ông Lớn và rạch ông Nhỏ và rạch Xóm Củi.

Rạch Bến Nghé chảy về phiá Tây thì gặp Rạch Lò Gốm hợp lưu để chảy về phía Nam ra Rạch Cát, nhưng đoạn này thường cạn nước, ứ động gây trở ngại cho việc thương thuyền. Nhận được tầm quan trọng trong việc vận chuyển thương thuyền, năm 1772  Chúa Nguyễn ra lệnh cho ông Nguyễn Cửu Đàm đào lại đoạn này từ nơi giáp nước cuả rạch Bến Nghé và rạch Lò Gốm chảy từ phiá Tây ( Phú Thọ, Phú Lâm xuống) .  Kinh được đào thẳng tắp về phía Nam nối Sa giang (rạch Cát), ông đặt tên cho kinh này là Ruột Ngựa (Mã trường Giang ). Năm 1819,  kinh Bến Nghé  từ chổ giáp nước với rạch Ông Nhỏ ( Tiểu Phong Giang)- khúc nhà thương Chợ Quán-Bịnh viện Nhiệt đới ngày nay đến kinh Ruột Ngựa vì “chảy quanh co mà nhỏ hẹp,khuất khúc, nước cạn” nên Gia Long ra lệnh cho Huỳnh Công lý , phó tổng trấn thành Gia Định , đào lại khúc này và được  Vua Gia Long đặt tên là An thông hà  ( sông An thông) (Trịnh Hoài Đức (Gia định thành Thông Chí , viết vào khoảng 1820-1822)),

Đường nước kinh rạch Bến Nghé –An Thông-rạch Lò Gốm chảy xuống kinh Ruột Ngựa rồi hợp lưu tiếp giáp  với các đường nước chảy về phiá Tây (về miền Tây) và miền Đông (Biên Hoà và miền Trung , Bắc  ) là cửa ngỏ quan trọng của thương thuyền vào Bến Nghé Sàigòn Chợ Lớn.

Kinh Ruôt Ngựa trở thành kinh trọng yếu để vào trung tâm thương mại Sài gòn (khi người Pháp vào thì họ gọi là Chợ Lớn (Sài Gòn (cũ) lúc mới khai, sau lập lại khu vực mới quanh thành Phụng lấy tên Sàigòn (mới).  Để giảm thiểu áp lực lưu lượng vận chuyển thương mại cho kinh Ruôt Ngưa cũng như rạch Bến Nghé, kinh Tẽ được đào năm 1905-1906 xuống đến cầu chử Y. Đoạn từ cầu chử Y xuống rạch Lò Gốm được đào song song với rạch với Rạch Bến Nghé (kinh Tàu Hủ) người Pháp gọi là Canal Doublement, người Việt, Kinh Đôi.

Về phiá khu trung tâm Chợ Lớn (Sài Gòn xưa) , vây quanh bởi đường Nguyễn Tri Phương về phiá Đông; rạch Bến Nghé-Tàu Hủ phía Nam; đường Hùng Vương phiá Bắc và Dương Công Trừng (Nguyễn Thị Nhỏ)  phiá Tây. Vùng này có kinh Bải Sậy, rạch Chợ Lớn (không nên nhầm với Rạch Bến Nghé (kinh Tàu Hủ, Arroyo Chinois) và Kinh Phố Xếp,ba kinh rạch này đều là phụ lưu của Rạch Bến Nghé , Kinh Bải Sậy và Rạch Chợ Lớn chảy về phía Tây, trong khi kinh  Phố Xếp về phiá Bắc.

Hình 29

Hình 29: Bản Đồ 1874 chưa có kinh Tẽ

Tham khảo bản đồ này vẫn còn thấy rạch Chợ Lớn chưa bị lấp (nằm ngay vị trí đường Hải Thượng Lãn Ông ngày nay), và kinh Phố Xếp đào  chạy thẳng hướng Bắc vê phiá Chợ Rẩy –nơi người Tàu trồng rau cải cung cấp cho thành phố-là khu vực nhà thương Chợ Rẩy ngày nay. Tên Phố Xếp do kinh chạy trước nhà ông Đốc Phủ Chợ Lớn (theo Trương Vĩnh Ký) . Đường Cây Mai (Nguyễn Trải) có một cầu bắc ngang Kinh Phố xếp gọi là Cầu Phố (theo TVK). Kinh Phố Xếp bị lấp trở thành “đường Phố Xếp, trước  1975 là  đường Tổng Đốc Phương, bây giờ là Châu Văn Liêm-Thuận Kiều.  Đường Vạn Kiếp khi này vẫn còn là một đoạn kinh đào thẳng nối vào kênh Tàu Hủ. Bản đồ 1874 này cho biết rõ vị trí đầu tiên của khu vực chợ Nhà Lồng (còn được gọi là Chợ Củ, Trung tâm – Marché Central), tức khu vực Bưu Điện quận 5 ngày nay, với những khu vực tô đậm hình tam giác. (Xem bản đồ phía trên).

Cầu bắt ngang rạch Bến Nghé (kinh Tàu Hủ-Arroyo Chinois).

Từ sông Sàigòn thuyền qua cột cờ Thủ Ngữ -do người Pháp xây dựng, rẻ phải  vào Kinh Bến Nghé , người Pháp đạt tên là Arroyo Chinois, người Việt gọi là kinh Tàu Hủ- Theo học giả Trương Vĩnh Ký (viết năm 1885) và Huỳnh Tịnh Của (viết cuối thế kỷ 19) thì đoạn phố dọc  hai bên rạch Chợ Lớn  ( Bến Nghé) được gọi là Tàu Khậu, đó là cách người Triều Châu phát âm từ “thổ khố” (khu nhà gạch), sau trại âm thành Tàu Hủ.

Người Pháp gọi là Arroyo Chinois để phản ảnh  hệ thống sông rạch nơi đây có đông đảo người Tàu buôn bán, ghe thuyền tấp nập đến từ muôn phương  trao đổi hàng hóa, người Tàu đóng một vai trò kinh tế quan trọng qua hệ thống giao dịch , tổ hợp thương mại và  tài chính trong khu vực với người Trung Hoa (từ Quảng Đông, triều Châu, Phúc Kiến…), người Âu Châu, Nhật, Thái, Ấn…Những sản phẩm thương mại chất đầy ở kho, vựa dọc hai bên kinh rạch như gạo, muối, cá khô, đường, tiêu…cũng như hàng hoá đã chế biến từ Trung Hoa, Ấn Độ , Tân Gia Ba (Singapore) …

Thuyền qua khỏi nhà Rồng và cột cờ Thủ Ngử  rẻ phải vào Kinh Bến Nghé (kinh Tàu Hủ, Arroyo Chinois, sông Bình Dương)  phải đi qua một chiếc cầu Quay, bắc ngang kinh đi qua bến Nhà Rồng và Khánh Hội.  Hình kế tiếp cho thấy cầu quay khúc giữa cho tàu buôn qua lại. Cầu được xây năm 1904 nhưng không biết hết quay nằm nào.

Hình 30

Hình 30 Hình Cầu Quay Khánh Hội

Hình 31

Hình 31: Không ảnh Cầu Khánh Hội và cầu Mống 1955 by Raymond Cauchetier

Hình 32

Hình 32:Cầu Khánh Hội khi còn đường xe lửa năm 1948 không còn khả năng quay nữa (hình Jack Birns)

Cầu Mống

Cầu Mống từ Bến Chương Dương qua Bến Vân Đồn đi Vĩnh Hội.

Hình 33

Hình 33:  Xe kiếng chạy trên cầu Mống

Hình 34

Hình 34: Ghe thuyền neo đậu bến Chương Dương cạnh cầu Mống.

Cầu Mống (Arc en Ciel) nối liền Bến Chương Dương với bến Vân Đồn. Toà nhà lớn nằm phía bến Chương Dương được dùng làm Thượng Viện của VNCH.

Cầu nầy do công ty vận chuyển hàng hải Pháp Messageries maritimes bỏ vốn mướn công ty xây dựng Levallois Perret (tức Eiffel cũ) xây cất – có thể là trong cùng một giai đoạn với việc xây cất Cầu Quay Khánh Hội – do đó người Pháp cũng gọi cầu nầy là cầu “Công ty Messageries Maritimes”    Hai khung đường xe chạy, một để đi lên cầu sang Vĩnh Hội và một để từ cầu phía Bến Vân Đồn/ Vĩnh Hội  đi qua để xuống bến Chương Dương  . Trước 30 tháng 04 năm 1975, bờ kinh Tàu Hủ ở dưới gầm cầu Mống phía bến Chương Dương là hai khuôn viên ấm cúng, thơ mộng cho những cặp tình nhân trẻ, ngày cũng như đêm.

Hình 35

Hình 35:  Công viên trước tòa nhà Hội Nghị Diên Hồng

Hình 36

Hình 36: Hội trường Diên Hồng (hình chụp lúc tổ chức Hội Nghị Colombo Plan)

Hội trường Diên Hồng sau là Thượng Viện thời VNCH nằm góc đường Công Lý và Bến Chương Dương. Đi dọc Bến Chưong Dưong về gần về hướng cầu Mống băng qua đường Pasteur thì có toà nhà đồ sộ Ngân Hàng Quốc Gia Việt Nam trước 1975.

Hinh 37

Hình 37: Banque L’Indochine sau 1954 thành Ngân Hàng Quốc Gia Việt Nam

 Trước 30 tháng 04 năm 1975, trụ sở Ngân Hàng Quốc Gia cũng là trụ sở của Viện Hối Đoái của chính phủ Việt Nam Cộng Hoà ở góc đường Pasteur và Bến Chương Dương.

Cầu Calmette

Cầu bằng bê tông cốt sắt đã được xây cất xuyên ngang kinh Tàu Hủ trong khoảng cuối thập niên 1950 hoặc đầu thập niên 1960 (có thể là cùng với một thời điểm xây cất cầu Khánh Hội bê tông cốt sắt cố định để thay thế chiếc cầu Quây Khánh Hội ngày xưa). Chân cầu phiá bến Chương Dương là nơi bán đồ củ, còn phiá bên kia Vĩnh Hội, gần cầu thì có nhà máy sản xuất thuốc lá Bastos, một trong những thương hiệu nổi tiếng trước thập niên 70.

hinh 38

Hình 38: Cầu Calmette

Cầu Ông Lãnh 
Cầu Ông Lãnh ngày xưa (1867-1893) không phải là chiếc cầu Ông Lãnh bằng xi măng ở cuối đại lộ Kitchener (Nguyễn Văn Học) bắt ngang qua kinh Tàu Hủ. Ngày xưa, một nhánh nhỏ của kinh Tàu Hủ (vẽ màu xanh trên bản đồ 1893) lấn chiếm sâu vào một phần đại lộ có tên là Boulevard de l’ Abattoir (đại lộ Lò Heo) và chạy xuyên ngang qua xóm Lò Heo (vì xóm nầy có một lò heo/Abattoir). Nhánh rạch nhỏ nầy người bản xứ Nam Kỳ ở Gia Định thuở trước gọi là Rạch Cầu Ông Lãnh vì trên rạch đó có một cái cầu gỗ do một ông Lãnh binh của triều đình An Nam bỏ tiền riêng ra và tốn công xây dựng.

Trên bản đồ Sài Gòn 1867 (Plan de la Ville de SAIGON en 1867) đã thấy có sự ghi chép rõ ràng 3 chữ Cầu Ông Lãnh (đánh dấu trong khung màu đỏ). Về sau, rạch Cầu Ông Lãnh bị lấp mất đi khi đại lộ Kitchener hình thành vào năm 1907 sau thế đại lộ Abattoir và  xóm Lò Heo trở thành một phần của xóm Cầu Muối sau nầy (gồm có chợ rau quả, rạp hát và đình Cầu Muối).

Chiếc Cầu Ông Lãnh nguyên thủy bằng cây đã biến mất từ dạo ấy. Chiếc cầu xi măng hình 2 chữ L ghép đối nghịch (giống như hìmh chữ Z ?) ở đầu đại lộ Kitchener (Nguyễn Thái Học) bắt ngang qua con kinh Tàu Hủ tồn tại cho đến những năm tháng gần đây cũng được dân Nam Kỳ Sài Gòn-Chợ Lớn gọi là Cầu Ông Lãnh nhưng bây giờ thì chiếc cầu hình chữ L nầy cũng đã bị phá hủy.

Cũng từ các chi tiết trên hai bản đồ thành phố Sài Gòn nầy mà chúng ta có thể suy định một cách khá vững chắc rằng Cầu Mống Khánh Hội là chiếc cầu lớn đầu tiên được phóng ngang qua Kinh Tàu Hủ ít ra là kể từ năm 1893. http://dactrung.net/dtphorum/m485653-print.aspx

Hinh 39

Hình 39: Vị trí sông, cầu Ông Lảnh

Hinh 40

Hình 40: Cầu ông Lãnh 1955 by Raymond Cauchetier

Hinh 41

Hình 41: Cầu ông Lảnh thập niên 50

Cầu Ông Lãnh là khu thương mại nhôn nhịp nhất vì có nhiều vựa bán sĩ, rau quả từ miền Đông đưa về (Biên Hoà, Thủ Dầu Một, Đà Lạt..) trái cây gạo, cau từ miền Tây, Hóc Môn Bà Điểm đưa lên, ghe đổ xuống kho vựa , ghe đi lấy hàng, chợ đầy khách thương buôn, người bỏ mối,  kẻ mua sỉ về bán lại ở các chợ trong khu vực Saigon Chợ Lớn Gia Định, ngay cả nơi xa như Cần Thơ (vải vóc, thuôc vấn, thuốc lá , cau, nước ngot, rượu…)

Khi xưa cầu Ông Lảnh bắt ngang rạch Ông Lảnh nối liền Bến Chương Dương vói bến Vân Đồn, gần đầu kinh Tàu Hủ (cùng phía bên bến Chương Dương). Nơi đây là vị trí cuả chợ Cầu Ông Lảnh với hoạt đông kinh doanh ở hai bên đầu cầu (tuy chợ chính nằm về đầu phía Đông xem hình 40).

Gần dọc rạch Ông Lảnh từ chợ Ông Lảnh đi về phía Cầu Quan có chợ Cầu Muối. Gần chợ Cầu Muối có cầu Muối để vận chuyễn muối từ ghe đến các vựa muối dọc theo rạch. Cầu Muối cò lẽ bị dẹp bỏ khi rạch Cầu Ông Lảnh bị lấp thành đường Kitchener (đường lò Heo, sau đó Nguyễn Thái Học) .

Cầu Kho-Cầu Muối

Dựa theo không ảnh tìm thấy được (hình 42),rạch Cầu Kho chảy ra rạch Bến Nghé (Tàu Hủ) sau bị lấp thời Pháp trở thành đường Blancsubé de Cầu Kho,  trở thành đường  Huỳnh Quang Tiên (1955) , sau 75 thành đường Hồ Hảo Hớn.

Có tài liệu cho rằng rạch Cầu kho đã bị lấp thành đường Phát Diệm, sau 1975 đổi là Trần Đình Xu. Sự nhầm lẩn có thể vì nguyên do người địa phương cứ gọi là đường Cầu Kho.

“Đường Phát-Diệm, tên cũ cũng là tên Việt, đường Nguyễn-Tấn-Nghiệm, vậy mà thiên-hạ cứ gọi là đường Cầu Kho.” Theo Bình Nguyên Lộc http://www.binhnguyenloc.de/pages/TruyenNgan/ThoiThe/DiaDanhCu/ThoiThe-DiaDanhCu.htm

hinh 42

Hình 42: Rạch Cầu Kho chảy ra kinh Tàu Hủ, cầu Kho bắc ngang rạch trên đường Bến Chương Dương 1955.

Hinh 43

Hình 43: Không ảnh Cầu Kho 1955

Cầu Muối

Cầu Muối theo Vương Hồng Sển là nơi bến neo thương thuyền đi biển từ  Trung chở muối đổi chác với Sàigòn, hiện chợ cầu Muối vẩn ở vị trí cũ góc phía Bắc đường Cô Giang và Nguyễn Thái Học, nhưng hoạt đông thương mại đã được dời đi nơi khác.

Đối diện với chợ Cầu Muối gần đấy có đình Cầu Muối Nhơn Hoà.

 

Cầu Chử Y

Cầu chữ Y được khởi công xây dựng từ cuối năm 1938, tới cuối tháng 8 năm 1941 thì hoàn thành; do công ty Công xưởng và Công trình công chính của Pháp đảm nhiệm thực hiện (Sơn Nam). http://www.nguoi-viet.com/absolutenm2/templates/viewarticlesNVO.aspx?articleid=148853&zoneid=310#.UkkXBtKGooM

  

Hinh 44

Hình 44: Cầu chử Y bắt ngang kinh Tàu Hủ và Kinh Đôi

Người Sàigòn hay nói qua cầu chử Y là qua miệt Bình Xuyên và lò heo Chánh Hưng, nói là lò heo nhưng làm cả thịt bò, thị ngựa cung cấp cho cả thành phố. Vùng Chánh Hưng nằm giữa các nhánh kinh rạch, phía bắc có cầu chữ Y đi về thành phố trên đường Nguyễn Biểu, phía nam có cầu Xóm Củi Hiệp Ân, chạy thẳng cầu Hiệp Ân dọc theo bến nguyễn Duy sẽ gặp cầu Nhị Thiên Đường thuộc vùng Chợ Lớn. Từ  Saigon đi qua cầu, dưới chân cầu chữ Y nhánh phải là đường Hưng Phú, lò Heo Chánh Hưng nằm trên đường nầy có cửa chánh nằm trên bến Ba Đình ( nay Lê Quang Kim)  và một bên hông là đường Nguyễn Duy. Đường Hưng Phú chạy dài thẳng xuống có đường Chánh Hưng cắt ngang để gặp Bến Ba Đình, từ Bến Ba Đình có những con đò nhỏ sang sông để qua chợ Hòa Bình.  Xưa là vùng đất ruộng, thời VNCH xáng thổi lấy bùn lấp đất biến thành khu nhà ở dân. Nhánh bên trái của cầu là kinh Đôi chảy dài vô Bình An, tiếp ra huyện Bình Chánh, sau đó nhập với kinh Tàu Hủ đổ vào sông Vàm Cỏ ở cầu Bình Điền.

Cầu chử Y còn là “chứng nhân” của lịch sữ thương đau cận đại.

Đối với cư dân SG-CL trước 1954 bên kia cầu chử Y là vùng Bình Xuyên -Bảy Viển-một thời được coi là lảnh chúa kiểm soát nhửng sòng bạc ở Chợ Lớn, có lực lượng trang bị vũ khí, có giai đọạn Bảy Viển được Pháp bổ nhiệm làm  Giám Đôc Công An xung phong trước 1954.

Sau khi Thủ tướng Ngô Đình Diệm về chấp chánh 1954, Thủ tướng Diệm quyết định cải tổ và thành lập quân đội Quốc gia, ông ra lệnh tiêu diệt lực lượng vũ trang của các giáo phái như Cao Đài, Hoà Hảo và lực lượng Bình Xuyên.

Năm 1955, nhiều cuộc giao tranh ác liệt giữa lực lượng Bình Xuyên đóng quân gần cầu chử Y (tổng hành dinh của quân Bình Xuyên), nhưng chỉ sau đó bốn, năm ngày, quân đội Quốc Gia đã vượt qua được cầu chữ Y, chiếm lãnh hoàn toàn tổng hành dinh của quân Bình Xuyên.

Cầu chữ Y, còn là nơi giao tranh ác liệt mùng 2 Tết Mậu thân  1968 khi Cộng quân đi từ mật khu Rừng Sát tiến chiếm cầu chử  Y để vào sâu trong nội thành….

http://www.nguoi-viet.com/absolutenm2/templates/viewarticlesNVO.aspx?articleid=148853&zoneid=310#.UkkXBtKGooM

 

Vị trí kinh rạch vùng Chợ Lớn

Hinh 45

Hình  45: Bản đồ vị trí Kinh rạch vùng Chợ Lớn.

Những kinh rạch này đã bị lấp qua nhiều thời kỳ  do tốc độ đô thị hóa và nhu cầu vận chuyển trên đường bộ tăng lên và do dó những cây cầu xưa cũng biến mất theo. Vui lòng tham khảo bản đồ trên với chú thích

Có thể chia hệ thống kinh rạch trong vùng chính:

A) Kinh Tàu Hủ đoạn từ Xóm Chỉ (đường Tản Đà đến Rạch Lò Gốm)

B) Rạch Chợ Lớn (đoạn chảy từ Xóm Chỉ (hình 19) hướng vế Bắc vào Chợ Lớn, Tây đến giáp nước Rạch Chợ Lớn-Rạch Lò Gốm và kinh Vòng Thành (đường Nguyễn Thị Nhỏ ngày nay)

C) Kinh Bải Sậy (kinh Hàng Bàng, Canal Bonard)

D) Kinh Vòng Thành (Bao Ngạn- Canal de Ceinture) được đào năm 1875

A-Rạch Chợ Lớn

Rạch Chợ Lớn  từ kinh Tàu Hủ đi lên trung tâm Chợ Lớn  nối kinh Phố Xếp, sau đó  hướng Tây đến rạch Lò Gốm gần đồn Cây Mai-cạnh kinh  Vòng Thành. Khúc gần Cầu Đường là bến Gaudot  nơi có trụ sở nhà buôn Thông Hiệp của Quách Đàm. Gaudot là tên của một trung úy hải quân Pháp, chỉ huy một nhóm thủy binh đánh đồn Kỳ Hòa ngày 25/2/1861, sau làm phó quản trị thành phố Chợ Lớn và năm 1868 chỉ huy cảng thương mại Sài Gòn. Gaudot mất ở Côn Đảo vì bệnh năm 1872 .

Năm 1955   Rạch Chợ Lớn bị lấp biến thành đường Khổng Tử, nay là đường Hải Thượng Lãn Ông và  Trương Tấn Bửu, nay là Lê Quang Sung.

Kinh Phố Xếp đào năm 1778, cũng bị lấp thành đường Tổng Đốc Phương nay là  Châu văn Liêm.

Sau khi rạch Chợ Lớn bị lấp, tương truyền Quách Đàm rất mê tín, tin phong thủy được thầy bói Tàu nói là nơi trụ sở bến Gaudot là nơi “đầu một con rồng” mà khúc đuôi nằm ở biển cả. Vì thế Quách Đàm không bao giờ đổi trụ sở dù là nhà mướn, đi nơi khác sau khi rất giàu có thành công trên đường làm ăn. Nên khi xảy ra sự việc lấp kinh thành đường thì ông tin rằng cơ sản làm ăn lụn bại vào lúc thời khủng hoảng kinh tế thế giới 1929 là do việc lấp kinh Chợ Lớn này (4). Rạch Chợ Lớn trên khúc Quai de Gaudot là Quai de Fou-kien (bến Phúc Kiến) sau khi lấp đi làm thành đường Trang Tử trước bến xe Chợ Lớn ngày nay. Khu đường Hải Thượng Lãn Ông, Trang Tử và Phùng Hưng là khu mà ngày nay vẫn còn nhiều người Hoa gốc Phúc Kiến cư ngụ. Ở đây, góc đường Hải Thượng Lãn Ông và Phùng Hưng, có miếu Nhị Phủ (chùa ông Bổn) của người Phúc Kiến và kế miếu là trường trung học Trần Bội Cơ (trước gọi là Ecole de Foukien). Trường nằm trong một phần đất của miếu, được xây từ đầu thế kỷ 20 (1907) rất đẹp với kiến trúc Pháp. Gần đấy ở góc đường Hải Thượng Lãn Ông và Đỗ Ngọc Thanh ngày nay có một kênh nhỏ (nay đã bị lấp) gọi là kinh Bến tắm ngựa vì nơi đây các ngựa xe thổ mộ làm chổ nghĩ ngơi và tắm ngựa.

http://baotangnhanhoc.org/vi/bai-nghien-cu-lch-s/979-ch-ln-lch-s-a-ly-kinh-t-va-vn-hoa-phn-1.html

Cầu Đường và cầu Minh Phụng bắc ngang Rạch Chợ Lớn không tìm được hình ảnh xưa.

B-Kinh Tàu Hủ

Vị trí các cầu bắc ngang kinh Tàu Hủ (rạch Bến Nghé)

Hinh 46

Hình 46: Vị trí các cầu vùng Chợ Lớn

Cầu Xóm Chỉ (Hình 46 Chú thích A)

Hinh 47

Hình 47:  Cầu Xóm Chỉ 1909

Hinh 48

Hình 48: Cầu Xóm Chỉ 1968

Vào năm 1859 khi quân Pháp tấn công Sàigòn, tàu chiến Jaccaréo của Pháp đã bỏ neo trên Kênh Tàu Hủ, án ngữ con kênh ngay khoảng đầu đường Tản Đà, tức là ngay vị trí cầu Xóm Chỉ này. Về sau để kỷ niệm sự kiện này, người Pháp đã đặt tên con đường này là đại lộ Jaccaréo, tức là đường Tản Đà ngày nay. Bây giờ nó chỉ còn là một con đường nhỏ, ít người biết đến. Hình trong postcard dưới là đường Jaccareo từ phía kinh Tàu Hủ nhìn vào, có thể người chụp hình đã đứng chụp từ trên đầu cầu Xóm Chỉ. Cuối con đường này là Tòa hành chánh thành phố Chợ Lớn (sau này là khu vực trường Đại học Y Khoa Sài Gòn).

Hinh 49

Hình 48a : Hình chụp đường Jaccaro (Tản Đà) từ đầu cầu Xóm Chĩ

Cầu Chà Và (hình 46 chú thích B)

Hinh 50

Hình 49: Cầu Chà Và 1955

Hinh 50a

Hình 50: Cầu Chà Và

Cầu Chà Và (B) bắc qua kinh Tàu Hủ nối đường thông thương vùng trung t âm Chợ Lớn vớiI  Xóm Củi , rồi qua cầu Nhị Thiên Đường đi Cần Giuộc Bình Chánh. Vùng này xưa có nhiều nguời Ấn sinh hoạt , lập phố bán vải vóc . Người Việt gọi là nguời Chà. Bên phiá bến Binh Đông có rạp hát Phi Long đăc biệt hay chiếu phim Ấn Độ. Rạp này nay là tiệm sách trên đường Lý Thái Tổ (bến Bình Đông).

Cũng nên biết ngườì Việt thời bấy giờ gọi nguời có nước da ngâm đen là người Chà, tuy nhiên , ngoại trừ những loại nguời Chà đến Vietnam  có chủng giống  Java ở  Nam Dưong,  loại nguời Chà mà người Việt Nam sinh hoạt chung đụng là người  Ấn Bombay chuyên về buôn bán vải vóc tơ lụa  ở vùng  thương mại Chợ lớn và loại Chà Chetty làm  nghề cho vay ở vùng Saigon, thường là dân có gốc tịch Anh, Pháp.

Hình 51:  Cầu Malabars và cầu Quới Đước (C)

cầu Quới Đước

 

Cầu lấy tên làng xưa Quới Đước, khu vực nằm dọc hai bờ sông Yunan (Vạn Tượng) ngày nay.

Hinh 51

 

Hinh 52

Hình 52:  Xe điện chạy lên dốc cầu Malabars .

Đi  từ cầu Chà Và xuống rạch Lò Gốm , dọc theo kinh Tàu Hủ hai bên là đường , đường Bến Lê Quang Liêm và đường bến Bình Đông, ghe đủ loại neo ở đây,  bên phiá Lê Quang Liêm có  nhà máy rượu Bình Tây, phiá Bến Bình Đông thì có nhà máy chế biến lông vịt ra mền (còn nhớ mấy ông “cắc chú” rao mua lông  vịt không ?)

Dọc theo hai bến có rất nhiều kho, vựa chứa luá, gạo. Nhà máy rượu nấu rượu dùng trấu thải ra từ nhà máy xây lúa cũng ở dọc theo kinh nên tiện cả đôi bề chỉ có điều ô nhiễm không tránh được – nhung ai để ý đến vấn đề ô nhiểm thời bây giờ?!

Cầu Bình Tây

Cầu đi bộ bắc ngang kinh Tàu Hủ nối qua bến Bình Đông (đường Bình Tây với đương Nguyễn Chế Nghiả) , gần vị trí cuả hảng Bột mì (bến Bình Đông) ngày xưa có tên là Sakybomi ( viết tăt Saigòn kỹ nghệ bột mì) cung cấp cho lò bánh mì và tiệm bánh vùng Saigon ChoLon, bây giờ vẩn còn với tên mới công ty Bột Mì Bình Đông.

Hinh 53

Hình 53: cầu Bình Tây

Hinh 54

Hình 54: Cầu  Bình Tây  với ghe lúa

Cầu bắc ngang  kinh Tàu Hủ  nối đường Bình Tây với bến Bình Đông (đường Nguyễn Chế Nghỉa). Cầu này không còn ở vị trí này nữa.

Từ  cầu Bình Tây đi về phía rạch Lò Gốm có câu chử U (còn gọi là cầu Bột ). Cả hai cầu này gìờ không còn nữa.

Cầu Chử U

Cách công ty Bột Mì một khoảng chừng 200m là vị trí của câu  cầu chử U, bắc ngang kinh Tàu Hủ, cầu sắt  nhưng sàn cầu bằng “ván đóng đinh, gập ghình khó qua”, dành cho người đi bộ và xe hai bánh, được xữ dụng đến sau 75 thì bị phá hủy.

Đi xuống thêm chút nữa là công ty chế biến lông vịt.

Hình 55

Hình 55: Cầu Chử U

Hinh 56

Hình  56: Cầu chử U xưa thập niên 50.

Qua khỏi cầu chử U bên phiá Lê Quang Liêm (sau 75 Trần Văn Kiểu bây giờ là Vỏ Văn Kiệt)  hướng về gần  rạch Lò Gốm có nhà máy rượu Bình Tây sản xuất rượu đế  lớn nhất nước Việt Nam. Công ty được  xây dựng năm 1900 và đưa vào sản xuất năm 1902 dưới sự quản lý độc quyền của tập đòan SFDIC  (Société Francaise des Distilleries de l’Indochine) Pháp.

Từ 09/5/2005 Công ty rượu Bình Tây đã chính thức chuyển thành Công Ty Cổ Phần Rượu Bình Tây- trực thuộc Tổng Công ty Bia – Rượu-NGK Sài Gòn (SABECO).

C- Kinh Bải Sậy-Hàng Bàng-Kinh Bonard

Đường nước nằm song song với cầu Qưới Đước là rạch Bến Nghé, và đường nước chảy qua gầm cầu là kinh Bải Sậy –Hàng Bàng, ngưới Pháp gọi kinh này là Canal  Bonard, có khi là Arroyo Chinois.

Kinh Bải Sậy ở đầu ra rạch Lò Gốm, người điạ phương gọi là Hàng Bàng vì hai bên kinh có trồng dảy cây Bàng (giống như đường Hàng Xanh (đường Bạch Đàng); đường Hàng Keo (Phạm Đăng Lưu), nên cũng gọi là kinh Hàng Bàng. Trước khi hợp lưu với rạch Lò Gốm, có một cầu sằt đi bộ bắc ngang kinh, nguời địa phương gọi là cầu Kinh ?.

Hinh 57

Hình 57: Không ảnh vị trí các kinh chánh trên kinh Bải Sậy (Hàng Bàng) . Ảnh chụp khoảng đầu thập niên 1950.

Quang cảnh của kinh Bải Sậy (Bonard) nhộn nhịp với khu nhà thương mại dọc hai bên kinh, với dân thương hồ và thuyền buôn vận chuyển hàng hóa, nông phẫm từ khắp nơi đến.

Cầu Ba Miệng-Ba Chưn-Ba Cẳng (tham khảo vị trí hình 46 chú thích D)

hinh 58

Hình 58: Cầu Ba Cẳng nhìn từ đường Trịnh Hoài Đức

Cầu Ba Cẳng-có tên gọi địa phương tuỳ thời khác nhau như Khâm Sai, Ba Miệng, Ba Chưn nhìn từ đường Trịnh Hoài Đức ( con đường này chạy thẳng ở cuối rạch Bãi Sậy, hướng về Bưu Điện Chợ Lớn Quân 5). Đi về phía phải của Cầu Ba Cẳng trong hình này vài chục mét là tới chợ Kim Biên ngày nay, còn về phía trái ra kinh Tàu Hủ. Hình này chụp khoảng đầu thập niên 1950, ngày nay cầu này không còn nữa. Cái cẳng trong hình này là cẳng đi xuống đường Yunnan, tức Vân Nam (sau 1955 là đường Vạn Tượng), còn hai cẳng kia thì bắc qua hai con đường hai bên rạch Bãi Sậy: bên trái xuống bến Bãi Sậy, bên phải xuống bến Nguyễn Văn Thành nơi đầu đường Cambodge (sau 1955 là đường Kim Biên).

hinh 59

Hình 59: Ghe neo dọc theo đoạn kinh bải Sậy, hình chụp đừng trên cầu thang Gò Công

Cầu Ba Cẳng ở Chợ Lớn, gần phía sau chợ Kim Biên nay không còn nữa. Cầu ở đầu đoạn rạch Bãi Sậy, nay lấp thành đường Bãi Sậy và Phạm Văn Khoẻ quận 6. Cầu Ba cẳng nằm ở khúc rẽ phải ra kênh Tàu Hủ, hai chân nằm ở bến Bãi Sậy và bến Nguyễn Văn Thành và chân kia ở bến Vạn Tượng. Đoạn cuối rạch này vẫn chưa lấp, và cầu tồn tại đến năm 1990 thì bị sập.

Saigon xưa nhiều kinh, rạch, ao hồ vừa có giá trị giao thương, vừa là chỗ thu nước tràn khi mưa lớn, triều cường. Người xưa (Pháp lẩn Việt) thiết kế hệ thống thoát nước Saigon – Chợ Lớn – Gia Định cho 500,000 dân để giảm thiểu lũ lụt. Ngày nay di dân từ khắp nơi nhất là từ Bắc , Bắc Trung, áp lực nhà cưả đem đến việc lấn chiếm, lấp, thay bằng cống hộp đã dẩn đến hậu quả “đường biến thành sông” mổi khi mưa lớn kéo dài một hai giờ, tệ hại hơn nữa nếu đúng lúc triều cương.

Ngày nay rạch Bãi Sậy đã hầu như bị lấp hoàn toàn. Phía sau chợ Kim Biên vẫn còn một đoạn rạch rất ngắn khoảng 30m, rộng 3m, trước đổ ra thẳng kênh Tàu Hủ. Cầu Palikao trở thành đường Ngô Nhân Tịnh. Cầu Ba Cẳng đã sập, không còn và rạch phía sau chợ Kim Biên đã bị lấp. Cầu Palikao được người Pháp đặt tên theo một cầu gần Bắc Kinh, gọi là Bát Lý Kiều (cầu tám dặm), nơi liên quân Anh-Pháp vào năm 1860 đánh với quân nhà Thanh.

hinh 60

Hình 60: Cầu Ba Cẳng với ông Tàu bán gánh dạo

Đây là tấm hình hiếm hoi còn sót lại của cầu Ba Cẳng, một cây cầu chẳng có mấy quan trọng, nhưng nó đã trở thành một phần của lịch sử Sài Gòn – Chợ Lớn xưa, với cái tên nghe thật dân dã và cũng có lắm chuyện xưa liên quan đến nó, như chuyện “Dân chơi cầu Ba Cẳng” của nhà văn Trương Đạm Thủy

Pont des 3 arches (Cầu Ba Cẳng) xây bởi công ty Brossard et Mopin (công ty này cũng xây Chợ Bến Thành ở Sài Gòn vào năm 1914). Nhà báo Nguyễn Văn Sâm và nhà bên vợ (em gái ông Trương Văn Bền) bỏ tiền đứng ra xây cầu.

http://baotangnhanhoc.org/vi/bai-nghien-cu-lch-s/979-ch-ln-lch-s-a-ly-kinh-t-va-vn-hoa-phn-1.html

Cầu Gò Công (tham khảo hình 46 chú thích E)

hinh 61

Hình 61: Cầu Gò Công

Cầu có nấc thang cho người đi bộ bắc ngang kinh Bải Sậy trên đường Gò Công.

Cầu Palicao (Palikao)-Cầu Ngô Nhân Tịnh (tham khảo vị trí hình 46 chú thích F)

hinh 62

Hình 62:  Cầu Palikao. Hình chụp ghe sắp đi qua vòm giữa cầu Palikao hướng về cầu Ba Cẳng. (cầu Palikao có 3 vòm, xem hình 56)

Xin lưu ý :Theo nguyentichnghia  là cầu Kinh Lò Gốm “-người chụp ảnh đứng trên bờ  kinh Lò Gốm đối diện với cầu , phía dưới chân cuả người chụp là đám cỏ cây mọc ven bờ kinh.”

Người Pháp đã đặt tên là Palikao (Pinjin  Bālǐqiáo ), có lẽ là do hình dáng của nó đã gợi cho họ hình ảnh của cây cầu Bát Lý Kiều ở bên Tàu.

Palikao là phiên âm Pháp ngữ tên tiếng Hán “Bát Lý Kiều”, tức là Cầu 8 Dặm – Eight-Mile Bridge, một cây cầu lịch sử ở Bắc Kinh, nơi đã diễn ra trận chiến ác liệt giữa liên quân Anh-Pháp và khoảng 30.000 quân Trung Hoa trong cuộc Chiến tranh Nha phiến lần thứ hai, và họ đã chiếm được cầu này vào ngày 21-9-1860, dẫn tới chiếm được Bắc Kinh sau đó. Theo các sử gia, phía TQ tổn thất nặng nề, thương vong khoảng 25.000 quân trong khi phía Pháp chỉ bị thương vong 1.000 người.

Cầu Bát Lý Kiều của Trung Quốc ngày nay:

hinh 63

Hình  63:  Cầu Bát Lý  Kiều, Baliqiao (Chinese: 八里桥; pinyin: Bālǐqiáo),  Bắc Kinh (Trung Quốc)

hinh 64

Hình  64: Quang cảnh kinh Hàng Bàng (Bải Sậy) nhìn từ trên cầu Palikao về phiá cầu Gò Công, cầu Ba Cẳng

Ngày xưa dưới chân cầu Palikao có rạp chuyên hát bội Palikao, nhưng cũng có gánh cải lương dọn về đây. Vùng này có nhiều cửa hàng của người Tàu, có món ăn rất đặc biệt gọi là “hầm dỉ Triều Châu “  -cá mặn nổi tiếng ở Chợ Lớn.(http://thatsonchaudoc.com/banviet2/LuuNhonNghia/HoiKy/QuachHen.htm)

Theo bác Nguyễn Thành Long trong ban quản trị Nghĩa Nhuận hội quán gần rạch Bãi Sậy, mà tác giả đã có dịp tiếp xúc, thì giữa cầu Ba Cẳng và cầu Palikao xưa kia có 5 kiosque bán trà, chuối, nước giải lao cho các tàu đi trên rạch Bãi Sậy. Cầu Palikao bị dẹp và trở thành đường Ngô Nhân Tịnh vào năm 2003, cùng khoảng thời gian cầu Ba Cẳng bị sập và phá bỏ hoàn toàn ( http://baotangnhanhoc.org/vi/bai-nghien-cu-lch-s/979-ch-ln-lch-s-a-ly-kinh-t-va-vn-hoa-phn-1.html).

hinh 65

Hình 65: Rạp Hát Palikao ngày xưa trên đường Ngô Nhân Tịnh.

Cầu Lò Gốm

Cầu Lò Gốm bắc ngang rạch Lò Gốm ngày nay gần giao điểm với kinh Hàng Bàng.

hinh 66

Hình  66 : Cầu Lò Gốm

Đây là đoạn kinh Hàng Bàng cuối cùng trươc khi trở thành đường Bến Lò Gốm.

hinh 67

Hinh 67: Kinh Bải Sậy ngày nay, nhìn từ cầu đi bộ Gò Công.

(Nguyễn đúc Hiệp-http://baotangnhanhoc.org/vi/bai-nghien-cu-lch-s/979-ch-ln-lch-s-a-ly-kinh-t-va-vn-hoa-phn-1.html )

Cầu bắc ngang kinh Tẽ

Kinh Tẽ  được đào vào năm 1905 bắt đầu từ sông Sàigòn đến cầu Chử Y  nhằm đáp ứng nhu cầu lưu thông cuà thương thuyền buôn bán vào rạch Tàu Hủ. Gọi là Tẽ bới kinh tẽ từ sông Sài Gòn. Kinh dài 4360m (http://www.vietgle.vn/trithucviet/detail.aspx?key=kinh+T%E1%BA%BD&type=A0).

Cầu Tân Thuận

hinh 68

Hình 68:  Cầu Tân Thuận 1967

Cầu Tân Thuận 1 nối đường Huỳnh Tấn Phát quận 7 với đường Nguyễn Tất Thành – quận 4. Cầu dài 241 m, lòng cầu rộng 8 m, mỗi lề 1,25 m. Cầu được xây từ thời Pháp thuộc sau khi đào kinh Tẻ năm 1905. Cầu được sửa chữa lớn năm 1992. Năm 2005, cầu lại xuống cấp, Sở Giao thông Công chánh thành phố giao cho Công ty Freyssinet International at Compagnie của Pháp tiến hành sửa chữa, nâng cấp cầu. Năm 2008, cầu lại tiếp tục được sửa chữa để nâng tải trọng lên 30 tấn. Hiện nay, cầu cho phép các loại xe lưu thông một chiều từ quận 7 sang quận 4.

Cầu Tân Thuận đi xuống Phú Xuân, Nhà Bè chỉ có sau khi kinh Tẽ giáp nối s ông Saigòn được đào thời Pháp khoảng 1905-06.  Đoạn từ cầu chử Y được đào song song với rạch Tàu Hủ người Pháp đặt tên là Canal de Doublement, được dịch ra là  Kinh Đôi. Thời chưa có cầu, từ Saigon xuống Nhà Bè phải qua đò.

Cầu Tân Thuận liên hệ với chuyện tiểu trừ lực lượng Bình Xuyên cúa Bảy Viễn năm 1955.

Ngày 13 tháng hai năm 1955, quân lính của tướng  Cao Đài Trình Minh Thế chính thức sát nhập vào quân đội Việt Nam Cộng Hòa, còn Trình Minh Thế nhận hàm thiếu tướng. Trong chiến dịch loại bỏ lực lượng Bình Xuyên, ông dẩn quân tiến đánh quân Bình Xuyên tập trung bên Cầu Tân Thuận.

Trịnh Minh Thế ngồi xe Jeep đậu dưới dốc cầu Tân Thuận chỉ huy quân đội Cao Đài Liên Minh vượt cầu đánh quân Bình Xuyên đang xuống xà-lan rút ra Rừng Sác. Lễ xuất quân tảo thanh Bình Xuyên của tướng Thế diễn ra trên bãi đất trống ở rìa Đồng ông Cộ, không xa mấy chợ Bà Chiểu.

Không có xe G.M.C. (loại xe  chở lính của Mỹ viện trợ cho QLVNCH),  Thế đã phải xung công xe chở heo để chở binh sĩ. Tại cầu Tân Thuận, lính Cao Đài mấy lần vượt cầu đều bị đánh bật lại. Chỉ huy quân Bình Xuyên ở bên kia cầu là Bảy Môn. Sau khi rút từ cầu Nhị Thương Đường, cầu Chữ Y, cầu Rạch Ong, Bảy Môn tập trung quân số cố thủ cầu Tân Thuận chặn quân Cao Đài tràn qua. Ông kết hợp súng cối của bộ binh và đại liên các giang đỉnh trên Kinh Tẻ bắn xối xả vào hai chục xe heo chở đầy lính Cao Đài ở bên kia cầu

Trong khi chỉ huy Tướng Trình Minh Thế bị một viên đạn carbin bắn tỉa bắn vào sau gáy. Vụ giết người này không bao giờ được làm sáng tỏ, một số người đổ lỗi cho phía Pháp, trong khi một số người khác  cho rằng chính quyền Việt Nam Cộng hòa đã làm việc này. Hoàn cảnh cái chết của ông cũng gây nhiều tranh cãi, khi có nhiều thông tin khác nhau, thậm chí đối lập nhau về thời gian, địa điểm, vết thương gây nên cái chết của ông. Sau khi chết, tên ông được đặt cho con đường ở Quận 4 Sài Gòn cho tới năm 1976. (http://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C3%ACnh_Minh_Th%E1%BA%BF).

Kinh Đôi (Canal de Doublement)

Kinh Đôi đước đào nổi tiếp Kinh Tẽ bắt đầu từ cầu chử Y xuống đến sông Cần Giuôc khoảng 1896-8 song song với kinh Tàu Hủ nhằm đáp ứng nhu cầu thuận tiện hóa  ghe thuyền chuyên chở nông phẩm từ miền Tây.

Cầu Nhị Thiên Đường là cây cầu bắc qua kênh Đôi, thuộc địa phận Quận 8 hiện nay. Cầu được xây dựng vào những năm 1925 là điểm nguồn của Quốc lộ 50 và được đổ bê tông theo kiến trúc hiện đại. Cầu này nối liền lưu thông từ Chợ Lớn sang Cần Guộc, Bình Chánh.

hinh 69

Hình 69: Cầu Nhị Thiên Đường trên kinh Đôi

Vị trí cầu Nhị Thiên Đường, xin tham khảo hình 46 chú thích O.

5-Kinh Vòng Thành-Canal de Ceinture.

Kinh này được đào năm 1875 theo quy hoạch của Coffyn , mục đích tối hậu là nối rạch Thị nghè ( Arroyo de l’Avalance) với kinh tàu Hủ ( Arroyo Chinois) thông qua rạch Chợ Lớn  (không nên nhầm với Kinh Tàu Hủ)  để hoàn thành đường nước bao bọc, biến Saigon Chợ Lớn thành một cù lao-Bắc có rạch Thị Nghè (Arroyo de l’Avalanche) ; Nam có rạch Bến  Nghé (kinh Tàu Hủ) Arroyo Chinois;  Đông có sông Saigon (rivière de Saigon )  và Tây có Kinh Vòng Thành (Canal de Ceinture).

Theo báo cáo   “Monographie de  la Province de Gia-Định  1902”, kinh đào năm 1875 , dài 7km, bề rộng 10m,  sâu 3m, nhưng cho đến nay 1902 , kinh chưa hề được xữ dụng vì nạn bùn lấp, vùng Phú Thọ đáy sông bùn lên  cao hơn mực thủy triều.

 

hinh 70

Hình 70: Bản đồ 1962 với Kinh Vòng Thành (Bao Ngạn)

Khảo bản đồ Saigon Chợ lớn  1962, kinh Vòng Thành đầu nguồn từ chổ giáp nước cuả Rạch Lò Gốm và rạch Chợ Lờn, cuối nguồn là rạch Cầu Kiệu gần cầu Công Lý –không phải là gần cầu Kiệu ở Phú Nhuận.

Kinh Vòng thành đã được thực hiện năm 1875, nhưng sau đó đã bị bùn lấp nhanh chóng, nên không được  xử dụng thực tế  ( Monographie de  la Province de Gia- Định 1902, trang 19 ) . Một vài đoạn kinh vẫn còn có nước-như đoạn trong bản đồ chạy ngang đồn Cây Mai (bây giờ là đường Nguyễn thị Nhỏ).

Lò siêu ở sau đồn Cây Mai cũng dùng Kinh Vòng Thành để ra rạch Chợ Lớn. Nay rạch Kinh Vòng Thành đã cạn và lò siêu cũng thôi hoạt động (theo Vương Hồng Sển-Sàigon năm xưa 1960).

Y Nguyên Mai Tran 6/2013

Xem Phấn I

Tham khảo

1-Trần Văn Học http://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%E1%BA%A7n_V%C4%83n_H%E1%BB%8Dc,

2-Quy Hoạch Coffyn-Viết Thêm về Quy Hoạch Coffyn 1862. Tôn Nữ Quỳnh Trân, Trương Hoànng Trương

http://moitruongxanhhcm.org.vn/index.php/Ho-so-tu-lieu/viet-them-ve-quy-hoach-coddyn-1862.html

3-Monographie de la Province de Gia-Định 1902. Geographie Physique, Économique et Historiques de la

Cochinchine. Publications de la Société des etudes Indo-Chinoises.

4-Gia Định Thành Thông Chí -Trịnh Hoài Đức-Lý Việt Dũng dịch và chú giải

Click to access giadinhthanh-thongchi%5Bp3%5D.pdf

5-Le réseau des canaux et arroyos à Saigon-Cholon . http://www.reseau-asie.com

6- Saigon Cho Lon thế kỷ 17 đến thế kỷ 19- Nguyễn Đức Hiệp.

7-Trương Vĩnh Ký-Jean Baptiste Pétrus Trương Vĩnh Ký (1837-1898), Souvenirs historiques sur Saïgon et ses environs, conférence faite au collège des interprètes par M. P. Truong Vinh Ky, Éditeur : Impr. coloniale (Saïgon), 1885.

8- Vương Hồng Sển, Saigon năm xưa, 1992, Nxb Trẻ

9- Hình ảnh xưa -http://belleindochine.free.fr/

10-Hình ảnh xưa manhhai  http://www.flickr.com/photos/13476480@N07/sets/

11-Hình ảnh xưa http://www.panoramio.com

10- Gerard Sasges, “State, Enterprise, and the Alcohol Monopoly in Colonial Vietnam” Journal of Southeast Asian Studies 2011

11-Lê Công Lý “l ịch s ữ kinh rạch ở Saigon Cho lon” http://tailieutonghop.com/free/lich-su-kinh-rach-o-sai-gon-cho-lon_f194-26454.html


Kể chuyện kinh cầu xưa vùng Sài Gòn Chợ Lớn trước 1975 (P1)

Kể lại chuyện kinh cầu xưa vùng Sài Gòn Chợ Lớn trước 1975.

Phần I

Y Nguyên Mai Trần

Bài viết khảo cứu tổng hợp một số tài liệu đề cập đến hệ thống cầu, sông, kinh, rạch vùng Sài Gòn-Chợ Lớn  qua các thời kỳ khai phá đầu nhà Nguyễn, thời Pháp thuộc đến thời Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) trước 1975. Trọng điểm nhầm thẩm tra những địa danh dựa trên khảo sát, nghiên cứu bản đồ, không ảnh, hình ảnh tìm thấy thời Pháp và VNCH nhìn lại trong hoài niệm của một thời tuổi trẻ. Những kinh cầu xưa nay đã đi về trong tâm tưởng hay đã thay da đổi áo , cũng đã chuyên chở bao nhiêu kiếp sống thăng trầm cùng những kỹ niệm thân thương của những ai đã từng xuôi ngược, mang hơi thở Saigon một thời là Hòn Ngọc Viển Đông.

Năm 1618 chúa Sãi (Nguyễn Phước (Phúc) Nguyên gả con gái cho vua Miên Chey Chetta II , năm 1623. Chúa mượn xứ Prei Nokor để mở trạm thuế đồng thời được phép gởi quan đến để quản lý việc thu thuế và thương vụ hành chính.

Năm 1658  chúa Hiền (Nguyễn Phúc Tần) cho quân tiến chiếm và phá hủy thành Mô Xoài vì quân Nặc Ong Chăn vua Cao Miên  xâm phạm Trấn Biên  (thời mới khai thác gọi những chổ đầu biên giới là Trấn Biên ) tức Phú Yên ngày nay.

Theo Trịnh Hoài Đức trong Gia Định Thành Thông Chí:

“Lúc ấy địa đầu của Gia định là Mô Xoài và Đồng Nai (nay là trấn Biên hoà) tại hai xứ này đã có dân của nưóc ta đến cùng với dân Cao Miên khai khẩn ruộng đất. Người Cao Miên rất khâm phục uy đức của triều đình, họ đem nhượng đất ấy rồi kéo nhau tránh đi nơi khác, chẳng dám tranh chấp điều gì”.

Năm 1679 (Kỷ Mùi, mùa xuân tháng Giêng) tướng cũ nhà Minh, tổng binh thủy lục trấn các xứ ở Long Môn (Quảng Đông)  Dương Ngạn Địch và phó tướng Hoàng Tấn; tổng binh các châu Cao, Lôi, Liêm là  Trần Thắng Tài và phó tướng Trần An Bình đem hơn 3000 quân và hơn 50 chiến thuyền vào cửa biển Tư Dung (cửa Tư Hiền) và cửa Hàn Đà Nẵng, không chịu làm tôi tớ nhà Thanh,  đến xin thần phục để làm dân mọn cho chúa Nguyễn.

Cũng nên nhớ vào thời điểm nhóm người Hoa xin tị nạn, biên giới không chính thức của Đại Việt chỉ mới đến Mô Xoài (Bà Rịa), chúa Nguyễn Phúc Tần thấy đất Đông phố (Biên Hoà Đồng Nai) nước Lục Chân Lạp sông rạch chằng chịt, đất đai phì nhiêu nghìn dặm nhưng chưa khai phá, chi bằng lấy sức của họ đến khai khẩn mở mang, làm một việc mà lợi đôi ba điều. Chúa Nguyễn Phúc Tần cho người đưa thư đến Nặc Ong Non  (vị phó vương đang được chúa Nguyễn bảo vệ) yêu cầu chia cấp đất cho họ vào làm ăn sinh sống quanh vùng đất Prei Nokor (Sài Gòn).  Nặc ong Non đồng ý, kể từ đó, nhóm Trần Thắng Tài  (Trần Thượng Xuyên) đến ở vùng Kâmpéâp Srêkatrey (Cù Lao Phố, Biên Hòa)  và nhóm Dương Ngạn Địch đến ở vùng Peam Mesar (Mỹ Tho). Chúa Nguyễn sau đó lập đồn dinh ở Tân Mỹ gần ngã tư Cống Quỳnh–Nguyễn Trãi ngày nay.

Năm 1698 Quốc Chúa Nguyễn Phúc Chu chính thức cử Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh vào Nam, thiết lập chính quyền, các đơn vị hành chánh để chính thức xác lập chủ quyền của Đại Việt trên vùng đất mới.

Nguyễn Hữu Cảnh chia vùng này thành huyện Phước Long (Đồng Nai) và huyện Tân Bình (Sài Gòn Bến Nghé) miền đất phiá Nam. Cùng với nhóm lưu dân người Việt đến trước, Trần Thắng Tài và lực lượng của mình tiến hành khai khẩn quy mô lớn chẳng bao lâu ông đã biến vùng đất hoang sơ Cù Lao Phố trở thành trung tâm thương mại và giao dịch quốc tế.

Sau Tây Sơn khởi nghĩa ở Bình Định 1772, Nguyễn Ánh và thân tộc năm 1774 thoát vào Gia định Đồng Nai chiêu tập dân quân chống lại Tây Sơn. Nhiều trận chiến giữa Tây Sơn và Nguyễn Ánh , sau những lần thoát hiễm cuối cùng Nguyễn Ánh chiếm lại Sàigòn với sự giúp sức của người Pháp năm 1789.

Năm 1778 quân Tây sơn lấy cớ người Hoa giúp Nguyễn Ánh nên đã tàn phá vùng Cù Lao Phố (nay xã Hiệp Hoà , Biên Hòa ) đã đẩy người Hoa di tản về phiá Tây Nam, dọc theo sông Bình Dương  (về  sau ngườì  Việt  gọi là  rạch Bến Nghé , người Pháp gọi là Arroyo Chinois) định cư  và  lập trung tâm buôn bán gọi là Đề Ngạn, đẩy nhanh tốc độ tàn lụi của Cù Lao Phố  và nhanh chóng phát triển vùng Đề Ngạn (Sài Gòn hiểu là Chợ Lớn sau này) Bến Nghé .

Sau khi chiếm lại thành Gia Định năm 1789, năm sau 1790, Nguyễn Ánh cho xây thành phòng thủ Bát Quái với sự giúp đở của viên sĩ quan hải quân người Pháp- Victor Olivier de Puymaniel.

Người Pháp đến 1859, tiếp đó cho xây dựng thành phố Sàigòn chung quanh vùng Thành Quy (thời Gia Long xây 1790, phá 1835) khai thác hệ thống sông rạch thiên nhiên chằng chịt phát triển một thành phố thương mại dọc theo Arroyo Chinois (kinh Bến Nghé) nhằm đáp ứng công cuộc khai triển kinh tế và tăng cường khả năng lưu thông và vận chuyển thương thuyền, hàng hóa với miền Tây và Trung.

Sự đóng góp của nguời Tàu như là đầu tàu khai thác vùng kinh Bến Nghé từ lúc di tản từ Biên hoà cũng được người Pháp thể hiện bằng cách gọi tên rạch Bến Nghé là Arroyo Chinois. Năm 1885, Trương Vĩnh Ký chỉ rõ: “Địa phận nằm giữa đường Marins (xưa là Đồng Khánh, nay là Trần Hưng Đạo) với mé rạch Chợ Lớn, là nơi trú ngụ của người Minh Hương”.

Nhà Nguyển sửa sang trùng tu kinh rạch vùng này và khi người Pháp chiếm Gia Định Thành, khai thác tiềm năng đóng góp của người Hoa (tài chính, óc thương mại, mạng lưới kinh doanh) xây dựng và củng cố thêm cơ sở hạ tầng như xây cầu, đào kinh, rồi lấp kinh thành đường để đáp ứng với nhu cầu đô thị hóa và phát triển kinh tế không ngừng, biến Sàigòn thành trọng tâm kinh tế ngày xưa và ngày nay.

Tổng quan hệ thống sông rạch kinh trên địa bàn Sài Gòn- Chợ Lớn

Khai thác vị trí đặc thù thiên nhiên của phủ Tân Bình (vùng Saigon Bến Nghé Chợ Lớn), với những vùng gò đất cao nằm vế hướng Bắc và Tây Bắc và hệ thống kinh rạch chằng chịt đổ về phiá Nam đầm lầy đất trủng rồi cuối cùng ra biển Đông. Hệ thống sông nước thiên nhiên bao quanh vùng này bao gồm phiá Đông có sông Bến Nghé (sông Sàigòn), phía Bắc có sông Bình Trị (rạch Thị Nghè) và phiá Nam có sông Bình Dương (rạch Bến Nghé) đáp ứng nhu cầu phòng thủ và phát triển kinh tế với sự đóng góp cùa người Hoa với khả năng giao tiếp thương mại thu hút khách thương buôn từ  Âu, Tân Gia Ba, HongKong,   Thái, Nhật….

Dưới thời Gia Long, một vị vỏ quan Trần Văn Học (1) vẻ bản đồ đầu tiên vùng này năm 1815.  Chính quyền VNCH ghi công đặt tên ông cho con đường quan trọng ở vùng Gia Định- đường Nguyễn văn Học ( lấy họ vua)  đi đến các tỉnh miền Đông trước 1975 , nay là Nơ Trang Long.

1A-bản đồ tran van hoc 1815

Hình 1A- Bản đồ  Trần Văn Học 1815 với hiệu đính điạ danh lấy từ Gia Định Thành Thông Chí của Trịnh Hoài  Đức. http://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%E1%BA%A7n_V%C4%83n_H%E1%BB%8Dc

1B

Hình 1B: Vị trí thành Bát Quái và thành Phụng trên bản đồ 1A .

Sau khi phá vở Đại đồn Kỳ Hòa (Chí Hòa) của Nguyễn Tri Phương tháng 2 1861, đô đốc Charner ban hành nghị định thiết kế quy hoạch Saigon Cholon ngày 11/4/1861 trước khi được điều động trở lại Pháp nhậm chức mới. Phó Đô Đốc Bonard thừa hành giao cho Đại Tá công binh Coffyn thực hiện quy hoạch. Coffyn đệ trình dự án cho một thành phố với 500,000 người  (Projet de Ville de 500.000 âmes à Saigon) và được Bonard chấp thuận 30/4/1862.  http://www.reseau-asie.com/userfiles/file/f04_tran_truong_reseaux_canaux.pdf

Nhận định vị trí vùng thành phố được bao bọc bởi ba đường nước thiên nhiên ở phía Bắc, Đông và Nam, Coffyn thiết kế một đường nước nhân tạo- đào kinh Vòng Thành ở phiá Tây- biệt lập thành phố như nằm trên cù lao nhỏ.

2-bản đồ 1893  có chú thích

Hình 2 : Bản đồ Coffyn 1893 cho thấy quy hoạch thành phố Sàigòn Chợ Lớn, bao bọc bởi Rạch Thị Nghè (phía Bắc) , Rạch Bến Nghé (Nam), Sông Bến Nghé (Đông) và Kinh Vòng Thành (Tây).

3-Kinh Rach SG-CL 1962

Hình 3: Bản đồ 3 thời VNCH năm 1962  cho thấy sông rạch bao quanh thành phố Saigon-Chơ Lớn sau khi kinh Tẽ (nhánh của rạch Bến Nghé) được đào năm 1905

Những chiếc cầu bắc ngang sông, rạch, kinh trước 1975:

1)    Cầu trên sông SàiGòn

2)    Kinh đào và lấp vùng quận 1 Sàigòn

3)    Cầu trên rạch Thị Nghè (kinh Nhiêu Lôc)

4)    Cầu trên rạch phiá Nam-rạch Bến Nghé , Kinh Bải Sậy, Kinh Đôi, Kinh Tẽ

5)    Kinh Vòng Thành

1 -Cầu trên sông Sàigòn (Bến Nghé) phía Đông Sài Gòn

Sông Bến Nghé –sau gọi là sông Sàigòn có đầu nguồn ở vùng Lộc Ninh thuộc tỉnh Bình Long trước 1975, bây giờ là Bình Phước. Bản đồ Pháp Plan de Ville 1790, 1795 còn gọi là sông Đồng Nai-vì cho rằng đây là môt nhánh của sông Đồng Nai bắt nguồn từ cao nguyên Lang Biang (Lâm Viên) chảy qua Biên Hoà, xuống vùng Sàigòn, thực tế sông Đồng Nai hợp lưu với sông Sàigòn thành sông Nhà Bè rồi chảy ra biển Đông. Cưả Đông và cửa Nam của thành Phụng và Thành Quy hướng về sông Bến Nghé (xem hình 1B).

Đoạn sông Sàigòn trước khi uốn khúc quanh bán đảo Thanh Đa, người đia phương gọi là sông cầu Bình Lơi.  Sông khá sâu, nước chảy khá mạnh. Sông Saigon có phụ lưu sông Bến Cát, rạch Lăng có nguồn từ sông Bến Cát chạy quanh co nối với rạch Bến Bôi khu vực Ngả Năm Bình Hoà rồi chảy xuống rạch Cầu Bông ra Rạch Thị Nghè (Nhiêu Lộc).

Có bốn cây cầu chính bắc qua sông Sài Gòn trước 1975.

 4-Không ảnh trên sông Sàigòn

Hình 4: Không ảnh định vị những cầu xưa trước 1975 trên sông Sài Gòn (vùng Bình Lợi-Thanh Đa)

Cầu Bình Lợi

Bắc ngang sông Saigòn đầu tiên là cầu Bình Lợi  xây năm 1902 cầu sắt , sàn cầu bằng gổ cứng, có cả đường rấy xe lửa, đây là cây cầu quan trọng nhất đi Biên Hoà và các tỉnh Miền Đông. Nhịp giữa quay được cho tàu qua, xây dựng bởi công ty Pháp Lavelois Perret (tên của công ty Eiffel do Gustav Eiffel, người kỹ sư xây tháp Eiffel sáng lập).

5-cầu bình lợi với xe lửa

Hình 5: Xe lửa chạy trên cầu Bình Lợi

6-Cầu Bình Lợi xưa 1

Hình 6: Cầu Bình Lợi xưa

7-cầu bình lợi với xe hơi

Hình 7:  Xe lưu thông một chiều phải đợi tới phiên

Cầu chỉ đi được một chiều, bên được lưu thông thì bên kia phải đợi, khi có xe lửa chạy thì hai bên dừng lại cho tới khi xe lửa rời cầu. Sàn xe lửa xây dựng bằng những tấm phản gổ to, xe chạy mãi mòn gổ có đoạn bóng loáng khi chạy xe phải cẩn thận vì trơn trợt, nhìn qua khe gổ trên sàn cầu thấy nưóc sông Bình Lợi cuồng cuộn chảy. Có lẽ một phần vì có nhiều người đến đây nhảy cầu tự tử, người địa phương có câu “muốn chết nhảy xuống sông cầu Bình Lơi”. Cầu này trước khi có xa lộ Saigòn Biên Hòa đưa dân Sàigòn đến những vùng trái cây nổi tiếng Lái Thiêu (măng cụt, sầu riêng, chôm chôm…), hoặc lên Thủ Đức ăn nem gói bằng lá chuối, có lót lá vông kể tăng độ chua mời xem Dì Hai Lò Nem, https://maivantran.com/tag/lo-nem/ tắm suối Xuân trường ở Dỉ An, hoặc mua bưởi Biên Hòa, lên “núi” Châu Thới”, gọi là núi nhưng thật sự chỉ cao 82m . http://www.binhduong.gov.vn/vn/sobannganh_detail.php?id=5121&idcat=143&idcat2=144

8-Nem lá vông

Hình 8: Nem Thủ Đức

9-Cầu Bình Lợi A

Hình 9: Cầu Bình Lợi thập niên 60

Cầu Bình Triệu

10-Cầu Bình Triệu trước 75

Hình 10: Câu Bình Triệu, vị trí cầu Bình Triệu xem hình 4

Ngày xưa từ  Sài Gòn lên Thủ Đức đi ngả Cầu Bông, xuống đường Nguyễn văn Học (Nơ Trang Long) qua Ngả Tư Bình Hòa, Ngả Năm Bình Hoà, qua cầu Băng Ky, cầu Bình Lợi , Cầu Gò Dưa và Cầu Ngang để vào Thủ Đức.

Từ  sau 1961 khi có xa lộ Saigon –Biên Hoà, từ Saigon lên xa lộ chạy thẳng qua nhà máy Xi Măng , qua khu vực làng Đại Học  đến ngả tư Xa lộ rẽ trái đi vào chợ Thủ Đức.

Đến đầu thập niên 70 có thể đi Thủ Đức qua cầu Bình Triệu đi theo đường Phan Thanh Giản hay Hồng Thập Tự  qua Ngả tư Hàng Xanh, theo Quốc lộ 13, qua cầu Bình Triệu, đến ngả tư Bình Triệu thì rẽ phải để đi về hướng cầu Gò Dưa vô chợ Thủ Đức.

 

Cầu Kinh

 11-bản đồ thanh đa

Hình 11 :Kinh đào Thanh Đa (còn gọi là kinh Bình Quới) xẻ ngang vùng Bình Qưới, rút ngắn thời gian lưu thông thương thuyền từ thượng lưu đến rạch Bến Nghé, căt ngắn 12 km đường sông

Kinh Thanh Đa (Canal de Thanh Đa) đào trong hai năm 1897 và 1898 dài 1km, rộng 40m và sâu 6m (Monographie de la province de Gia- Định 1902).

Nối trực tiếp qua bán đảo Bình Qưới. Vùng Thanh Đa xưa kia là đồng ruộng bao la, chỉ có một vài cơ xưỡng kỹ nghệ nhỏ dựa vào đường sông để vận chuyển. Vùng này thường ngập úng vào mùa mưa khi nước thủy triều sông Sàigòn dâng lên.

12-cầu kinh thanh da

Hình 12: Cầu Kinh qua Bình Qưới Thanh Đa

13-không ảnh bán đảo thanh đa

Hình 13: Không ảnh vùng kinh Thanh Đa

Cầu Sài Gòn- Cầu Xa lộ Saigon Biên Hoà

Cầu này nối đường Phan Thanh Giản (bây giờ là Điện Biên Phủ) bắc ngang sông Saigon trên xa lộ Sàigòn Biên Hoà. Xa lộ này khởi công xây dựng 1957 và được khánh thành năm 1961. Đây là một công trình có tính cách bức phá xữ dụng công nghiệp làm đường của Mỹ do hảng thầu RMK-BRJ  Mỹ qua kinh phí viện trợ kinh tế của USOM để mở mang vùng công nghiệp dọc theo tuyến đường qua vùng Thủ Đức Biên Hoà gọi là khu Công Nghiệp Kỹ Nghệ Biên Hoà.  Phần lớn máy móc, trang thiết bị của các xí nghiệp nhà máy trong khu kỹ nghệ này khá hiện đại được nhập cảng vào từ Pháp, Nhật, Đức, Mỹ… thu hút hàng ngàn nhân công chung quanh vùng. Khu Công nghiệp Biên Hòa bao gồm nhiều ngành nghề kinh tế mà nguồn đầu tư cũng rất đa dạng. Hoạt động sản xuất công nghệ với nhiều nhóm ngành nghề: Hoá học, mỹ phẩm, cơ khí và luyện kim, vật liệu xây dựng (nhà máy Xi măng Hà Tiên ở Thủ Đức, VIKIMCO (kim khí), VINATON (tôn che mái nhà…) và hàng tiêu dùng (nhà máy giấy Cogido-An hảo, nhà máy vải dệt Vinatexco, Vimytex, công ty sữa Foremost…)

Cầu có 13 nhịp xây bằng bê tông cốt sắt, riêng ba nhịp sàn giữa thì bằng “đan” sắt có thể di chuyển được. Cầu có 8 lằng xe, chia đều hai hướng đi về.
Trong thời gian xây dựng xa lộ hai bên vệ đường là những quán xây dựng tạm thời, đủ loại thức ăn bài bán nhưng chung qui là món nhậu, cà phê, bia, mực khô nướng, hột vịt lộn, chè. Người ta có thể tìm thấy những người trẻ dùng những ống cống bằng bê tông đường kính cà hơn thước, tìm giây phút riêng tư hoặc ăn uống thư giản, nhất là lúc chiều lên.

14-Cầu Sài Gòn xưa

Hình 14:  Giử an ninh đầu cầu Sài gòn

15-cầu xa lo bien hoà 2

Hình 15: Cầu Sàigòn trên xa lộ Sàigòn Biên Hòa.

2 -Kinh đào và lấp vùng quận 1 Sài Gòn.

Sau khi Gia Định thành thất thủ 1861, người Pháp xây dựng thành phố Sài Gòn theo quy hoạch Coffyn 1862.

16-quy hoạch coffyn 1862

Hình 16: Quy hoạch Coffyn

Điểm chính của Quy họach gồm có:

-Vị trí Thành Phố bao quanh bởi bốn đường nước như đã nói trên.

-Quy hoạch phân lô các loại đất (thổ cư, buốn bán…)

-Dùng đường Imperial (Hai Bà Trưng) làm trục Đông-Tây. Phía Đông, khu hành chánh, phía Tây khu thương mại, dịch vụ, công nghiệp..

-Quy hoạch đường xá, bến cảng

-Quy Hoạch về hệ thống nước, cung cấp nước tiêu dùng, thoát nước, rác phân…

-Quy hoạch về an ninh phòng thủ

Thực sự không biết quy hoạch này có được thực hiện toàn bộ không, nhưng điều chắc chắn là quy hoạch này đã là nền tảng cho một thành phố -một thời được gọi là Hòn Ngọc Viễn Đông.

Khảo sát hình 2 bản đồ 2 1893 và hình 3 1962, kinh Vòng Thành đã được đào nhưng toàn kinh chưa được đem vào xữ dụng vì nạn bùn lên quá nhanh ghe thuyền không di chuyển được (Monographie de  la Province de Gia- Định 1902, trang 19 ) .

17-Citadel_of_Saigon_1867col

Hình 17: Bản đồ 1867 với chú thích về kinh rạch khu này sau bị lấp đi biến thành đường xá.

Dựa theo bản đồ khu vực Sàigòn năm 1867, người Pháp cho đào hoặc trùng tu một số đường nước trong khu vực nhằm giải quyết vấn đề giao thông và vận chuyển hàng hoá vào Saigon lúc bấy gìờ.

Kinh Chợ Vải (xem bản đồ có chú thích trên A) mà người Pháp gọi là Grand Canal (kinh Lớn) được đào 1867 từ sông Saigon chạy vào đến giếng nước (khoảng bùng binh Nguyễn Huệ bây giờ) quẹo phải hợp lưu với kinh Coffyn mà chảy ra lại Sông Sàigòn, người Việt gọi là chợ Vải vì đây là nơi buôn bán vải vóc  của  chợ Bến Thành đầu tiên ở Sàigòn . Chợ này được xây cất năm 1860 và phá huỷ năm 1910. Sau đó chợ được xây lại ở vị trí hôm nay (trên khu đầm lầy (marais  Boresse)) năm 1912. Chợ Bến Thành được khai trương tháng 3 năm 1914 thay chợ Vải. Khi chợ  mới đi vào hoạt động chợ Vải trở thành Chợ Cũ, nhưng sau này khu buôn bán của chợ Cũ dời về khu đường Tôn Thất Đạm, Huỳnh Thúc Kháng và Hồ Tùng Mậu.  Công trường Quách thị Trang trước chợ Bến Thành, thời Pháp gọi là công trường Cuniac, tên ủy viên hội đồng Xã Tây quản lý  việc đấp đầm lầy, cũng được người Sàigòn gọi là Bùng Binh Saigon .

Vì tốc độ đô thị hóa, kinh Chợ Vải bị lấp vào khoảng 1887 sau 20 năm hoạt động.

18-Kinh Chợ Vải hai bên

Hình 18: Kinh Chợ Vải.

Rạch Cầu Sấu (điểm B trên hình 7 bản đồ thành phố Sài Gòn 1867)

Còn ở giữa khoảng Sở Thương chánh (Port de Commerce – Sở này có từ 1860) có một con rạch, tục danh “Rạch Cầu Sấu” vì nơi đây có một cái hầm nuôi cá sấu để xẻ thịt bán. Rạch Cầu Sấu nối liền kinh Chợ Vải tới một con rạch nhỏ nữa do Coffyn đào, về sau cả ba con kinh này đều lấp bằng trở nên đại lộ “Đường Kinh Lấp” chạy từ dinh Xã Tây tới giáp đường Công Lý và đại lộ Hàm Nghi (Boulevard de la Somme cũ). (Vương Hồng Sển – Sàigòn năm xưa)

Rạch Cây Cám (D)

Trước khi đi đến kho đạn cũ, bọc theo bờ thành gần cửa Đông “Phan Yên Môn” của thành Quy, có một con kinh nhỏ chạy dài tên là “Kinh Cây Cám” chạy tới đường Lê Thánh Tôn đi ngang Sở Pháo thủ (Pyrotechnie) qua Sở Công binh thuật (Génie) là dứt. Con kinh này, khúc nối dài tới Chợ Cũ thì gọi “Kinh Chợ Vải” vì vải sồ hàng giẻ đều bán tại đây (Vương Hồng Sển – Sàigòn năm xưa)

Rạch Cầu Ông Lảnh (E)

Rạch này có nguồn từ rạch Bến Nghé chạy quanh khu Cầu Quan-Cầu Muối- Cầu Kho, với nhiều nhánh tẽ mang tên điạ phương của những cây cầu: cầu Kho (rạch Cầu Kho), cầu Muối (rạch Cầu Muối) Cầu Quan ( rạch Cầu Quan)…

Kinh Coffyn (C)

Kinh đào Coffyn nối rạch Cầu Sấu, Kinh Chợ Vải và kinh Cây Cám.

Có thể nói, tất cả các rạch và kinh đào của khu Quận 1 (xem bản đồ hình 17) nhằm đáp ứng nhu cầu vận chuyển hàng hoá và giao thông cuối thế kỹ 18 và 19 đều bị lấp vì áp lực thành thị hoá và sự thay đổi phương thức vận chuyển vào cuối thập niên thế kỹ 19.

Kinh Chợ Vải đào 1867 bị lấp giai đoạn 1887-1892 thành đường Charner –sau thành đại lộ Nguyễn Huệ.

Rạch Cầu Sấu bị lấp thành đường de la Somme, sau thành đường Hàm Nghi.

Kinh đào Coffyn nối Rạch Cầu Sấu-Kinh Chợ Vải-Kinh Cây Cám, bị lấp năm 1892 để biến thành đường Bonard –sau Lê Lợi và  đường D’ Espagne thành đường Lê Thánh Tôn.

Rạch Cầu Ông Lảnh thành đường Kitchener sau Abattoir (Lò Heo-vì vùng này là vùng Lò Heo củ của Saigon Chợ Lớn trước khi có Lò Heo bên Chánh Hưng), sau thời VNCH đặt tên Nguyễn Thái Học cho đến nay.

Rạch Cầu Kho biến thành đường Blancsubé de Cầu Kho, thời VNCH đường Huỳnh Quang Tiên, sau 1975 thành Hồ Hảo Hớn. Rạch cầu Kho không phải bị lấp thành đường Phát Diệm-Trần Đình Xu (chi tiết ở Phần II).

3-Cầu trên rạch Thị Nghè phía Bắc 

Dọc theo sông Sàigòn vùng Thạnh Mỹ Tây (xem hình 3 bản đồ 3), thuyền quẹo vào trái vào rạch Thị Nghè và rạch Văn Thánh. Rạch Thị Nghè nằm phía Bắc thành phố Sài Gòn Chợ Lớn, đối diên vói cửa Đông của Thành Quy –Bát Quái  (1790-1835) và thành Phụng (1836-1859) xem hình 1B. Chú ý thành Phụng được thêm vào bản đồ Trần Văn Học năm 1815 cộng với những địa danh rút từ Gia định thành Thông chí của Trịnh Hoài Đức được viết vào khoảng 1820-1822 ( Gia Định Thành Thông Chí -Lời Gìới Thiệu).

Theo bản đồ 1815 thì rạch Thị Nghè  lúc ấy gọi là sông Bình Trị (trong địa hạt Tổng Bình Trị Trung), người đia phương gọi là sông Thị Nghè, vì có cầu Thị Nghè bắt ngang sông bên hông Sở thú. Đến đoạn cầu Bông-trước đó gọi là cầu Cao Miên- thì gọi là sông cầu Bông. Rạch Thị Nghè chảy qua đoạn cầu Bông về phiá  Tây Bắc có cây cầu Kiệu (gọi là sông Cầu Kiệu Phú Nhuận) , rồi từ cầu Mac Mahon (Công Lý ) quẹo về hướng Tây đến cầu Trương Minh Giảng  gọi là Kinh Nhiêu Lộc vì đường nước trở nên nhỏ hẹp.

Người Pháp sau khi chiếm được Gia định thành gọi rạch Thị Nghè là Arroyo de l’Avalanche, lấy tên con tàu đầu tiên tiến vào rạch.

Rạch Thị Nghè chảy dài từ khu vực Ba Son Thị Nghè đến Ngả Tư Bảy Hiền Tân Bình.

19-Bản đồ 1903 in memory of Plan Doumer

Hình 19: Bản đồ rạch Thị Nghè (được phóng đại từ bản đồ 1903 Plan Doumer)

 

Cầu bắc ngang rạch Thị Nghè

20-cầu thị nghè

Hình 20. Cầu Thị Nghè được hoàn thành năm 1927 (nằm trong khuôn viên Sở Thú.)

20a-Cầu Thị nghè 1965

Hình 20A: Cầu Thị Nghè 1965/66 by Tom Langley

21-cầu thị nghè  noi lien NTminh Khai

Hình 21. Cầu Thị Nghè – nằm ngoài khuôn viên sở thú-nố dài đường Hồng Thập Tự trước 1975.

Cầu này chạy sát cạnh Sở Thú (Thảo Cầm viên) trên đường Hùng Vương (Thạnh Mỹ Tây) về phía Thị Nghè.

Cầu xây năm 1927 còn nằm trong khuôn viên Sở Thú.  Sau khi cầu sập vì tai nạn Hội Chợ Thị Nghè năm 1957, cầu bị phá huỷ . Cầu được xây lại nằm trên con đường mới mở nối qua Thị Nghè-Nguyễn Cảnh Ch ân , bằng bê tông hình 20A. Sau kiến trúc vòm cầu bị phá bỏ và cầu được xây dựng lại có hình dáng phẳng hình 21.

Qua cầu có Chợ Thị Nghè lập nên bởi bà Nguyễn Thị Khánh, cạnh nhà thờ Thị Nghè, xây dựng khoảng cuối thế kỹ 18. Bà Khánh là con ông Khâm Sai Chánh thống Vân trường hầu, là vợ ông thư ký mổ chớ không phải vợ ông Nghè (Nghè theo tiếng Nôm có hai nghĩa: ông tiến sĩ và ông thư ký (Trinh Hoài Đức,  Gia Định Thành Thông Chí )

Vùng Thị Nghè xưa là nơi có khu ruộng Tịch Điền, đàn Xã Tắc, miếu thờ Thần Nông, đàn Tiên Nông (những cơ sở này nằm trước nhà thương dưỡng lão, nay là Trung tâm dưỡng lão Thị Nghè), miếu Văn Thánh, miếu thờ Đức Khổng Tử.

Trên địa bàn Thị Nghè cũng từng có một số cơ sở công nghiệp như: Hãng Chén (nay là Công ty sứ Thiên Thanh), nhà máy Dây thép Thị Nghè (nay là Công ty vật tư Bưu Điện), hãng Dầu Phú Mỹ, hãng Ô tô buýt (nay là trường Phú Mỹ), hãng Mỡ Guyonnet… Thị Nghè cũng là nơi xuất hiện một trong những nhà in đầu tiên của đất Sài Gòn: Nhà in kiêm nhà sách Joseph Nguyễn Văn Viết ra đời năm 1917 (http://www.nguoiduatin.vn/vung-dat-thi-nghe-xua-va-nay-a57485.html).

Cầu Bông

Cầu Bông được xây dựng vào khoảng 1736  (12) , lúc đầu đặt tên là cầu Cao Miên (Pháp gọi là cầu Cambodge). Cầu Bông bắc ngang rạch Thị Nghè, nhưng đối với dân điạ phương ai cũng gọi là sông Cầu Bông đến ngày nay.  Dưới chân cầu  Cao Miên có trồng hoa, nên tên cầu dần dần đổi thành cầu Hoa , rôì vì tránh phạm húy nên đổi là cầu Bông ( Hồ Thị Hoa là tên của một hoàng hậu nhà Nguyễn gốc ở Linh Xuân Thôn, huyện Bình An, tỉnh Biên Hòa và là mẹ của vua Thiệu Trị . Tuy nhiên có những nghiên cứu khác cho rằng tên cầu Bông là do là phát âm người Việt từ  Pont de Dakao, mà người Pháp  còn gọi la deuxième pont – hay pont de Cambodge.

Cầu này nổi danh từ đầu thế kỹ XX, vì năm trên tour du lịch nổi tiếng “tour de l’inspection”  bắt đầu khu Sở Thú- Đường Norodom -Thống Nhất (trước 1975) băng ngang cầu Cambodge qua lăng Tả Quân Lê Văn Duyệt sang Toà Bố Gia Định và Lăng Cha Cả Pigneau de BéhaineaaaaaCau Bong

Hình 21A . Mả Tà -Cảnh sát chặn xe bò và xe ngựa cho đoàn đua xe đạp qua cầu Bông).

Ai là người Sài Gòn xưa có lẻ còn nhớ bài này, nhại theo bài  Gạo Trắng Trăng Thanh, một thời nổi tiếng với đôi danh ca cũng là cặp vợ chồng ngoài đời Ngọc Cẩm-Nguyễn Hữu Thiết:

“Ai đang đi trên cầu Bông,

Té xuống sông ướt cái quần ny lông

Vô  đây  em dù trời khuya anh vẫn đưa em về “

Cho tới bây gìờ không ai biết xuất xứ của nó và vì sao, chỉ có điều nặng mùi Nam rặt, bình dân giáo dục nhưng hậu ý tốt. Con đường từ đầu cầu Bông xuống đến toà Bố (toà hành chánh Gia Định) cuối thế kỷ 19 gọi là đường L’inspection, sau đó đổi thành Lê Văn Duyệt (bây giờ đường Đinh Tiên Hoàng) .

Cầu Bông dài chỉ khoảng 50 mét, chiều rộng 15 mét, bằng bê tông là huyết mạch giao thông nối liền Sài Gòn Chợ Lớn và tỉnh Gia Ðịnh ngày xưa cũng như ngày nay. Từ Ða Kao qua Cầu Bông vào trung tâm của tỉnh Gia Ðịnh trước khi đến khu vực cơ quan hành chính,  công quyền, đến khu vực Lăng Ông và chợ Bà Chiểu. Riêng Lăng Tả quân là một nơi rất được sùng bái đối với người Tàu khắp nơi , nhất là vùng Chợ Lớn, họ đổ về đây chật cả đường vào những dịp giổ Ông hoặc Tết Nguyên Đán.

Có thể nói Cầu Bông là cây cầu thân thuộc của dân Sài Gòn Gia Định.  Từ Sài Gòn học trò sang Gia Định theo học trường nữ Lê văn Duyệt (bây giờ là Vỏ Thị Sáu) hay trường Nam Hồ Ngọc Cẩn (giờ là trường tiểu học Nguyễn Đình Chiểu) hoặc học trò từ Gia Định sang các trường học ở Đa kao Sài gòn đều phải qua đây, cộng  với số người đi làm ở công tư sở hoặc giải trí  ỏ Saigon Chợ Lớn.  Con đường này là chốt quan trọng trong thời chiến trước 75, nhân viên An ninh Cảnh Sát thường đóng chốt ở hai đầu Cầu Bông để  kiểm xét giấy tờ tùy thân, hợp lệ quân dịch .

22-cầu bông và cầu sắt copy

Hình 22:  Cầu Bông và Cầu Sắt

Rạch Thị Nghè từ cầu Bông chảy về hướng cầu Kiệu có một đia danh đặc biệt -Miểu Nổi Vạn Chài bây giờ là khu chung cư Miểu Nổi đường Vũ Huy Tần gần cầu mới Hoàng Hoa Thám bắc qua rạch Thị Nghè-Nhiêu Lộc.

Ngày xưa dân vào miểu Nổi bằng cách đi đò nhỏ qua đường hẽm trên đường Trần Quang Khải băng qua xóm Vạn Chài rồi xuống sông qua đò hoặc đi qua hẻm Trần Pháp dưới sông cầu Bông (tiếng gọi của người vùng này), trên đường Lê Văn Duyệt từ hướng Lăng Ông sang Đakao.  Miểu thờ bà Thánh Mẩu, được nhiều người dân địa phương tôn sùng. Trong hình miểu nằm ở vị trí đầu cù lao. Ngày nay cả cù lao không còn nữa do kế họach đô thị hoá và chỉnh trang khu vực hai bên rạch.

23-mieu noi dakao nhieu loc

Hình 23: Miểu Nổi ở Đakao

Cũng nên biết rằng có một địa danh Miểu Nổi nhưng ở Gò vấp, nằm trên một cù lao nhỏ trên sông Vàm Thuật, phụ lưu của sông Sài Gòn. Còn gọi là Miểu Nổi Phù Châu tọa lạc Phường 5 Quận Gò Vấp.

24-Miểu Nổi Gò Vấp

Hình 24: Miểu Nổi trên sông Vàm Thuât (người đia phương gọi là sông Bến Cát).

Chi tiết miểu này http://www.diaoconline.vn/kham-pha/khong-gian-song-c7/kham-pha-khong-gian-tai-mieu-noi-qgo-vap-i23515

Cầu Sắt

Cầu này nằm gần cầu Bông cạnh rạch Cầu Bông phía bên phải chảy về hướng Bà Chiểu-Hàng Xanh.

Đây là một cây cầu sắt xưa xây 1896 bởi công ty Eiffel, sàn gổ, là cầu dành cho tuyến xe lửa Saigon Gò Vấp qua Đakao xuống đường L’Eglise, Nhà Thờ thời Pháp  vì trên đường này có nhà thờ Bà Chiểu, đây là ngôi nhà thờ lớn nhất vùng Bà Chiểu. Sau đường Nhà Thờ đổi thành Bùi Hửu Nghĩa, chạy dọc hông chợ Bà Chiểu nối liền đầu đường Lê Quang Định chạy qua ngả tư Bình Hoà, ngả tư Xóm Gà lên chợ Gò Vấp.

Xem mộ cụ Thủ Khoa Bùi Hửu Nghiã ở Cần thơ http://www.youtube.com/watch?v=_kbff3fllH4

Xem Xóm Gà https://maivantran.com/tag/xom-ga/

Vùng đất giữa đường Lê Văn Duyệt (Đinh Tiên Hoàng bây giờ) và rạch Cầu Bông thời trước là một vùng ruộng, đầm lầy thỉnh thoảng có một vùng đất cao nơi có nhà cửa xây cất, dọc theo đường thưa thớt nhà cửa, khu này gần vùng rạch Thị Nghè có tên là khu “ khăn đen suối đờn”  xem https://maivantran.com/tag/ga-go-v%E1%BA%A5p/

25-cầu sắt dakao

Hình 25: cầu Sắt Đa kao

Cầu sắt Đa Kao với nhà sàn chi chít ven sông.  Cảnh quan này tương tự như ở khu vực các cầu bắt ngang rạch Thị nghè (cầu Thị Nghè, cầu Bông, cầu Kiệu…)

Cầu Kiệu

26-Cầu  kiệu phú nhuận

Hình 26: Cầu Kiệu (không ảnh by Raymond Cauchetier 1955)

Rời cầu Kiệu đi về Saigon sẻ qua một cái chợ, ngày xưa gọi là chợ Xã Tài, chợ bắt đầu là một nhóm bạn hàng ngồi tụ tập lộ thiên và có tên là Chợ Mới. Vì thế Cầu Kiệu thời ấy có tên là cầu Chợ Mới (xem hình 1B).  Sau có ông Lê Tự Tài, xã trưởng Phú Nhuận, quyên góp tiền của bà con bán hàng, để mua vật liệu xây dựng, nhà lồng chợ bằng tre, lá. Mấy năm sau, mới thay bằng cột gỗ, lợp ngói, và được người dân gọi là Chợ Xã Tài. Đầu thế kỷ 20, người ta cho xây mặt tiền chợ nhà lồng và đắp lên đó mấy chữ nổi: “Marché de Xa Tai”. Nhưng tồn tại chẳng bao lâu, thì được thay bằng chữ “Marché de Phu Nhuan”, tức Chợ Phú Nhuận hiện nay. Đây là một trong các ngôi chợ lâu đời nhất ở Thành phố Hồ Chí Minh. (Sài Gòn vang bóng, sách đã dẫn, tr. 137). Xã Phú nhuận thời ấy là một xã lớn có đền 72 ngôi đền chùa (Trương Vĩnh Ký  trong Saigon et ses environs), nhưng đa số không còn tồn tại đến ngày nay.

Cách cầu Kiệu không xa, có lăng Đô-đốc Võ Di Nguy, lăng Ông Trương Tấn Bửu, một danh tướng thời Gia Long Minh Mạng, một thời là Tổng Trấn Gia Định Thành.

Cầu Công Lý – thời Pháp Cầu Mac Mahon

27-cầu công lý

Hình 27: Cầu Công Lý

Cầu Công Lý nằm trên tuyến đường chính đi từ phi trường Tân Sơn Nhất vào trung tâm thành phố đi ngang qua Dinh Độc Lập (Hội Trường Thống Nhất) chạy thẳng ra Bến Chương Dương.

Thời Pháp gọi là Cầu Mac Mahon (Mặt Má Hồng), gần cầu có ngôi chùa Vĩnh Nghiêm. Chùa kiến trúc theo kiểu chùa Miền Bắc có cổng Tam quan. Chùa bắt đầy xây cất 1964 và xong năm 1971.

Cầu này cũng được biết qua sự kiện Nguyễn Văn Trổi năm 1964 đặt bom mưu sát Bộ trưởng Quốc Phòng Mỹ Robert MacNamara, chuyện không thành, Nguyễn văn Trổi bị bắt và bị tử hình.

27a-chùa vĩnh nghiêm xây xong 64-71

Hình 27A:   Chùa Vĩnh Nghiêm với cổng Tam Quan

Cầu Trương Minh Giảng (Lê Văn Sỹ)

28-cầu trương minh giảng

Hình 28 Cầu Trương Minh Giảng, toà nhà phiá sau là viện Đại học Vạn Hạnh

28A-Viện đại học van hạnh

Hình 28A Cổng viện Đại Học Vạn Hạnh

Cầu này ngày xưa không có tên, tuy nhiên có tài liệu cho rằng đây là cầu Lão Huề (http://vi.wikipedia.org/wiki/L%C3%AA_V%C4%83n_S%C4%A9) . Khảo sát không ảnh và bản đồ Trần Văn Học năm 1815, cầu Lão Hoà (Huề) chỉ có thể nằm cuối nguồn của rạch Thị Nghè ở vùng Hoà Hưng, Tân Bình. Theo Trịnh Hoài Đức Gia-Định  Thành Thông Chí thì cầu Huệ cách cầu Kiệu 6 dậm rưỡi và ở cuối nguồn sông Bình Trị  (rạch Thị Nghè), là nơi đầy dẫy những ao vũng.  Theo Bình Nguyên Lộc đường Trương Minh Giảng với cây cầu Trương Minh Giảng chỉ mới có từ cuối năm 1938  http://namkyluctinh.org/a-dialy/bnloc-diadanhsaigon.htm .

Như vậy cầu Lão Huề (Hòa) không thể nào là tên xưa của cầu Trương Minh Giảng . Dưới thời VNCH cầu được xây lại bằng bê tông cốt sắt đặt tên cầu Trương Minh Giảng vì nằm trên đường cùng tên, một vị danh tướng thời nhà Nguyễn. Ông được đánh giá là một người “văn võ song toàn”, là công thần bậc nhất của nhà Nguyễn, vừa là một võ tướng vừa là một sử gia, từng giữ chức Tổng tài Quốc sử giám. Ông mất năm1841  http://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C6%B0%C6%A1ng_Minh_Gi%E1%BA%A3ng. Mộ ông toạ lạc ở một vị trí khiêm nhường ở hẽm đường Nguyễn Văn Nghi, Gò Vấp.

Đi về hướng Dinh Độc Lập (Hội Trường Thống Nhất) trước khi đến cầu có chợ Vườn Xoài nằm bên phải, gần đến cầu thấy có trồng rau muống. Đường Trương Minh Giảng bắt đầu ở ngã ba Trần Qúy Cáp (nay Vỏ Văn Tần)-Trương Minh Giảng. Đường Trương Minh Giảng đổi tên thành đường Trương Minh Ký khoảng chợ Vườn Chuối hướng Tây Bắc. Cũng nên biết Trương Minh Ký học trò tâm đắc của Trương Vĩnh Ký, có hiệu là Thế Tải, một nhà văn hóa lớn của Việt Nam, ông cũng là nhà báo, nhà giáo đóng góp quan trọng trong việc truyền bá và phát trển nền văn học Quốc Ngữ Việt Nam.  Tổ tiên của ông là danh tướng Trương Minh Giảng.  Lăng mộ ông trong tình trạng hoang phế hiện còn ở hẽm đường Nguyễn Văn Nghi  Gò vấp gần mộ Trương Minh Giảng. Có thể xem khu mộ này ở đây http://www.youtube.com/watch?v=YNE2GbBQeTo

Toà nhà cận cầu là Đại Học Vạn Hạnh. Khuôn viên Viên Đại Học nay là trường  Đai học Sư Phạm và chùa Pháp Hoa thuộc GHPGVN.

Xem tiếp Kể Chuyện Kinh Cầu xưa vùng Sàigon Chợ Lớn trước 1975 phần 2


Thử đọc lại Kim Dung phần 4: Lộc Ðỉnh Ký

Thử đọc lại Kim Dung phần 4:  Lộc Ðỉnh Ký


Nguyên Nguyên

Lộc Ðỉnh Ký từ lâu đã nổi tiếng một trong những tác phẩm hay nhất của Kim Dung. Thế nhưng không biết vì lý do này hay lý do nọ, cho đến lễ Phục Sinh 2003 tại hạ vẫn chưa có dịp đọc hay xem qua phim tập Hong-Kong truyện đó. Tựu chung có lẽ bởi những định kiến về sở thích của tuổi trẻ. Tuổi chỉ thích truyện kiếm hiệp, truyện chưởng thuần túy, chứ không thích lăng nhăng chính trị hay những chuyện thâm cung bí sử.  Thế, một khi biết được phong phanh rằng không những nhân vật chính trong truyện Lộc Ðỉnh Ký, Vi Tiểu Bảo, chẳng phải là một cao thủ võ lâm, các vị đại sư của Thiếu Lâm hoặc Võ Ðang không mấy khi xuất hiện, lại thêm bối cảnh được dựng chung quanh vài Thái Giám ở triều đình nhà Thanh, tại hạ đành hẹn lần hẹn hồi cho đến chừng nào có dịp hãy hay.

Nước chảy qua cầu và thời gian trôi qua nhanh. Thấm thoát từ ngày Lộc Ðỉnh Ký đầu tiên xuất hiện trên chốn giang hồ đến nay cũng đã hơn 30 năm. Những người đọc truyện Kim Dung năm xưa qua những bản dịch của Hàn Giang Nhạn, Từ Khánh Phụng bây giờ đã đi vào tuổi lão. Kim Dung cũng đã tròn tuổi tám mươi. Duy chỉ có vài ba hiện tượng đáng để ý, đã mặc nhiên từ chối định luật đào thải của thời gian. Thứ nhất các phim ảnh HongKong, Ðài Loan cứ quay đi quay lại những pho truyện của Kim Dung thành phim tập chiếu từng kỳ trên Tivi rồi chuyển sang băng video cho mướn khắp nơi trên thế giới. Nhất là ở những nơi có cộng đồng người Ðông Nam Á định cư. Gần như bất cứ tài tử  nào nổi tiếng hoặc đang lên cũng đều được mời đóng những vai chính của các truyện Kim Dung. Phim Tiếu Ngạo Giang Hồ đã được quay ít lắm cũng 4 lần, trong đó vai Lệnh Hồ Xung có một lần do Châu Nhuận Phát đóng. Jet Li cũng đã từng thủ vai Trương Vô Kỵ lẫn Lệnh Hồ Xung. Tony Leung tức Lương Triều Vĩ  vai Trương Vô Kỵ (Ỷ Thiên Ðồ Long) và Vi Tiểu Bảo (Lộc Ðỉnh Ký). Ca sĩ số 1 của Hongkong Andy Lau vai Khang Hy hoàng đế cũng trong Lộc Ðỉnh Ký. Và thích hợp nhất cho nhân vật Hoàng Dung trong Anh Hùng Xạ Ðiêu từ trước đến giờ vẫn là vai do tài tử đoản mệnh Ôn Mỹ Linh đóng.

Hiện tượng lạ lùng nữa không đếm xỉa gì đến sức xoáy hao mòn của thời gian chính là việc  say mê đọc truyện Kim Dung truyền qua nhiều thế hệ. Có thể nói thế hệ hiện nay mê đọc Kim Dung tại Việt Nam đã là thế hệ thứ ba hay thứ  tư, kể từ khi Cô Gái Ðồ Long xuất hiện tại Sàigòn vào khoảng năm 1962. Dịch giả cũng chuyển qua nhiều thế hệ. Có nhiều dịch giả tại Việt Nam, và cũng có những nhà chuyển ngữ sinh sống bên ngoài Việt Nam. Tin tức mới nhất thu thập từ internet cho biết hiện nay ở Sàigòn, tại mỗi tiệm sách lớn, hằng tháng trung bình có chừng 30 người mua các bộ truyện Kim Dung mới được dịch lại. Một con số khá lớn đối với các tiểu thuyết ra đời cách đây hơn 30 năm.

Một điểm nữa đáng để ý, các nhân vật trong những truyện kiếm hiệp của Kim Dung – không một người nào già ra hết. Lần cuối nếu đọc Ỷ Thiên Ðồ Long Ký tức Cô Gái Ðồ Long, vào năm 1965, ở đoạn kết thấy Trương Vô Kỵ giã từ vũ khí cùng với Triệu Minh cỡi ngựa về hướng mặt trời lặn theo kiểu Phạm Lãi với Tây Thi của nước Việt. Lúc đó, Vô Kỵ hứa với Triệu Minh chàng sẽ dành khoảng đời còn lại chỉ để kẻ lông mày của nàng thôi. Bây giờ nếu đọc lại Ỷ Thiên Ðồ Long Ký, dù với các bản “nhuận sắc” mới mẻ của Kim Dung hay các bản chuyển ngữ mới dùng nhiều từ mang Việt Nam tính hơn chút ít, người đọc vẫn thấy như vậy. Vẫn thấy Vô Kỵ cùng với Triệu Minh bỏ trốn khỏi doanh trại của Chu Nguyên Chương, người sau này đã thành công trong việc đánh đuổi giặc Mông Cổ (nhà Nguyên) và thiết lập triều đại nhà Minh. Chỉ trừ một vài thay đổi nhỏ, như Triệu Minh đã  được tác giả đổi tên thành Triệu Mẫn chẳng hạn. Lệnh Hồ Xung cũng vậy. Cũng lém lỉnh nhưng chung thủy chung tình, với ngón Ðộc Cô Cửu Kiếm, trên cơ đường kiếm Tịch Tà Kiếm Phổ của các cao thủ đã phải chia lìa với “thằng nhỏ” mới tập luyện được. Hoàng Dung cũng vẫn còn đẹp gái, nhí nhảnh dễ thương như xưa. Dương Qua vẫn mỏi mòn đi tận chân trời góc biển để tìm Tiểu Long Nữ. Chỉ có điều tất cả các tài tử thủ các vai này đều đã già đi. Một số tài tử đã qua đời. Kim Dung và những người đọc tiểu thuyết của ông cũng vậy, cũng đều lớn tuổi thêm ra.

Như các nhân vật khác, Vi Tiểu Bảo của Lộc Ðỉnh Ký cũng không già đi với thời gian. Có vẻ như chừng Vi Tiểu Bảo hãy còn sống ẩn danh đâu đó, với . . . 7 người vợ hiền, tại Vân Nam – tức nước Ðại Lý năm xưa của Ðoàn Nam Ðế, hay nước Ðiền Việt ở thời cổ đại. Trong khi vua Khang Hy – người bạn thuở thiếu niên của Vi Tiểu Bảo – đã tạ thế vào năm 1722 sau gần 60 năm trị vì.

Hiện tượng này giống y như hiện tượng các tiểu thuyết của Ian Fleming và phim ảnh Hollywood về điệp viên 007 James Bond. James Bond sau hơn 40 năm kể từ phim Dr NO, vẫn giữ vững lưá tuổi 35-45 và vẫn trẻ mãi không già. Cô thư ký Moneypenny của xếp “M” cũng vậy, lại có vẻ càng ngày càng trẻ đẹp thêm ra. Trong suốt hơn 40 năm ròng đó, chỉ có xếp M hình như đã già đi, về hưu hay qua đời sao đó, để sở tình báo của Anh Quốc phải chọn một người nữ thay thế [1]. Trưởng phòng dụng cụ và máy móc Q cũng già và qua đời sau một tai nạn xe cộ, Sở Tình Báo phải mướn người khác thay thế [2]. Bối cảnh của các công tác James Bond cũng thay đổi với thời gian. James Bond trở thành một điệp viên lợi hại của Anh quốc nhờ ở những công tác trong thời chiến tranh lạnh giữa hai khối dẫn đầu bởi Mỹ và Nga. Chiến tranh lạnh cuối cùng cũng đi đến chung cuộc. Rồi biết bao nhiêu chuyện vật đổi sao dời trong suốt thời gian 40 năm dài đó. Những thay đổi về đối tượng tranh thủ để bảo vệ và duy trì hoà bình toàn cầu. Nhưng James Bond vẫn trẻ mãi , vẫn đấm đá mạnh mẽ như xưa, và quan trọng nhất, vẫn còn đầy đủ khả năng và  phong độ để yêu những người đàn bà trẻ đẹp. Phải chăng hiện tượng trẻ mãi của James Bond, của những Vô Kỵ, Ðoàn Dự, Tiểu Long Nữ, Vi Tiểu Bảo, Triệu Minh, Vương Ngọc Yến, Hoàng Dung, Nhậm Doanh Doanh, Lệnh Hồ Xung, v.v. đều là những giấc mơ  . . . tiên của con người?

Trở lại chuyện Lộc Ðỉnh Ký. Mặc dù tại hạ đã đọc được chừng vài ba hồi trên các mạng kiếm hiệp, như www. Vietkiem.com hoặc www. Nhanmonquan.com, tại hạ thú nhận vẫn chưa làm quen được với việc . . . ngồi đọc truyện kiếm hiệp trước máy điện toán. Thói quen lâu năm khó bỏ.  Bởi hồi xưa ưa đọc truyện Tàu, truyện Kim Dung ở trong . . .mùng, sau giờ giới nghiêm. Do đó nhân dịp một người cháu đi Việt Nam, tại hạ có nhờ người cháu đem qua cho bằng được một bộ Lộc Ðỉnh Ký – bản dịch mới của Cao Tự Thanh, nhà xuất bản Văn Học, 2002. Thế rồi cố gắng đọc quyển 1 của toàn bộ 10 quyển. Rồi quyển 2 cũng với một tốc độ bình thường như đọc những tiểu thuyết tình cảm tâm lý xã hội, hoặc phiêu lưu đường rừng. Sang đến quyển thứ 3 trở đi, vô hình chung người đọc bắt đầu phải gia tăng tốc độ, đọc ngấu đọc nghiến, háo hức xem tiếp xem tiếp. Xem xem Vi Tiểu Bảo có thoát hiểm được hay không. Hoặc rốt cuộc có uống được một liều thuốc bổ nào đó chăng, như máu rắn, hoặc ăn được ếch xanh, để cấp tốc gia tăng nội lực theo với nhu cầu giải quyết các mâu thuẫn khó khăn của cuộc đời. Hoặc giả Vi Tiểu Bảo có tình cờ gặp được một vị kiếm sư nào đó đang ẩn danh nay đây mai đó truyền lại  cho chàng một đường kiếm hay một ngón chưởng nào đó đã thất truyền lâu năm. Ðể Vi Tiểu Bảo có thể đứng ra làm. . . võ lâm minh chủ theo như truyền thống lâu đời của truyện kiếm hiệp. Những háo hức và hồi hộp đó chỉ có đối với người đọc Lộc Ðỉnh Ký lần đầu. Do đó tựa đề “Thử đọc lại Kim Dung” chính ra không được chính xác mấy. Tuy nhiên để gây sự liên tục với 3 bài trước, đành phải giữ nguyên tựa cũ.

Bối cảnh lịch sử

Lộc Ðỉnh Ký được dựng lên vào khoảng 10-20 năm đầu của triều đại Khang Hy nhà Thanh.

Người ta còn nhớ, Chu Nguyên Chương nổi dậy đánh đuổi được quân Mông Cổ tức nhà Nguyên, và thiết lập nên nhà Minh vào năm 1368. Truyền lại vài đời vua, nhà Minh bắt đầu suy thoái vào khoảng đầu thế kỷ thứ  17.  Giặc giả cướp bóc nổi lên khắp nơi (xin xem “Bích Huyết Kiếm” của Kim Dung). Ðáng kể nhất có 3 đám: 1 đám chiếm cứ đảo Ðài Loan, một băng do Trương Hiến Trung cầm đầu và nhóm thứ ba là nhóm của Lý Tự Thành. Người Mãn Thanh ở phía bắc Hắc Long Giang gần bán đảo Triều Tiên nhân cơ hội nhà Minh suy yếu cũng tràn sang đánh chiếm phía bắc Trung Hoa.

Vào năm 1642, Lý Tự Thành dẫn quân chiếm được Khai Phong rồi thừa thắng xông lên, quay qua đánh chiếm Thiểm Tây và thủ phủ Tây An, rồi tự xưng mình làm vua. Sau đó quân Lý Tự Thành vượt sông Hoàng Hà sang chiếm Sơn Tây rồi bao vây Bắc Kinh, kinh đô của triều đại vua Sùng Trinh nhà Minh. Triều đình nhà Minh lập tức triệu tướng Ngô Tam Quế đang ở mặt trận phía Bắc chống cự với quân Mãn – trở về để cứu nguy. Ngô Tam Quế được lệnh triệu hồi hơn cả tuần nhưng vẫn chần chờ, suy tính thiệt hơn, nhất là các nguyên tắc “đầu tiên”. Bởi triều nhà Minh đã hết sức suy thoái và không còn tiền đâu để trả lương cho lính nữa. Sùng Trinh, vua cuối cùng của triều Minh đành phải tự treo cổ trên một nhánh cây ở ngọn đồi sau cung điện. Thái giám Vương Thừa Ân tuẫn tiết theo vua. Lý Tự Thành tiến vào cung điện và lên ngai vua.

Sau đó Lý Tự Thành phải đem quân đi đánh dẹp Ngô Tam Quế. Khi Lý Tự Thành đã bao vây được Ngô Tam Quế và sắp sửa thắng, quân Mãn Thanh đáp ứng lời cầu viện của họ Ngô, nhảy vào can thiệp. Lý tự Thành đang thắng trở thành thua, rút quân về Bắc Kinh, lo vơ vét vàng bạc châu báo rồi cùng quân đội tháo chạy. Ngô Tam Quế ngây thơ tưởng quân Mãn Thanh sau khi giúp hạ Lý Tự Thành – sẽ chia chác một số quyền lợi nào đó rồi rút lui. Nhưng không, quân Thanh vào tới Bắc Kinh mới viện cớ nước Tàu chưa yên nên sẽ ở lại bình định một thời gian rồi hãy hay. Viên phụ chính của Mãn Thanh bồng đứa cháu mới 7 tuổi đưa vào Bắc Kinh và đặt lên ngôi vua. [Ðó là vua Thuận Trị, thân phụ của vua Khang Hy. Vua Thuận Trị về sau xuất gia đi tu (theo Lộc Ðỉnh Ký) và nhường ngôi lại cho Khang Hy lúc đó mới 8 tuổi. Khang Hy chỉ thật sự cầm quyền lúc 13 tuồi.]

Ngô Tam Quế mất cả chài lẫn chì, vừa mất ngôi vua hay ít lắm cũng chức Tể tướng, vừa mất người ái thiếp đệ nhất mỹ nhân thiên hạ Trần Viên Viên (có xuất hiện trong Lộc Ðỉnh Ký). Ngô Tam Quế được nhà Thanh thưởng công, phong Vương cai trị miền Thiểm Tây. Nhưng, đối với người Hoa nói chung Ngô Tam Quế mang tội phản quốc, một tướng lãnh người Hán lại mở cửa cho quân Mãn Thanh vào chiếm nước Tàu.

Quân đội Mãn Thanh sau khi bình định được phía Bắc, tiến xuống đánh Nam Kinh và Dương Châu (quê hương của nhân vật Vi Tiểu Bảo) rồi thôn tính trọn nước Tàu – chỉ trừ Ðài Loan đến gần cuối truyện Lộc Ðỉnh Ký mới xong. Các phản tướng khác, Trương Hiến Trung bị quân Thanh bắt chém, còn Lý Tự Thành bị quân dân bỏ rơi và tuyệt tích giang hồ. Có sách ghi Lý Tự Thành bị quân dân giết chết. Có sách chép Lý Tự Thành khoác lên mình chiếc áo cà sa và đi tu luôn.

Từ đời Thuận Trị cho đến Khang Hy, tôn thất nhà Minh vẫn còn nổi lên lo việc phục quốc. Có ba nhóm đáng kể: Lỗ Vương ở Chiết Giang, Ðường Vương ở Phúc Kiến, và Quế Vương ở Quảng Ðông. Lỗ Vương và Ðường Vương, ông thì bịnh chết, ông bị quân Mãn bắt. Chỉ có Quế Vương chống cự hơi dai. Về sau, Quế Vương thua chạy sang Miến Ðiện (Myanmar bây giờ), bị vua Miến Ðiện trao trả lại cho Ngô Tam Quế và bị giết chết vào lúc Khang Hy mới lên ngôi vua [Ðoạn này được mô tả trong quyển 1 của Lộc Ðỉnh Ký]. Một trong những đại tướng của Ðường Vương là Trịnh Thành Công dẫn binh sĩ bộ hạ di tản sang Ðài Loan, tiếp tục kháng chiến. Một phần lớn của Lộc Ðỉnh Ký được xây dựng trên những giao tác giữa các phe phái còn lại của Ðường Vương, Quế Vương, Lỗ Vương, và phe của phản tướng Ngô Tam Quế. Và giao tác của những nhóm này cùng với Tây tạng, Mông Cổ và nước Nga đối với triều đình nhà Thanh của vua Khang Hy. Nhiên liệu dùng để vừa hoá giải vừa kích động cho những giao tác chính trị, quân sự và văn hoá của tất cả các thế lực khác nhau đó, là nhân vật chính của truyện Lộc Ðỉnh Ký, mang tên Vi Tiểu Bảo.

Người Mãn Thanh cai trị nước Tàu từ năm 1644 mãi cho đên cuộc cách mạng Tân Hợi 1911 mới cáo chung. Thời gian đó dài gấp 3 lần thời gian quân Mông Cổ cai trị Trung quốc dưới danh hiệu nhà Nguyên.

Hầu hết các sử gia, ngay cả sử gia Trung quốc, đều đồng ý nhau rằng người Mãn Châu rất khôn khéo trong việc chính trị, và già tâm lý hơn người Mông Cổ. Có lẽ cũng do ở đất Tàu quá rộng, dân lại đông, đông hơn quân dân Mãn Thanh chiếm đóng. Tuy vậy, những biện pháp dùng uy để cai trị của người Mãn Thanh không kém tàn ác. Thí dụ như bắt dân Tàu phải để một loòng tóc bím chạy tới lưng, ai không tuân lệnh bị chặt đầu.

Ban đầu quân Mãn Thanh có chính danh: mang quân vào Trung quốc để giúp trừ khử các băng đảng ăn cướp như Lý Tự Thành. Ðến lúc mới chiếm đóng, họ ra lệnh quân lính trả lại tài sản của dân chúng lính họ đã “chôm” trong một hai năm chiến tranh. Họ cũng trưng dụng các cựu thần nhà Minh, xử dụng cả hai thứ tiếng Mãn và Hán. Và lập lại những khoa thi cử như xưa, chứ không đi theo vết bánh xe cũ của nhà Nguyên. Các chức vụ lớn ở triều đình luôn luôn giao cho 2 người, một Mãn, một Hán. Tại lục Bộ, mỗi bộ có một Thượng Thư và hai Thị lang người Mãn, một Thượng Thư và hai Thị lang người Hán. Chức vụ tổng thống một số tỉnh dành cho người Mãn, nhưng tỉnh trưởng từng tỉnh cho một người Hán. Sau trên 260 năm cai trị người Mãn dần dà bị . . . đồng hoá  với người Hoa, và các phong trào phản Thanh phục Minh cũng xuội lơ với thời gian bởi người Mãn rất thành công trong việc an dân kiến quốc. Có thể nói nhiều khi hay không bằng hên, 3 ông vua đầu trào Khang Hy, Ung Chính và Càn Long đều là những “minh quân”, rất giỏi và . . . sống lâu – tổng cộng triều đại các vị này kéo đến hơn 120 năm [3].

Lộc Ðỉnh Ký và Vi Tiểu Bảo

Nhân vật chính Vi Tiểu Bảo lúc đầu truyện chỉ là một thanh niên chừng 13-14 tuổi. Con  của một kỹ nữ  tại thành Dương Châu, nhưng không biết cha là ai, Vi Tiểu Bảo thất học từ nhỏ, sống và lớn lên trong kỹ viện Lệ Xuân, nơi bà mẹ làm việc. Vi Tiểu Bảo mang nhiều tính điếm đàng và khôn lanh kiểu chợ trời. Thích phụ nữ đẹp, không kể già hay trẻ. Thích đánh bạc và thảy xí ngầu lắc.

Vào một dịp tình cờ Vi Tiểu Bảo đi theo kiếm khách Mao Thập Bát lên Bắc Kinh. Ðến nơi do một sự hiểu lầm, y bị bắt đem vào cung điện, và trở thành thái giám bắt đắc dĩ, mặc dù “thằng nhỏ” chưa bị hề hấn gì. Với công việc của một thái giám giả, Vi Tiểu Bảo được dịp làm quen với vua Khang Hy lúc đó mới chừng 15-16 tuổi. Hai người ưa tập luyện võ với nhau. Thường thường Vi Tiểu Bảo bị đánh sưng mình sưng mẩy bởi anh ta không rành võ nghệ, và lại luời biếng học. Sự nghiệp tại Thanh triều bắt đầu lên khi Vi theo lệnh ngầm của Khang Hy ra tay dùng thủ đoạn hạ cấp để bắt được tướng Ngao Bái – rồi sau đó đánh thuốc độc hạ sát Ngao Bái trong tù. Bên ngoài, trong chốn dân gian tướng Ngao Bái có rất nhiều kẻ thù, nên khi nghe tin Vi Tiểu Bảo hạ được Ngao Bái giới giang hồ rất khâm phục và tưởng lầm y là một cao thủ võ lâm hãy còn trẻ tuổi. Lãnh tụ của một phe phản Thanh phục Minh, Thiên Ðịa Hội, và cũng đồng thời quân sư của Trịnh Vương (phe phục Minh) ở Ðài Loan, là Trần Vĩnh Hoa tức Trần Cận Nam lập tức kết nạp y vào Thiên Ðịa Hội [4]. Trong Thiên Ðịa Hội, Vi Tiểu Bảo tuy mới chừng 15 tuổi được phong chức Hương chủ của Thanh Mộc Ðường, vai vế tương đương với 4 Hương Chủ khác đã lừng danh trong chốn giang hồ, và cũng trở thành đệ tử của Trần Cận Nam. Vốn tính đàng điếm, cơ hội chủ nghĩa, Vi Tiểu Bảo nhận chức vụ của Thiên Ðịa Hội qua loa để được tự do trở về hoàng cung. Từ đó về sau, y không bao giờ chịu khó học võ gì với Trần Cận Nam mặc dù mang tiếng đồ đệ. Tuy nhiên cũng kể từ đó trở đi y trở thành một thứ gián điệp nhị trùng giữa Thiên Ðịa Hội và vua Khang Hy. Rồi sau này, gián điệp tam trùng, tứ trùng cho các phe phái khác nhau.

Vi Tiểu Bảo bắt đầu có một món tiền lớn nhờ ở việc chia chác tài sản của Ngao Bái sau vụ kiểm kê. Y cũng chứng kiến nhiều vụ xì-căng-đan cùng những thâm cung bí sử. Ðáng kể nhất Vi biết Thái hậu hiện tại không phải mẹ ruột của Khang Hy và cũng lại có phần trong việc ám hại mẹ ruột của hoàng đế. Ngoài ra y còn biết phụ hoàng của Khang Hy hãy còn sống, mà chính Khang Hy không hề biết. Phụ hoàng chính là vua Thuận Trị hiện đã quy y cửa Phật và tu tại Ngũ Ðài ở gần chùa Thiếu Lâm. Vi cũng làm quen được với công chúa Kiến Ninh, vai em bà con gần của Khang Hy. Y cũng khám phá một bí mật kinh thiên, động địa. Cả Thái hậu, vua Khang Hy và nhiều phe phái phản Thanh phục Minh  đều đang tìm kiếm một bộ sách bí truyền gồm cả thảy 8 quyển mang tên Tứ Thập Nhị Chương Kinh. Ai làm chủ được hết cả bộ sách đó sẽ ráp lại được một bản đồ chỉ nơi chôn dấu kho tàng châu báu của người Mãn Thanh. Ðịa điểm chôn dấu của kho tàng đó cũng là LONG MẠCH của nhà Thanh. Và tất nhiên khi Long Mạch bị phá tan, nhà Thanh sẽ suy tàn. Thái hậu, vua Khang Hy, Ngô Tam Quế, thiền sư Hành Si tức vua Thuận Trị xưa, một hoàng thân, v.v. mỗi người giữ được một quyển của bộ sách đó. Ðịa điểm chôn dấu kho tàng và cũng là Long Mạch của nhà Thanh nằm ở chân núi mang tên Lộc Ðỉnh Sơn –  nơi có rất nhiều con lộc tức con hươu – tại biên giới giữa Mãn Châu, Nga La Tư và bắc Trung Hoa, gần Hắc Long giang tức sông Amour. Về sau, nhờ ở lanh tay lẹ chân, và nhiều ngón nghề thu thập được ở kỹ viện (tức nhà chứa gái mãi dâm), mặc dù không có chủ tâm, Vi Tiểu Bảo dần dà qua nhiều chuyến phiêu lưu và năm tháng đã  “chôm” được toàn bộ Tứ Thập Nhị Chân kinh. Nhờ đó y biết được địa điểm của Lộc Ðỉnh Sơn. Y lại rất mánh trong việc nhờ người hộ vệ nữ phái Song Nhi (về sau thành 1 trong 7 vị hiền thê của y) ráp lại bản đồ Lộc Ðỉnh Sơn từ hàng trăm bản vẽ trên da dê, dấu trong những quyển sách, rồi khâu sách lại – trừ những miếng da dê đó  – dâng cho Khang Hy.

Với biệt tài “vỗ mông ngựa” tức bợ đỡ cấp trên, Vi Tiểu Bảo đem những gì y biết được về tung tích của cựu hoàng Thuận Trị và hành vi mờ ám của Thái Hậu tâu với Khang Hy. Khang Hy mới sai Vi đi lên núi Ngũ Ðài tìm Thuận Trị. Dọc đường Vi cũng gặp nhiều chông gai nguy hiểm bởi có nhiều phe phái kể cả vài Lạt Ma từ Tây Tạng đang tìm kiếm Thuận Trị để lấy một quyển của bộ Tứ Thập Nhị Chương Kinh kể trên. Nhờ ở tài miệng mép, Vi thoát hiểm trở về trao quyển sách bí truyền đó cho nhà vua. Khang Hy vẫn thấy chưa yên tâm quyết định cải trang thân hành lên Ngũ Ðài để gặp phụ vương Thuận Trị. Nhưng vua phái Vi Tiểu Bảo đi trước, và chỉ định Vi làm “thiền sư” phụ tá Phương Trượng ở chùa Thiếu Lâm để học . . . nghề tu một thời gian – trước khi chính thức chuyển sang trụ trì chùa Thuận Trị đang tỉnh tu. Trong chuyến đi này Vi đụng độ với nhiều cao thủ trong chốn giang hồ. Trong đó có Trang gia chủ, bởi mang ơn Vi đã giết kẻ thù toàn gia đình là Ngao Bái nên . . .  tặng cho Vi một a-hoàn vừa giỏi võ nghệ vừa đẹp tên Song Nhi theo y làm bạn đồng hành và cũng để bảo vệ cho y. Song Nhi sau này thành một người vợ của Vi Tiểu Bảo, và chỉ có Song Nhi được chọn  – trong 7 người vợ – đi theo nguyên soái Vi Tiểu Bảo trong chiến trận với Nga La Tư về sau. Vi Tiểu Bảo cũng gặp và trồng cây si với người đẹp A-Kha, con của đệ nhất mỹ nhân Trần Viên Viên và Lý Tự Thành. Vi còn gặp công chúa con của vua cuối nhà Minh Sùng Trinh, với pháp danh Cửu Nạn ni cô, rồi được Cửu Nạn nhận làm đồ đệ. Nhưng rốt cuộc Vi cũng chẳng học được món võ gì hết trừ  món “chạy trốn kẻ địch”. Vi lại đụng độ với các cao thủ Tây Tạng rồi nhờ thủ đoạn giảo huyệt gài giết được khoảng năm bảy cao tăng Tây Tạng. Trong những chuyến đi – theo sứ mạng Khang Hy giao phó – Vi với tư cách một Hương chủ của Thiên Ðịa hội thường mang theo cả chục cao thủ Thiên Ðịa hội trà trộn cải trang thành quân lính nhà Thanh. Những cuộc đụng độ giữa phe Thiên Ðịa Hội với các phe khác cũng cùng chung chí hướng phản Thanh phục Minh, hoặc tiêu diệt Ngô Tam Quế, vẫn thường xảy ra. Nhất là đụng độ giữa Tổng lý Trần Cận Nam với Trịnh Khắc Sảng – con trai thứ của Trịnh Vương, chủ nhân của Trần Cận Nam và phục quốc quân ở đảo Ðài Loan.

Sau đó Vi Tiểu Bảo bị một phe khác bắt đưa về một hải đảo của Thần Long giáo. Một băng đảng thảo khấu lớn đang muốn chiếm đoạt bản đồ của kho tàng nhà Thanh ở Lộc Ðỉnh Sơn, và hiện đang cấu kết với nước Nga để đánh nhà Thanh. Tại đảo của đảng Thần Long, Vi Tiểu Bảo một lần nữa áp dụng võ . . . mồm, và cơ hội chưởng pháp – được Hồng giáo chủ và phu nhân xinh đẹp nhận làm đồ đệ và phong cho y chức Bạch Long Sứ  – một trong 5 chức vụ phụ tá Hồng giáo chủ. Vi nhận sứ mệnh mới trở lại hoàng cung tìm cách đánh trộm vài quyển Tứ Thập có bản đồ của kho tàng ở Lộc Ðỉnh Sơn.

Vi Tiểu Bảo lợi dụng những hiểu biết về các phe phái chống Thanh, và những quen biết trong triều, gây được lợi cho nhiều thế lực đối chọi lẫn nhau. Thêm vào đó, Vi đã chu toàn được nhiều công tác cho Khang Hy – kể cả có lần y nhảy ra bao che cứu Khang Hy khỏi cái chết trong đường tơ kẻ tóc, nên được thăng quan tiến chức như diều.

Trở lại hoàng cung Vi được công chúa Kiến Ninh, em bà con Khang Hy, đem lòng trìu mến. Kiến Ninh mới biết thực sự Vi Tiểu Bảo vẫn chưa bị mất . . . thằng nhỏ và hãy còn “gin”. Nhưng Khang Hy thì mãi về sau mới biết. Muốn thử một địch thủ chính trị và quân sự lợi hại Ngô Tam Quế, Khang Hy nghĩ ra kế gả em gái Kiến Ninh cho con trai của Quế là Ngô Ứng Hùng, rồi đưa Hùng về Kinh giữ làm con tin. Ngoài ra Khang Hy biết Ngô Tam Quế có giữ 1 cuốn sách của bộ Tứ Thập Nhị Chương Kinh. Khang Hy phái Vi Tiểu Bảo hộ tống công chúa Kiến Ninh đi đến vương phủ của Ngô Tam Quế để làm lễ đính hôn, một công đôi ba việc. Dọc đường Vi ăn nằm với công chúa để về sau công chúa phải mê mệt, có mang với y, và trở thành một người vợ của y.  Tại vương phủ của Ngô ở Vân Nam, Vi ăn cắp được quyển sách quý về Lộc Ðỉnh Sơn, bắt được một gián điệp Mông Cổ, và đấu trí với Ngô Tam Quế. Công tử Ngô Ứng Hùng bị hôn thê Kiến Ninh dùng súng người Tây dương tặng, đánh vào đầu bất tỉnh để rồi bị cắt đi “thằng nhỏ” trở thành . . . thái giám bất đắc dĩ cho chính người vợ Mãn Thanh. Sau đó Ứng Hùng bị Vi tìm cách dẫn về Bắc Kinh rồi sau này bị chặt đầu khi Ngô Tam Quế dấy quân phản lại nhà Thanh.

Trong một lần phiêu lưu với Song Nhi về mạn bắc để tìm núi Lộc Ðỉnh, và lúc chạy trốn bọn Thần Long giáo, Vi tình cờ quen được công chúa Tô Phi Á (Sophia) của nước Nga. Hai người thấy thích nhau rồi Sophia đem người tình họ Vi về Mát-Cơ-Va. Nhân một cuộc chính biến Vi bày kế và giúp cho Sophia cướp lại được chính quyền. Nhờ đó khi Vi Tiểu Bảo trở về Bắc Kinh, thái hậu nhiếp chính Sophia của Nga giao cho y dâng lên Khang Hy một lá thư cầu hoà đôi bên.

Khang Hy tiếp tục giao Vi Tiểu Bảo nhiều sứ mệnh khó khăn như đi về quê của Vi là thành Dương Châu để hiểu dụ dân chúng, đi dẹp đảng Thần Long giáo ngoài một hải đảo, hoà giải với các lực lượng Mông Cổ và Tây Tạng, v.v. Tại Dương Châu, Vi Tiểu Bảo được trùng phùng với mẹ. Và ở ngay tại kỹ viện trong một dịp may hiếm có, y . . . xơi tái hết những người đàn bà y thương trộm nhớ thầm, hay trồng cây si lâu năm. Nhân dịp mấy người này bị bất tỉnh vì thuốc mê sau một trận đấu giữa các phe đối nghịch với nhau, mặc dù cùng chung một mục đích phản Thanh hoặc tiêu diệt phản thần Ngô Tam Quế. Trong những người phụ nữ này có cả Tô Thuyên tức phu nhân Hồng giáo chủ của Thần Long giáo – đáng tuổi má y.  Những người này sau đó đều trở thành vợ của y. Sở dĩ Khang Hy phải hiểu dụ dân Dương Châu bởi lúc quân Mãn Thanh mới tiến chiếm Trung Hoa, họ đã tàn sát hàng ngàn người Dương Châu vô tội, sách vở thường gọi “Mười ngày thảm khốc ở Dương Châu”.

Sau trận đánh dẹp Thần Long giáo, Vi Tiểu Bảo bị lạc vào một hoang đảo cùng với 7 người vợ. Hồng giáo chủ bị tử vong vì các bộ hạ không phục và bội phản. Tổng lý của Thiên Ðịa Hội Trần Cận Nam cũng bị công tử con của minh chủ mình là Trịnh Khắc Sảng đâm lén sau lưng tử mạng. Trước khi chết Trần Cận Nam dặn Vi Tiểu Bảo không được trả thù mà làm hỏng chuyện lớn. Ở trên đảo với 7 người vợ, Vi Tiểu Bảo có vài đứa con. Vua Khang Hy biết được Vi ở đó, tiếp tục giam lỏng y cho tới khi y theo một đô đốc về Ðài Loan và giúp mưu bình trị hòn đảo này. Trịnh Khắc Sảng đầu hàng và bị giải về Bắc Kinh. Trong thời gian Vi và 7 vợ sống trên đảo, Khang Hy dẹp hết tất cả các phiên vương và những phong trào phục hưng nhà Minh, kể cả Ngô Tam Quế.

Trở về Bắc Kinh Vi Tiểu Bảo được phong làm nguyên soái tư lệnh chiến dịch đánh Nga La Tư để hoạch định lại biên giới Nga-Hoa. Nhờ ở người tình không biên giới Sophia, và khả năng quân sự . . . kiểu chợ trời, chiến dịch Nga La Tư thành công mỹ mãn.

Vi Tiểu Bảo ca khúc khải hoàn trở về Bắc Kinh. Sau cùng y bị cả hai phe Khang Hy và phe chống Thanh triều nhất là dư đảng Thiên Ðịa Hội  ép buộc y phải dứt khoát chọn  một trong hai đường. Vi Tiểu Bảo theo bản năng tự nhiên của con người y, chọn đường thứ ba: Về Dương Châu rước mẹ, xong rồi giả chết, nhưng thực ra đem bầu đoàn thê tử và một gia tài kếch xù về Vân Nam sống ẩn danh, trong hạnh phúc cuộc đời. Vi Tiểu Bảo cố tình quên đi kho tàng to lớn ở Lộc Ðỉnh Sơn cũng như việc phá bỏ long mạch của nhà Thanh. Bí mật đó chìm luôn dưới dòng thời gian.

Ngũ Hành và Vi Tiểu Bảo

Khác với ba bài về Kim Dung trước đây, “Ðọc Lại” lần nầy thật ra chỉ đọc lần đầu. Phim video do Lương Triều Vĩ và Andy Lau đóng chỉ mới xem đến tập thứ 3. Nhiều chi tiết hay ho chắc chắn chưa được khám phá hoặc thấu triệt. Trong đó có những gút mắt của thuyết Ngũ Hành. Tuy nhiên nếu tính nhẩm, có thể thấy ngay nếu chờ đọc lại hoặc xem phim tập hai ba lần chắc không bao giờ viết nổi một cái gì về Lộc Ðỉnh Ký hết. Bởi nó sẽ dài, thật dài, đủ in thành một tập sách nhỏ. Quá nhiều điểm thật hay và lý thú. Kim Dung thật sự đã dùng hết 10 thành công lực và các tuyệt chiêu để tạm kết thúc và đánh dấu sự nghiệp trước tác của ông.

Trước hết xin thử khảo sát sơ qua thuyết Ngũ Hành. Một cấu trúc về tương quan nhân vật gần như ắt có và đủ trong các truyện Kim Dung [5]. Tóm tắt, Ngũ Hành gồm 5 yếu tố: Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ, được biểu tượng bằng 5 hướng Tây, Ðông, Bắc, Nam, Trung – tương đương với 5 màu: Trắng (bạch), Xanh (thanh), Ðen (hắc), Ðỏ (hồng), Vàng (hoàng). Mỗi người thường mang một mạng. Mạng này khắc (trị) được mạng kia, và tạo thành một vòng tròn kín. Thí dụ Chu Chỉ Nhược mạng Thủy, Trương Vô Kỵ mạng Hỏa. Thủy khắc Hỏa. Chu có thể khắc phục được Trương nhờ ở mạng Thủy hơn là tài năng. Năm yếu tố này cũng tạo nên một vòng nữa chỉ mạng này hỗ trợ (giúp) cho mạng kia. Thí dụ: Hoàng Dung (mạng Mộc) và Quách Tỉnh (mạng Hỏa). Mộc sinh (trợ) Hỏa. Hoàng Dung giúp Quách Tỉnh rất nhiều trong việc học tập võ nghệ.

Vậy thử xem qua vài nhân vật trong Lộc Ðỉnh Ký và mạng ngũ hành của họ. Trước hết, Vi Tiểu Bảo mạng gì? Mạng Thổ. Bởi Vi Tiểu Bảo người gốc Dương Châu ở miền Trung (mạng Thổ) nước Tàu. Ta có thể kiểm chứng mạng Thổ của Vi Tiểu Bảo rất dễ. Sự nghiệp của Vi bắt đầu lên khi Vi dùng mưu hạ cấp thảy bột vôi vào mắt của tướng Ngao Bái, rồi đâm một nhát dao và bắt sống được Ngao. Sau đó Vi theo lệnh ngầm ném đá dấu tay của vua Khang Hy đi vào lao xá đánh thuốc rồi giết Ngao Bái. Ngao Bái một tướng với võ công vô địch của Thanh triều sao lại bị một đứa trẻ con không biết võ hạ sát dễ dàng như vậy? Chỉ vì mạng Thổ của Vi Tiểu Bảo khắc mạng Thủy (màu Ðen, hướng Bắc) của Ngao Bái. Kim Dung nói rõ Ngao Bái mạng Thủy cũng giống y như mạng Thủy của Chu Chỉ Nhược trong Cô Gái Ðồ Long. Ðó là màu “đen xì” của con dao trủy thủ rất bén – chém đá như chém bùn – của Ngao Bái. Vi Tiểu Bảo tìm được con dao này khi kiểm kê tài sản Ngao Bái, rồi chôm con dao đó luôn. Ngoài ra họ Ngao cũng ám chỉ một loài động vật sống dưới nước, mạng Thủy. Y hệt bảo đao Ðồ Long Chu Chỉ Nhược chôm được từ Tạ Tốn cũng màu “đen xì”, và Chỉ Nhược là con của một ngư ông chuyên nghề đánh cá trên sông. Ngao Bái mang mạng Thủy như Chu Chỉ Nhược.

Vua Khang Hy và công chúa Kiến Ninh đều những người mang mạng Mộc (phía Ðông màu Xanh). Tại sao? Tại vì họ người Mãn Thanh. Thanh tức màu xanh. Mãn Thanh vị trí nằm ở ÐÔNG Bắc Trung Hoa. Mãn Thanh khắc phục và chiếm được Trung quốc (Trung= mạng Thổ). Mộc khắc Thổ. Khang Hy (mạng Mộc) nếu đấu võ với Vi Tiểu Bảo (Thổ) luôn luôn thắng hạ được Vi Tiểu Bảo. Kiến Ninh cũng vậy. Cũng hạ Vi Tiểu Bảo dễ dàng – ngay cả trong chuyện chăn gối phòng the, với chút ít tính sa-điết khổ dâm.

Hai người vợ khác của Vi Tiểu Bảo: Phương Di và Mộc Kiếm Bình (họ Mộc) cũng đều mạng Mộc. Riêng Phương Di mang tên Di gợi lên từ lối gọi Bắc Dịch, Nam Man, Tây Nhung và Ðông Di của người Tàu từ thời Hán thời Ðường. Phương Di có thanh âm như Ðông Di, chỉ phương Ðông. Ðông tức mạng Mộc. Phương Di cũng xuất thân từ  phe phản Thanh của Mộc Vương, mạng Mộc. Trong rất nhiều trường hợp, Vi Tiểu Bảo khi gặp người phụ nữ đẹp đều bị . . . thôi miên tức bị khắc phục trước sắc đẹp của họ. Vi chính mạng Thổ nên ưa bị khắc phục bởi các phụ nữ đẹp thuộc mạng Mộc. Bất kể già trẻ lớn bé.

Tô Thuyên, tức phu nhân hờ – không chăn gối – của giáo chủ Thần Long giáo Hồng An Thông cũng vậy. Thuyên mang nghĩa một loài cỏ thơm, mạng Mộc. Tô Thuyên đáng tuổi như má của Tiểu Bảo và Kim Dung đã khơi dậy mặc cảm Oedipus trong tình vợ chồng của Bảo và Thuyên. Cũng như đã mô tả Vi Tiểu Bảo mê mệt bà Trần Viên Viên, má vợ của y về sau.

Thế nhưng trong cái khung đối chiếu của Thần Long giáo, Vi Tiểu Bảo mang toạ độ gì? Vi Tiểu Bảo sẽ theo sắp đặt của Châu Dịch tức Kinh Dịch đổi ra mạng gì khi đứng trong hàng ngũ của Thần Long giáo? Mạng Kim, màu trắng, phương Tây. Bởi Hồng giáo chủ lúc kết nạp y vào bang giáo, vì có chỗ trống do sự qua đời của 1 trong 5 phó chủ tịch biểu hiệu cho ngũ hành, đã bổ nhiệm y làm Bạch Long Sứ. Bạch tức màu trắng, mạng Kim. Kim khắc được Mộc. Vi Tiểu Bảo (mạng Kim) làm cho Tô Thuyên (mạng Mộc) mang bầu rồi trở thành vợ của y. Trong lúc Tô Thuyên bật mí chuyện mang bầu với y, giáo chủ Hồng An Thông nổi giận giao đấu với tất cả các phó thủ lãnh kia. Hồng giáo chủ giết được các Long Sứ khác chỉ trừ Vi Tiểu Bảo bởi Vi Tiểu Bảo mạng Kim có thể khắc được mạng Mộc của Hồng An Thông. Chứ  Thông mang nghĩa cây Thông (Mộc) không thể hạ được Vi Tiểu Bảo, mang mạng Kim trong vùng trời biển của Thần Long giáo. Hồng giáo chủ sau khi chiến đấu với các phó chủ tịch kia, đã bị thương, rượt đuổi Vi Tiểu Bảo không được – bởi Vi đã học được ngón nghề chạy trốn của Cửu Nạn ni cô – mệt quá lăn đùng ra chết. Ta để ý Kim Dung không cho vợ hờ Tô Thuyên hay Vi Tiểu Bảo giết Hồng giáo chủ bởi cả Tô Thuyên và Vi Tiểu Bảo đều là đệ tử của Hồng An Thông. Tô Thuyên mặc dù cũng đã là một cao thủ nhưng vẫn học được ít nhiều ngón nghề của Hồng An Thông. Vi Tiểu Bảo ngày trước được Hồng An Thông chỉ dạy một ngón võ nhảy lên vai của đối phương – nên một ngày là Thầy, muôn đời vẫn Thầy. Vi Tiểu Bảo dù thế ngũ hành có trên rơ Hồng giáo chủ cũng không thể giết Thầy được.

Kinh Dịch cũng cho ta thấy khi vào Thiên Ðịa Hội Vi Tiểu Bảo chuyển sang mạng Mộc – màu Xanh, phương Ðông. Trần Cận Nam, lãnh tụ Thiên Ðịa Hội phong y làm 1 trong 5 phó lãnh tụ (cũng biểu tượng cho ngũ hành) với tước hiệu Hương Chủ của Thanh Mộc Ðường. Thanh tức màu Xanh, Mộc tức cây cối, màu xanh và mạng Mộc. Trần Cận Nam, trong tên có Nam, ám chỉ người phía Nam, mạng Hỏa, màu Ðỏ. Trong Ngũ Hành, Mộc sinh Hỏa. Mộc giúp đỡ cho Hỏa. Vi Tiểu Bảo đã giúp Trần Cận Nam rất nhiều trong công cuộc phản Thanh phục Minh của Thiên Ðịa Hội do Trần Cận Nam tức Trần Vĩnh Hoa lãnh đạo. Và sau cùng khi Trần Cận Nam bị Trịnh Khắc Sảng đâm lén chết Vi vẫn nghe lời trối trăn của Cận Nam không giết Khắc Sảng để trả thù. Mặc dù y có rất nhiều phương tiện trong tay để làm việc đó.

Vi Tiểu Bảo trong phương thế mạng Thổ đã vận hành ra sao đối nữ hoàng Sophia (Tô Phi Á) của nước Ra-Sát (Russia) tức Nga? Ðầu tiên y gặp Sophia ở phía Bắc ngay tại biên giới 3 nước Tàu, Nga và Mãn Châu, lúc y đi tìm Lộc Ðỉnh Sơn. Sophia lúc đó trong thế tương đối mang mạng Thủy, bởi đang cư ngụ phía Bắc, và Vi từ phía Nam, mạng Hỏa. “Thủy- Sophia” chinh phục được “Hỏa- Tiểu Bảo” nhờ ở thân hình và nhan sắc diễm kiều, và rơ ngũ hành. Sau đó, Sophia đem Tiểu Bảo về Mát-Cơ-Va chơi. Vừa trở lại kinh thành, Sophia hay tin vua cha qua đời. Tiếp theo đó, một cuộc chính biến và Sophia bị giam lỏng. Vi Tiểu Bảo tìm cách cứu Sophia và thành công trong việc giúp Sophia nắm lại được chính quyền Nga – trong vai trò hoàng hậu nhiếp chính. Mạng Thổ chính tông của Vi (thể hiện từ việc Tiểu Bảo là người miền Trung và cũng Trung Hoa) đã giúp được Sophia, người Tây Phương, mạng Kim. Thổ sinh Kim. Thổ hỗ trợ Kim.

Trong những người tình và vợ của Vi Tiểu Bảo, Kim Dung có vẻ chỉ chấm Song Nhi người vợ được Vi Tiểu Bảo yêu mến nhất. Song Nhi chính là người hộ vệ Vi Tiểu Bảo – che chở, bảo vệ và cứu mạng y trong những cơn nguy khốn. Xuất thân một a-hoàn của gia đình họ Trang có tinh thần phục quốc, Song Nhi được Trang gia chủ . . . tặng cho Vi Tiểu Bảo để đáp ơn đã giết kẻ tử thù Ngao Bái, và sau này gian quan Ngô Chí Vinh. Song Nhi mạng gì? Mạng Hỏa, phía Nam. Bởi Trang chủ người gốc ở trấn Nam Tầm, phủ Hồ Châu. Song Nhi mạng Hỏa giúp Vi Tiểu Bảo mạng Thổ. Giúp trong nghĩa nâng khăn sửa túi đến trọn đời. Hỏa sinh Thổ. Ðó là một luật của Ngũ Hành. Bằng chứng hiển nhiên nhất khi Vi Tiểu Bảo làm nguyên soái trong chiến dịch Tây chinh đi đánh với Nga về sau, Vi Tiểu Bảo chỉ chọn có Song Nhi cho đi theo, trong sự bất mãn của sáu người vợ kia.

Trong việc giải quyết mâu thuẫn gây nên bởi thuyết Ngũ hành, Kim Dung nhất quyết không để lộ một chút sơ sót. Mâu thuẫn đó dễ xảy ra bởi truyện Tàu thường có rất nhiều nhân vật, và nhiều màn tình huống gay cấn khác nhau. Số nhân vật trong tiểu thuyết hình như mang tỉ lệ thuận với dân số của quốc gia. Dân số Việt Nam ít hơn dân Tàu nên tiểu thuyết Việt Nam có ít nhân vật hơn tiểu thuyết Tàu? Ðối với một tiểu thuyết kiếm hiệp có nhiều nhân vật chiến đấu lẫn nhau mà lại dựa trên Ngũ Hành sinh khắc, người viết phải rất thận trọng. Bởi A mang mạng X thắng B mang mạng Y thì được, nếu mạng X khắc mạng Y. Nhưng cũng đem A đó cho đánh với C mang mạng Z, người viết lập tức có một mâu thuẫn cần phải giải quyết. Bởi mỗi một mạng chỉ khắc (trị được) một mạng khác nữa mà thôi. A mạng X đã khắc B mạng Y rồi nên khó lòng khắc C mạng Z.

Trong tất cả truyện của Kim Dung, mâu thuẫn Ngũ Hành đều được giải quyết ổn thoả. Trong “Võ lâm Ngũ Bá”, Vương Trùng Dương biệt hiệu Trung Thần Thông, người miền Trung ở gần Cổ Mộ (dưới đất) mạng Thổ. Dưới cơ mạng Mộc của Hoàng Dược Sư, ưa mặc áo xanh sống gần gũi những cây đào (mạng Mộc). Và mạng Thổ của Trung Thần Thông không thể trị được Tây Ðộc Âu Dương Phong, mạng Kim, áo màu trắng. Ðể hoá giải, Kim Dung cho Trung Thần Thông phải mượn ngón Nhất Dương Chỉ của Ðoàn Nam Ðế – phía Nam mạng Hỏa, mới thọc được một cú vào mặt Tây Ðộc cho y tởn tới già! Hỏa mới khắc được Kim. Ðông Tà nếu đánh nhau gay gắt có thể hạ được Vương Trùng Dương. Nhưng Kim Dung cho Vương bệnh chết sớm và lúc sống Ðông Tà vẫn mến phục Vương bởi Vương cũng giỏi chữ nghĩa bằng hoặc hơn Ðông Tà. Tuy vậy để thế Ngũ Hành vẫn được cân bằng, sau khi Vương chết đi, Kim Dung nâng cao vai trò Lão Ngoan Ðồng Châu Bá Thông, cũng mạng Thổ. Mộc khắc Thổ như thường: Ðông Tà mạng Mộc dễ dàng bắt được Châu Bá Thông, mạng Thổ và giam trên đảo Ðào Hoa suốt 20 năm. Trên đảo Ðào Hoa 20 năm, kinh dịch cho Châu Bá Thông biến dần sang mạng Mộc như ai – với cái tên sẵn có Thông, thuộc loài cây. Ngoài ra Kim Dung cho Thông phát minh ra một loại võ gọi Song Hổ đả bác. Mỗi tay đánh một kiểu quyền khác nhau. Hai tay như hai người. Ðể ý Song Hổ mang nghĩa 2 con cọp. Cọp sống ở đâu? Ở trong rừng. Rừng có nhiều Cây, mạng Mộc. Mộc của Thông dữ hơn Mộc của cây đào và cành hoa của Hoàng Dược Sư. Nên sau cùng Thông đánh được Hoàng Dược Sư và tự giải thoát cho mình. Ðánh lại được chứ không khắc được, bởi Thông mới chuyển sang mạng Mộc như Ðông Tà. Tương tự Tây Ðộc mạng Kim thật ra trên cơ Ðông Tà. Kim Dung cho hai người đó ít đánh nhau gay gắt và lại gán cho họ một thứ tình tương kính đồng nghiệp, giữa kẻ cướp với bà lão ăn trộm, của những người cùng chung nghề nghiệp với nhau. Nghề nghiệp của Ðông Tà và Tây Ðộc là lo đi chôm Cửu Âm Chân Kinh!

Trong Lộc Ðỉnh Ký, khó nhất của Ngũ Hành là cái màn giáo chủ Hồng An Thông phải thanh toán năm vị phó chủ tịch kia, mang 5 mạng khác nhau của Ngũ Hành. Ðể cho thật chắc ăn, Kim Dung cho Hồng An Thông mang thật nhiều mạng. Cũng như cho Vi Tiểu Bảo chính mạng Thổ nhưng vào Thần Long giáo, châu dịch chuyển sang mạng Kim với chức Bạch Long sứ – màu trắng. Kim Dung cho Thông – chính mạng Mộc – họ Hồng để ám chỉ mạng Hỏa xơ-cua của Thông. Rồi còn cho Thông thêm một mạng phụ nữa, mạng Thủy với tước hiệu giáo chủ Thần LONG giáo. Long là rồng – sống ở dưới nước. Thần Long giáo cũng có sào huyệt trên đảo giữa vùng Nước biển mênh mông.  Vi Tiểu Bảo với chức Bạch Long sứ  (mạng Kim trong Thần Long giáo)  không chết, bởi Bảo mạng Kim khắc được Thông mạng Mộc. Chứ Thông không thể giết được Bảo. Cái chết của 4 vị Long Sứ kia mỗi người một kiểu nhưng đều phù hợp lô-gích của Ngũ Hành. Ðối với Hoàng Long Sứ (hoàng = màu vàng) mạng Thổ, Kim Dung cho Thông, mạng Mộc chỉ cần chọi vào Hoàng một cục đá. Hoàng chết ngay, Mộc trị Thổ. Ðối với Hắc Long Sứ mạng Thủy thì sao? Hắc màu đen chỉ phương Bắc mạng Thủy. Nước giúp cây sinh sống. Thủy sinh Mộc chứ không khắc Mộc. Kim Dung khôn khéo né tránh việc mô tả Hắc Long Sứ bị chết như thế nào và chỉ mượn lời Thông nói lớn cho Hồng phu nhân nghe, đại khái: Hắc Long Sứ suốt đời theo hầu hạ giúp đỡ ta, về già tự nhiên nó đâm lòng phản, và nó đã chết rồi. Ta để ý Kim Dung muốn cho chắc ăn thêm vào “Hắc long sứ  về già đâm lòng phản” tức Hắc Long sứ  hoặc bởi già có thay đổi, châu dịch đã chuyển y sang mạng khác (để phản lại Thông), hoặc mạng xơ-cua Thủy của Thần Long giáo chủ đã làm cho y (cũng mạng Thủy) mệt rồi chết. Còn lại Thanh Long Sứ, màu xanh, mạng Mộc như Thông và Xích Long Sứ, màu đỏ, mạng Hỏa. Ta để ý Kim Dung tránh dùng Hồng Long Sứ mà chỉ dùng Xích Long sứ, cùng chỉ màu đỏ, để tránh trùng hợp với Hồng giáo chủ. Cái chết của hai vị phó thủ lãnh này cũng sẽ đưa đến cái chết của Hồng An Thông. Bởi mấy mạng này không ai khắc ai.  Thanh Long sứ bị Thông đá gảy xương sườn nhưng hai tay ôm chặt lấy chân Thông để cho Xích Long sứ chém vào vai Thông một đao. Thanh Long sứ sau đó còn lượm được phán quan bút đâm vào sườn của Thông. Mộc trả đũa với Mộc. Rồi hai vị phó đó chết vì bị thương và kiệt sức. Thông sau đó cũng chết vì bị thương và đuối sức bởi rượt khắc tinh của y là Bạch Long Sứ Vi Tiểu Bảo, rượt mãi  không được.

Viết tiểu thuyết kiếm hiệp theo sát với Ngũ Hành thật ra rất khó. Hình như chưa có tiểu thuyết gia Trung quốc nào lại khoái Ngũ Hành dữ dội như Kim Dung. Và Kim Dung đã chứng tỏ ông không để một sơ hở nào trong việc áp dụng tương quan sinh khắc của ngũ hành vào các nhân vật.

Vài chi tiết lý thú

Người ta để ý Kim Dung qua Lộc Ðỉnh Ký đã tiếp tục khai triển những đề mục cũ và đồng thời đưa ra thêm các đề mục mới như sau:

  • · Ðề mục một vai chính rất mù mờ về võ nghệ. Nối tiếp từ  Ðoàn Dự  trong Lục Mạch Thần Kiếm và Thiên Long Bát Bộ. Tuy nhiên Ðoàn Dự còn biết chữ nghĩa và biết được một hai ngón võ nghề như Lục Mạch Thần Kiếm và Lăng Ba Vi Bộ. Tuy nhiên võ của Ðoàn Dự khổ nỗi khi đánh ra được, khi không. Vi Tiểu Bảo mù chữ từ đầu đến đuôi mặc dù làm quan rất lớn. Võ nghệ chỉ học được một hai chiêu nhưng không đủ tự bảo vệ mình thì còn nói chi đến chỗ cứu người khác. Kim Dung đã tạo ra một đường hướng mới cho truyện võ hiệp: Nhân vật chính không cần giỏi võ nghệ, mà chỉ cần thông thuộc võ mồm.
    · Ðề mục liên quan đến kỹ viện, tức nơi lui tới của giới làng chơi, đã được giới thiệu qua Tiếu Ngạo Giang Hồ. Ở đó Kim Dung dùng kỹ thuật của ngành hài kịch, cho len vào một tình huống tương phản, mâu thuẫn: Ðưa cao đồ của một chính phái Lệnh Hồ Xung vào kỹ viện trốn tránh với một ni cô ở tuổi xuân thì.. Trong Lộc Ðỉnh Ký, Kim Dung phát triển đề mục kỹ viện đến tột độ. Một ông quan lớn triều Thanh Vi Tiểu Bảo xuất thân là con một kỹ nữ làm việc tại kỹ viện Lệ Xuân ở Dương Châu. Vi sinh đẻ và lớn lên tại kỹ viện. Những lúc thối chí chốn quan trường, y ưa ôm mộng đem tiền kiếm được về mua kỹ viện Lệ Xuân và mở thêm ra vài kỹ viện hạng nhất nữa. Ðệ nhất mỹ nhân làm nghiêng thành đổ nước Trần Viên Viên cũng xuất thân từ một kỹ viện lớn ở Tô Châu. Ở tuổi trên dưới 40, Trần Viên Viên, sau này là nhạc mẫu của Vi, cũng còn đẹp để làm chàng thanh niên Vi Tiểu Bảo mê say ngây ngất. Tiếu lâm nhất Kim Dung viết ra nhiều đoạn cài xen kẻ sinh hoạt chính trị với sinh hoạt chốn kỹ viện với nhau. Trịnh Khắc Sảng và A Kha vì muốn lùng bắt Vi Tiểu Bảo mới cải trang làm hai người đàn ông đi tìm hoa tại kỹ viện Lệ Xuân. Tình cờ Vi Tiểu Bảo phát hiện ra được và tìm cách đánh thuốc mê hai người. Bởi lúc nào y cũng thấp thỏm lo sợ kẻ tình địch y Trịnh Khắc Sảng sẽ lựa chọn má y để vui vầy qua đêm. Như vậy y sẽ trở thành con hờ của Khắc Sảng thì quá khổ. Sau khi bất tỉnh vì thuốc mê,  A-Kha bị tơi bời hoa lá với Vi Tiểu Bảo, để rồi sau cùng lấy y làm chồng như  6 người đẹp khác
    · Tạo dựng kỹ viện song song với triều đình nhà Thanh, và vương điện của Phiên Vương Ngô Tam Quế, Kim Dung cho ta thấy nhiều điểm thật hay và ngộ, nhưng không kém chua chát của sự thật cuộc đời. Cả kỹ viện lẫn triều đình, nơi hành sự của chính trị trung ương, đều là chốn của những con người . . . giả [10]. Xưa nay người ta thường so sánh chính trường với sân khấu màn nhung, nhưng Kim Dung có lẽ nhà văn đầu tiên đem so sánh chính quyền với kỹ viện. Ði sâu hơn nữa, Kim Dung cho thấy cái trường đào tạo nên chính trị gia ưu việt Vi Tiểu Bảo không đâu khác hơn chính cái kỹ viện Lệ Xuân ở Dương Châu, nơi sinh trưởng của y. Giao tác giữa kỹ viện và chính trị cả nước còn được nhấn mạnh qua vai trò của kỹ nữ Trần Viên Viên, với sắc đẹp nghiêng thành đổ nước, đã làm điên đảo vua cuối nhà Minh, Lý Tự Thành, rồi Ngô Tam Quế, và bao nhiêu kiếm khách hiệp sĩ khác. Một người anh em kết nghĩa với Vi Tiểu Bảo là Hồ Dật Chi si mê bà Viên đến độ chỉ xin làm lao công tưới vườn nhà bà Viên để có thể ngày ngày nhìn ngắm bà trong lúc tưới cây!
    · Tiểu tiết “cắt đứt thằng nhỏ” thường gọi nôm na “thiến sống” cũng được Kim Dung phát huy tối đa. Trong “Tiếu Ngạo Giang Hồ”, Kim Dung nghĩ ra một thứ kiếm pháp mang tên Tịch Tà Kiếm Pháp chỉ dành đặc biệt cho người bán nam bán nữ mới tập được. Những người đó ngông cuồng . . . tự cắt mất “bảo bối” quý nhất của đàn ông để có thể luyện tập được món kiếm pháp cực kì lợi hại đó. Ðiều kiện cần và đủ để luyện tập Tịch Tà Kiếm pháp là người luyện phải tự . . . “thiến sống” hay chia lìa “thằng nhỏ” của mình. Giải thuyết đưa ra trong “Thử Ðọc Lại Kim Dung III” là Tịch Tà Kiếm pháp đòi hỏi người xử dụng phải vừa có tay chân nhanh nhẹn và khéo léo như một phụ nữ, vừa có đầy nội lực hùng hậu của một người đàn ông. Và theo Kim Dung, chỉ có một cách nhanh nhất để hội đủ hai điều kiện tương phản đó: người luyện kiếm phải . . . chia tay với thằng nhỏ. Kiếm pháp này đã do một thái giám phát minh ra đầu tiên!  Trong Lộc Ðỉnh Ký, Kim Dung chiếu sáng đời sống của các thái giám trong triều nhà Thanh. Nhất là tâm lý của các phụ nữ khi gần gũi thái giám. Họ không lo sợ gì hết. Từ công chúa cho đến các công nương kiếm khách xâm nhập hoàng thành từ phía bên ngoài. Họ coi thường thái giám qua nhận diện cách ăn mặc. Họ biết thái giám chẳng làm gì được họ bởi không có vũ khí “thằng nhỏ” đó. Thái giám hỏi họ làm vợ họ cứ nhận bừa. Nhưng tiếu lâm ở chỗ trong đó có một tay thái giám giả hiệu xuất thân từ kỹ viện là Vi Tiểu Bảo. Thế mới biết đi đêm có ngày gặp ma. Kim Dung còn cho biết thái giám bởi không còn gì hết nên rất tham tiền, tham vàng bạc của cải. Chính nhờ đó, một thái giám giả hiệu người Hán Vi Tiểu Bảo đã dễ dàng mua chuộc họ bằng tiền bạc chôm từ những nơi khác.
    · Trong “Tiếu Ngạo Giang Hồ” Kim Dung bắt đầu giới thiệu cá tính chợ trời của một kiếm khách vai chính Lệnh Hồ Xung. Ðây thật ra là một tuyệt chiêu mới về tiểu thuyết kiếm hiệp. Nó phá tung những huyền thoại cổ điển về những người võ hiệp, như kiểu Cam Tử Long – Lã Mai Nương, Càn Long du Giang Nam, Quách Tĩnh, Trương Vô Kỵ, v.v.Theo đó những vai chính thường là những người đôn hậu chất phác, đôi khi hơi . . . cù lần. Trung thực và tình nghĩa tới cùng. Lời nói nào cũng xuất phát ở tận đáy lòng. Lệnh Hồ Xung không hoàn toàn như vậy. Hồ Xung mồm mép và mưu lược hơn người tuy bản chất vẫn trung hậu và đầy tình nghĩa. Một týp tiến sĩ chợ trời của giới giang hồ. Sang “Lộc Ðỉnh Ký”  Kim Dung mô tả Vi Tiểu Bảo – so với tiến sĩ chợ trời Lệnh Hồ Xung – như một người xứng đáng nhận giải Nobel về thành tích chợ trời của y. Từ xuất xứ không biết cha mình là ai, môi trường sống không học không hành, đánh bài gian và thảy xúc xắc, cho đến móc túi và tham nhũng .  Nhưng hơn cả Lệnh Hồ Xung, Vi Tiểu Bảo được tiếp cận và giao tác với những vấn đề to lớn hơn: những người đàn bà đẹp (thường lớn tuổi hơn y), tiền tài, danh vọng, việc mất nước về tay nhà Thanh, gián điệp muôn trùng, chính trị và quyền bính. Những thử thách to tát đó thường dễ dàng làm hư thối con người. Nhưng Kim Dung cho thấy đối với một vua chợ trời kiểu Vi Tiểu Bảo, các khó khăn đầy mâu thuẫn đó đều được hoá giải như chơi. Như một cơn bài mà Vi thường vui vẻ đánh với thủ hạ.
    · Kim Dung viết xong Lộc Ðỉnh Ký vào năm 1972. Lúc đó một nhận xét về đấm đá của người Tây phương chắc không có gì lạ. Nhưng đọc nhận xét này vào năm 2003, mới nhớ chuyện xưa. Người Tây phương trước thập niên 70 của thế kỷ trước, lúc đánh nhau, họ không hề hoặc rất ít khi dùng chân để đá nhau. Kim Dung đưa ra nhận xét này  trong đoạn quân Thanh đánh nhau với quân Nga, dưới quyền chỉ huy của nguyên soái Vi Tiểu Bảo. Những phim Hollywood  trước thập niên 70, không bao giờ thấy các vai trò trong phim dùng chân đá nhau theo kiểu Karate, Taek Won Do, hay Kung Fu. Ðiển hình các phim như Shane (Alan Ladd,  Van Heflin), Giant  (Rock Hudson, James Dean) và hàng trăm phim khác, nhất là loại phim cao-bồi,  người ta thấy những vai trong phim đánh nhau mệt nghỉ. Toàn đánh đấm bằng tay thôi. Những cú đá bắt đầu len vào phim Âu Mỹ có lẽ bắt đầu từ phim loạt TiVi The Avengers ở cuối thập niên 1960. Với những cú đá kiểu karate của nữ tài tử Diana Rigg. Sau đó người lăng xê các cú đá kiểu kung fu vào “văn hoá” phim ảnh rồi đời sống toàn cầu chính là Lý Tiểu Long tức Bruce Lee. Rồi đến phim loạt cho Tivi Kung Fu với tài tử David Carradine. Và bây giờ phim nào có đánh nhau đều có đấm và . . . đá.  Kim Dung đưa ra quy ước bất thành văn này để đối chiếu với các quy ước trong giới kiếm hiệp giang hồ Trung Hoa. Ðó là đánh lén, thảy bột vôi vào mắt địch rồi lợi dụng cơ hội nhào tới đâm địch nhân. Núp dưới gầm bàn rồi dùng dao chém chân địch. Tất cả những ngón này Vi Tiểu bảo đều xử dụng rất thuần thục. Trong đoạn đầu mặc dù y dùng thủ đoạn hạ cấp để cứu Mao Thập Bát, nhưng Mao Thập Bát vẫn mắng chửi y và từ chối không nhận y làm đồ đệ. Ðến sau này khi phải cấp bách cứu mạng Trần Cận Nam, chủ tịch Thiên Ðịa Hội, một người tiếng tăm lừng lẫy trong chốn giang hồ, Vi tiểu Bảo lại dùng ngón “nghề của chàng” nữa. Sau đó y xấu hỗ dấu nhẹm với Trần cận Nam chuyện làm sai quy ước giang hồ của y.
    · Một điểm tiếu lâm “không chịu được” nằm ngay trong tên họ của nhân vật chính, Vi Tiểu Bảo. Vi là “Nhỏ”, Tiểu cũng “Nhỏ”,  và Bảo là cái gì “quý giá”, một thứ của gì quí quí. Vi Tiểu Bảo, tên một nhân vật phái nam, có thể dịch ra theo kiểu “thuần Nôm” là “của quí  nho nhỏ “ hoặc “thằng nhỏ” . . . của đàn ông. Kim Dung xác nhận điểm này khi Vi Tiểu Bảo với tư cách nguyên soái, ký tên vào bản hoà ước hoạch định biên giới Nga-Trung. Vốn mù chữ và đến tên Bảo họ Vi y cũng không biết. Y chỉ biết có Tiểu tên đệm thôi. Nhưng biết cũng không rõ ràng. Viết đúng chữ Tiểu phải viết một gạch thẳng và hai gạch nhỏ ở hai bên. Thế bởi mù chữ y ký tên nguệch ngoạc nhưng cũng đúng thật tên của y, bằng lối tượng hình của chữ Hán, bằng một đường nét đậm thẳng đứng với hai vòng tròn hai bên! Hết ý kiến. Hoà ước này có thật và có chữ ký của nhiều quan lớn đôi bên. Nhưng có lẽ chữ ký của Vi Tiểu Bảo rất khó xem nên sử gia đã không để ý và lướt qua. Phải chăng đề tài chính của truyện Lộc Ðỉnh Ký cũng là một khảo luận nhỏ về tên của Vi Tiểu Bảo, về cái khổ và cái quý của con người. Về những người có của quí, và không có của quí.
    · Thuyết Bất-nhị-nguyên của nhà Phật cũng được Vi Tiểu Bảo xử dụng khi y bốc thơm cao tăng Tây Tạng và cao thủ Mông Cổ để cầu xin tha mạng. Y nhắc lại trận đánh năm cũ của cao thủ Mông Cổ với “sư huynh” của y là phương trượng Thiếu Lâm. Thật ra trong trận đánh đó phương trượng Thiếu Lâm hạ cao thủ Mông Cổ dễ dàng. Nhưng Vi tâng bốc người Mông Cổ bằng cách nói dóc là y nhớ người Mông Cổ hạ phương trượng Thiếu Lâm. Sau đó y lâm râm khấn với phương trượng Thiếu Lâm rằng sở dĩ y nói dóc vì y tin rằng  không tức sắc, sắc là không, thắng cũng như thua, thua như thắng, Thiếu Lâm thắng Mông Cổ không khác gì Thiếu Lâm thua Mông Cổ. Phải chăng Vi Tiểu Bảo trong một giây phút gần gũi với sự sống và cái chết, bất chợt đã tự  giác ngộ?.

Ảnh hưởng và vinh danh

Trong sinh hoạt văn nghệ, nghệ thuật và văn hoá nói chung, người ta thường nghe nói nhà văn này hoặc nhà đạo diễn phim ảnh này chịu ảnh hưởng của nhà văn hay đạo diễn kia. Nhiều vị, nhất là những nhà đạo diễn một khi họ đã nổi tiếng, đều tự nhiên tuyên bố danh tánh của các vị tiền bối đã ảnh hưởng đến tác phẩm của họ. Thí dụ như đạo diễn Quentin Tarantino của các phim nổi tiếng Reservoir Dogs, Pulp Fiction, thường ca tụng John Woo của Once a Thief (Chou Yun Fat, Leslie Cheung), Face/Off (John Travolta) và Broken Arrow (John Travolta). Brian de Palma, đạo diễn những phim như Dressed to Kill với Angie Dickinson; Mission: Impossible với Tom Cruise, thường được xem có thể trở thành một Hitchcock thứ hai. Thông thường nhà làm phim thường cho xen vào phim mới của mình một cái “xen” hầu như “bắt chước” y hệt  cái xen hay ho của vị tiền bối gây ảnh hưởng đó. Họ gọi công việc đó, “vinh danh” tiền bối (pay tribute to). Và một khi một đạo diễn hoặc tác giả có nhiều người vinh danh – những hoạt cảnh tuyệt chiêu đi luôn vào văn hoá của bộ môn nghệ thuật đó. Nhiều khi đi tuốt đến dân gian. Thí dụ những từ  như Tú Bà, Sở Khanh phát xuất từ Kiều bây giờ trở thành những danh từ chung. I couldn’t give a damn (đại khái: Tôi chẳng màng nữa) của “Cuốn Theo Chiều Gió” do Rhett Butler (Clark Gable) thốt ra vào lúc cuối phim trở thành câu nói thông thường của tiếng Mỹ.

Ðối với vua phim kinh dị Alfred Hitchcock, người ta có thể nhận ngay 3 xen nổi tiếng nhất, dễ bị “cóp” nhất: Xen 1: Marion Crane (Janet Leigh) đang tắm vòi sen trong phim Psycho, bị Norman Bates (Anthony Perkins) xem trộm rồi một lão bà nhảy vào đâm chết. Xen 2:  Roger Thornhill (Cary Grant) trong phim North by NorthWest – sau khi bị bắt tra tấn tại một biệt thự nọ, trốn về đi báo với cảnh sát. Lúc cảnh sát dẫn y trở lại biệt thự đó, không thấy những người gian ác đánh đập y đâu hết, và trang trí bày biện đồ vật trong phòng khách tra tấn y cũng hoàn toàn thay đổi – làm cho mọi người bị bẽ mặt. Xen 3: Cũng trong phim North by Northwest, cảnh Cary Grant trên một ngọn đồi trơ trọi phải chạy trối chết vì bị một chiếc máy bay nhỏ lờn vờn rượt bắn.

Xen số 1, một phụ nữ đang tắm vòi sen bị hung thủ lẻn vào phòng tắm rồi tấn công bằng dao hiện đã trở thành một kỹ thuật tiêu chuẩn của phim kinh dị. Có đến hàng trăm phim đâm ra bắt chước xen tắm này. Xen thứ 2 và thứ 3 cũng được phim James Bond chôm nhiều lần. Moonraker dùng xen thứ 2, From Russia with Love xử dụng xen thứ 3.

Thế Kim Dung có xử dụng hoặc vinh danh Hitchcock hay không? Thưa có.
– Trực tiếp: Trong “Tiếu Ngạo Giang Hồ” lúc Lâm Bình Chi đâm chết con trai Dư Thanh Hải tại một quán nhỏ bên đường. Sau đó Lâm Bình Chi về nhà kêu Cha là trưởng của Phước Oai tiêu cục dẫn một đoàn tùy tùng trở lại quán đó để dò la. Tới nơi không thấy chủ quán và người hầu bàn xinh đẹp (tức Nhạc Linh San) đâu hết. Bàn ghế bày biện của quán biến đâu mất, chỉ thấy đó là một nhà bỏ hoang. Xác chết của con Dư Thanh Hải chôn đâu đó cũng biến mất. Ðây là vinh danh Hitchcock xen thứ 2.
– Gián tiếp và phát triển thêm: Xen thứ 1 (và xen thứ 3). Ở chỗ nào? Ở chỗ Ngô Ứng Hùng con trai Ngô tam Quế đã được chọn làm phò mã sắp cưới công chúa Kiến Ninh bị công chúa đập bá súng bất tỉnh rồi . . . cắt đứt đi thằng nhỏ của Hùng! Muốn nhìn rõ sự vinh danh Hitchcock này ta thử phân tích các thành tố chính yếu đã đưa phim Psycho đến hạng nhất về phim kinh dị có phẩm chất từ trước đến giờ. Các thành tố của xen kinh dị 1 gồm:
(i) Nạn nhân trong trạng thái không phòng bị: đang tắm vòi sen
(ii) Nạn nhân không có gì che chở thân thể: đang trần truồng để tắm. Từ chết đến bị thương dù có chống đỡ, nếu bị đâm hay chém.
(iii) Ðịa điểm án mạng rất chật hẹp: chỗ tắm vòi sen không có đường chạy.

Kim Dung vừa vinh danh Hitchcock vừa phát triển cường độ kinh dị đến tột điểm của rùng rợn [6]. Và lại áp dụng cho nam phái! Phù hợp với đề tài thái giám của câu chuyện. Kiến Ninh phải cắt thằng nhỏ của Ngô Ứng Hùng đi bởi nàng không muốn làm vợ Hùng, một phần vì đã quen sex với Vi Tiểu Bảo qua những yêu cầu sa-điết của nàng. Cảnh Ngô Ứng Hùng lúc bị Kiến Ninh thiến sống hoàn toàn nắm đủ tất cả 3 thành tố kể trên:
(i) Nạn nhân trong trạng thái không phòng bị: bất tỉnh nhơn sự  vì đầu bị đánh
(ii) Nạn nhân không có gì che thân thể: Kiến Ninh cởi quần áo y ra trong lúc y bất tỉnh;
(iii) Ðịa điểm “hành quyết” rất chật hẹp: Khi bất tỉnh rồi thì chạy đi đâu.

Nhìn lại người ta để ý ngay cả vụ 9-11 cũng hoàn toàn hội đủ 3 thành tố đó. Nó gây kinh hoàng và mãi mãi biến đổi cục diện toàn cầu.

Ngoài Hitchcock người ta để ý đặc biệt trong Lộc Ðỉnh Ký, Kim Dung vinh danh một lô các phim hoặc truyện hiệp sĩ phương Tây, như của Alexandre Dumas, của Robert Louis Stevenson, của Edmond Dantès (Bá Tước Monte Cristo). Ðặc biệt của Alexandre Dumas trong “3 người Ngự Lâm Quân” (Les Trois Mousquetaires) và “Người đàn ông trong chiếc mặt nạ sắt” (The Man in the Iron Mask – Le Vicomte de Bragellone). Cũng như trong “Tiếu Ngạo Giang Hồ”, Kim Dung đã vay mượn một ít của truyện Scaramouche của Rafael Sabatini [5].

Trong truyện “3 người Ngự Lâm Quân” ta còn nhớ D’Artagnan lúc đầu truyện có hẹn đấu gươm với 3 anh ngự lâm kia Athos, Porthos và Aramis trên đường đi tìm ông xếp Ngự Lâm quân để xin gia nhập. Mới đọ gươm với một trong 3 anh kia được vài chiêu, quân lính hoàng triều của phe Richelieu xuất hiện, D’Artagnan quay lại hợp sức với 3 ngự lâm – một cho tất cả, tất cả cho một – đánh lại bọn lính của Richelieu một trận tơi bời te tua!

Trong Lộc Ðỉnh Ký cũng vậy, đầu truyện Mao Thập Bát rất mong mỏi gặp Trần Cận Nam lãnh tụ phe Thiên Ðịa Hội như để ngưỡng mộ anh hùng và nếu được gia nhập luôn. Y có hẹn với 2 người kiếm khách khác ở ngoài thành Dương Châu để đấu kiếm hơn thua. Hai người kiếm khách này thuộc phe Thiên Ðịa Hội của Trần Cận Nam. Ðang mới bắt đầu so kiếm thì quân lính triều Thanh xuất hiện muốn tìm bắt Mao Thập Bát vì nghi Mao là thủ phạm một vụ án mạng. Mao cùng hai đối thủ hẹn đọ kiếm kia quay lại hợp sức với nhau, đánh trả quân Thanh. Với sự trợ giúp ti tiện của Vi Tiểu Bảo, phe phản Thanh đại thắng.

Một chi tiết khác cũng giống như “3 người Ngự Lâm” là Hoàng hậu Sophia nước Nga có liên hệ tình cảm với một bá tước (Vi Tiểu Bảo) của nước Trung Hoa đối nghịch. Giống y như hoàng hậu Pháp có tình nhân Quận công Buckingham của Anh quốc đang sắp có chiến tranh với Pháp.

Kim Dung còn vinh danh Alexandre Dumas với truyện “Người đàn ông trong chiếc mặt nạ sắt” qua việc dựng lên, trong Lộc Ðỉnh Ký, một Thái hậu giả mang mặt nạ đánh lừa mọi người qua nhiều năm tháng. Thái hậu thật vẫn còn sống và bị Thái hậu giả giam nhốt dưới hầm chứa quần áo. Ðọc đến đoạn này, người ta không khỏi liên tưởng đến trí tưởng tượng của Alexandre Dumas trong việc dựng lên anh em sinh đôi thay nhau làm vua Louis XIV của nước Pháp. Người không được làm vua bị mang chiếc mặt nạ sắt và lưu đày ra một hoang đảo thật xa.

Ảnh hưởng của “Ðảo Kho tàng” của Stevenson, hoặc “Bá Tước Monte Cristo” của Dantes có thể tìm thấy bàng bạc qua chuyện Vi Tiểu Bảo khám phá ra một kho tàng thật khổng lồ của nhà Thanh. Muốn tìm kho tàng đó phải kiếm ra một bản đồ tản mác trong 8 quyển sách kinh thất tung lâu năm. Nhân vật chính cũng trở thành vương tước như ai mặc dù y chẳng có học, chẳng biết võ nghệ gì hết. Ðảo Thần Long chứa chấp một băng đảng ăn cướp, với giáo chủ võ nghệ tuyệt luân – khiến người đọc dễ liên tưởng đến truyện “Ðảo Kho Tàng” của Stevenson. Có lẽ đây, lần đầu truyện kiếm hiệp Tàu có màn cao thủ bậc nhất võ lâm là ăn cướp sinh sống ở ngoài hải đảo. Cao hơn Hoàng Dược Sư rất nhiều bực.

Ở những đoạn Khang Hy mưu tính đòn chính trị, thường thường hội ý với Vi Tiểu Bảo, người đọc có thể nhận ra dáng dấp “The Prince” (Vương Công) của Machiavelli. Quyển sách của Machiavelli thường dùng như sách gối đầu giường của những người làm chính trị. Cũng giống như quyển Binh Thư Tôn Tử (The Art of War) cho những nhà quân sự, và ngày nay, cho những tổng lý của các công ty thương mại.

Ảnh hưởng của các phim James Bond cũng rất đậm nét trong các truyện Kim Dung, nhất là Lộc Ðỉnh Ký. Ðiểm đặc thù nhất của phim James Bond là gì? Là những xen đấm đá hoạt động không ngừng, gọi nôm na theo tiếng Anh là non-stop action. Những phim James Bond đã tạo thành một genre-loại đặc biệt, chứa những cảnh hiểm nguy, hoạt động đấm đá không ngừng, mà nhiều phim hoạt động hoặc kinh dị bây giờ vẫn thường xuyên xử dụng. Ðiển hình các phim với những tài tử như: Sylvester Stallone (Rambo), Wesley Snipes (Passenger 57, The Art of War), và Bruce Willis (Die Hard), v.v.. Lộc Ðỉnh Ký cũng vậy. Ta thấy Vi Tiểu Bảo cứ trải qua hiểm nguy này tiếp đến hiểm nghèo khác. Không ngừng. Những cảnh đó thường dễ làm người đọc nín thở bởi Vi Tiểu Bảo không biết mấy võ nghệ. Ngoài ra Kim Dung cũng đã vinh danh James Bond bằng cách cho Vi Tiểu Bảo có thật nhiều đào, nhiều vợ, giống như điệp viên 007.

Quay trở lại văn học Trung Quốc, Lộc Ðỉnh Ký vinh danh những văn hào nào với những tác phẩm nào? Rất nhiều, đếm không hết lại sợ thiếu sót. Nhưng rõ rệt nhất: Hồng Lâu Mộng của Tào Tuyết Cần và AQ của Lỗ Tấn. Hai tác phẩm hàng đầu của Trung Hoa nhưng hãy còn hơi xa lạ đối với người Việt.

Hồng Lâu Mộng được đứng hàng đầu trong tứ tài tử của văn đàn Trung Hoa, và đã được chính Mao Trạch Ðông hồi còn sinh thời không tiếc lời ngợi khen. Ba kiệt tác kia: Thủy Hử của Thị Nại Am, Tây Sương Ký của Vương Thực Phủ và Tam Quốc Chí của La Quán Trung.

Tác giả chính của Hồng Lâu Mộng là Tào Tuyết Cần. Với Cao Ngọc viết tiếp thêm 40 hồi sau cùng. Theo Vương Hồng Sển [7] Hồng Lâu Mộng độc đáo ở chỗ khác với các loại tiểu thuyết khác như Tây Du, Thuyết Ðường, Chinh Ðông, Chinh Tây là một tiểu thuyết đầu tiên không kết hợp từ những mẩu chuyện nhỏ un đúc trong chốn dân gian. Một sáng tác theo cảm hứng văn nghệ của Tào Tuyết Cần, tuy có dựa vào kinh nghiệm và hoàn cảnh gia đình của chính tác giả. Hồng Lâu Mộng khởi mộng từ khoảng năm 1765 vào đời vua Thanh Càn Long năm thứ 28. Câu chuyện dựng chung quanh một hai gia đình vọng tộc, trong đó có họ Giả, với những tình tiết của những người thân thuộc họ hàng với nhau. Có sex, có đồng tình luyến ái, có những mối tình tay đôi tay ba, trong chốn lầu cao cửa rộng. Về sau gia đình gặp nạn suy sút, nhân vật chánh Bửu Ngọc thi đỗ nhưng lại chọn đường xuất gia đi tu. Hồng Lâu Mộng thành công nhờ ở nhiều điểm, nhưng điểm chánh nằm ở hội tụ được phân tích tình cảm và tâm lý của một lô các nhân vật, nhất là các nhân vật nữ phái. Từ mẹ của Bửu Ngọc đến các chị, các em, các người bà con thân thuộc và luôn cả các a-hoàn phục dịch trong nhà.

Kim Dung vinh danh Tào Tuyết Cần bằng rất nhiều cách. Thứ nhất Kim Dung bắt chước đoạn đầu và đoạn cuối của Hồng Lâu Mộng. Hai hồi đó không liên hệ trực tiếp đến câu chuyện ở phần chính. Trong Hồng Lâu Mộng tác giả cho vào hồi đầu câu chuyện một tảng đá lâu ngày thu thập được linh khí biết di chuyển và biết viết lách ghi lại câu chuyện của Hồng Lâu Mộng. Chuyện đó được một ông sư đi ngang khám phá và chép lại cho đời sau. Sau khi kết cuộc câu chuyện, vị đại sư đó mới hỏi hòn đá tại sao câu chuyện không có nhân vật nào đại trung, đại thần hết vậy. Như vậy làm sao để đời được. Trong Lộc Ðỉnh Ký cũng vậy. Kim Dung cho vào một đoạn đầu kể chuyện những nhà trí thức ái quốc (có thật, như Cố Viêm Vũ, Hoàng Tông Hy và Lã Lưu Lương; cũng như nội tổ của chính tác giả Kim Dung Tra Lương Dung là Tra Y Hoàng) gặp gỡ nhau và trong lúc trà dư tửu hậu bàn về những chuyện vu oan giá họa do những gian thần người Hán gây nên để trừ khử các nhà ái quốc. Rồi vào hồi hai mới giới thiệu Vi Tiểu Bảo và vào câu chuyện. Gần đến kết cuộc Kim Dung mới lôi mấy nhà trí thức đó ra thuyết phục Vi Tiểu Bảo trở về Thiên Ðịa Hội để tiếp tục chuyện phục quốc. Nặng tình nghĩa với vua Khang Hy, và cũng thành thật với chính mình, Vi Tiểu Bảo đã chọn con đường rút lui về ở ẩn.

Lộc Ðỉnh Ký cũng vinh danh Hồng Lâu Mộng bằng cách mô tả tỉ mỉ những mâu thuẫn tâm lý tình cảm của một lô các nhân vật phái nữ. Ða số đều lọt vào tay và trở thành vợ của Vi Tiểu Bảo. Tâm lý và những ước mơ, khát vọng cùng những giằng co nội tâm của Vi Tiểu Bảo, một người con trai xuất thân bần cùng và thất học, cũng được Kim Dung phân tích đến nơi đến chốn. Nếu Hồng Lâu Mộng có tả về thủ dâm mộng dâm, Lộc Ðỉnh Ký đáp ứng bằng sex theo khổ dâm sa điết của Kiến Ninh, và mặc cảm Oedipus của Vi tiểu Bảo, si mê những người đàn bà đáng tuổi má mình: Trần Viên Viên và Tô Thuyên. Lại cũng như Hồng Lâu Mộng, Lộc Ðỉnh Ký cho thấy sau bức màn nhung bên ngoài, sự xung đột vẫn thường xuyên xảy ra giữa các tầng lớp, phe phái và thế lực, phục Minh hay ngay trong triều Thanh, của xã hội phong kiến. Lộc Ðỉnh ký còn dứt khoát theo con đường Hồng Lâu Mộng đã vạch ra: Không thèm xây dựng tiểu thuyết trên những nhân vật đại thần đại trung nữa. Ðặt kính hội tụ vào một nhân vật xuất thân từ nơi đầu đường xó chợ và đưa y đến hàng đại thần nhà Thanh hay . . . gian tặc đối với người Hán, tùy theo góc nhìn của xã hội đương thời.

Ảnh hưởng của Lỗ Tấn ra sao? Lỗ Tấn một văn hào lớn của Trung Hoa trong thế kỷ 20. Chuyên về truyện ngắn nói lên những khổ đau của con người, Lỗ Tấn nổi tiếng nhất với “AQ chính truyện” (Muốn đọc Lỗ Tấn, xem ghi chú [8]). Và Vi Tiểu Bảo của Kim Dung có nhiều điểm rất giống nhân vật AQ của Lỗ Tấn. Hai người Bảo và Q đều xuất thân từ giai cấp thấp hèn nhất của xã hội Trung Hoa. Cả hai đều thuộc lớp mù chữ. Riêng Vi Tiểu Bảo mù chữ đến nỗi ký tên thật y thành tên Tiểu viết ra như vẽ hình “thằng nhỏ”. Thật thành giả, giả thành thật. Vi Tiểu Bảo ký tên “thằng nhỏ”. “Thằng nhỏ” viết theo chữ Hán là Vi Tiểu Bảo. Cả AQ và Vi Tiểu Bảo đều thích cờ bạc đánh bài. Kim Dung đã vinh danh Lỗ Tấn bằng cách xây dựng những cá tính chánh của Vi Tiểu Bảo giông giống AQ. Tuy nhiên Vi Tiểu Bảo có số sướng hơn AQ rất nhiều và không bị đoản mệnh như AQ.

Thấp thoáng trong Lộc Ðỉnh Ký ta còn gặp nhiều hoạt cảnh và hình dáng của những nhân vật truyện Tàu thuở trước. Ở cặp Vi Tiểu Bảo-Song Nhi, ta có thể nhớ đến Cam Tử Long-Lã Mai Nương, trong truyện Lã Mai Nương. Lã Mai Nương do vị Thầy của Cam Tử Long cho xuống núi đi theo Cam Tử Long để tìm kẻ tử thù. Song Nhi cũng vậy – được Trang gia chủ tặng riêng cho Vi Tiểu Bảo – để theo và bảo vệ chàng bôn ba trong chốn giang hồ.

Rồi giống như Thủy Hử , Lộc Ðỉnh Ký tạo nên đám Thần Long giáo tuy ăn cướp nhưng cũng lấy được một chút chính danh, do ở việc cấu kết với Nga chống lại Thanh triều, và lo tìm kho tàng để lấy vàng bạc châu báu, cắt đứt long mạch nhà Thanh. Thủy Hử có nhà sư Lỗ Trí Thâm chuyên lén đi ăn thịt cầy, Lộc Ðỉnh Ký có sư Vi Tiểu Bảo pháp danh Hối Minh lén đi vào một kỹ viện gần chùa cho đỡ buồn trống, cho đỡ chổng. Chẳng may chưa làm ăn gì hết y bị hai cao thủ phái nữ tấn công đòi giết. Y phải hoá trang kỹ nữ trốn chạy có cờ.

Lộc Ðỉnh Ký còn thường xuyên nhắc đến các nhân vật của Tam Quốc Chí. Vi Tiểu Bảo khi thống lãnh quân đội cũng áp dụng những chiến thuật của Khổng Minh y học lóm được từ những khách làng chơi ghé lại kỹ viện Lệ Xuân, nơi y sinh sống thuở thiếu thời. Lộc Ðỉnh Ký cũng vinh danh con ngựa xích thố của Lã Bố và Quan Vân Trường bằng cách cho vào một hồi về giống ngựa đua Vân Nam của Ngô Ứng Hùng.

Lộc Ðỉnh ký cũng lên án một vài “minh quân” người Hán bằng cách nhắc lại sự tích Lưu Bang, được chim bẻ ná, giết tướng Hàn Tín sau khi thắng Hạng Yũ. Kim Dung mượn lời nhân vật Lã Lưu Lương nói với Vi Tiểu Bảo vào đoạn cuối, nhằm thuyết phục anh chàng họ Vi đứng ra lãnh đạo Thiên Ðịa Hội và các phong trào kháng Thanh: “Hán Cao Tổ (Lưu Bang) xuất thân đại lưu manh, làm chuyện bậy bạ còn nhiều hơn ngươi, nhưng rốt lại vẫn trở thành ông vua khai quốc của nhà Hán”.  Diễn lại vở tuồng Lưu Bang hạ Hàn Tín, Lộc Ðỉnh ký cho Trịnh Khắc Sảng công tử của xếp của Trần Cận Nam  dùng dao nhọn đâm lén vào lưng của Trần Cận Nam chỉ vì Cận Nam, mặc dù hết sức trung thành với Trịnh Vương, không hoàn toàn tuân những mệnh lệnh điên khùng của công tử Khắc Sảng. Lộc Ðỉnh Ký cũng vẽ lại hoạt cảnh Hàn Tín thuở thiếu thời luồn trôn một tay anh chị đứng đường, bằng cách cho Vi Tiểu Bảo chui qua háng của Tô Thuyên để trốn chạy Hồng Giáo chủ đang rượt đuổi.

Giải hoá các mâu thuẫn

Một trong những kỹ thuật chính yếu của nghề viết tiểu thuyết là tạo cho nhân vật các giằng co tâm lý khó xử, nhiều tình huống mâu thuẫn, và nếu được những thế lực hoặc xã hội hoặc cá nhân, tương phản, kình chống với nhau, trùm lên đầu nhân vật chính. Rồi tìm cách giải tỏa chúng vào cuối câu truyện.

Tất cả những nhà văn nổi tiếng như cồn đều đã đề ra giải pháp ổn thoả cho các gút mắt trong truyện mà đa số các độc giả có thể chấp nhận được hoặc cảm thấy thoải mái. Thí dụ, truyện Kiều phải kết cuộc làm sao mới vừa tổng hợp được các triết lý Khổng Mạnh, triết lý nhà Phật, triết và hồn Việt [9], luân lý và đạo đức của dân tộc, đạo làm người, thuyết tài mệnh tương đố, v.v. vừa giải quyết được mâu thuẫn của câu chuyện. Văn hào Nguyễn Du đã thành công trong chuyện đó ngoài việc chấm bút tạo áng thi văn bất hủ.

Truyện của Kim Dung sở dĩ thành công, một phần lớn nhờ ở những giải hoá các mâu thuẫn đó. Trong “Anh Hùng Xạ Ðiêu” Quách Tỉnh trái  lời 7 vị Thầy đi yêu con gái một người mang danh Ðông Tà. Trước đó y đã yêu và hứa hôn với một người công chúa Mông Cổ. Trong “Lục mạch Thần Kiếm” Kim Dung cho người đọc nín thở khi thấy thái tử Ðoàn Dự chuyên đi yêu các em gái của mình. Rồi tới màn Ðoàn bị giam chung với một em gái và bị uống thuốc kích dâm sao đó. Kết cuộc người Ðoàn Dự mê mệt, Vương Ngọc Yến, do chính bà mẹ Ðoàn Dự trối trăn, thật ra không phải là em gì của Ðoàn Dự hết. Mấy người em gái kia cũng vậy. Con muốn lấy ai thì lấy. Trong “Tiếu Ngạo Giang Hồ” Lệnh Hồ Xung được nhiều người yêu. Mỗi người yêu một kiểu. Rồi Lệnh Hồ Xung lại đi yêu con gái của giáo chủ của Ma giáo. Kim Dung phải lái người đọc làm sao để ai cũng có thể chấp nhận cô dâu Nhậm Doanh Doanh với đầy lý lịch Ma giáo đó.

Tiểu thuyết muốn được người đọc yêu chuộng hơn nữa phải luôn luôn có những mâu thuẫn tiểu tiết lồng trong những mâu thuẫn gút mắt chính. Thí dụ 1, mâu thuẫn tiểu tiết về tương quan của Ngũ Hành như đã trình bày ở trên. Thí dụ 2, một trong những mâu thuẫn tiểu tiết của Lộc Ðỉnh Ký là chuyện ăn vụng giữa Kiến Ninh với Vi Tiểu Bảo. Vua Khang Hy với mưu tính chánh trị muốn gả em gái Kiến Ninh cho Ngô Ứng Hùng con trai Ngô Tam Quế. Làm sao giải quyết chuyện động trời này, và đồng thời gây được kinh dị, tiếu lâm, thích thú, vừa thoả đáng được các đòi hỏi của luân lý – và cũng nằm trọn trong cái đề luận phụ của câu chuyện (về . . . có thằng nhỏ và không có thằng nhỏ). Kim Dung đã giải tỏa cái gút đó bằng cách cho Kiến Ninh đánh vào đầu Ứng Hùng bất tỉnh rồi lẹ tay cắt đứt . . . thằng nhỏ của Ứng Hùng đi. Rồi la to rằng Ứng Hùng vào đó tính hiếp thị cho biết mùi vợ chồng và để . . . trả thù dân tộc! Sau đó dù Ứng Hùng có trở thành chồng Kiến Ninh, Ứng Hùng cũng chỉ giống như . . . một thái giám mà thôi.

So với các tiểu thuyết trước của Kim Dung – những mâu thuẫn chính và phụ trong Lộc Ðỉnh Ký khó khăn gấp bội phần. Khó khăn ở chỗ đó là những mâu thuẫn tình cảm, thế lực và nhất là chính trị, chủng tộc và văn minh, văn hiến, v.v. Những mâu thuẫn này Kim Dung đã giải hoá thật hay.

Hai mâu thuẫn chính, thường xuyên giao tác với nhau, nằm ngay ở phần xương sống của câu chuyện: Phản Thanh phục Minh với lòng ái quốc và chủ nghĩa cá nhân. Lồng vào đó một ý niệm thể hiện qua thành ngữ quen thuộc của người Ăng Lê, nổi tiếng với đầu óc thực tiễn: “If you can’t beat them, join them” (Nếu bạn không hạ được đối phương, hãy nhập bọn với chúng). Nhiều khi được kèm theo: “And beat them later” (Và để rồi hạ bọn chúng sau).

Theo với nền luân lý Khổng Mạnh và văn hoá Trung Hoa từ ngàn đời, quân dân phải luôn luôn trung thành với vua. Người ta chỉ có thể chuyển đổi sự trung thành đó khi triều đại hoàn toàn suy thoái và có một vị vua khác, do . . . mệnh trời chỉ định, đã lên được ngôi vua ở triều đình rồi. Những vị quan to có bất mãn với đương kim hoàng đế hay bị thất sủng, chỉ có nước xin vua cho trở về qui ẩn. Vua hay chúa của mình có bị thất trận, chết, và nếu không có ấu chúa cần phải bảo vệ, quần thần phải tuẫn tiết chết theo. Ðó là trường hợp Vương Thừa Ân đối với vua cuối triều Minh Sùng Trinh. Trường hợp hàng ngàn tướng sĩ theo phò các vị hoàng thân triều Minh nổi dậy chống nhà Thanh – khi chủ tướng của họ bị nhà Thanh dẹp tan. Những đám tàn quân cấp dưới có thể di tản sang một nước khác để chờ ngày trở về. Như trường hợp một nhóm Thiên Ðịa Hội di tản sang nước An Nam, sau những cuộc khởi nghĩa chống nhà Thanh bị thất bại.

Thêm vào đó, cho mãi đến thế kỷ 20, lối sống dân tộc Trung Hoa vẫn luôn dựa vào  hệ thống giá trị của văn hoá ngàn đời, thể hiện bằng những câu “thánh ngữ” như: “Quốc gia hưng vong thất phu hữu trách” hoặc “Quân xử thần tử – thần bất tử bất trung”. Hay tam cương ràng buộc “thần phải trung thành với quân vương, con cái phải hiểu để với cha, vợ phải tòng phục chồng”. Giá trị của con người nằm ở ngũ thường: “Nhân, nghĩa, lễ, trí, tín”. Còn rất nhiều, nhiều “thánh ngữ” biểu tượng cho hệ thống văn hoá, và giá trị cổ truyền Trung Quốc. Nhưng hay cũng như dở, hợp lý hay vô lý, chính các “thánh ngữ” này đã giúp Trung quốc không ít trong việc tồn tại như một quốc gia cho mãi đến ngày nay. Chủ nghĩa cá nhân theo kiểu Tây Phương có một chỗ đứng rất nhỏ, nếu không nói không có, trong xã hội Trung quốc cổ xưa, nhất là trong tầng lớp quyền bính. Thánh ngữ “quân xử thần tử – thần bất tử bất trung” lan tràn mạnh mẽ sang những nước láng giềng, và lên đến tột đỉnh tại Nhật Bản tại các lãnh địa sứ quân. Như rất nhiều phim hiệp sĩ đạo của Nhật cho thấy [11]. Chủ nghĩa cá nhân, mặc dù luôn tiềm ẩn với mọi con người, làm sao phát triển được khi vua hay sứ quân bảo mình chết – không cần biết vì lí do gì – mình cũng phải chết. Nhỡ các quân vương đó bảo mình chết vì muốn chôm đào nhí hay giựt bạn trai của mình thì sao?

Cái văn hoá phong kiến đó đã chui vào xương tủy dân Hoa suốt cả ngàn năm. Không nhúc nhích. Văn chương chữ nghĩa lúc nào cũng nhồi vào sọ người dân những thứ “thánh ngữ” này. Ngay đến các tiểu thuyết trước thời Hồng Lâu Mộng – như chính Hồng Lâu Mộng có nhắc nhở – thường phải có vai trò của một vị đại trung đại thần bảo vệ giang san và . . . triều đình. Hồng Lâu Mộng chính lần đầu tiên một truyện dài đã không xử dụng vai chính những đại trung đại thần. Và Kim Dung chính tác giả đầu tiên đã đối diện trực tiếp đến những “thánh ngữ” đó và hùng hồn biện minh cho việc dung hoà với một số điều hay việc tốt của văn hoá phương Tây. Hành trình của Vi Tiểu Bảo chính là hành trình của một người mang chủ nghĩa cá nhân xuyên qua những xung đột và mâu thuẫn về chính trị, văn hoá, hệ thống giá trị Khổng Mạnh, biên giới quốc gia, quân sự, võ biền, tình cảm, luyến ái, và mưu cầu tự do và hạnh phúc cuộc đời. Tất nhiên hành trình đó đầy chông gai hiểm nghèo và người phiêu lưu bất đắc dĩ đó chỉ được trang bị bằng bản lĩnh chợ trời, và bản năng sinh tồn tự nhiên con người, mô tả bằng câu thành ngữ của người Anh: “Nếu bạn không hạ được đối phương – hãy nhập bọn với chúng, để rồi hạ chúng sau”.

Vi Tiểu Bảo trước hết bị giam lỏng trong hoàng cung. Sau đó sợ chết, y phải gia nhập đoàn thái giám. Rồi tình cờ y quen biết với hoàng đế Khang Hy trạc tuổi y, ưa tập võ nghệ. Sau khi giết Ngao Bái y bị phe Thiên Ðịa Hội câu lưu vì thấy y người Hán sao lại có chức trong triều đình Thanh. Y phải gia nhập Thiên Ðịa Hội. Sau đó vài năm y bị bọn Thần Long giáo bắt ép gia nhập. Hai người y yêu Phương Di và Mộc Kiếm Bình cũng vậy. Cũng bị cho uống thuốc độc bắt phải theo Thần Long giáo. Y phải gia nhập vì sợ chết nhưng trong bụng y ghét nhất Thần Long giáo, chỉ trừ Hồng phu nhân Tô Thuyên thôi. Nhiều năm sau, chính y được Khang Hy giao sứ mệnh đi dẹp Thần Long giáo. Ðối với Thần Long giáo, đặc biệt Vi Tiểu Bảo vì  “không hạ được chúng, nên đã nhập bọn với chúng, để rồi hạ chúng sau”. Và gần như bản năng sinh tồn của Vi Tiểu Bảo trong những lúc nguy biến đều có thể được mô tả một trăm phần trăm như kiểu thành ngữ này. Cứ mỗi khi Vi Tiểu Bảo áp dụng thành ngữ Ăng Lê này, y đều thành công. Tuy nhiên, một đôi khi nó cũng đưa y đến bên bờ vực thẳm, mất mạng như chơi.

Thế nhưng chiến thuật kiểu cơ hội chủ nghĩa đó hiển nhiên rất mâu thuẫn với hệ thống giá trị cổ truyền Trung Hoa. Ngoài đó ra, Lộc Ðỉnh Ký còn chất chứa hàng chục thứ mâu thuẫn khác nữa. Kim Dung đã giải quyết mâu thuẫn của xung đột giữa hệ thống giá trị cổ truyền Trung Quốc với mưu cầu tự do và hạnh phúc cho con người Vi Tiểu Bảo ra sao?

Quan trọng nhất, Kim Dung cho Vi Tiểu Bảo hoàn toàn thất học. Nhưng cho Vi một mớ hiểu biết lờ mờ về lịch sử . . . theo kiểu chợ trời bởi những kiến thức đó của anh tiến sĩ chợ trời đã được thu lượm và nghe lóm từ những “tiên sinh” kể chuyện ở đầu đường hay tại kỹ viện nơi Vi sinh sống. Ðặc biệt Vi Tiểu Bảo gần như bị dị ứng đối với vấn đề học hành, từ chữ nghĩa đến võ nghệ. Ðiểm này hơi vô lý bởi Tiểu Bảo làm quan lớn một thời gian dài – y chỉ cần thuê một số lão sư đến dạy chữ nghĩa cho y, ngay cả vừa ngủ vừa học cũng được. Nhưng không, từ đầu đến đuôi Vi hoàn toàn không chịu khó học được một câu, viết được một từ đàng hoàng. Mặc dù y biết y nói sai bởi có nhiều người, kể cả Khang Hy, sửa sai những câu thánh ngữ y thốt ra, hoặc những điển tích y muốn ví von so sánh. Tại sao vậy? Tại vì nếu cho y biết chữ y sẽ bị kẹt vào thế: “nước nhà lâm nguy, người trí thức phải có trách nhiệm”! Phải gia nhập Thiên Ðịa Hội, hoặc phong trào của mấy vị hoàng thân vương tôn tàn dư của Minh Triều, một cách nghiêm túc. Không thể nào cù cưa với Khang Hy hoặc ăn nằm với Kiến Ninh được trừ phi muốn … trả thù dân tộc. Có chữ một chút khộng được, bởi có chữ có nghĩa Vi biết cái giá trị chính giữa của xã hội, của dân tộc Trung Hoa, biết phân biệt theo với hệ thống giá trị đó, phe ta phe thù. Những giá trị và quan niệm Trung Hoa đó không cần biết hay hoặc dở, đúng hay sai, kinh điển hay không, vẫn là một hệ thống giá trị của một dân tộc. Vi mang nợ núi sông vì đã được hưởng thụ thành quả của hệ thống giá trị đó. Do đó Vi phải trả nợ đó. Vi cũng, bởi ràng buộc của hệ thống giá trị cũ, không thể theo được chủ nghĩa cá nhân, mưu cầu tự do hạnh phúc cho riêng mình. Chính bởi ở lý do đó, muốn được tự do hành động theo riêng bản năng mình, phù hợp với chủ nghĩa tự do cá nhân, Vi không thể biết gì đến chữ nghĩa.

Vi Tiểu Bảo cũng không thể học võ với ai, bởi môi trường võ nghệ lại chỉ có một mục đích tối thượng. Người chốn giang hồ hay võ biền phải lo bênh vực kẻ yếu thế cô. Phải lo đáp ơn sông núi. Phải dùng tài võ nghệ của mình để điều binh khiển tướng hòng đánh đuổi quân xâm lăng ra khỏi bờ cõi nước nhà. Người kiếm khách Trung Hoa còn luôn luôn có những quy ước hành động bất thành văn. Trong đó, không bao giờ có cái chuyện “Nếu bạn không hạ được đối phương, hãy nhập bọn với chúng” mà Vi Tiểu Bảo hằng xử dụng như một ngón võ tuyệt chiêu không những bảo vệ tính mạng của mình, mà còn dùng nó để thăng quan tiến chức. Không được, Vi Tiểu Bảo không được biết đến chữ và võ. Kim Dung giải hoá các mâu thuẫn đó bằng cách cho Vi Tiểu Bảo hoàn toàn bị dị ứng từ chuyện học chữ đến chuyện luyện võ. Vi Tiểu Bảo vẫn mù chữ và dốt võ từ đầu đến cuối truyện. Lộc Ðỉnh Ký đã cho thấy những tình huống, những màn kịch rất hợp nhất với lô gích. Từ lô gích ngũ hành đến lô gích của hệ thống các giá trị, cũ và mới.Với một bố cục thật chặt chẽ.

Tuy nhiên, ở điểm này ta thấy, Kim Dung đã dung hoà hay đúng hơn “nhượng bộ” thế lực của hệ thống giá trị cũ của Trung Hoa. Luận đề chính vẫn không hề hấn, không bị suy suyển: Thời đó vẫn có một con người đã có thể hợp tác với Thanh triều. Vô học hay có học theo nguyên lý bất nhị cũng y như nhau! Chỉ quan trọng ở chỗ có một người Hán làm lớn trong triều nhà Thanh và làm được nhiều điều ích lợi cho dân Trung Hoa và nước Trung Hoa. Và động cơ mạnh mẽ để thúc đẩy và giúp y làm nên việc, là chủ nghĩa cá nhân, mưu cầu tự do hạnh phúc con người. Và cá nhân y thành công – không bị Khang Hy giết chết, hay các phe kháng Thanh cho đi mò tôm, dù biết y một dạ hai ba lòng – chung qui cũng nhờ ở những giá trị cổ truyền Trung Hoa vẫn có trong người y: lòng chung thủy, trung thành, và hai chữ tín nghĩa. Y cũng có trí, dù đó là một loại trí chợ trời. Trí chợ trời với trí khoa bảng, qua Lộc Ðỉnh Ký, không biết loại nào hơn loại nào. Nếu so sánh cái trí của y với cái trí của sư phụ y là Trần Cận Nam. Trần Cận Nam học sâu hiểu rộng, thường là thần tượng, người hùng kiểu mẫu trong giới giang hồ. Thế nhưng cái trí của Trần Cận Nam bị mớ giá trị cổ truyền kia làm cho Nam mù mờ không biết rằng Nam đang phục vụ một sứ quân bất tài như Trịnh Khắc Sảng để rồi về sau bị Sảng đâm lén sau lưng. Trong khi Vi Tiểu Bảo nhờ thất học nhưng với trực giác và trí thông minh của giới chợ trời biết tẩy ngay con người của Trịnh Khắc Sảng ngay khi mới gặp. Nhưng đối với lễ, y hoàn toàn không có. Kim Dung cho y chửi thề từ đầu đến cuối. Rồi lây tính chửi thề qua Khang Hy. “Con mẹ nó,…”. Thỉnh thoảng y cũng khoái ăn mặc đẹp theo cách nhà quan nhưng dường như y  có vẻ không được thoải mái mấy.

Phải chăng chi tiết “thất học” của Vi Tiểu Bảo được Kim Dung dùng để đưa một thông điệp chính. Với hai thành tố. Thứ nhất có nên dung hoà hoặc bổ xung hệ thống giá trị cổ truyền Trung Hoa với một số giá trị Tây phương hay không. Bút hiệu của Kim Dung đích thị mang ý nghĩa của thành tố này. Kim mạng Kim theo Ngũ hành, chỉ phương Tây, cũng có nghĩa hiện đại. Dung tức dung hoà! Kim Dung tức dung hoà với giá trị hiện đại, phương Tây? Thành tố thứ hai phải chăng khi cho Vi Tiểu Bảo, một người trẻ tuổi, hoàn toàn vô học cả văn lẫn võ Kim Dung có ngụ ý những người mù chữ, bởi không biết gì hết đến hệ thống giá trị cổ truyền và những ràng buộc của nó, và hãy còn trẻ, nên dễ hành động theo bản năng con người mình hơn và dễ . . . tiếp thu được cái hay cái mới hơn?

Còn thêm một thông điệp nhỏ nữa trong vấn đề Vi Tiểu Bảo không biết nhiều võ công. Bởi có biết cũng không giúp ích được cho y trong những công tác trọng đại Khang Hy giao phó. Thời Vi Tiểu Bảo bắt đầu là thời thế lực mạnh mẽ của súng đạn Tây Phương. Nước Tàu từ đó về sau cho dù có đến “Võ Lâm Ngũ Thiên Bá” cũng khó lòng thay đổi được cục diện quốc phòng, và an ninh quốc gia. Giới giang hồ đang bắt đầu lo gác kiếm.

Nếu nhìn kỹ, chi tiết bắt Vi Tiểu Bảo phải thất học, từ văn đến võ, thật ra là một “nhượng bộ” giả của Kim Dung. Chính ra đó là lối thuyết phục nhẹ nhàng của tiểu thuyết. Vừa để giải toả mâu thuẫn vừa đưa những người đọc khó tính, và bảo thủ đối với hệ thống giá trị cổ truyền của Trung Hoa, đến chỗ chấp nhận các hành vi của Vi Tiểu Bảo. Kim Dung đã làm người đọc khó tính dễ bị lôi cuốn bởi phiêu lưu vô bờ bến, tuy thiếu chất võ  hiệp của chàng Hán tộc họ Vi. Trong lúc tác giả âm thầm tấn công hệ thống giá trị cổ và đồng thời rót nhẹ vào tai người đọc những điểm nóng hay nguội cần phải dung hoà với văn hoá và văn minh Tây phương.

Mặt khác, có nhiều chi tiết cho thấy Kim Dung vẫn chấp nhận tam cang ngũ thường nhưng đưa ra một thông điệp mới: Cần phải xem lại từng giá trị một và áp dụng theo tùy trường hợp. Thí dụ, Vi Tiểu Bảo vẫn có thể trung thành với vua gốc Ðông Di là Khang Hy, bởi vua chơi đẹp với y. Trước công tác nào cũng vậy vua hứa nếu y làm được việc vua sẽ trọng thưởng. Và vua luôn luôn giữ lời hưá. Y trung thành với vua đến nỗi sẵn sàng chết thay vua, hay không thèm đi phá long mạch người Mãn để cho nhà Thanh tiêu tùng. Trong khi đó các phe phục Minh chưa gì đã xâu xé lẫn nhau và tuy cùng chung mục tiêu vẫn thường xuyên tranh chấp với nhau, bởi mỗi phe đi phò một ông hoàng thân khác nhau. Họ không bao giờ nhất thống, trong tư tưởng và hành động. Tệ hơn nữa Trịnh Khắc Sảng chưa chi đã đâm lén công thần số 1 của mình là Trần Cận Nam chỉ vì Cận Nam chỉ tuân theo lệnh của Trịnh Vương, cha của y. Tiếu lâm hơn, Kim Dung vạch ra mặt trái của loại “tam cang” chồng chúa vợ tôi bằng cách mô tả, công chúa Kiến Ninh hành hạ Vi Tiểu Bảo trong những lần chăn gối vì sa điết, và lúc “xuất giá tòng phu” Kiến Ninh lại “xuất chiêu” cắt đứt cái phụp “thằng nhỏ” của phu quân Ngô Ứng Hùng. Vi Tiểu Bảo đã từng chui qua háng Tô Thuyên, một người vợ sau này của y. Vi Tiểu Bảo theo người yêu công chúa Sophia trở về Mát-Cơ-Va, v.v. Trong nhiều chi tiết về vợ chồng, Kim Dung cho thấy người vợ vẫn có thể trên cơ, hay nằm trên người chồng như thường.

Lộc Ðỉnh Ký cho thấy Kim Dung cũng không hoàn toàn phá tung toàn bộ hệ thống giá trị cổ truyền Trung quốc. Ta để ý Vi Tiểu Bảo sau cùng phải . . . cưới tất cả những người đàn bà nào y iêu hay iêu y. Ðặc biệt gồm cả 4-5 bà y đã xơi tái nhân cơ hội mấy người này bị hôn mê bất tỉnh. Rồi kể cả Kiến Ninh người như đã …. hiếp dâm y và cho y biết mùi khổ lụy của tình ái. Y đều cưới tất cả và đem về trình diện với má y đàng hoàng. Chỉ trừ công chúa Sophia của nước Nga, y chỉ yêu sơ sơ rờ-măng thôi. Ở điểm này ta thấy Kim Dung lại rất cẩn thận, nói lên quan niệm, luyến ái phương Tây không nhất thiết phải dẫn đến vợ chồng.

Tạo ra Vi Tiểu Bảo một người thất học trèo lên địa vị cao sang Kim Dung cũng đưa một thông điệp nhỏ: Vi Tiểu Bảo không tham lam quá độ. Lúc nào cũng thấy mình được như vậy là quá rồi. Ngay cả chết y cũng (giả bộ?) không sợ. Chỉ nhờ ở chỗ y biết y dốt và sức y có hạn. Phải chăng đó cũng là chìa khoá để đưa đến giác ngộ, tự do và hạnh phúc? Một điểm tiếu lâm nhỏ ở cuối câu chuyện phải kể, các nhà nhân sĩ đi kiếm Vi và thuyết phục y ra làm minh chủ Thiên Ðịa Hội. Họ tính gạt y bằng cách xin y tên tuổi của bố y để đi xin cho y một lá số tử vi. Chắc chắn số tử vi đó sẽ nói y có mạng đế vương để y ham mà nhảy ra lãnh chức minh chủ các phong trào kháng Thanh. Nhưng không, y không ham gì cả và đáp chính y không biết cha là ai, và nói làm lãnh tụ cực lắm y không đủ sức. Thông điệp về “tri túc”, về biết đủ là đủ, lại được Kim Dung nhấn mạnh qua lời nói của Hồng phu nhân tức Vi phu nhân sau này, trước khi Hồng An Thông từ giã cõi đời. Lúc đó Hồng giáo chủ đòi giết Vi Tiểu Bảo, và lẩm bẩm đòi sống thọ ngang . . . với trời.  Hồng phu nhân che chở cho Vi và nói đại khái: “Ông đã oai danh cả đời. Như vậy là đủ quá rồi”.

Trong việc cấu tạo nhân vật Vi Tiểu Bảo, Kim Dung còn để ý đến gốc gác của Vi bằng cách cho bà mẹ Vi tiết lộ với Vi  thật ra bà không biết cha y là ai. Bởi bà có đủ thứ khách tại kỹ viện: Hán, Mông, Tạng, Mãn, v.v. chỉ trừ người Tây dương mà thôi! Với mục đích gì? Có lẽ cho Bảo có gốc gác về huyết thống mù mờ Bảo có thêm một lý do khác để hợp tác với người Mãn Thanh. Y có thể nói cha tôi có lẽ là người Mãn. Ðể ý Kim Dung còn bảo hiểm và tránh tiếng cho Vi Tiểu Bảo  bằng cách cho Vi sống trên một hòn đảo với bảy người vợ trong suốt những năm vua Khang Hy đem quân dẹp hết các nhóm phản Thanh phục Minh. Ðể Vi Tiểu Bảo hoàn toàn không bị mang tiếng Hán gian. Thật ra Kim Dung chỉ muốn Vi Tiểu Bảo được an toàn trên hệ thống xa lộ của giá trị cổ truyền, không phải đơn thuần vì lí do nhượng bộ (giả). Nhưng có lẽ bởi những thông điệp chính cần được chải chuốt đến mức tối đa, không thể bị cọ xát bởi ảnh hưởng của lý lịch.

Khi bật mí lí lịch có vẻ hợp chủng của Vi Tiểu Bảo về huyết thống của người Cha phải chăng Kim Dung lại đưa thêm một hai thông điệp nữa. Ðó là, người Tàu thật ra cũng đã là một thứ hợp chủng như người nước Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ rồi. Về huyết thống nó đã có đầy những cái hay, không thiếu chi “chất xám”. Chỉ cần dung hoà thêm về quan niệm và chủ nghĩa cá nhân của Tây phương nơi khối óc. Khối óc nhỏ bé của Vi Tiểu Bảo. Thông điệp đó cũng khơi lên “giấc mộng Mỹ” nơi đó nếu có cố gắng, giấc mơ nào cũng thực hiện được. Một người nửa Hán nửa tạp chủng như Vi có thể hiện thực được giấc mơ của mình giữa triều đại quân chủ phong kiến của người rợ Ðông Di, thì triều đại đó phải là một thứ triều đại số dách rồi.

Mâu thuẫn của một người Hán, hay nửa Hán nửa gì đó, phục vụ cho một triều đại ngoại chủng còn được Kim Dung giải hoá thật hay qua chồng hồ sơ lí lịch khác của Vi Tiểu Bảo. Ðó là chồng hồ sơ một chuyên gia hay một nhà chuyên nghiệp. Chuyên gia là gì và tại sao Vi Tiểu Bảo hội đủ lí lịch đó. Một nhà chuyên nghiệp, hay chuyên gia, theo ý nghĩa “pro” thông thường của Tây phương là một người xử dụng kỹ năng của mình để kiếm sống và không để ý đến căn cước hay lí lịch của khách hàng, hay người mình phục vụ. Một bác sĩ y khoa vẫn phải chăm sóc sức khoẻ cho một bệnh nhân có thành tích ăn cướp giết người. Một chuyên viên giải phẫu khi phải lắp nối lại một “thằng nhỏ” bị cắt không bao giờ hỏi người bị cắt đó có phải là một tội nhân chuyên hiếp dâm hàng loạt hay không. Nguời luật sư luôn luôn phải bênh vực thân chủ mình dù người đó có bị cáo  về tội khủng bố, ăn cướp, giết người. Hay một nhà độc tài vừa bị bắt hay truất phế. Ý niệm “nhà chuyên nghiệp” ngày nay đã lan tràn qua rất nhiều lãnh vực, nhiều ngành nghề và vượt khỏi biên giới, tinh thần quốc gia. Và hình như chỉ còn bị giới hạn ở những lãnh vực “chuyên nghiệp” liên quan đến quốc phòng mà thôi. Người ta thấy những giáo sư đại học, những khoa học gia, những tài tử và đạo diễn như Antonio Banderas, Catherine Zeta-Jones, Nicole Kidman, Penelope Cruz, Ang Lee, John Woo, Chou Yun Fat, v.v. – những nhà chuyên nghiệp với niềm hãnh diện của các quốc gia sản xuất ra họ – chẳng mấy chốc đều trở thành Mỹ kiều hết ráo. Các nhà thể thao nổi tiếng, nhất là các ngôi sao về tennis, về bóng rổ – như Martina Navratilova, Yao Ming – thường xin nhận nước Mỹ làm quê hương. Kim Dung cho Vi Tiểu Bảo là một nhà chuyên nghiệp. Dù đó, một chuyên gia chợ trời. Ở chỗ Vi Tiểu Bảo là con của một người đàn bà mang nghiệp chuyên gia xưa cũ nhất lịch sử nhân loại. Con vua thì được làm vua – con người kỹ nữ phải là thằng điếm chuyên nghiệp. Bởi Vi Tiểu Bảo một nhà chuyên nghiệp, y có thể xuyên qua hết những bức thành trì kiên cố của giá trị cổ truyền. Y muốn phục vụ ai thì phục vụ. Không cần để ý tới khách hàng hoặc người y phục vụ. Miễn y không làm suy giảm tìềm năng, tài nguyên, tài sản của đất nước và làm phương hại đến nhân dân. Vi Tiểu Bảo đã thoả mãn những yêu cầu đó và lại còn vinh danh được vai trò của chuyên gia.

Ở sự ví von chuyên gia này, ta thấy tầm nhìn của Kim Dung vào năm 1972 đã phóng thật xa. Bởi vào đầu thế kỷ 21, ngay những người được xem là “anh hùng” dân tộc như Russell Coutts và Brad Butterworth của Tân Tây Lan trong cuộc đua thuyền America’s Cup, vào năm 2003 đã bỏ Tân Tây Lan nhảy sang làm việc cho thuyền đoàn của Thụy Sĩ, chỉ bởi Thụy Sĩ trả lương họ gấp đôi lương kiếm được tại Tân Tây Lan.

Thay lời Kết

Người dịch Cao Tự Thanh hiện nổi tiếng như cồn tại Việt Nam. Bản dịch của Cao có rất nhiều chú thích giúp người đọc am tường vấn đề hơn. Những chú thích đó thường cho biết chi tiết nào có vẻ hư cấu chi tiết nào đúng với lịch sử. Hành văn cũng rất dễ đọc. Duy có điểm, một số các từ và thành ngữ, chơi chữ phải giữ nguyên tiếng Hán mới tôn trọng được tính chất . . . kiếm hiệp của Kim Dung. Nhiều lối chơi chữ chính dịch giả phải thú nhận bó tay trong phần ghi chú. Một sơ sót rất nhỏ, tác giả dịch thẳng theo tiếng và âm Tàu Russia thành La Sát. Người đọc dễ thấy chới với không ít bởi không biết La Sát là nước nào mà to lớn dữ vậy. Ðến xong vài quyển rồi mới có một ghi chú nhỏ nói đó chính là nước Nga. Âm R không có trong tiếng Hán và tiếng Nôm khi xưa, và vẫn không có trong tiếng Quảng Ðông cho đến ngày nay. R đọc thành L. Russia Tàu phiên âm thành La Sát.

Nếu hỏi trong mười mấy bộ tiểu thuyết, Kim Dung đã dồn hết mười thành công lực vào bộ tiểu thuyết nào để nhằm đưa ông lên tột đỉnh của sự nghiệp. Câu trả lời chắc chắn là bộ Lộc Ðỉnh Ký.

Lý do dễ hiểu. Lộc Ðỉnh Ký không phải đơn thuần là một tiểu thuyết võ hiệp. Như người dịch Cao Tự Thanh đã viết, nhân vật chính không biết ‘võ’ mà cũng chẳng ‘hiệp’ gì. Lộc Ðỉnh Ký có lẽ là một tổng hợp lớn của đề luận về ước mơ của tuổi trẻ, của con người thời tao loạn, của tâm lý phái nữ, dục vọng con người, của chính trị, tranh chấp chủng tộc và văn hoá, của chiến tranh và bang giao quốc tế, của những ám ảnh về “tiểu bảo” tức thằng nhỏ, về sex, về vấn đề tranh sống hoặc tìm chỗ đứng trong xã hội, trong lịch sử của con người. Của chuyện lớn, triều đình – chính trị, được vận hành thành công bởi con người nhỏ, nhỏ tuổi (Tiểu Bảo và Khang Hy). Của chuyện nhỏ (thằng nhỏ) xít ra chuyện lớn (Cắt thằng nhỏ Ngô Ứng Hùng đưa đến chuyện Ngô Tam Quế làm phản một lần nữa / Vi Tiểu Bảo, người nhỏ, ăn nằm và nên duyên vợ chồng với những người đàn bà chức lớn, lớn tuổi / Từ cuộc tình nhỏ của Sophia và Bảo đến bang giao hai nước Nga-Hoa).

Lộc Ðỉnh Ký còn đưa ra một luận đề chính nữa, theo lý giải bút hiệu Kim Dung của chính tác giả, nhằm dung hoà hệ thống giá trị cổ truyền của Trung Hoa với những gì hay ho, hiện đại của phương Tây. Chính sự dung hoà Ðông và Tây này  có thể tác động cho việc mưu cầu tự do và hạnh phúc cuộc đời. Thế, Kim Dung có đặt câu hỏi dân chủ có phải một yếu tố hàng đầu trong mưu cầu tự do hạnh phúc hay không? Có lẽ, không và cũng có lẽ, có. Không, ở chỗ nhiều cuộc hội họp và hội nghị toàn quốc giữa các phe chống Thanh thường không đi đến kết quả nào, theo với đa số. Họ chỉ đồng ý nhau trên căn bản kiếm hiệp giang hồ. Và chủ ai nấy giữ. Trung thành mù quáng, không cần biết chủ mình có thật tài, có đức hay không. Phe nào trừ được gian tặc Ngô Tam Quế trước, phe đó sẽ được làm minh chủ. Không, cũng ở chỗ Khang Hy thường quyết định về chuyện quốc gia đại sự một mình. Không có quốc hội gì hết. Và những quyết định của Khang Hy thường rất tốt, rất . . . minh quân. Có, có chút đỉnh, ở chỗ trong nhiều trường hợp, Khang Hy ưa hỏi ý kiến của Vi Tiểu Bảo. Hỏi ý kiến của một người tiêu biểu thuộc Hán tộc, thuộc dân bị trị. Xuất thân từ chốn bần cùng.

(Nói đến dân chủ, những người mê đọc truyện Tàu thuộc các thế hệ trước thời Kim Dung đều có thể nhớ đến truyện Phong Thần của Hứa Trọng Lâm, viết vào thời Minh. Phong Thần thuật chuyện nổi dậy của vua nước Châu chống lại nhà Thương. Mỗi bên được những đạo sĩ, những võ tướng thần thông cái thế thuộc hai phe đối nghịch nhau phò tá: Xiển giáo và Triệt giáo. Qua những chiến trận phù phép giữa hai bên, các đạo sĩ, võ tướng đều tử trận. Họ trở về cõi Trời và được phong thánh phong thần. Rồi cùng nhau “làm việc” cho Ngọc Hoàng Thượng đế. Cả hai phe đối nghịch nhau cùng làm việc cho một đấng chí tôn – chính là một ý niệm cơ bản của dân chủ theo kiểu Westminster của Anh quốc, hay kiểu nước Nhật ngày nay. Hưá Trọng Lâm có vẻ đã mơ hồ nhận thức được ý niệm này qua pho truyện Phong Thần, vào khoảng thế kỷ 16.)

Ở một góc cạnh nào đó, ta có thể thấy Lộc Ðỉnh Ký mang ít nhiều luận đề của Hồng Lâu Mộng và AQ. Nhưng những luận đề đó được viết ngược lại. Viết theo cái nhìn của Kim Dung về các vấn đề nhân sinh và mâu thuẫn giữa những hệ thống giá trị của xã hội. Viết theo một chiều hướng hiện đại và một bối cảnh rộng lớn, quốc tế hơn. Lồng trong những đường gươm lưỡi kiếm và súng đạn. Hồng Lâu Mộng cho một gia đình từ giàu sang đến suy sụp. Lộc Ðỉnh Ký cho một người từ chốn thấp hèn leo đến địa vị giàu sang phú quý. Hồng Lâu Mộng cho người giàu sang giao lạc với mọi a-hoàn trong nhà. Lộc Ðỉnh Ký ngược lại cho một người nghèo hèn đi ngủ với các công chúa, các mỹ nhân của thời đại. Hồng Lâu Mộng và AQ cho nhân vật chính đi trốn nợ đời ở chốn Phật, hay lên đoạn đầu đài để đi về bên kia thế giới. Lộc Ðỉnh Ký cho vai chính hưởng được cuộc đời hạnh phúc ẩn danh trong cõi trần gian.

Xin ghi lại lời của chính Kim Dung (ngày 22 tháng 6, 1981) đăng trong trang cuối bản dịch của Cao Tự Thanh: “Lúc gặp các độc giả gặp nhau lần đầu, câu hỏi mà tôi thường gặp nhất là ‘Ông thích bộ tiểu thuyết nào của mình nhất?’. Câu hỏi này rất khó trả lời, nên tôi thường không trả lời. Còn nếu bàn về ‘mình thích’, thì tôi thích mấy bộ có tình cảm mãnh liệt hơn như ‘Thần Ðiêu Hiệp Lữ, Ỷ thiên Ðồ long Ký, Phi hồ ngoại truyện, Tiếu ngạo giang hồ. Lại thường có người hỏi ‘Theo ông bộ tiểu thuyết nào của mình là hay nhất?’, thì bộ Lộc Ðỉnh Ký này là hay nhất. Có điều rất nhiều độc giả hoàn toàn không đồng ý. Tôi rất thích sự không đồng ý của họ.”

Trong quyển “Thú Xem Truyện Tàu” [7] Vương Hồng Sển đã viết:

“Như chúng ta đều biết, một tác phẩm văn nghệ muốn trở nên bất hủ, chẳng những phải cống hiến cho loài người những thành thực về phương diện nghệ thuật mà còn phải có tác dụng nhứt định đối với cuộc sống. Nghệ thuật chơn chính phải giúp cho nhơn loại về mặt xã hội và tinh thần để giành lấy được tự do và bình đẳng. Nghệ thuật không gây ảnh hưởng trực tiếp đối với đời sống như chánh trị, triết học, nhưng nhứt định sẽ có ảnh hưởng gián tiếp bằng cách thông qua những lý tưởng và hành động của những nhơn vật điển hình mà nó đã tạo ra trong tác phẩm.

Vì thế, nghệ thuật tuyệt vời là phải tổng hợp và thể hiện cho được cái thiện chân thiện mỹ đó làm cơ sở, hơn thế nữa, làm mục tiêu cao nhất mà nghệ thuật mình phải đạt tới.”

Với Lộc Ðỉnh Ký, Kim Dung đã đạt đến nghệ thuật tuyệt vời đó.

Sydney, đầu mùa đông 2003.
N.N.

Ghi Chú

[1] Bernard Lee qua đời vào năm 1979 sau khi đóng vai xếp M trong 11 phim James Bond. Vai M sau đó được giao cho Robert Brown và Edward Fox, rồi đến tài tử  nữ Judi Dench.
[2] Desmond Llewelyn đóng vai Q suốt 37 năm, tử nạn xe cộ vào năm 1999 và John Cleese thay thế.
[3] Nguyễn Hiến Lê (1997) Sử Trung Quốc. nxb Văn Hoá.
[4] Một nhóm Thiên Ðịa Hội di tản sang Việt Nam và lâu ngày hội nhập vào xã hội Việt, mang chiêu bài chống thực dân Pháp. Phan Xích Long, một người tự xưng con cháu vua Hàm Nghi, gây được ủng hộ của Thiên Ðịa Hội tức Nghĩa Hoà Ðoàn, nổi dậy chống Pháp tại Sàigòn vào năm 1913. Cuộc nổi dậy bị quân Pháp nhanh chóng dập tắt.
[5] Xin xem “Thử Ðọc Lại Kim Dung I (Ngũ Hành) & III (Tiếu Ngạo Giang Hồ)” – trong những số báo trước. Hoặc ở www. Vietkiem.com hay www. Nhanmonquan.com hay www. Talawas.org ;  www. Vietnamdaily.com.
[6] Trước Kim Dung, phim ảnh cũng đã thử sơ sơ áp dụng xen 1 của Hitchcock vào phái Nam: Phim James Bond – Goldfinger. Cảnh James Bond bị Goldfinger bắt trói nằm trên một tấm bàn (thành tố: không cục cựa và trốn chạy được). Sau đó cho tia laser rà vào giữa hai chân (thành tố: không phòng bị bởi lúc đó ít ai biết tia laser ra sao). Và đưa tia laser rà về phía thằng nhỏ của James Bond (thành tố: không có gì che chở – bởi có mặc quần áo giáp tia laser vẫn xuyên qua như thường).
[7] Vương Hồng Sển (1970) Thú Xem truyện Tàu. Xuân Thu (Los Alamitos CA) tái bản 1989.
[8] Mai Kim Ngọc (1987) Tập Truyện Lỗ Tấn. Nhà xuất bản Văn Khoa (Calif.).
[9] Ðỗ Quang Vinh (2003) Bút Thuật của Nguyễn Du trong Ðoạn Trường Tân Thanh. Tác giả xuất bản. www. Geocities.com/doquangvinhvenguon.
[10] Trong phim mới Simone do Al Pacino thủ vai một nhà đạo diễn xuống dốc. Tình cờ một người bạn thân trước khi chết cho nhà đạo diễn một chương trình điện toán có thể quay phim một người tài tử, không có thật, sáng tạo bởi máy điện toán. Nữ tài tử ảo này mang tên Simone trở nên nổi tiếng khắp thế giới nhưng không ai có thể biết, gặp và thấy được, bởi Simone một người ảo chỉ xuất hiện được trên TiVi hay phim nhựa mà thôi. Cuối phim – Hollywood đưa ra một châm biếm mới về chính trị gia trong cuộc phỏng vấn trên TiVi với “minh tinh” Simone. Simone tiết lộ “nàng” đang chán ngán nghề diễn xuất và đang chuẩn bị đổi nghề. Nàng muốn nhảy ra . . . chính trường, và có thể có ngày sẽ ứng cử tổng thống.
[11] Ðiển hình là phim loạt: “Người hiệp sĩ đạo và đứa bé trong chiếc xe đẩy”


Thử đọc lại Kim Dung phần 3 – Tiếu Ngạo Giang Hồ

Thử đọc lại Kim Dung phần 3 – Tiếu Ngạo Giang Hồ


Nguyên Nguyên

Sau khi viết xong ‘Thử Đọc lại Kim Dung II: Nguồn Việt và Kim Dung’, người viết cảm thấy nhàm nên định gác bút, hay ít ra cũng tạm giả từ đề tài về truyện chưởng với Kim Dung. Nhiều bạn hữu –  đa số trên 30 năm không gặp lại nhau –  vội biên điện thư email đến tại hạ khuyến khích viết thêm về Kim Dung. Một ông bạn ở Montréal (Canada) đã gởi tặng lược đồ về Ngũ Hành, kèm trong bài này, và nhắn nhủ trong thư nếu viết về Kim Dung có viết đến hằng chục bài cũng không hết, nhất là những đề tài liên quan đến tình yêu, đến nhân sinh quan, đến những tình tiết éo le, v.v.  dại gì mà ngưng viết. Cứ viết tiếp đi, ít ra ngoài người kiểm duyệt trong nhà còn có 1 độc giả trung thành là ông bạn đó. Sự thật, thuở tuổi học trò tại hạ chỉ được đọc vài truyện chính yếu và nòng cốt của Kim Dung thôi. Tuyệt đối ngày trước chưa có cơ hội đọc Tuyết Sơn Phi Hồ, Tiếu Ngạo Giang Hồ và Lộc Đỉnh Ký. Tiếu Ngạo Giang Hồ ấn bản do Hàn Giang Nhạn dịch thuật, được dịp đọc lần đầu tiên cách đây chừng 5 năm, rồi sau đó xem luôn phim tập HongKong. Riêng Lộc Đỉnh Ký, mặc dù nghe giới giang hồ đồn rằng rất hay và được biết truyện hiện được đăng trên một vài mạng ở internet như come.to/KimDung hoặc come.to/lunxit nhưng tại hạ không đủ sức bỏ giờ này qua giờ kia để ngồi đọc truyện này trên khung hình computer, nên đành phải hẹn lần hẹn hồi. Âu đó cũng là một cái hẹn cho một dịp nào đó của tương lai.

Bẵng đi cũng gần 12 tháng. Gần đây một người bà con ở Việt Nam gởi người thân đem sang một bộ truyện Tiếu Ngạo Giang Hồ ấn bản mới nhất do Vũ Đức Sao Biển, Trần Hải Linh và Lê Thị Anh Đào chuyển ngữ, nhà xuất bản Văn Học, trọn bộ 8 quyển, phát hành vào năm 2001. Ấn bản mới này có sự đồng tình cho phép đàng hoàng của Kim Dung (tức Louis Cha hay Tra Lương Dung), và dựa vào bản nhuận sắc sau này của Kim Dung với nhiều sửa chữa và thay đổi.  Theo lời người bà con đó qua điện thư, Sàigòn lại đang trải qua cơn ghiền Kim Dung như 35 năm về trước và nhắn với tại hạ nên nhín chút ít thì giờ đọc qua cho biết.

Điểm đáng để ý trước tiên, trong vòng mười, hai mươi  năm trở lại đây, một loạt các dịch giả mới bắt đầu xuất hiện trên chốn giang hồ. Đa số các cao thủ dịch thuật này, thường xuất thân từ các trường đại học Văn Khoa ban Hán Văn, mang chủ yếu rõ rệt  xử dụng lối hành văn mới mẻ với nhiều tính chất Việt ngữ hơn. Một số kế nghiệp các bậc tiền bối như Nguyễn Chánh Sắt, Tô Chẩn, v.v.  thay phiên nhau dịch lại các pho truyện cổ điển như Hồng Lâu Mộng, Tam Quốc Chí, Thủy Hử, v.v. và một số khác theo chân những cao thủ năm xưa như Từ Khánh Phụng, Hàn Giang Nhạn, chuyển ngữ lại các truyện chưởng của Kim Dung. Trên các mạng internet và các báo ở hải ngoại có Nguyễn Duy Chính hiện đã chuyển ngữ Ỷ Thiên Đồ Long Ký, Thần Điêu Hiệp Lữ, Thiên Long Bát Bộ, v.v. và tại Việt Nam đứng đầu phải kể đến Vũ Đức Sao Biển người đã hết sức ca tụng Kim Dung qua 3 quyển mang tựa ‘ Kim Dung giữa đời Tôi ‘, xuất bản vào những năm cuối thập kỷ 90 vừa qua. Thế rồi vô hình chung tại hạ bắt đầu đọc lại Tiếu Ngạo Giang Hồ ấn bản mới nhất do ê-kíp Vũ Đức Sao Biển chuyển ngữ. Và trong lúc đọc lại Kim Dung kỳ này, tình cờ lại khám phá thêm một vài bí-kíp ngồ ngộ hay hay của Kim Dung nên đành phải phá lệ cố gắng viết thêm bài này.

Theo Vũ Đức Sao Biển, Tiếu Ngạo Giang Hồ là tác phẩm độc đáo nhất của Kim Dung bởi nó ‘lặng lẽ dắt người đọc đi vào cuộc hành trình tìm về những suối nguồn tư tưởng của phương Đông khi lên cao chín ngàn dặm, nương mây cỡi gió mà bay như Trang Tử đã viết trong Nam Hoa Kinh. Tiếu Ngạo Giang Hồ có cái u uẩn, trầm mặc đầy suy niệm của những ngôi chùa, những đạo quan, những rừng tùng bách, bóng trăng sáng trên Trường Giang, cơn mưa tuyết mùa Đông trên Ngọc Nữ phong. Xuyên suốt tác phẩm là tiếng đàn, tiếng sáo của khúc Tiếu Ngạo Giang Hồ, tiếng ca buồn của Mạc Đại tiên sinh trong khúc Tiêu Tương dạ vũ….
… Hai trong ba nguồn tư tưởng triết học lớn của phương Đông –  Phật giáo và Lão giáo  –  đã được Kim Dung hình tượng hoá và cụ thể hoá qua những hình tượng văn học. Phương Chứng đại sư của chùa Thiếu Lâm là con người tiêu biểu của tư duy Thiền Tông Phật giáo. Với một căn bản võ công trác tuyệt, một cái tâm từ bi, nhà sư gần như đã góp phần hoá giải những hận thù, chia rẽ, sân si. Định Nhàn, Định Dật của phái Hằng Sơn là một dạng Phật giáo khác, một Phật giáo nhập thể và nhập thế….
… Nhưng điểm đặc sắc nhất vẫn là tư duy Lão-Trang qua đường Độc Cô cửu kiếm. Phong Thanh Dương đã dạy cho Lệnh Hồ Xung dĩ vô chiêu thắng hữu chiêu….’

Tiếu Ngạo Giang Hồ (TNGH) là tên của một nhạc khúc viết cho đàn thất huyền cầm và sáo. Hai tác giả của bản nhạc khúc bất hủ này lại là hai cao thủ của hai kiếm phái đối nghịch với nhau: Lưu Chính Phong thuộc Ngũ Nhạc kiếm phái (một nghiệp đoàn liên minh năm kiếm phái: Hằng Sơn, Hoa Sơn, Tung Sơn, Thái Sơn và Hành Sơn) và Khúc Dương thuộc phe Ma Giáo. Việc kết giao bằng hữu giữa hai người bị cả hai phe lên án và cuối cùng Lưu và Khúc bị bức tử. Trước khi chết hai vị cao thủ này trân trọng gửi gấm quyển nhạc khúc này lại cho anh chàng lãng tử mê nhậu nhẹt Lệnh Hồ Xung, đệ tử thứ nhất của Nhạc Bất Quần chưởng môn phái Hoa Sơn. Truyện TNGH bắt đầu với việc Nhạc Bất Quần sai con gái mình Nhạc Linh San và đệ tử thứ hai Lao Đức Nặc đến miền Phúc Châu tỉnh Phúc Kiến để dò la tin tức của phái Thanh Thành do Dư Thanh Hải lãnh đạo xuống đánh phá Phước Oai Tiêu Cục để chiếm quyển kiếm pháp độc nhất vô nhị mang tên Tịch Tà Kiếm Phổ. Phe Hoa Sơn đến trễ nên bọn Thanh Thành đã làm tiêu tan Phước Oai Tiêu Cục. Điểm kinh ngạc đầu tiên, Lâm Chấn Nam hậu bối của chủ nhân Tịch Tà kiếm phổ lại không thông thạo mấy về Tịch Tà kiếm nên ông và phu nhân bị thảm sát bởi phe Thanh Thành. Nhưng chưa phe nào lấy được Tịch Tà kiếm phổ bởi nó được dấu kín ở một ngôi nhà tự của họ Lâm ở Phúc Kiến. Trước khi chết Lâm Chấn Nam trối trăn với chàng lãng tử nghĩa hiệp Lệnh Hồ Xung về chỗ cất dấu quyển kiếm phổ đó và nhờ Lệnh Hồ Xung nói lại với con trai Lâm Bình Chi rằng nên lấy giữ quyển kiếm phổ đó nhưng đừng bao giờ luyện tập bởi nó rất nguy hiểm. Trước đó Lệnh Hồ Xung đã bị thương nặng sau khi liều thân đánh với một tên dâm tặc Điền Bá Quang để cứu ni cô Nghi Lâm thuộc kiếm phái Hằng Sơn. Nhạc Bất Quần (biệt hiệu Quân Tử Kiếm) gặp lại đệ tử Lệnh Hồ Xung rồi thu nhận Lâm Bình Chi làm đệ tử.

Trở về núi Hoa Sơn, Nhạc Bất Quần bắt lỗi Lệnh Hồ Xung đã vi phạm một vài giới cấm của phái võ của mình –  trong đó có việc dẫn ni cô Nghi Lâm vào động làng chơi ôm ấp nàng Nghi Lâm để trốn tránh Điền Bá Quang và các phe phái khác đang truy tầm –  nên phạt chàng lên núi gần đó quay mặt vào vách thạch động để sám hối trong vòng 1 năm. Lệnh Hồ Xung tuân lệnh lên núi, và ngày ngày có Nhạc Linh San hoặc một đệ tử khác mang giỏ chứa đồ ăn đến cho. Lệnh Hồ Xung có cảm tình nồng thắm với Nhạc Linh San và ngược lại Linh San cũng thương Hồ Xung. Tuy nhiên Linh San có một đàn em mới thường tập kiếm với nhau là Lâm Bình Chi nên càng ngày càng ít mang đồ ăn lên cho Lệnh Hồ Xung. Ở trên núi Lệnh Hồ Xung tình cờ khám phá ra một thạch động hoang phế lâu năm trên vách có ghi khắc tất cả những loại kiếm pháp của năm kiếm phái thuộc hội đoàn Ngũ Nhạc, và những chiêu hoá giải. Bởi nơi đây đã từng chứng kiến một trận đấu sát phạt kinh hồn giữa các cao thủ của năm kiếm phái đó với những kiếm khách thuộc Ma Giáo. Cũng trong thời gian ở trên núi Lệnh Hồ Xung may mắn gặp được lão tiền bối Phong Thanh Dương tuyệt tích giang hồ đã nhiều năm. Phong Thanh Dương chính là sư thúc (vai chú) của Nhạc Bất Quần, thầy của Lệnh Hồ Xung. Năm xưa phái Hoa Sơn đã bị phân hoá do sự tranh chấp giữa hai phe Kiếm Tông và Khí Tông. Nhạc Bất Quần thuộc Khí tông và sư thúc Phong Thanh Dương thuộc Kiếm tông. Cảm mến Lệnh Hồ Xung, Phong Thanh Dương đem hết Độc Cô cửu kiếm ra truyền lại cho chàng. Độc Cô cửu kiếm là tác phẩm của người kiếm khách vô địch thời xa xưa không bao giờ bị bại, mang biệt danh Độc Cô Cầu Bại.

Ở trên núi được vài tháng Lệnh Hồ Xung phải trở về giảng đường để hỗ trợ sư phụ Bất Quần do ở lệnh từ trung ương đòi cách chức chưởng môn Nhạc Bất Quần. Trung ương ở đây là chưởng môn phái Tung Sơn Tả Lãnh Thiền –  ‘chủ tịch’ của hội đoàn Ngũ Nhạc Kiếm Phái –  một người có nhiều tham vọng triệt tiêu hết bốn phe kiếm phái kia  và thống nhất tất cả lại thành một phái duy nhất để ông làm Chưởng Môn. Nhạc Bất Quần thấy tình hình không ổn nên dẫn hết đồ đệ đi lưu vong, dọ thám tình hình, và nhất là lên Tung Sơn để hỏi Tả Lãnh Thiền cho ra lẽ. Dọc đường Lệnh Hồ Xung bị nội thương rất nặng không còn sống sót bao lâu. Tình cờ chàng gặp một thiếu nữ diễm kiều Nhậm Doanh Doanh con gái  giáo chủ bị đảo chánh của Ma giáo Nhậm Ngã Hành. Lúc gặp Hồ Xung, Doanh Doanh đang lén bỏ Ma Giáo đi tham quan giang hồ cho vui nên hoá trang thành một lão bà. Doanh Doanh lại đàn rất hay. Tình sư đệ giữa Hồ Xung và Bất Quần trong khi đó căng thẳng trầm trọng bởi Bất Quần nghi Hồ Xung học thêm kiếm pháp ở đâu đó và cũng đã ăn cắp quyển sách luyện nội công bí kíp của ông. Thành ra rốt cuộc Hồ Xung bị lạc ra khỏi phái đoàn của Nhạc Bất Quần. Sau đó Hồ Xung gặp lại Doanh Doanh. Hai người lưu lạc với nhau rồi Hồ Xung bệnh nặng ngã ra bất tỉnh. Doanh Doanh cõng Hồ Xung lên núi Thiếu Lâm giao mạng mình cho Phương Chứng đại sư giam giữ. Để đổi lại, Phương Chứng sẽ dùng Dịch Cân Kinh của Thiếu Lâm trị bệnh cho Hồ Xung. Khi tỉnh dậy Hồ Xung không biết việc Doanh Doanh trao đổi mạng cứu mình nên từ  chối sự giúp đỡ của Phương Chứng viện lẽ mình là cao đồ của phái Hoa Sơn nên thà chết chứ không thể trở thành đệ tử Thiếu Lâm nhận truyền thụ Dịch Cân Kinh. Lệnh Hồ Xung lại khảng khái ra đi và dọc đường  dùng Độc Cô cửu kiếm cứu được một trong những nhà lãnh đạo thuộc phe bị đảo chánh của Ma Giáo Hướng Vân Thiên. Hướng Vân Thiên biết Hồ Xung là tay kiếm khách vô địch mới gài cho Hồ Xung đến Hàng Châu giải cứu cho giáo chủ bị đảo chánh Nhậm Ngã Hành bị giam trong lòng đất dưới Tây Hồ. Trong lúc cứu Nhậm Ngã Hành, Lệnh Hồ Xung vô tình học được một phần Hấp Tinh đại pháp của Nhậm Ngã Hành nên tạm thời khỏi bệnh và thu hồi được nội lực. Nhậm Ngã Hành sau khi thoát nạn ngỏ ý mời Lệnh Hồ Xung gia nhập Ma giáo và nếu chàng ưng thuận lão sẽ chỉ hết Hấp Tinh đại pháp, chứ nếu không phần chàng học được sẽ gây biến chứng tai hại về sau. Lệnh Hồ Xung từ chối bỏ đi rồi sau lại thống lãnh quần hùng lên Thiếu Lâm tự cứu giải Nhậm Doanh Doanh. Trong thời gian đó phái Hằng Sơn của những nữ sư Định Dật, Định Nhàn bị phái Tung Sơn triệt hạ mãnh liệt –  và cuối cùng Hồ Xung khám phá ra hai vị sư phụ này bị một cao thủ nào đó đánh cho tử vong trong cách rất kỳ bí. Trước khi chết hai vị ni cô này yêu cầu Lệnh Hồ Xung làm chưởng môn phái Hằng Sơn và tìm cách trả thù cho họ.

Hồ Xung không biết rằng chính sư phụ Nhạc Bất Quần đã dùng những loại võ công lão học được từ Tịch Tà kiếm phổ của dòng họ Lâm ở Phúc Kiến để giết đi hai ni cô của phái Hằng Sơn, tỉa bớt một kiếm phái lợi hại. Chính Bất Quần đã ăn cắp được Tịch Tà kiếm phổ nhưng mọi người, nhất là Lâm Bình Chi, đều nghi ngờ Lệnh Hồ Xung đã giữ quyển Tịch Tà kiếm phổ. Tịch Tà kiếm có thể nói là một loại kiếm pháp thần sầu quỷ khốc nhất nhì thiên hạ nhưng người xử dụng nó phải tự thiến đi bộ phận sinh dục của mình để dần dà, theo Kim Dung, trở thành ái nam ái nữ (gay hoặc transvestite). Một bản khác của Tịch Tà kiếm phổ đã lọt vào tay Đông Phương Bất Bại thường được xem đệ nhất cao thủ, người đã đảo chánh lật đổ Nhậm Ngã Hành trước đây 10 năm để lên ngôi giáo chủ Ma Giáo. Lâm Bình Chi về sau cũng ăn cắp được bản chính của Tịch Tà từ Nhạc Bất Quần và cũng phải tự thiến mình để luyện tập hầu trả được mối thù cho song thân. Khác với Lệnh Hồ Xung, Lâm Bình Chi sớm thấy được bộ mặt ngụy quân tử của Nhạc Bất Quần nên sợ lão biết mình cũng thiến như lão, phải giả vờ mình còn gin và cưới Nhạc Linh San để che mắt thiên hạ. Bất Quần trong khi đó chép ra một bản giả bày mưu tìm cách cho lọt vào tay lãnh tụ Tung Sơn Tả Lãnh Thiền để lão này học sai đường bước của kiếm pháp, nhằm lọt vào tròng của Bất Quần.

Lệnh Hồ Xung gặp lại Doanh Doanh rồi cùng Nhậm Ngã Hành, Hướng Vân Thiên lên bản doanh của Ma Giáo hợp sức lại giết được giáo chủ Pê Đê  Đông Phương Bất Bại, người có võ nghệ thần sầu quỷ khốc,  và phục hồi địa vị giáo chủ Ma giáo cho Nhậm Ngã Hành. Nhậm Ngã Hành lại mời Lệnh Hồ Xung gia nhập và làm phó thủ lãnh nhưng Lệnh lại khước từ, trở về Hằng Sơn. Sau đó không lâu Tả Lãnh Thiền tụ tập quần hùng tại Tung Sơn với đề nghị sát nhập hết năm kiếm phái của Ngũ Nhạc lại làm một và tôn lão làm chưởng môn. Nhạc Bất Quần gài được cái màn đấu kiếm với Tả Lãnh Thiền để tranh chức minh chủ của phái Ngũ Nhạc thống nhất. Tả Lãnh Thiền mặc dù kiếm pháp siêu phàm nhưng bị mắc hởm Nhạc Bất Quần đem Tịch Tà giả ra xử dụng nên cuối cùng bị Nhạc Bất Quần dùng Tịch Tà thứ thiệt và kim châm đâm mù hai con mắt. Nhạc Bất Quần lên ngôi Chưởng Môn Ngũ Nhạc thống nhất.

Tiếp đó Lâm Bình Chi tung ra Tịch Tà kiếm pháp gia truyền của dòng họ mình giết chết kẻ thù Dư Thanh Hải nhưng bị tai nạn mù hai con mắt. Sợ Nhạc Bất Quần phát hiện rằng mình cũng bị thiến như ai cho mục đích cao cả của Tịch Tà kiếm pháp, Bình Chi giết vợ Linh San trong vòng tay đầy nước mắt của Lệnh Hồ Xung rồi chạy sang hợp tác với Tả Lãnh Thiền. Sau đó Nhạc Bất Quần đụng độ với Lệnh Hồ Xung nhưng Kim Dung cho Tịch Tà Kiếm pháp vẫn phải thua Độc Cô cửu kiếm, và Bất Quần bị đại bại với đệ tử cũ của mình. Bình Chi cấu kết với Lãnh Thiền, hai hiệp sĩ mù bất đắc dĩ,  gài Bất Quần và Hồ Xung vào một động tối đen để hạ độc thủ nhưng Lãnh Thiền bị Hồ Xung giết và Bình Chi bị chặt tay chặt chân. Còn Bất Quần trong lúc sơ ý bị ni cô Nghi Lâm vô tình đâm vào lưng chết, vô hình chung trả thù được cho hai vị sư phụ Định Dật, Định Nhàn của phái Hằng Sơn.

Thu phục được ngôi vị giáo chủ Ma giáo, Nhậm Ngã Hành đe doạ sẽ thôn tính luôn Ngũ Nhạc thống nhất rồi tới Thiếu Lâm và Võ Đang. Trong lúc quần hùng chuẩn bị đối phó, Phương Chứng lên Hằng Sơn truyền Dịch Cân Kinh chữa bệnh hoàn tòan cho Lệnh Hồ Xung nói dối rằng cách này do Phong Thanh Dương chỉ cho đại sư nhờ đại sư truyền lại cho Hồ Xung. Cũng trong lúc căng thẳng đó, Nhậm Ngã Hành bị xuất huyết não cười ha hả rồi chết. Doanh Doanh để tang cha 3 năm rồi tái hợp với Hồ Xung dạy tiếp cho Hồ Xung cách thổi sáo để rồi cả hai cùng cỡi ngựa về phiá mặt trời lặn, kẻ khảy đàn người thổi sáo, hợp tấu nhạc khúc Tiếu Ngạo Giang Hồ.

Phải nhìn nhận Tiếu Ngạo Giang Hồ có nhiều tính tiết rất éo le, ly kỳ và sôi động. Cũng hơi khác thường so với nhiều truyện khác của Kim Dung, TNGH gần như hoàn toàn không có cấu trúc dùng bối cảnh lịch sử  theo kiểu chống Mông Cổ như Anh Hùng Xạ Điêu, Thần Điêu Hiệp Lữ, Ỷ Thiên Đồ Long Ký, v.v.  Trái lại, TNGH đã trở về với đường hướng của các tiểu thuyết kiếm hiệp thời tiền-KimDung (như Lã Mai Nương, Ngoạ Hổ Tàng Long) bằng cách đặt trọng tâm câu chuyện chung quanh hoạt động của các tiêu cục tức security guards nếu gọi nôm na theo kiểu bây giờ. Đó là câu chuyện của Tịch Tà Kiếm phổ, ngón kiếm pháp gia truyền dòng họ Lâm chủ nhân mấy đời của Phước Oai Tiêu Cục ở Phúc Kiến. Đề tài dựa vào sinh hoạt của các tiêu cục là bối cảnh chính yếu của trên khoảng 60% các truyện kiếm hiệp Tàu hoặc các phim kung-fu của Hongkong. Bối cảnh chính thứ hai để dựng nên truyện Tàu thường dựa vào tính cách dã sử, bài Mông chống Thanh, và liên quan ít nhiều đến Thiếu Lâm Tự, theo kiểu Càn Long hạ Giang Nam, hoặc Thiếu Lâm Trường Hận, . . .. Ta để ý thoạt đầu Kim Dung cũng tính tạo cho mình một đường hướng riêng trong Võ Lâm Ngũ Bá và Xạ Điêu Anh Hùng truyện, bằng cách không đá động gì đến Thiếu Lâm Tự. Kim Dung đã tiện tay tạo ra năm người có võ công tuyệt trác: Vương Trùng Dương, Hồng Thất Công, Âu Dương Phong, Đoàn Nam Đế và Hoàng Dược Sư. Năm người này hoàn toàn có những ngón võ độc lập, và tiêu biểu cho thế xung khắc của thuyết ngũ hành. Người này hạ được người kia, luân chuyển nhau trong một vòng tròn ngũ hành, để rồi rốt cuộc không ai có thể trở nên vô địch hết. Sang đến Ỷ Thiên Đồ Long ký, vì phải có chuyện quận chúa Mông Cổ Triệu Minh phải lòng giáo chủ Trương Vô Kỵ, Kim Dung bắt buộc phải gài Thiếu Lâm Tự, Võ Đang Tự trở vào câu chuyện mới ra vẻ lịch sử. Nào là hai phái Nga Mi và Võ Đang cũng có cội nguồn với Thiếu Lâm qua việc hai người sáng lập Quách Tường và Trương Tam Phong trong lúc chạy trốn sự tập nã của phe Thiếu Lâm đã lắng tai nghe trộm Cửu Dương Chân Kinh do nhà sư Giác Viễn trước khi lâm tịch đọc lại. Kết cuộc câu chuyện cũng xảy ra tại chùa Thiếu Lâm trong trận đấu kinh hồn giữa Trương Vô Kỵ cùng người tình năm xưa Chu Chỉ Nhược với ba vị Hoà Thượng của Chùa. Trở lại với chùa Thiếu Lâm, rồi trở lại với bối cảnh Tiêu Cục trong các truyện về sau, như trong TNGH, Kim Dung đã mặc nhiên thừa nhận rằng chính ông cũng không thể vượt ra khỏi khuôn khổ  một  truyền thống lâu đời của  loại tiểu thuyết Tàu đã mọc rễ lâu năm trong tâm thức người đọc. Theo truyền thống đó, các hoạt động tranh hùng xưng bá trong giới kiếm hiệp thường xảy ra chung quanh hành trình của các Tiêu Cục với dịch vụ chính yếu bảo đảm an ninh của việc chuyên chở hàng hoá từ miền này đến miền kia. Nói rộng hơn một chút, một nhà văn dù có tài năng siêu việt cách mấy đi nữa, rất khó tạo dựng nên một truyền thống mới hay biến đổi một cái gì đã trở thành truyền thống lâu đời.

So sánh với các truyện chưởng khác của Kim Dung, TNGH cũng có vẻ mang nhiều chất bạo động chém giết, và ‘violent’ hơn. Điển hình trong Anh Hùng Xạ Điêu ta thấy chỉ có 1 cái chết trong lúc đầu câu chuyện: cái chết của thân phụ của Quách Tỉnh bị bọn Hoàng Nhan Liệt thảm hại. Đến giữa chuyện cái chết của Trần Huyền Phong chồng của Mai Siêu Phong, rồi gần cuối truyện cái chết của 6 vị sư phụ của Quach Tỉnh thuộc nhóm Giang Nam thất quái do Âu Dương Phong gây ra nhưng cài cho mọi người tưởng lầm là do Hoàng Dược Sư, nhạc phụ tương lai của Quách Tỉnh. Nhưng cái chết của 6 vị sư phụ này không có mô tả mà chỉ được Quách Tỉnh phát hiện sau khi trở lại Đào Hoa đảo. Tuyệt nhiên nhân vật chính Quách Tỉnh, cũng như Trương Vô Kỵ trong Cô Gái Đồ Long,  không thấy chém giết ai hết.  TNGH lại khác, từ đầu đến cuối truyện độc giả thấy chém giết tưng bừng. Bắt đầu câu chuyện ta thấy Lâm Bình Chi đâm chết con trai cưng của Dư Thanh Hải chỉ vì người này chọc ghẹo Nhạc Linh San đang giả làm gái bán rượu. Kế đó bọn Dư Thanh Hải kéo xuống tàn sát cả Phước Oai Tiêu Cục của gia đình Lâm Chấn Nam (cha của Lâm Bình Chi). Xong rồi tại lễ từ giả giang hồ của Lüu Chính Phong, toàn thể gia đình này bị bọn Phí Bân thuộc phe Tung Sơn đến giết sạch trước sự chứng kiến của quần hùng. Chỉ vì Lưu Chính Phong kết bạn tâm giao tri kỷ với Khúc Dương thuộc phe Ma giáo bởi hai người say mê hoà tấu bản Tiếu Ngạo Giang Hồ với nhau. Màn bạo động nhất của TNGH có lẽ chuyện 6 anh em Đào Cốc Lục Tiên võ nghệ cao siêu chuyên môn nắm hai tay hai chân bất kỳ đối thủ nào và xé xác ra làm 4 mảnh. Ngay cả bà vợ của Nhạc Bất Quần cũng kinh hoàng vì suýt nữa cũng bị xé xác. Lệnh Hồ Xung mặc dù  là người hào hiệp đầy thiện tính cũng dùng mưu đâm chết một đệ tử của phái Thanh Thành ở đầu câu chuyện. Xong rồi anh ta đâm mù mắt chừng mười mấy người thuộc phái Tung Sơn. Chặt tay chặt chân Lâm Bình Chi chỉ do ở Linh San đã trối trăn xin đừng giết Bình Chi. Đâm luôn Tả Lãnh Thiền, mặc dù Lãnh Thiền đã bị mù, v.v. . Người yêu sau cùng của Hồ Xung là Doanh Doanh cũng vậy. Cô này lúc chưa hoàn thiện ai chọc giận cô ấy thì bị uống thuốc độc mỗi năm đúng ngày đúng tháng phải đến lạy lục cô ấy mới được thuốc giải. Nếu cô ta tức giận hơn nữa,  cô ra lệnh bảo người chọc cô phải tự xẻo tai xẻo mũi, người đó cũng phải làm. Khác hẵn với Hoàng Dung trong Anh Hùng Xạ Điêu hay ngay cả Triệu Minh quận chúa hoặc Chu Chỉ Nhược trong Cô Gái Đồ Long. Ta để ý một điểm khác biệt giữa Lệnh Hồ Xung với các nhân vật trước của Kim Dung như Quách Tỉnh, Trương Vô Kỵ, hoặc Dương Qua. Lệnh Hồ Xung có vẻ khôn ngoan lém lỉnh hơn mấy nhân vật kia nhiều. Tiếng Mỹ gọi Hồ Xung street-wise, tức khôn ở ngoài đường ngoài chợ, hay nôm na theo tiếng Việt, tiến sĩ chợ trời. Có phải vì nhân vật Hồ Xung có nhiều bản lĩnh chợ trời nên Kim Dung cho anh ta xem thường việc chém giết người khác hay chăng? Hoặc giả Kim Dung bắt đầu chạy theo mốt thời đại của phim ảnh Âu Mỹ lúc đó bắt đầu chuyển sang loại bạo động? Tuy nhiên những cảnh bạo động đó Kim Dung tả qua thật nhanh dễ làm người đọc không để ý đến.

một nhà văn dù có tài năng siêu việt cách mấy đi nữa, rất khó tạo dựng nên một truyền thống mới hay biến đổi một cái gì đã trở thành truyền thống lâu đời.

Đối với những người ghiền xem xinê thời thập niên 50, TNGH đã cho thấy ít nhiều ảnh hưởng của Alfred Hitchcock, ông vua làm phim kinh dị còn giữ nhiều dấu ấn trong phim ảnh cho đến ngày hôm nay. Một trong những đặc điểm chính của phim Hitchcock là cấu tạo một người dân bình thường rồi lôi kéo vai chính đó vào một vụ án mạng hay xì-căn-đan rùng rợn, đổ vào nhân vật đó một sự tình nghi của nhà chức trách. Từ đầu cho đến cuối phim do đó nhân vật chính sẽ bị săn đuổi chạy trối chết bởi hai phe, chức trách cũng như tội phạm, để rồi cuối phim nỗi hàm oan sẽ được giải toả đem lại cho người xem một anti-climax, một kết cuộc có hậu, một happy ending. Trong phim The Wrong Man (Bắt lầm Thủ phạm), Henry Fonda thủ vai một nhạc sĩ bị bắt vì tình nghi đã ăn cướp hãng bảo hiểm chỉ vì dáng dấp ông ta giống chính thủ phạm thực thụ. Ông ta đi tìm các chứng nhân, nhưng đa số các chứng nhân hoặc đã chết đi hoặc không nhớ họ đã làm gì vào hôm xảy ra ăn cướp. Nổi tiếng nhất là hai phim The Man who knew too much (Người biết quá nhiều) với  James Stewart và Doris Day, và phim North by NorthWest (Hướng Bắc và Tây-Bắc) với Cary Grant và Eva Mary Saint. (Doris Day có hát bản nhạc nổi tiếng Que Sera Sera trong phim The Man who knew too much). Trong hai phim này các nhân vật chính bị lôi kéo vào những vụ âm mưu lớn, và bị hàm oan là biết rõ các âm mưu đó, hoặc bị báo chí chụp hình (oan và sai) đã đâm một viên chức của Liên Hiệp Quốc (North by NorthWest). Những nhân vật chính này tuy ở thế yếu của một người dân bình thường –  nhưng vì bị dồn vào một thế phải chọn lựa những gì phải và những gì trái, chính họ cũng không ngờ rằng họ đã huy động được sức mạnh tiềm tàng trong con người để vượt ra khỏi cảnh oan kiên và cả thắng bọn ma đầu tội phạm. Trong TNGH cũng vậy, từ đầu tới đuôi Kim Dung đã gán hoạ vào đầu Lệnh Hồ Xung với ba chữ oan, oan, oan. Đầu tiên Kim Dung cho Hồ Xung bị kết tội trước quần hùng là đã toa rập với dâm tặc Điền Bá Quang lo nhậu nhẹt và hãm hiếp ni cô Nghi Lâm của phái Hằng Sơn. Cái oan đầu tiên này Kim Dung dùng đến cả quyển 1 mới giải toả được. Sau  khi Hồ Xung học được Độc Cô Kiếm pháp vì không tiện nói ra với sư phụ Nhạc Bất Quần nên bị sư phụ và nhiều người khác nghi ngờ rằng đã chôm được Tịch Tà kiếm phổ hoặc học được đâu đó của quân tà ma ngoại đạo. Trong lúc nằm dưỡng bệnh, Nhạc Linh San đem quyển luyện nội công của cha đến cho Hồ Xung mượn để chữa bệnh. Hồ Xung chưa kịp đọc, quyển sách đã bị mất và một người sư đệ ngồi canh Hồ Xung bị giết chết. Ai cũng nghi (lầm) Hồ Xung chiếm quyển sách đó và thủ tiêu vị sư đệ để ém nhẹm. Nhạc Linh San do nỗi nghi ngờ và hiểu lầm này đã dần dần xa rời Hồ Xung và ngã về Lâm Bình Chi. Chính nỗi hàm oan này đã đào một cái hố chia rẽ tình thầy trò giữa Bất Quần và Hồ Xung cho đến mãi về sau. Kim Dung đã áp dụng kỹ thuật kinh dị thriller à la Hitchcock cho đến đoạn gần cuối truyện. Lúc đó trước khi Lâm Bình Chi giết Nhạc Linh San, Bình Chi mới bật mí về quyển Tịch Tà Kiếm phổ, và lột mặt nạ quân tử giả dối của Nhạc Bất Quần trước mặt Linh San. Doanh Doanh núp đâu gần đó lắng tai nghe hết.

Một ảnh hưởng khác của Hitchcock có thể tìm thấy trong TNGH của Kim Dung ở chỗ lúc Lâm Bình Chi trở về nhà, sau khi đâm chết con trai của Dư Thanh Hải ở tửu quán  vào lúc đầu câu chuyện.  Lâm Bình Chi thuật lại tự sự với Cha (Lâm Chấn Nam) rồi cả nhà tiêu cục Phước Oai mới chạy ngựa trở lại cái tửu quán đó để xem xét tình hình. Đến nơi không thấy tửu quán đâu hết, và ông chủ quán cùng cô con gái  hầu bàn (do Nhạc Linh San trá hình) cũng vắng lặng tăm hơi. Y hệt như cảnh Cary Grant trong phim North by NorthWest cùng với công an trở lại lâu đài y bị bắt tra tấn hôm trước chỉ thấy đó là một toà nhà bình thường không có kẻ gian ác nào ở đó hết. Cũng y hệt như trong phim James Bond MOONRAKER  –  một loại phim chịu ảnh hưởng rất nhiều của Hitchcock –  lúc điệp viên 007 cùng với các xếp và cộng sự trở lại phòng thí nghiệm của bọn gian sau một trận đấm đá, chỉ thấy đó là một biệt thự của dân giàu sang ở thành phố Venice, chứ không phải một phòng thí nghiệm khoa học nào hết.

Một kỹ thuật dựng truyện khác của Kim Dung cũng có lẽ chịu ảnh hưởng phim đánh gươm của Hollywood vào khoảng năm 1952, phim Scaramouche do Stewart Granger, Janet Leigh và Mel Ferrer thủ vai chính, dựa theo một tiểu thuyết kiếm hiệp dã sử của Rafael Sabatini, một nhà văn thường được xem ngang hàng với Alexandre Dumas, tác giả của Ba Chàng Ngự Lâm Pháo Thủ (The Three Musketeers). Scaramouche dựng bối cảnh vào khoảng vài năm trước cách mạng Pháp 1789. Anh chàng lãng tử André Moreau vì phải trốn tránh kẻ thù Hầu Tước De Mayne người đã giết anh bạn thân mang giòng máu cách mạng Phillippe, nên phải gia nhập một gánh xiệc lưu động, đóng vai kép hài mang mặt nạ tên Scaramouche. Ôm giấc mộng trả thù cho bạn, André tình cờ theo học đánh gươm với thầy dạy kiếm thuật cho hầu tước De Mayne. Một ngày nọ De Mayne phát hiện được, và đánh cho André tơi bời te tua qua một trận đấu gươm tại võ sảnh của thầy. Thấy dạy gươm cho André không được nữa vị tôn sư của André và De Mayne mới chỉ cho André địa chỉ của Thầy mình hiện còn dạy đánh gươm ở Paris. André mừng quá kêu đoàn xiệc lên Paris lưu diễn và theo học kiếm pháp với Thầy của Thầy mình, và về sau trong một trận đấu gươm tại hí viện kéo dài chừng 15 phút, một trận đấu gươm lâu nhất trên màn bạc, Scaramouche (tức André) đã đánh bại được De Mayne.

Kim Dung trong lúc viết TNGH có lẽ đã chịu ảnh hưởng ít nhiều của Hitchcock và thêm vào đó, của Sabatini trong Scaramouche. Ở chỗ nào? Ở chỗ lần đầu tiên trong truyện kiếm hiệp Tàu người ta thấy một điểm ngộ nghĩnh nhưng có vẻ mới lạ và chắc ăn trong việc Lệnh Hồ Xung được bậc Thầy của Thầy mình truyền dạy kiếm pháp cho. Độc giả dù ít đọc truyện Tàu cách mấy đi nữa khi thấy một anh chàng lãng tử được sư thúc của Thầy mình truyền dạy đều có thể đoán ngay thế nào anh chàng này về sau có đấu với Thầy có thể cho Thầy mình đo ván là cái chắc. Cũng như khi xem phim Scaramouche tới đoạn ông thầy của Scaramouche chỉ dẫn cho Scaramouche lên Paris để học tiếp đường gươm nét kiếm tuyệt chiêu của Thầy mình, người xem có thể đóan, trong thích thú, vào cuối phim Scaramouche sẽ đánh bại De Mayne, học trò của học trò của Thầy mình. Phong Thanh Dương một bậc tôn sư hàng đầu về kiếm pháp, vai em của Thầy của Nhạc Bất Quần, Thầy của Lệnh Hồ Xung, đã đem Độc Cô Cửu Kiếm truyền lại cho Lệnh Hồ Xung. Tuy nhiên, điểm này có hơi phá đổ tôn ti trật tự của hệ thống quân sư phụ ngày trước. Để hoá giải điểm đảo lộn trật tự lổng chổng này,  Kim Dung đã lồng vào đó một cái thế chẳng đặng đừng cho Lệnh Hồ Xung: Kim Dung cho dâm tặc Điền Bá Quang lên núi thách thức đấu kiếm với Lệnh Hồ Xung. Nếu thua Lệnh Hồ Xung phải bỏ việc chịu hình phạt của Thầy, đi theo hắn xuống núi. Trận đấu kiếm xảy ra nhiều ngày. Mỗi đêm Hồ Xung trở vào thạch động học tiếp với Thái Sư Thúc (vai chú của thầy mình) Phong Thanh Dương. Đến lúc học xong Độc Cô Cửu kiếm rồi,  Lệnh Hồ Xung đánh cho Điền Bá Quang thua xiểng liểng và chạy dài xuống núi.

Tiếu Ngạo Giang Hồ còn cho thấy tầm nhìn rất xa của Kim Dung, ngay từ 1963 năm xuất hiện TNGH. Đó là những nhận xét về giới Gay (homosexual, đồng tính luyến ái) hoặc gọi nôm na Pê Đê, bắt nguồn từ tiếng Tây pédéraste, hay những nhận xét về ảo tưởng quyền bính hoặc  thần thánh hoá lãnh tụ. Một trong những cái đinh của TNGH là Tịch Tà Kiếm Phổ của dòng họ Lâm –  chủ nhân Phước Oai Tiêu Cục ở Phúc Kiến. Tịch Tà Kiếm Phổ đầu tiên do một hoạn quan (thái giám) sáng chế ra. Sau đó một ông sư hoàn tục tên Lâm Viễn Đồ –  tức tổ tiên của Lâm Bình Chi –  có duyên được làm sở hữu chủ quyển bí kíp này. Bởi kiếm phổ do một thái giám phát minh ra, điều kiện cần và đủ để luyện tập nó là người luyện tập phải tự cắt mất thằng nhỏ của mình đi. Càng trở thành bán nam bán nữ hay thiên nhiều về nữ tính càng tốt. Lâm Viễn Đồ muốn cho chắc ăn nên đã chờ đến khi có vợ con đàng hoàng rồi, mới tiến hành luyện tập nó! Sau này giáo chủ Ma giáo Đông Phương Bất Bại trở nên đệ nhất cao thủ cũng nhờ ở nó, nhưng chỉ sau khi lão ta gần như trở thành một phụ nữ thực thụ, e ấp một đào nhí phái nam. Rồi Nhạc Bất Quần đến Lâm Bình Chi đều bắt  đầu rụng râu, xức dầu thơm, trang sức thật đẹp sau khi tập luyện Tịch Tà kiếm đến độ thành thục.  Phải nhìn nhận Kim Dung vào ở đầu thập kỷ 60 đã có những nhận xét cực kỳ sắc bén về việc phối hợp Tịch Tà kiếm pháp với giới Pê Đê. Vào thời đó tại hầu hết các quốc gia trên thế giới tình huống PêĐê hãy còn nằm ngoài pháp luật. Tìm hiểu những cá tính của người gay phải nói là một việc hết sức khó khăn. Thế mà Kim Dung đã làm được và lồng vào một thế kiếm Tịch Tà vô địch thiên hạ. Tịch Tà kiếm là gì nếu không là một lối xử dụng chiêu kiếm hoặc kiếm khí cực kỳ nhanh lẹ cần vào đôi tay khéo léo nhanh nhẹn của người phụ nữ cộng với một nội lực thâm hậu của người đàn ông. Ta hãy trích một đoạn nhỏ nói về thế đánh của Đông Phương Bất Bại với Lệnh Hồ Xung:

[Lệnh Hồ Xung phóng] chiêu kiếm này cực nhanh, nếu Đông Phương Bất Bại không thu người lại thì lập tức bị mũi kiếm đâm xuyên qua yết hầu ngay. Nhưng ngay lúc này, Lệnh Hồ Xung cảm thấy má bên trái hơi đau, hắn hướng trường kiếm sang bên trái.

Thì ra Đông Phương Bất Bại ra tay quá nhanh, thật không thể lường được. Trong lúc nhoáng như tia chớp, lão đã dùng kim đâm lên má Lệnh Hồ Xung. May mà chiêu kiếm này của Lệnh Hồ Xung phóng rất nhanh, tấn công khiến địch nhân không thể tự cứu.
……. Lão liền vung kim trái phải trên dưới gạt hết bốn chiêu kiếm của Lệnh Hồ Xung. Lệnh Hồ Xung chăm chú nhìn lão ra tay. Lão dùng kim thêu gạt bốn chiêu , toàn thân không có chỗ hở.

Ngày nay cộng đồng người gay sống yên ổn hoà mình với cộng đồng người straight. Những ai có quen biết hoặc bạn bè với những cặp gay đều để ý rằng trong bất cứ cặp nào cũng có một người thủ vai người nam (mang nhiều nam tính hơn người kia), và một người thủ vai nữ, chuyên lo việc thêu thùa bếp núc trong nhà. Người thủ vai nữ rất khéo léo, tay chân nhanh nhẹn  không thua gì người đàn bà nhưng thông thường hãy còn giữ sức mạnh (nội lực theo Kim Dung) của đàn ông. Kim Dung vào năm 1963 đã tạo dựng Tịch Tà kiếm pháp và chỉ dành riêng kiếm pháp đó, thật chính xác, cho loại người này. Thật tuyệt chiêu.

Cũng ở cái thời 60 đó Kim Dung đã dựng nên chuyện Lâm Bình Chi phải làm đám cưới giả với Nhạc Linh San để che mắt thiên hạ, nhất là ngụy quân tử Nhạc Bất Quần,  việc mình đã trở thành gay bất đắc dĩ. Mãi cho đến khoảng cuối thập niên 1980 nhân cái chết của tài tử Rock Hudson báo chí mới bắt đầu xì ra ở Hollywood đã có không ít đám cưới giả à la Lâm Bình Chi để che mắt giới hâm mộ điện ảnh rằng tài tử nào đó không phải gay. Nhiều đám cưới của một vài tài tử nổi tiếng hiện nay vẫn còn bị xầm xì là đám cưới che mắt, mặc dù xã hội đã biến đổi rất nhiều và vẫn có nhiều tài tử hay nhà thể thao nổi tiếng công khai có một đời sống lứa đôi gay.

Tầm nhìn xa của Kim Dung còn thể hiện qua việc Kim Dung cho Đông Phương Bất Bại rồi sau này Nhậm Ngã Hành đâm ra mù quáng mang nhiều ảo tưởng thần thánh về quyền lực. Giáo chủ Đông Phương Bất Bại bắt thuộc hạ phải luôn quỳ xuống và xưng hô: Giáo chủ thiên thu vạn tải, thống nhất giang hồ. Bịnh hơn nữa thuộc hạ phải hô to: Tri ân giáo chủ, nhờ nói lên tên giáo chủ thuộc hạ cảm thấy sáng suốt hơn lên, hoặc: Ngày nào không đọc bảo huấn của giáo chủ, thì ăn không ngon ngủ không yên.
Dành một chương mô tả và châm biếm sinh hoạt tôn sùng lãnh tụ ngay ở tổng bản doanh của Ma giáo, Kim Dung chắc hẵn đã phản ảnh đến câu nói bất hủ của Lord Acton mà chính Kim Dung chắc đã từng đọc qua trong lúc theo học Luật ở Thượng Hải thuở thanh niên: Power corrupts, absolute power corrupts absolutely (Quyền lực làm hư thối con người, quyền lực tuyệt đối chắc chắn sẽ tuyệt đối làm hư thối con người).

Viết đoạn suy tôn thần thánh những người lãnh tụ như kiểu Nhậm Ngã Hành hay Đông Phương Bất Bại vào năm 1963, Kim Dung cũng gần như đã tiên đoán những gì sẽ xảy ra ở Trung Quốc trong cuộc cách mạng văn hoá của Mao Trạch Đông vào khoảng cuối thập niên 60, hoặc việc thần thánh hoá lãnh tụ Kim Nhật Thành ở Bắc Triều Tiên. Vào thời đó nhiều người thường dân ưa cúi đầu trước những bức hình to lớn của nhà lãnh tụ treo ở các dinh thự, các quảng trường, để cầu nguyện hay tri ân nhờ hồng phúc của lãnh tụ nhà mình được tai qua nạn khỏi, hoặc đã lao động tốt. Họ dường như quên rằng chính lãnh tụ đã gây ra bao nhiêu chết chóc và kinh hoàng trong nhân dân. Ngày nay, nhất là ở các nước tiên tiến có dân trí cao, đừng nói chi đến thần thánh hoá lãnh tụ, ngay cả chuyện thần tượng hoá nhà lãnh đạo cũng đã bắt đầu bị sụp đổ hay dẹp qua một bên. Có lẽ đó cũng nhờ hồng phúc của Monica hấp tinh đại pháp đụng độ với xi-gà kiếm pháp vào cuối thế kỷ vừa qua ở Mỹ. Phần lớn nhân loại hiện nay bắt đầu ý thức rằng lãnh tụ có giỏi đến đâu chăng nữa, cũng chỉ là con người thôi.

Phần lớn nhân loại hiện nay bắt đầu ý thức rằng lãnh tụ có giỏi đến đâu chăng nữa, cũng chỉ là con người thôi.

Thế còn luật Ngũ Hành vận chuyển ra sao trong TNGH? Xin tóm tắt lại những điểm chính về Ngũ Hành đã trình bày trong Thử Đọc Lại Kim Dung I. Khác với lô-gích tam đoạn luận của Tây Phương: A thắng B, B thắng C,  suy ra A sẽ thắng C, lô-gích Ngũ Hành sẽ cho: Kim khắc Mộc, Mộc khắc Thổ, Thổ khắc Thủy, Thủy khắc Hoả, và Hoả sẽ khắc Kim trở lại. Nếu Lô-gích Tam đoạn luận được biểu diễn bằng một đường thẳng đứng, lô gích Ngũ Hành sẽ được tượng trưng bằng một vòng tròn kín.

Mạng Thủy còn được biểu tượng bằng hướng Bắc (màu Đen), Mộc hướng Đông (màu Xanh), Hoả hường Nam (màu Đỏ), Thổ miền Trung (màu Vàng), và Kim thuộc hướng Tây (màu Trắng). Ngoài chu kỳ khắc theo lôgích kiểu Tam Đoạn Luận, Ngũ Hành còn có một chu kỳ SINH tức chu kỳ hỗ trợ:  Thổ hỗ trợ Kim, Kim giúp Thủy, Thủy sinh Mộc, Mộc giúp Hoả, và Hoả sinh Thổ.

Đầu tiên ta để ý đến Ngũ Nhạc Kiếm Phái tức năm phe phái phối hợp với nhau thành một khối liên minh, bao gồm: Phái Hằng Sơn ở phía Bắc, Thái Sơn phiá Đông, Hành Sơn phía Nam, Hoa Sơn hướng Tây và Tung Sơn thuộc miền Trung. Nhạc Bất Quần thuộc miền Tây chưởng môn Hoa Sơn thuộc mạng Kim. Kim khắc Mộc. Hoa Sơn hường Tây khắc phục được Lâm Bình Chi người Phúc Kiến hướng Đông (Mộc) của nước Tàu, thu Lâm Bình Chi làm đồ đệ rồi chôm được Tịch Tà Kiếm Phổ của họ Lâm.
Họ Lâm là một họ rất phổ thông của người Phúc Kiến và người Triều Châu. Tại Việt Nam, đa số những người Việt có họ Lâm thường có gốc gác người Hoa xuất từ Phúc Kiến hoặc Triều Châu. Họ Lâm cũng có nghĩa là rừng, liên hệ đến cây cối, tức mạng Mộc. Họ Lâm người gốc Phúc Kiến ở phía Đông nên Lâm Bình Chi chắc chắn mang mạng Mộc. Đông Phương Bất Bại cũng mạng Mộc bởi tên lão có từ ĐÔNG. Nhạc Bất Quần thuộc mạng Kim, có thể được hỗ trợ bởi mạng Thổ. Bởi vậy chưởng môn Tung Sơn Tả Lãnh Thiền, miền Trung mạng Thổ, âm mưu nhiều năm thống nhất năm phái Ngũ Hành để lên làm minh chủ, nhưng rốt cuộc lão gần như bày mâm dọn cỗ cho đối thủ lão là Nhạc Bất Quần. Thổ đã hỗ trợ Kim. Trong trận đãu giữa Nhạc Bất Quần với Tả Lãnh Thiền –  Thổ với Kim không ai khắc ai  – nhưng Kim Dung đã cho Bất Quần thắng và đâm mù mắt Lãnh Thiền. Chỉ nhờ ở Bất Quần xử dụng Tịch Tà kiếm pháp (thuộc mạng Mộc ở miền Đông) mới khắc chế được Lãnh Thiền, Mộc khắc Thổ.

Phái Hằng Sơn của các vị ni cô ở phiá Bắc thuộc mạng Thủy. Phái này bị phe Tung Sơn miền Trung mạng Thổ phá rối đánh cho gần như tan hàng (Thổ khắc Thủy). Thế Lệnh Hồ Xung mạng gì? Điểm đầu tiên ta để ý Kim Dung rất thích cho nhân vật chính  mang mạng Hoả: Trương Vô Kỵ, Quách Tỉnh đều mang mạng Hoả. Vậy thử cho Hồ Xung mang mạng Hoả, người phía Nam xem ra sao. Tính người mang mạng Hoả: giàu tình người, nhiều trực giác, thích được thương yêu, thích sôi nổi, giao tế giỏi,  hoàn toàn thích hợp với cá tính của Lệnh Hồ Xung. Hoả thường được giúp bởi Mộc (màu xanh và hướng Đông). Lệnh Hồ Xung được Phong Thanh Dương dạy cho Độc Cô cửu kiếm. Trong tên Phong Thanh Dương có hai từ Thanh và Dương đều chỉ màu xanh thuộc mạng Mộc. Ni cô cõng Hồ Xung chạy trốn lúc Hồ Xung bị thương nặng, và thầm yêu Hồ Xung suốt đời, mang tên Nghi Lâm. Lâm tức là rừng, nhiều cây cối, mạng Mộc. Người yêu thương Lệnh Hồ Xung, giúp đỡ Lệnh Hồ Xung rất nhiều, cõng Hồ Xung lên Thiếu Lâm đổi mạng mình nhờ Phương Chứng đại sư chữa bệnh cho Hồ Xung là Nhậm Doanh Doanh. Trong TNGH Kim Dung ít mô tả về màu sắc quần áo các nhân vật, nhưng lại giới thiệu Doanh Doanh bỏ trốn khỏi tổng hành dinh Ma giáo đi tham quan giang hồ với một lão tướng bodyguard mang tên Lục Trúc Ông, trong tên có Trúc ám chỉ mạng Mộc. Doanh Doanh mạng Mộc giúp đỡ mạng Hoả của Hồ Xung. Mạng Hoả của Hồ Xung khắc chế được mạng Kim của thầy cũ Nhạc Bất Quần, nhưng có thể thầm phục mạng Thủy của các ni cô phái Hằng Sơn ở phía Bắc. Bởi vậy Kim Dung cho các vị Định Dật, Định Tĩnh và Định Nhàn trối trăn cho Hồ Xung làm chưởng môn Hằng Sơn lãnh đạo toàn các ni cô, Hồ Xung cũng phải nhận bởi Hoả bị khắc phục, bị cảm hoá bởi Thủy.

Nhậm Ngã Hành mạng gì? Lúc Nhậm Ngã Hành bị Đông Phương Bất Bại (mạng Mộc) đảo chánh, Nhậm mang mạng Thổ. Mộc khắc Thổ. Kim Dung nói rõ Nhậm bị giam dưới lòng đất –  mạng Thổ. Thế nhưng Nhậm lại bị giam  dưới lòng Tây Hồ ở thành phố đẹp nhất Trung Quốc Hàng Châu (Tây Hồ => TÂY => mạng Kim) trong vòng 10 năm và luyện thêm được Hấp Tinh đại pháp, Tinh thường màu trắng, lại mạng Kim. Nhậm Ngã Hành sau 10 năm bị giam cầm đã chuyển dần sang mạng Kim, để rồi Kim khắc Mộc, trở ra lật đổ và giết Đông Phương giáo chủ trả được hận xưa.

Trở lại Ngũ Hành của Ngũ Nhạc Kiếm Phái. Ngũ Hành ở đây cũng tương đương với Ngũ Hành của Võ Lâm Ngũ Bá: Đông Tà Hoàng Dược Sư (Mộc), Tây Độc Âu Dương Phong (Kim), Trung Thần Thông Vương Trùng Dương (Thổ), Bắc Cái Hồng Thất Công (Thủy), Đoàn Nam Đế (Hoả). Nhưng có điểm đáng kể, mạng Thổ của miền Trung trong Võ Lâm Ngũ Bá là một vai chính nhân quân tử đạo mạo oai phong (Vương Trùng Dương) thì ở TNGH một vai cực kỳ gian ác hiểm độc thể hiện qua Tả Lãnh Thiền. Nhiều tác giả từng đưa giả thiết về Những ẩn số chánh trị trong truyện Kim Dung (NNH) hoặc  Dụ Ngôn về Chính Trị (VĐSB) theo đó Vương Trùng Dương biểu hiệu cho Trung Hoa, Âu Dương Phong biểu hiệu cho Âu Mỹ, Bắc Cái cho nước Nga, Đông Tà cho nước Nhật, Nam Đế cho Việt Nam (?), v.v. chắc không khỏi ngỡ ngàng khi thấy miền Trung của Tả Lãnh Thiền phái Tung Sơn, một người nham hiểm và mang nhiều tham vọng dơ bẩn, không còn là một biểu tượng đáng yêu nữa cho nước Tàu. Biểu tượng nước Nga ở phiá Bắc (phái Hằng Sơn đầy từ bi độ lượng) hoặc nước Nhật qua những người hùng phải tự cắt thằng nhỏ của mình à la Lorena Bobbitt  như Lâm Bình Chi, Đông Phương Bất Bại chắc cũng không còn cơ sở lý luận vững chắc nữa. Theo thiển ý con số 5 của Võ Lâm Ngũ Bá, hoặc Ngũ Nhạc Kiếm Phái, Kim Dung chỉ đưa ra để phô trương thuyết Ngũ Hành siêu đẳng của Trung Quốc. Và lô-gích ngũ hành đó, xuyên qua cá tính sinh-khắc giữa các nhân vật với nhau, Kim Dung đã trình bày rất mạch lạc chặt chẽ.

Bản dịch TNGH mới mẻ của Vũ Đức Sao Biển và ê-kíp quả nhiên là một việc làm đáng được khích lệ và hoan nghênh. Nếu trong ngành điện ảnh Âu Mỹ người ta đã từng quay đi quay lại nhìều phim hay xưa cũ, như Psycho, Rear Window, Dial M for Murder, the Thrêe Musketeers, v.v. rồi ở giới phim tập Hongkong cứ vài năm họ lại quay lại Tiếu Ngạo Giang Hồ, Ỷ Thiên Đồ Long Ký, Anh Hùng Xạ Điêu, v.v. thì tại sao ở Việt Nam ta không tán thưởng công việc đưa chiếc bình mới để chứa rượu cũ này.

Trong bản dịch mới chính các tác giả cũng thừa nhận không thể hoàn toàn chuyển hết các cụm từ hoặc thành ngữ Hán sang chữ quốc ngữ. Thí dụ: Giáo chủ thiên thu vạn tải, thống nhất giang hồ. Bởi nếu chuyển hết sẽ không còn mang tính chất kiếm hiệp nữa và vô hình chung sẽ mất hết cái hay ho tinh túy của truyện Tàu nói chung và truyện chưởng Kim Dung nói riêng. Dù vậy lần chuyển ngữ này đã đem lại cho người đọc không ít thích thú, qua những từ thuộc tiếng lóng, tiếng bình dân thường được xử dụng hằng ngày. Thí dụ, rất nhiều đoạn dịch giả viết Kiếm Khách A đánh cho kiếm khách B thua te tua chạy dài. Hoặc tại hạ sẽ có ngày lên núi của các hạ để tính sổ lại, tức để thanh toán ân oán giang hồ. Nhưng vui nhất phải là đoạn Điền Bá Quang tâm sự với Lệnh Hồ Xung rằng anh ta bị Bất Giới đại sư, thân phụ của ni cô Nghi Lâm, cắt bớt phân nửa thằng nhỏ rồi! Chỗ này chính Kim Dung đã để lộ một lôgích rất chặt chẽ: Tại sao Bất Giới chỉ cắt phân nữa thằng nhỏ của Điền Bá Quang mà thôi? Kim Dung chắc chắn không cho Bất Giới cắt hết trọn thằng nhỏ của Bá Quang bởi nếu cắt hết vô hình chung Kim Dung sẽ đẩy Bá Quang vào cái nhóm tự cắt nguyên si thằng nhỏ để luyện tập Tích Tà kiếm phổ, như Lâm Bình Chi, Nhạc Bất Quần, Đông Phương Bất Bại! Cho Bá Quang bị mất chỉ một demi-thằng nhỏ thôi mới giữ được Bá Quang bên phe straight của Lệnh Hồ Xung.

Một điểm nữa trong bản dịch đã khiến người đọc ở ngoài nước Việt Nam không khỏi chú ý. Đó là biến đổi của ngôn ngữ, của tiếng Việt tại Việt Nam trong vòng 25 năm qua. Bây giờ người ta gọi đánh cược thay vì đánh cuộc (đánh cá) như hồi xưa. Cược đã thay cho Cuộc và đã vào các tự điển đàng hoàng.

Hy vọng bản dịch mới Tiếu Ngạo Giang Hồ sẽ đến với giới hâm mộ Kim Dung ở bên ngoài Việt Nam trong nay mai.

Nguyên Nguyên


Xem tiếp: Thử đọc lại Kim Dung 4


Thử đọc lại Kim Dung phần 2: Nguồn Việt và Kim Dung

Thử đọc lại Kim Dung phần 2: Nguồn Việt và Kim Dung


Nguyên Nguyên

Cách đây khoảng chừng 5 năm nhân một buổi trà dư tửu hậu tại nhà một người bạn –  chủ khách chuyện trò lòng vòng rồi dẫn đến Kim Dung và các quyển tiểu thuyết kiếm hiệp lừng danh của ông. Một anh bạn (nếu không lầm, giáo sư Phạm ở New South Wales) chợt nhắc đến nhân vật Trần Hữu Lượng trong ‘Cô Gái Đồ Long’ và nói anh vừa đọc được ở đâu đó có viết Trần Hữu Lượng là một người Việt. Người viết cố gắng moi óc với giúp đỡ của anh bạn đó mới nhớ rằng trong Cô Gái Đồ Long ấn bản đầu tiên của Kim Dung có một nhân vật tên Trần Hữu Lượng lớn tuổi hơn Trương Vô Kỵ một chút. Anh này xuất hiện lúc Trương Tam Phong dẫn Vô Kỵ lên Thiếu Lâm Tự để xin phép dùng Cửu Dương Chân Kinh chữa trị bệnh cho Vô Kỵ. Bệnh của Vô Kỵ có vẻ rất nan y vì Vô Kỵ đã bị một cú Huyền Minh thần chưởng từ một cao thủ Mông Cổ khi được thả lại tại chùa Võ Đang. Sau khi thử trị bệnh cho Vô Kỵ bằng nhiều cách theo kiến thức uyên bác của ông, Trương Tam Phong mới nghĩ rằng chỉ có Cửu Dương Chân Kinh mới có thể cứu Vô Kỵ khỏi cơn bệnh ngặt nghèo do thứ băng hàn chưởng kịch độc mang tên Huyền Minh thần chưởng gây nên. Khổ một nỗi Trương Tam Phong trong  thuở thiếu thời chạy trốn khỏi chùa Thiếu Lâm với sư phụ Giác Viễn chỉ học được chừng phân nửa quyển Cửu Dương Chân Kinh do Giác Viễn trước khi viên tịch đã đọc lại. Phân nửa kia hiện có ở chùa Thiếu Lâm. Bởi vậy mấy mươi năm sau khi cần phải thấu triệt hết Cửu Dương Chân Kinh hầu chữa trị bệnh cho Vô Kỵ, Trương Tam Phong, một chưởng môn phái Võ Đang đang lên,  đã không quản ngại nhục nhằn dẫn Vô Kỵ lên Thiếu Lâm Tự xin trao đổi kiến thức về Cửu Dương Chân Kinh của đôi bên  để cả hai đều được trọn vẹn toàn bộ quyển kinh bí kiếp này. Nếu được vậy Trương Tam Phong sẽ dùng trọn bộ Cửu Dương Chân Kinh  chữa trị cho cậu bé Trương Vô Kỵ.
Đến chùa Thiếu Lâm sau khi trình bày mục đích từ bi cứu khổ của mình Trương Tam Phong được đưa đến gặp một thiếu niên đang ở trong chùa tên Trần Hữu Lượng. Hai bên dàn xếp sao đó để Trương Tam Phong đọc ra phần Cửu Dương Chân Kinh của mình  trước và sau đó phe Thiếu Lâm sẽ đưa ra phần Cửu Dương Chân Kinh của họ sau. Trương Tam Phong tình thật đọc hết nửa  phần của quyển võ kinh bí kiếp ông còn nhớ cho Trần Hữu Lượng nghe. Sau khi đọc xong Trương lão nhân mới hỏi xin được lãnh giáo phần Cửu Dương của bên Thiếu Lâm. Trần Hữu Lượng thay mặt cho bên Thiếu Lâm đáp rằng tưởng gì lạ chứ những gì Trương Tam Phong vừa đọc Thiếu Lâm đã có sẵn rồi. Và gã thiếu niên họ Trần đọc lại cho Trương Tam Phong nghe vanh vách không sót một chữ những gì Trương Tam Phong vừa mới đọc ra. Như thế phe Thiếu Lâm đã lấy cớ rằng Trương không có gì để trao đổi nên không cho Trương phần Cửu Dương họ có và đuổi khéo Trương Tam Phong cùng Vô Kỵ ra khỏi chùa.
Đoạn Trần Hữu Lượng này của Cô Gái Đồ Long đã bị Kim Dung cắt xén bỏ hết trong bản nhuận sắc sau cùng hiện nay. Trần Hữu Lượng cũng như Trương Tam Phong, Chu Nguyên Chương, Quách Tỉnh, Khâu Xứ Cơ, . . .  là những nhân vật  có thật trong lịch sử của Trung Quốc. Chu Nguyên Chương, Trần Hữu Lượng và Trương Sĩ Thành (không có trong truyện của Kim Dung) là ba lãnh tụ ‘sáng chói’ nhất trong việc nổi dậy lật đổ nhà Nguyên (Mông Cổ). Lực lượng Chu Nguyên Chương cuối cùng đã đánh đổ được nhà Nguyên, lập nên nhà Minh, và Chu Nguyên Chương lên ngôi lấy hiệu Minh Thái Tổ, một ông vua độc tài vào bực nhất của Trung Quốc. Đời nhà Nguyên bên Tàu (1277-1367) kéo dài gần như song song với triều đại nhà Trần (1225-1400) ở Việt Nam, lúc đó còn gọi là An-Nam, một quốc hiệu được đặt ra từ đời nhà Tống bên Tàu. Nhà Nguyên và nhà Trần trước sau đã 3 lần ‘Hoa Sơn luận kiếm’ với nhau và cả ba lần quân đội nhà Trần với quyển binh thư yếu lược của Trần Hưng Đạo đã đánh bại quân Mông Cổ và con cháu của Thiết Mộc Chân tức Thành Cát Tư Hãn – cha của Hoa Tranh công chúa, người đã có mối tình còn trẻ dại với Kim Đao phò mã (hụt) Quách Tỉnh trong Anh Hùng Xạ Điêu của Kim Dung. (Tiếc rằng Việt Nam không có một Kim Dung để kiếm hiệp hoá Trần Hưng Đạo như Kim Dung đã kiếm hiệp hoá tướng Nhạc Phi đời Tống trong bộ Anh Hùng Xạ Điêu). Đọc sử Việt của Trần Trọng Kim hay của Phạm Văn Sơn, ta để ý trong chiều dài của cuộc luận kiếm giữa nhà Trần với Mông Cổ nhà Nguyên, nhà Trần hàng năm phải gửi chừng năm ba nhân tài xứ An Nam (gồm những nhà ‘khoa học’, y sĩ, khoa bảng hạng nhất) sang chầu chực Nguyên Chủ và ngược lại nhà Nguyên cũng ‘bốc’ một vài hoàng thân quốc thích xứ An Nam như Trần Di Ái và Trần Ích Tắc và một lô hầu cận sang bên đó được huấn luyện để sau này xử dụng họ vào những ‘lá bài’ áp đặt làm vua (bù nhìn) cho nước Nam. Trần Hữu Lượng nếu có dòng máu Việt rất có thể là con của một trong những người này.
Họ Trần rất phổ thông ở mìền Hoa Nam bên Tàu và họ Trần dường như chỉ di dân sang nước Nam một vài thế hệ trước khi Trần Thủ Độ  chiếm ngôi nhà Lý và thiết lập nhà Trần. Ở Hongkong họ Trần gọi là Chan, ở Trung Hoa lục đîa gọi Chen, ở Mã Lai gọi Tan, ở In-Đô Tanoko, v.v..  Việc họ Trần từ Tàu di cư sang nước An-Nam rồi về sau lãnh đạo nước Nam chống lại Tàu không có gì lạ trong lịch sử Việt. Trước đó có  Lý Bôn (hay Lý Bí) cũng gốc Tàu ở nước Nam được bảy đời vào giữa thế kỷ thứ 6 đã nổi lên đánh đuổi quân Tàu giành lại độc lập và dựng nên nhà Tiền Lý ngắn ngủi. Về sau Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ gốc họ Hồ có tổ tiên di cư sang nước Nam vào thế kỷ thứ 10 từ tỉnh Chiết Giang (quê hương của Kim Dung) bên Tàu cũng đã đánh nhà Mãn Thanh ở Bắc Phương thua xiểng liểng.
Trở lại chuyện Trần Hữu Lượng, phản ứng thông thường của bất cứ ai nghe nói Trần Hữu Lượng có thể là một người ‘An-Nam’ theo cha sang Tàu rồi ở luôn bên đó, về sau mưu đồ đại sự lật đổ nhà Nguyên, chắc sẽ cho rằng Kim Dung đúng thật một tác giả có đầu óc thương mại rất bén, vì muốn chiếm cảm tình của độc giả Việt Nam đang theo dõi những truyện kiếm hiệp của ông được dịch đăng báo hằng ngày ở Sàigòn theo kiểu ‘phơi-yơ-tông’, ông đã nhét vào đó nhân vật Trần Hữu Lượng thay vì Trương Sĩ Thành bởi Trần Hữu Lượng có liên hệ tới Việt Nam! Chắc chỉ thế thôi.
Nhưng nếu  đọc lại ‘Thiên Long Bát Bộ’ và ‘Lục Mạch Thần Kiếm’ ta lại một lần nữa cảm thấy một cái gì hơi là lạ khi Kim Dung giới thiệu một nhân vật nữ mang họ Nguyễn tức Nguyễn Tinh Châu –  người tình vắn số của Tiêu Phong (hay Kiều Phong) bang chủ của Cái Bang. Trong hai bộ truyện đó, ông hoàng đa tình của nước Đại Lý tên Đoàn Chính Thuần,  trên danh nghĩa là cha của thái tử Đoàn Dự, có rất nhiều người tình, mỗi bà ông tặng một hai đứa con, thường thường con gái. Một trong những người tình đó mang họ Nguyễn và có hai người con gái, người chị mang tên Nguyễn Tinh Châu, người em Nguyễn Tinh Tử tức A Tử. Nguyễn Tinh Châu và Tiêu Phong gặp nhau rồi yêu nhau. Trong khi đó Tiêu Phong điều tra ra thủ phạm giết cha mẹ mình năm xưa không ai khác hơn Đoàn Chính Thuần cha ruột  của Tinh Châu. (Mãi về sau này Tiêu Phong mới biết rằng điều tra đó hoàn toàn sai).  Để trả thù cho cái chết thảm khốc của cha mẹ Tiêu Phong hẹn Đoàn Chính Thuần đến đấu võ sống chết với nhau vào lúc giữa đêm. Nghe lén được, Nguyễn Tinh Châu  vì mang nặng chữ hiếu với cha nên mặc áo giả dạng làm Đoàn Chính Thuần đến nơi hẹn. Tiêu Phong trong đêm tối nhìn thấy người tình muôn thuở Tinh Châu lại tưởng lầm là Đoàn Chính Thuần nên đánh cho một cú Hàng Long Thập Bát Chưởng, món võ bí truyền của các Bang Chủ Cái Bang (hội đoàn của những người khất thực ăn xin) làm cho Tinh Châu bị trọng thương và chết liền sau đó trong vòng tay thống khổ của Tiêu Phong. Trong suốt khoảng đời còn lại Tiêu Phong mang nặng nổi sầu bi không thế nào giải toả được, và cưu mang người em gái của Tinh Châu là A Tử. A Tử đem lòng yêu Tiêu Phong nhưng khổ nỗi Tiêu Phong chỉ thương A Tử như người em. A Tử lại có một anh chàng khác say mê cuồng nhiệt tên Du Thản Chi có lúc đã dâng đôi mắt người xưa của mình tặng cho A Tử ‘ghép mắt’ vì chợt bị mù không thấy đường. (Ở đây, Kim Dung có vẻ xạo hết chỗ nói chắc với ngụ ý đề cao y thuật Trung Quốc hồi xưa!!). Và mối tình éo le ba chiều đó đã được Kim Dung kết thúc bằng một giải đáp không có ‘hậu’, một ‘unhappy ending’ để lại cho người đọc bao ngậm ngùi thương tiếc.
Phải nhìn nhận trong hàng trăm pho truyện Tàu chỉ có bộ Thiên Long Bát Bộ nói riêng và một số tiểu thuyết của Kim Dung nói chung đã đề cập đến họ Nguyễn và nước Đại Lý mà thôi. Họ Nguyễn mặc dù cũng xuất xứ từ miền Hoa Nam bên Tàu  nhưng ngày nay còn rất ít những người mang họ này  ở bên Tàu. Ngược lại ở nước Việt họ Nguyễn được rầm rộ gia tăng sau khi Trần Thủ Độ cướp ngôi nhà Lý (1010-1225) và bắt ép những người mang họ Lý phải đổi ra họ Nguyễn để thứ dân  không còn nhớ đến triều đại nhà Lý xưa cũ nữa. Họ Nguyễn lại gia tăng dữ dội hơn nữa khi Nguyễn Hoàng vào trấn đất Thuận Hoá năm 1558 khởi đầu cho mầm mống nhà Nguyễn sau này. Họ Nguyễn giờ đây chiếm đến khoảng 40 phần trăm của các họ khác nhau của người Việt. Trong niên giám điện thoại ở các thành phố có đông người Việt định cư như ở Úc và Mỹ chẳng hạn  –  họ Nguyễn được sắp xếp theo thứ tự số đông có thể đứng từ hạng 5 đến hạng 10 rất dễ dàng. Thành ra nói tới họ Nguyễn trong thời đại hiện nay tức nói tới người Việt, Việt Nam. Kim Dung có ngụ ý gì chăng khi ông phải dùng đến họ Nguyễn cho nhân vật Nguyễn Tinh Châu mà không dùng các họ khác như họ Đào, họ Lý, họ Tô, họ Hoàng, họ Tiết, họ Nhâm, họ Địch và nhất là họ Phạm một họ có cả trong vùng Hoa Nam, nước An Nam và cả nước Lâm Ấp (hay Chiêm Thành) vào các thời xa xưa đó. Thêm vào đó trong ba bốn bộ truyện liên tiếp, Kim Dung ưa đưa vào đó những nhân vật thuộc nước Đại Lý như Đoàn Nam Đế tức Nhất Đăng Đại Sư trong Xạ Điêu Anh Hùng truyện, Đoàn Chính Thuần, Đoàn Dự trong Lục Mạch Thần Kiếm và Thiên Long Bát Bộ, v.v.  Nước Đại Lý đại khái nằm ở địa bàn của tỉnh Vân Nam (Yun-Nan) ngày nay. Tỉnh Vân Nam giáp giới với phía Tây Bắc ở mạn Lào Cai, Lai Châu của nước Việt Nam. Thời cổ đại khu Đại Lý có tên Điền Việt, có thể bao gồm hay giáp ranh với nước Tây Âu hay Âu Việt và nước Nam Cương của Thục Phán. Theo Trần Trọng Kim trong bộ Việt Nam Sử Lược, Thục Phán không thể xuất phát từ nước Tây Thục ở tận Tứ Xuyên xa xôi mà chỉ có thể từ một nước nhỏ nào đó trong khu vực Vân Nam ngày nay, hay vùng mang tên Đại Lý hồi cuối đời Nam Tống bên Tàu.  Gần đây Taylor dẫn cứ tài liệu các sử gia Vietnam cho rằng Thục Phán xuất quân từ nước Nam Cương nằm ở khu Cao Bằng. Thục Phán đánh dứt điểm Hùng Vương của nước Văn Lang (tức Lạc Việt) rồi sát nhập Âu Việt và Lạc Việt thành một nước  mang tên Âu Lạc, xưng hiệu An Dương Vương. Sau mấy cái màn đấu võ, nhất là ngón Nhất Dương Chỉ của mấy hoàng thân quốc thích nước Đại Lý trong truyện của Kim Dung, nước Đại Lý bị quân Mông cổ thôn tính vào năm 1253 trước khi tiến đánh nhà Trần. Tiếp theo, nhà Nguyên đã cho di dân sang đó hơn 30000 quân lính và gia đình của họ cùng với một số người theo đạo Hồi ở vùng Tây Bắc. Chính sách đồng hoá này được tiếp diễn dưới triều đại nhà Minh vào năm 1381.
Thử xem lại giả thiết đơn sơ rằng Kim Dung muốn thu hút thêm độc giả Việt Nam vào thời tiểu thuyết của ông đăng báo hằng ngày ở Saigon theo lối ‘phơi-yơ-tông’ bằng cách cho vào đó một số nhân vật hay bối cảnh có dính líu sơ sơ đến Việt Nam. Kim Dung đã viết Ỷ Thiên Đồ Long Ký vào năm 1961, Thiên Long Bát Bộ vào năm 1963, và tiểu thuyết kiếm hiệp ngắn cuối cùng của ông mang tên . . . ‘VIỆT Nữ Kiếm’ vào năm 1976.  Truyện Kim Dung bắt đầu đăng báo hằng ngày tại Sàigòn vào khoảng 1962 và chỉ nổi như cồn vào khoảng 1964. Trước đó Kim Dung đã nổi tiếng tại Singapore, Hongkong, Đài Loan, và cộng đồng người Hoa ở Mỹ rồi. Tức là trong lúc ông viết đầu óc ông rất khó hướng về Việt Nam trong ý đồ thương mại nhỏ nhen đó. Quyển truyện mang tựa ‘Việt Nữ Kiếm’ đã rõ ràng chứa chấp từ ‘Việt’ được viết vào năm 1976 sau khi giới độc giả Việt của ông đã không còn báo chí có ‘phơi-yơ-tông’ để đọc đã được 1 năm. Do đó yếu tố Việt hay yếu tố liên hệ đến Việt trong truyện Kim Dung trong  lý do thương mại lấy lòng độc giả Việt phải được hoàn toàn gạt bỏ. Truyện Việt Nữ Kiếm nói về thứ ‘Việt’ (hay ‘việc’) gì mà Kim Dung đã chọn làm quyển truyện ngắn kiếm hiệp cuối cùng để đóng sổ sự nghiệp viết tiểu thuyết võ hiệp kỳ tình lừng danh của ông? Việt Nữ kiếm chưa được in thành sách ‘bản cứng’ tiếng Việt nhưng hiện có hai bản dịch, một tiếng Việt một tiếng Anh (hay tiếng Mỹ!), đăng trọn vẹn trên mạng internet võ hiệp ‘chùa’ ‘vietkiem dot com’ hay  ‘come.to gạch chéo kimdung’. Truyện kể lại mối tình của tướng nước Việt tên Phạm Lãi và nàng mỹ nhân Tây Thi do vua Việt là Câu Tiễn đem dâng hiến cho vua nước Ngô tên Phù Sai để dùng mỹ nhân kế hầu làm suy yếu nội tình nước Ngô trước khi ‘tổng phản công’ đánh chiếm nước Ngô để trả thù xưa. Trong truyện có một cô gái chăn dê học được kiếm pháp thần sầu quỷ khốc từ một con vượn trắng (Nhắc lại màu trắng là màu của mạng Kim như trong tên Kim Dung của thuyết Ngũ Hành –  xem phần 1). Việc xuất hiện của truyện ‘Việt’ Nữ Kiếm, tác phẩm kiếm hiệp cuối cùng của Kim Dung, đã tăng thêm phần tin tưởng cho giả thiết rằng các yếu tố Việt như họ Nguyễn, nước Đại Lý, Trần Hữu Lượng trong các truyện trước của Kim Dung không phải là một việc tình cờ nhưng lại là một sự sắp đặt có lớp lang bày tỏ ít nhiều ẩn ý hay ‘tâm sự riêng mang tính chất Việt’ của tác giả.
Sau đây ta thử cố gắng khảo sát và khai triển thêm để tìm hiểu về tâm sự mang ‘chất Việt’ của Kim Dung bằng cách lượt qua lịch sử Trung Quốc và sử Việt cổ. Tâm tư mang chất Việt này của Kim Dung chỉ là một sợi chỉ nhỏ –  nhưng nếu dùng kính lúp của lịch sử để soi tỏ cho rõ sợi chỉ liên hệ đến ‘Việt tính’ này,  có lẽ  chúng ta sẽ có thể lĩnh hội được một hai điều ngồ ngộ hay hay về Kim Dung nói riêng và về giới trí thức người Hoa nói chung –  đối với ‘Việt’ và Việt Nam.

Nước Việt vào cuối thời Chiến Quốc là một nước nằm ở địa đầu của vùng Hoa Nam, ven biển, ở phía Nam sông Dương Tử. Nhìn bản đồ nước Trung Quốc ta thấy sông Dương Tử (còn gọi là Trường Giang) đại khái nằm ở vĩ tuyến thứ 30  và chia nước Tàu làm hai. Ở phía Nam sông Dương Tử người Hoa thường gọi Hoa Nam hay Giang Nam (như kiểu Giang Nam Thất Quái, bảy vị sư phụ của Quách Tỉnh trong Anh Hùng Xạ Điêu). Phân nửa của nước Tàu ở phía Bắc sông Dương Tử lại có thể chia ra thành 2 phần nữa bằng con sông nổi tiếng mang tên Hoàng Hà đại khái chạy uốn mình quanh co giữa khoảng vĩ tuyến 36 đến 38.  Hoàng hà có nghĩa con sông màu vàng do ở màu nước phản ảnh loại đất vàng do gió chuyên chở đến từ các sa mạc ở phiá Tây nước Tàu. Đất màu vàng này tiếng Anh gọi là loess với độ dày ở mặt đất lên đến cở 300 thước tây. Bởi người Tàu thời cổ đại tập trung hai bên sông Hoàng Hà họ chỉ thấy đất loess  màu vàng mà thôi nên họ dùng màu vàng để chỉ Đất và mạng Thổ như phần 1 đã trình bày. Trung Quốc trong giai đoạn khai sinh cho tới thời Xuân Thu Chiến Quốc chỉ nằm quanh quẩn các nước ở phiá Bắc sông Dương Tử và phiá Nam sông Hoàng Hà –  đặc biệt  các vùng tập trung dân cư như  Lạc Dương, Trường An, Tây An, An Dương đều nằm ở lưu vực của sông Hoàng Hà.  Bình minh của văn minh Trung Quốc cũng ló dạng nơi khu vực đó. Và sáu nước Tần Thuỷ Hoàng đã xoá khỏi bản đồ rồi thống nhất Trung Quốc, mang tên Hàn, Triệu, Ngụy, Sở, Tề,  và Yên cũng chỉ nằm ở phiá bắc sông Dương Tử mà thôi.

Image
Ở phiá Nam sông Dương Tử là một nhóm các bộ lạc có chủng tộc thuở khai thiên lập địa cho đến thời nhà Tần nhà Hán hơi khác với chủng tộc Tàu gốc phía Bắc sông Dương Tử. Người Trung Quốc thời xưa gọi nhóm người này  Nam Man tức người còn man rợ ở phiá Nam nước Tàu hồi xưa, tức phiá Nam sông Dương Tử. Họ cũng gọi hàng trăm nhóm người này là Bách Việt tức một trăm thứ tộc Việt không phải  Hán thuần tuý. Lý do dễ hiểu khi người Hán tộc gốc gọi các tộc Việt ở phiá nam sông Dương Tử Nam Man, chỉ  vì thuở đó người Tàu phiá Bắc sông Dương Tử đã thiết lập được xã hội văn minh với hàng trăm nhà khoa học và tư tưởng gia, đếm không hết: Lão Tử, Trang Tử, Khổng Tử, Mạnh Tử, Tuân Tử, v.v., nhà quân sự và ‘quân sư’ – tức Cố vấn An ninh Quốc gia theo kiểu gọi bây giờ –  như Tôn Tử, Trương Lương, Tô Tần, Trương Nghi, v.v.  –  trong khi  ở phía Nam tuyệt nhiên không có nghe động đậy gì hết về những đóng góp thiết yếu kể trên cho một xã hội văn minh tiến bộ, không nghe đến một nhà tư tưởng nào hết, ngoại trừ ‘nổi tiếng’ về nghề đánh cá canh nông và đàn ông ưa có tục xâm mình. Trong các nước Việt cổ này đáng kể nhất phải kể đến: nước Việt của Việt Vương Câu Tiễn nằm ở ven biển khu vực thành phố Nam Kinh và Thượng Hải ngày nay ở ngay phía Nam sông Dương Tử; nước Mân Việt tức khu vực tỉnh Phúc Kiến, ở phía nam của nước Việt của Câu Tiễn/ Tây Thi, nước Tây Việt thuộc vùng Quảng Tây ngày nay, nước Đông Việt thuộc Quảng Đông ngày nay, Nam Việt xích xuống một chút, trước thời Triệu Đà chiếm nước Âu Lạc, bao gồm khu vực bình nguyên của sông Tây Giang ở tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây ngày nay.
Lân cận về phía Bắc nước Việt của Câu Tiễn là nước Ngô. Chuyện tranh chấp giữa nước Việt và nước Ngô là một chuyện dài như chuyện ‘Hoa Sơn luận kiếm’.  Vào cuối thời Xuân Thu, vua nước Ngô là Hạp Lư dùng Ngũ Tử Tư, một tướng di dân từ Sở qua, đánh bại nước Sở, nhưng sau đánh với nước Việt bị thương rồi chết. Con cháu của Hạp Lư là Ngô Phù Sai trả thù cho Hạp Lư đánh nước Việt và bắt được Câu Tiễn đem về cầm tù, bắt coi ngựa trên dưới 10 năm. Câu Tiễn có tướng giỏi  Phạm Lãi giúp bày mưu đem cống hiến mỹ nhân Tây Thi cho Phù Sai để Phù Sai xao lãng việc nước. Câu Tiễn chịu nhục nếm phân Phù Sai lúc Phù Sai bị bệnh nên được thả về và sau đó chiêu mộ binh hùng tướng mạnh đánh tiêu nước Ngô tạo nên uy thế vang lừng vào thế kỷ thứ 5 trước Công Nguyên. Phạm Lãi, có lẽ nhìn bài học Hàn Tín và Trương Lương, sau đó rút lui về ở ẩn. Có giả thuyết nói họ Phạm khi rút lui đã cỡi ngựa với người đẹp Tây Thi đi về phía mặt trời lặn, theo kiểu phim cao-bồi Western của Hollywood (!),  giống như sau này, trong truyện của Kim Dung,  Trương Vô Kỵ đã giả từ vũ khí, lẳng lặng từ chức giáo chủ  Minh giáo để trở về với nếp sống một phó thường dân ngày ngày lo chải tóc, kẽ chơn mày cho Triệu Minh.
Việt Vương Câu Tiễn thừa thắng xông lên đánh tiếp về phương Bắc và hùng cứ một cõi bờ rộng lớn bên cửa sông Dương Tử chảy ra biển Hoàng Hải của Thái Bình Dương. Ở phiá Tây nước Việt là nước Sở lúc đó cũng rất hùng cường nhưng hơi thô bạo dã man. Thừa cơ nước Việt mỗi ngày một suy yếu sau khi Câu Tiễn qua đời nước Sở đem quân sang dứt điểm nước Việt vào năm 334 trước Công Nguyên (TCN) rồi thôn tính luôn nước Lỗ của Khổng Tử vào năm 249 TCN. Sau cùng nước Tần thôn tính luôn nước Sở (năm 221 T.C.N.) cùng với các nước khác ở miền Bắc sông Dương Tử và thống nhất được nước Tàu. Một số dân chúng nước Việt sau khi bị Sở thô bạo qua chiếm đóng chịu không nổi mới di tản về phía Bắc sông Dương Tử dọc theo bờ biển, và về phiá Nam, định cư lại ở vùng Mân Việt tức tỉnh Phúc Kiến ngày nay. Mân Việt tồn tại sau đó không lâu và chính thức bị nhà Hán (tiếp nối nhà Tần) sát nhập và thôn tính vào một nước Tàu mở rộng, năm 110 TCN. Có thể nói nước Tàu dưới thời nhà Hán đã hoàn toàn xâm chiếm các nước thuộc bộ tộc Việt ở phiá Nam sông Dương Tử cũng vào khoảng năm đó khi tướng Hán, Lộ Bác Đức đánh bại tướng Lữ Gia của nước Nam Việt do Triệu Đà sáng lập khi Triệu Đà dứt điểm Thục Phán (chuyện tích truyền kỳ Trọng Thủy Mị Châu) và sát nhập nước Âu Lạc của Thục Phán với phần miền Nam của Quảng Đông và Quảng Tây ngày nay.
Một điểm đáng chú ý trong sự đồng hoá các nhóm ‘Nam man’ ở phía nam sông Dương Tử bởi Hán tộc trong suốt 2000 năm qua nằm  ở chung quanh vấn đề danh xưng, tên gọi một hai bộ tộc lớn của các nhóm Bách Việt này.  Nếu độc giả có dịp sang Tàu ngay ở thời bây giờ, vào một tiệm ăn ở miệt Thượng Hải hay Bắc Kinh, và hỏi hay nhờ người hướng dẫn du lịch hỏi chủ tiệm bằng tiếng quan thoại, ở tiệm có thức ăn Việt (Việt thái, yuế tsái) hay không. Khi chủ tiệm trả lời có hoặc không, chủ tiệm có ý muốn nói Việt-thái đó là thức ăn Quảng Đông! Tương tự  khi người Tàu nói Yue ju (Việt kịch) họ muốn chỉ ca kịch cổ truyền kiểu Quảng Đông  so với Jing ju (Kinh kịch) để chỉ kịch nghệ Bắc kinh. Thậm chí đôi khi người Hoa lục dùng Việt ngữ (yuế yu) để chỉ tiếng Quảng Đông. Từ Việt trong tên Việt Nam (Yuế nản) cũng phát âm y hệt Yuế như Yuế (Việt) dùng để chỉ tỉnh Quảng Đông.
Tuy nhiên chữ ‘Nho’ để chỉ Việt trong Việt Nam  có nghĩa Vượt qua, quá độ (như trong ‘siêu việt’), bao gồm bộ ‘tẩu’ có nghĩa dông, chạy, đi, ‘di tản’, kẹp với một từ ‘qua’ với nghĩa  cái giáo mác, hay cây thương, hoặc cái xiên dùng để đánh trận ngày xưa hay để săn thú đâm cá, và một cái móc nho nhỏ ở giữa! Đó là Việt (vượt) trong Việt Nam. Ý nghĩa tượng hình của từ ‘Việt’ do đó chỉ một giống người chuyên môn vượt đồng vượt núi (hay vượt biên để di tản?) và sống bằng nghề chăn thú đánh cá. Việt để chỉ tỉnh Quảng Đông gồm 2 phần, phần trên có dạng giống như lá cờ Anh Quốc với bốn gạch chéo, tức từ Mễ có nghĩa Hột Gạo (!) và phần dưới gồm một cái móc có hình dạng giống như lưỡi rìu,  lưỡi cày,   chỉ loại người Việt chuyên làm ruộng để sinh sống. Từ Việt (Yuế) trong nước Việt của Việt Vương Câu Tiễn cũng như Việt trong Mân Việt (Mĩn Yuế) ở tỉnh Phúc Kiến  cũng đều được viết y như Việt của Việt Nam (Yue Nan). Chỉ có Việt của Quảng Đông khác với 2 thứ Việt ở hai phía bắc và nam của Quảng Đông. Việt kiểu Quảng Đông viết khác đi với 2 thứ Việt có lẽ bắt nguồn từ cái nhìn rất chủ quan của người Tàu thời cổ đại. Đó là họ biết rằng người Việt của Câu Tiễn ở phía mạn trên sinh sống bằng nghề săn thú và đánh cá  –  còn người Việt ở mạn Quảng Đông (trừ Việt Nam) sinh sống chính bằng canh nông và làm ruộng (!). Họ loại trừ Việt Nam ra khỏi từ Yuế có cái móc lưỡi rìu (của Quảng Đông) mà lại gán Việt Nam vào nhóm từ Yuế có cái giáo cây thương (của Việt loại Câu Tiễn) tức họ đã không hiểu hay đã vì mặc cảm tự tôn cố tình không hiểu, như khoa sử học và khảo cổ học hiện đại đã tìm ra, rằng nước Văn Lang của Hùng Vương, tức nền văn minh Đông Sơn ở miền Bắc nước Việt Nam hiện nay có thể đã biết làm ruộng trồng lúa nước  trước người Hán tộc ở Trung Quốc khá lâu (về điểm người Văn Lang biết làm ruộng trước người Hán, xin xem  ‘The Birth of Vietnam –  Buổi chào đời của nước Việt Nam’ của Keith Weller Taylor do nhà University of California Press xuất bản, 1983).   Lý do thứ hai khả dĩ dùng để giải thích việc dùng từ Việt có cái rìu để chặn nút Việt Nam ra khỏi nước Tàu có thể được giải thích qua việc nhà Hán tức bực và cay cú về vụ Triệu Đà xưng đế ở Nam Việt ngang hàng với Hán Đế ở Bắc phương. Hay vào thời nhà Lý nước Nam có tướng Lý Thường Kiệt bình Chiêm phạt Tống lăm le đòi Tàu trả lại nước Nam lưỡng Quảng mà nhà Lý cho rằng Tàu đã’ chôm’ của nước Nam Việt ngày xưa. Sau này vào thời Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ cũng vậy, nhưng rủi đang tính đòi lại lưỡng Quảng thì Quang Trung bị bịnh qua đời. Đến đời nhà Nguyễn, theo rất nhiều sử sách, phái đoàn đại diện triều Nguyễn do Binh Bộ Thượng Thư Lê Quang Định dẫn đầu sang Tàu (nhà Mãn Thanh) vào năm 1803 xin xỏ nhà Thanh được đổi lại quốc hiệu Nam Việt thay cho tên nước Đại Việt đã được Lê Lợi đặt ra sau khi đánh đuổi nhà Minh ra khỏi xứ Nam (năm 1428), Thanh triều từ chối tên Nam Việt –  chắc còn nhớ mối loạn Triệu Đà ngót hai ngàn năm trước  –  và chỉ thuận với tên Việt Nam. Năm sinh của quốc hiệu Việt Nam chính là năm 1803.
Bây giờ xin trở lại với Kim Dung và xin đặt hai câu hỏi mấu chốt: Thứ nhất, với lý do thầm kín gì Kim Dung lại chọn Việt Nữ Kiếm làm tên quyển truyện kiếm hiếp cuối cùng của mình. Thứ hai: Nếu Việt trong Việt Nữ Kiếm có nhiều cơ sở luận lý, những liên chỉ đến thứ Việt khác như Việt Nam  trong vài truyện hay nhất của Kim Dung –  mặc dù hơi bàng bạc như một sợi chỉ nhỏ,  như Trần Hữu Lượng, Nguyễn Tinh Châu, nước Đại Lý  –  đã mang một thông điệp hay một tâm sự nho nhỏ gì của Kim Dung?
Trả lời câu hỏi thứ nhất, ta thử xem  Kim Dung thật sự sinh trưởng ở đâu? Kim Dung tên thật là Tra Lương Dung, sinh tại thành phố Hải Ninh thuộc tỉnh Chiết Giang (hay Triết Giang). Chiết Giang nằm ở phía Nam sông Dương Tử bao gồm những thành phố lớn như  Hàng Châu, Tô Châu và Thượng Hải (trong khi  Nam Kinh thuộc tỉnh An Huy lân cận với Chiết Giang). Chiết Giang đích thị tương đương với phạm trù địa bàn  nước Việt của Việt Vương Câu Tiễn cách đây hơn hai ngàn năm.  Ta để ý kết cuộc của Ỷ Thiên Đồ Long ký với Trương Vô Kỵ từ bỏ chức vụ ‘tổng tư lệnh’ của quân kháng chiến chống Mông Cổ thuộc cánh Ma giáo để vui cảnh sống ẩn dật với Triệu Minh cũng giống y hệt như việc từ giả vinh hoa phú quý của tướng Phạm Lãi, giả từ Việt Vương Câu Tiễn ở cuối thời Chiến Quốc tại nước Việt, tức tỉnh Chiết Giang bây giờ của Kim Dung. Vậy có vẻ rất rõ Kim Dung muốn bày tỏ cội nguồn của mình (hậu duệ của Câu Tiễn hay của Phạm Lãi!),   một người Hán có gốc Việt hùng cường của nước Việt  Câu Tiễn trong quyển truyện cuối cùng Việt Nữ Kiếm. Từ khám phá này  ta có thể dựng lên vô số các giả thiết về tâm sự Việt tính của Kim Dung trong một số tiểu thuyết nổi danh nhất của ông. Có thêm hai điểm nổi bật cần phải để ý khi lập dựng các giả thiết chung quanh tâm sự mang chất Việt  của Kim Dung. Thứ nhất, nhân vật Mộ Dung Công Tử trong Thiên Long Bát Bộ. Mộ Dung Công Tử tức Mộ Dung Phục có tổ tiên người hoàng tộc nước Tiêu Ty (tức Đại Yên).  Trong truyện, Kim Dung cho Mộ Dung Phục mang giấc mơ hão huyền phục quốc lại nước Tiêu Ty (để trở về đó ‘làm vua’). Tìm đủ mọi cách để chiêu mộ binh sĩ không xong Mộ Dung Phục mới nghĩ đến chuyện lấy cho được một nàng công chuá nước nọ để anh trở thành phò mã rồi lợi dụng binh lính sẵn có của nhà vợ đem về bắc khôi phục lại nước Tiêu Ty. Giấc mơ đó trở thành mây khói khi công chuá không chọn Mộ Dung Phục mà lại chọn ông thầy tu Thiếu Lâm đã cởi áo cà sa tên Hư Trúc người nước Tây Hạ, anh em kết nghĩa với Đoàn Dự và Tiêu Phong. Phục quốc không được Mộ Dung công tử đâm ra khùng khùng điên điên vào lúc kết cục pho truyện Thiên Long Bát Bộ. Vậy điểm thứ nhất có thể suy diễn cho vui vui, Kim Dung xác nhận ông không bao giờ có giấc mơ thấy chuyện hão huyền phục quốc nước Việt của Câu Tiễn ở cái thời xa xưa. Nhất là phục quốc để mình về đó làm vua!. Thứ hai, nhân vật Nguyễn Tinh Châu tức A Châu. A Châu xuất thân từ vùng Giang Nam, dĩ nhiên dưới mắt Kim Dung tất cả đều đã trở thành Hán tộc, đã thốt lên một câu nhân vụ giới giang hồ bắt đầu kỳ thị và ‘bề hội đồng’ Tiêu Phong, sau khi khám phá ra Tiêu Phong mang dòng máu Khất Đan, đại khái rằng: ‘Làm người Trung Quốc chưa chắc đã là tốt và làm người Khất Đan chưa chắc đã là xấu’. Điểm thứ hai do đó có thể liên chỉ đến niềm hãnh diện sâu xa của các sắc tộc xa xưa của miền Hoa Nam sau vài thế kỷ đã trở thành Hán tộc. Một niềm tự hào của người Hán tộc thật sự không kể đến gốc gác.
Kim Dung có tâm sự gì nữa không khi ông liên tiếp cho vào các tiểu thuyết nổi danh nhất của ông những nhân vật và bối cảnh liên hệ gần gũi với nước Việt Nam?  Nói cách khác trong đầu của Kim Dung có những hiểu biết gì về liên hệ dân tộc của người Việt Nam với người Việt Câu Tiễn?  Câu trả lời giản đơn là CÓ. Đó là sự hiểu biết truyền tụng qua ngàn đời trong sách vở và dân gian ở Trung Quốc rằng dân Việt Nam đã là 1 trong các nhóm Việt tộc ở phiá nam sông Dương Tử và sau này trước khi bị nhà Hán đô hộ đã đón nhận và cho ‘thẻ xanh’ vô số dân ‘tị nạn’ kéo nhau xuống định cư từ nước Việt  Câu Tiễn hoặc nước Mân Việt (Có lẽ bởi vậy người Tàu cổ đại đã dùng từ Việt có cây giáo dùng để chỉ chung cho người Việt Nam, người Việt Câu Tiễn và người Mân Việt?).
Một trong những học giả nổi tiếng về sử học và nhân chủng học Việt Nam vào ‘thời tiền chiến’ Leonard Aurousseau, dựa trên sách vở của mấy sử gia Tàu từ thời cổ đại,  đưa ra giả thuyết rằng giai cấp lãnh đạo của nước Việt Câu Tiễn sau khi bị   quân nước Sở xâm chiếm vào năm 333 TCN đã di tản sang các miền lân cận như Mân Việt rồi chạy tuốt xuống miền Bắc đất Việt Nam ngày nay, lập ra nước Văn Lang.  Câu Tiễn chính là 1 trong 18 Hùng Vương, và thuyết này có sự hưởng ứng của một số sử gia Việt Nam –  trong đó có Phạm Văn Sơn. Taylor gọi giả thuyết này một giả thuyết chết yểu bởi có rất nhiều chống đối chỉ trích kịch liệt từ những học giả khác như Maspero và Madrolle. Madrolle gạt bỏ thuyết này và cho rằng thuyết này không để ý đến đoạn đường dài đầy chông gai hiểm trở từ nước Việt- Câu Tiễn đến Văn Lang trong khoảng cuối thời đại Hùng Vương, nếu không kể đến việc gặp sự chống đối của dân địa phương của nước Mân Việt, hay nhiều sắc tộc khác trên đường di tản ‘chiến lược’ đó. Madrolle sau đó ấm ức tung ra lý thuyết của riêng mình cho rằng có lẽ người Lạc Việt cổ xuất phát từ Phúc Kiến và đến xứ Văn Lang bằng đường biển như là những thuyền nhân đầu tiên! Theo Taylor, Madrolle đã dựa vào một số cơ sở mơ hồ, và so sánh họ của một số bộ tộc ở Mân Việt (Phúc Kiến) với họ của người Việt cổ ở Lạc Việt để đi đến giả thuyết này. Tuy nhiên Taylor lại đưa ra một dẫn chứng lịch sử khác cho rằng một đám người thuộc giai cấp lãnh đạo của một nước vừa bị thôn tính đang trên đường đào tẩu có thể đến một nước khác ‘làm cha’ người ta như thường và sau đó đổi tên nước mới di cư đến thành tên nước cũ của mình! Taylor viện dẫn thí dụ dân Croats gốc Iran và dân Serbs đã sang cai trị giống người Slavic ở bán đảo Balkan (khu Hy Lạp) vào thế kỷ thứ 7. Từ dẫn chứng thí dụ này Taylor trở lại cho rằng không thể hoàn toàn bác bỏ thuyết của Aurousseau!
Sợi chỉ nối liên hệ Việt của Câu Tiễn với Việt ở Việt Nam nếu có trong tiểu thuyết Kim Dung chắc chắn dựa phần lớn vào thuyết của Aurousseau và chính nó lại dựa vào sử sách của người Trung Hoa. Theo thiển ý ta có thể trả lại giả thuyết của Aurousseau cho lớp bụi của dòng thời gian che lấp, và tạm chối bỏ những lý thuyết cho rằng người Lạc Việt thời Hùng Vương có gốc là người Việt Câu Tiễn, người Sở (ở miền Động Đình Hồ, và phía trên), người Mân Việt (Phúc Kiến) –  khi những sắc dân này đã ‘di tản chiến lược’ sang miền nước Văn Lang rồi lập ra nước đó, khi bóng tối hãy còn bao trùm khoa sử học –  bởi những lý do sau đây:
Lý do thứ nhất: Những  gì xảy ra ở nước Ngô, nước Việt-Câu Tiễn, nước Sở vào cuối thời Chiến Quốc bên Tàu  hoàn toàn vắng bóng trong kho tàng truyện cổ tích, thần thoại và truyền thuyết của dân gian bên nước Văn Lang hay Âu Lạc hoặc Nam Việt! Thử hỏi nếu Việt Nam có liên hệ chút đỉnh gì với Việt-Câu Tiễn thì với một nước sản xuất một mỹ nhân như Tây Thi đã làm ‘nghiêng thành đổ nước’ cho nước Ngô, chắc chắn tiền nhân Việt Nam sẽ hãnh diện thuộc nằm lòng chuyện đó rồi truyền tụng cho con cháu từ đời này sang đời khác. Nước Văn Lang hay Âu Lạc nếu có nhận những người di tản như con cháu cuả Câu Tiễn hay Phạm Lãi rồi cho họ ‘thẻ xanh’ thường trú sẽ rất lấy làm hãnh diện và chắc không bao giờ quên nhét nó vào kho tàng các truyện truyền kỳ của dân tộc mình. Truyền tích đầu tiên của dân Việt, chuyện bà Âu Cơ lấy Lạc Long Quân đẻ con trăm trứng, cũng có chút cơ sở qua việc Thục Phán thống nhất hai nước Âu Việt và Lạc Việt rồi đặt tên Âu Lạc vào cuối thế kỷ 3 TCN. Những truyền tích quan trọng sau đó như Phù Đổng Thiên Vương tức Thánh Gióng, lớn lên như thổi chống giặc bắc phương, Trọng Thủy Mỵ Châu –  với chiếc nỏ thần một bí mật quân sự của Thục Phán bị Triệu Đà ăn cắp được nhờ con Trọng Thủy dụ được vợ Mỵ Châu (con Thục Phán) trao cho, đều có thể xác nhận với những chứng tích lịch sử ở ngay tại điạ bàn nước Văn Lang xưa hay Bắc Bộ ngày nay. Có hai điểm cần lưu ý. Điểm thứ nhất nước Việt của Câu Tiễn bị quân nước Sở xâm chiếm vào năm 333 TCN tức là trước thời Thục Phán sát nhập nước Âu với nước Lạc (năm 208 TCN) trên 100 năm. Nếu dân Việt Câu Tiễn có di tản xuống Văn Lang thì họ phải di tản trong thế hệ 100 năm đó. Và chắc chắn sẽ có thêm cổ tích Tây Thi do dân ‘Việt mới’ đem sang, nằm ở phía trước truyện Trọng Thủy Mỵ Châu! Điểm thứ hai, theo nhiều học giả truyện Thánh Gióng có thể tìm thấy trong các cộng đồng dân tộc ở miền thượng du Bắc bộ, như người Mường, và ngay cả tại đảo  Java thuộc nước In-Đô (Nam Dương) ngày nay! Người ta cũng đã tìm thấy một truyện rất giống chuyện Sơn Tinh Thủy Tinh dâng nước dâng núi, ở một dân tộc tại  phía bắc Borneo cũng ở In-Đô. Chuyện Nhất Dạ Trạch cũng tìm thấy bản sao ở tận nước Phù Nam ngày xưa nằm ở Nam Bộ Việt Nam hiện nay (xem Taylor). Ngược lại không học giả nào tìm thấy truyền thuyết Tây Thi và Phạm Lãi hay giống giống một chút, từ phía nam khu Quảng Đông, Quảng Tây kéo sang Văn Lang rồi xuống tận các đảo phía Nam.
Lý do thứ hai: Các đền thờ hay di tích lịch sử như đền thờ An Dương Vương Thục Phán, đền thờ Thánh Gióng, thành Cổ Loa của Thục Phán đều nằm trọn trong địa phận Việt Nam. Ở núi Mộ Dạ tỉnh Nghệ An có đền thờ An Dương Vương. Đền thờ thánh Gióng có ở làng Phù Đổng tỉnh Bắc ninh. Thành Cổ Loa nằm ở huyện Đông Anh tỉnh Phúc Yên. Và tuyệt nhiên không có di tích lịch sử cổ nào của Văn Lang hay Âu Lạc nằm ở nước Sở tận miệt Động Đình Hồ hay bên tỉnh Chiết Giang của Kim Dung tức nước Việt cũ của Câu Tiễn hết. Ngay như tại thành phố Quảng Châu ngày nay, tức thành Phiên Ngung kinh đô nước Nam Việt ngày xưa, còn có đền thờ Triệu Đà chứ không có cái nào để tưởng niệm Câu Tiễn cả.
Lý do thứ ba: Có ít nhất hai lần trong lịch sử Việt Nam về sau, những nhà lãnh đạo phía Việt Nam đánh được quân Bắc phương lại thừa thắng xông lên đòi hỏi triều đình Trung Hoa phải trả lại hai tỉnh Quảng Đông và Quảng Tây họ cho là Trung Hoa đã ‘chôm’ từ nước Nam Việt do Triệu Đà sáng lập sau khi đánh thắng Thục Phán. Đó là Lý Thường Kiệt thời nhà Lý đối chọi với nhà Tống và Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ đánh quân nhà Mãn Thanh. Điểm rõ ràng, hai nhà quân sự lỗi lạc này chỉ đòi đất tới Quảng Đông Quảng Tây và không hề có tham vọng quá trớn đòi tới Động Đình Hồ hay sát bên phía nam sông Dương Tử như nước Việt cũ của Câu Tiễn, bởi hơn ai hết họ biết rõ ranh giới phía bắc của địa bàn dân Âu Lạc hay Nam Việt  chỉ đến khoảng phía nam của Lưỡng Quảng mà thôi.
Lý do thứ tư: Tổ chức và cơ cấu chính trị của nước Văn Lang hay Âu Lạc hoặc Nam Việt vẫn không thay đổi cho đến hết đời nhà Triệu khi quân Hán đem quân xâm chiếm Nam Việt vào năm 111 trước Công Nguyên. Chế độ chính trị thời Hùng Vương vẫn là một vấn đề từng được bàn cãi sôi nổi giữa các sử gia nghiên cứu về Việt Nam. Nhìn sơ đó là một chế độ gồm Lạc Vương (tức Hùng Vương) với sự phụ tá của các Lạc Hầu, Lạc Tướng và phương tiện kinh tế sinh sống là Lạc điền (ruộng) và Lạc dân. Nhiều sử gia gọi đó là nền quân chủ thế tập hay quân chủ quân sự. Xã hội đã ra khỏi thời kỳ thị tộc tức tập hợp những người cùng trong họ trong gia đình lớn với nhau, và đang ở thời kỳ bộ tộc. Khi Thục Phán dứt điểm Hùng Vương  thành lập nước Âu Lạc vào khoảng cuối  thế kỷ thứ 3 trước Công Nguyên, sách sử chép rõ, Thục Phán vẫn giữ vững hệ thống Lạc Hầu Lạc Tướng của nước Văn Lang cũ. Đến thời Triệu Đà dứt điểm Thục Phán nhờ chiếm được chiếc nỏ thần lập ra nước Nam Việt lớn hơn, Triệu Đà tiếp tục giao cho các ‘đại biểu’ của mình cai trị Giao Chỉ và Cửu Chân (tức Bắc bộ và bắc Trung bộ ngày nay, hay nước Văn Lang cũ) theo kiểu Lạc hầu Lạc tướng như xưa –  còn Triệu Đà ngồi ở ‘trung ương’ là thành Phiên Ngung lo cai trị phần Nam Việt bên Lưỡng Quảng. Trong thời Xuân thu Chiến quốc ở phiá bắc sông Dương Tử, vài trăm năm trước Công Nguyên, thể chế chính trị của Tàu hay các nước như Sở, Ngô, Việt đã là chế độ quân chủ phong kiến (phong điền kiến đîa, cho ruộng cấp đất). Ta thấy Ngô Phù Sai đã có cả một triều đình và các cung tần mỹ nữ bao chung quanh (trong khi ta không hề nghe đến vụ này đối với Hùng Vương). Các nước lớn mạnh đều có các nước nhỏ chư hầu bắt nguồn từ việc phong điền kiến địa của kiểu quân chủ đó. Do đó ta xác định rằng tất cả những người thuộc giai cấp lãnh đạo, hay ngay cả thứ dân có hiểu biết, của nước Việt Câu Tiễn, hay Sở, đều đã thấm nhuần lề lối tổ chức chính trị của quân chủ phong kiến. Ta cũng biết rõ rằng, người di tản sang một quốc gia mới thường mang theo cả thói xấu và tính hay của xã hội cũ của mình. Như vậy nếu mấy người Việt  từ Sở, hay Việt-Câu Tiễn, hay ngay cả Mân Việt sang Văn Lang hay Âu Lạc trước thời Triệu Đà, và đi với số đông hay đến với giai cấp lãnh đạo tàn quân, chắc chắn họ sẽ ‘quậy’ cái nước Văn Lang và biến nó sang chế độ quân chủ phong kiến từ khuya rồi. Sau đó khi Triệu Đà chiếm Âu Lạc Triệu Đà chỉ việc áp dụng nền quân chủ phong kiến cho nước Nam Việt (VIỆT, tiếng Hoa gọi là Yuế, Mường gọi Yịt, tiếng Việt thế kỷ 17 chắc hẳn là Yiệt) suốt từ nam chí bắc! Thực tế cho thấy Triệu Đà vẫn tiếp tục giữ thể chế Lạc Hầu –  Lạc Tướng của thời Hùng Vương như xưa.
Lý do thứ năm: Ở xã hội Văn Lang địa vị người phụ nữ rất cao, có khi còn cao  hơn ở thời đại thế kỷ 21 này, và chắc chắn cao hơn địa vị người phụ nữ ở nước Việt của Câu Tiễn! Văn Lang lúc đó là một xã hội vừa từ chế độ mẫu hệ bước sang phụ hệ. Nước Nam là nước sản xuất đầu tiên trên thế giới các nhà lãnh đạo chính trị quân sự thuộc phái nữ, như hai bà Trưng Trắc, Trưng Nhị, bà Triệu Thị Trinh (mà người Hán gọi xỏ lá là bà Triệu Ẩu tức mụ Triệu) trước Võ Tắc Thiên bên Tàu cả mấy trăm năm! Trong thời đại Hùng Vương, tại nước Việt-Câu Tiễn đã có cái màn dùng mỹ nhân kế  đưa Tây Thi sang cống hiến Ngô Phù Sai để làm suy giảm tiềm năng ‘quân sự’ của Phù Sai và nước Ngô. Nếu người Việt từ phương bắc đã di dân sang và giúp hay lập ra nước Văn Lang, chắc chắn họ nhanh chóng truyền lại đòn mỹ nhân kế này vào xã hội Văn Lang hay Âu Lạc từ lâu. Phải nói dân Văn Lang, Âu Lạc, Nam Việt, hay Giao Chỉ có vẻ vẫn chưa thấm nhuần việc áp dụng loại ‘độc chưởng’ này của Bắc phương trong suốt ngàn năm đô hộ. Và mãi cho đến đời nhà Trần sau khi chống trả sức ép của quân Mông Cổ, vua Trần Anh Tông mới bắt đầu áp dụng thứ độc chưởng mà người Việt (đọc theo kiểu cổ:  Bdiệt, như người Nhật bây giờ hãy còn gọi Vietnam là Beto-namu) đã học được ở người Hán tộc qua việc gả Huyền Trân Công Chúa cho vua Chăm là Chế Mân để bắt đầu mở mang bờ cõi nước Nam.
Thay lời kết: Những ai có đọc ‘Thử đọc lại Kim Dung I’   sẽ để ý ở cuối bài người viết có ghi ‘Đón đọc: Thử Đọc lại Kim Dung II’. Ghi chú đó dùng để ràng buộc người viết phải chịu khó ngồi xuống viết nên bài này. Nguồn cảm hứng viết phần 1 là một bực bội lâu năm được giải toả –  qua thuyết Ngũ hành và khám phá Cây đao Đồ Long màu đen chỉ mạng Thủy là mạng Chu Chỉ Nhược khắc chế được mạng Hoả của Trương Vô Kỵ. Cảm hứng viết phần 2 này bắt nguồn từ việc biết được quê hương của Kim Dung là tỉnh Chiết Giang có phạm trù rất gần giống với nước Việt của Việt Vương Câu Tiễn và nàng Tây Thi năm xưa.

NN


Xem Tiếp: Thử đọc lại Kim Dung III